Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘Bình Định’

Bí ẩn 14 tháp cổ Chàm trên đất Tây Sơn – Bình Định

— Bùi Đẹp —

Nằm ngay cửa ngõ thành phố Qui Nhơn là hai ngọn tháp đứng sừng sững kề nhau, dân gian gọi là tháp Đôi. Theo các tư liệu xưa còn ghi chép được, tháp Đôi là tháp Hưng Thạnh. Ngày 10/7/1980, tháp Đôi được trùng tu đầu tiên ở Bình Định và được các nhà nghiên cứu xếp vào loại di sản độc đáo của nghệ thuật kiến trúc Chăm bởi tháp Đôi không giống bất kỳ một ngôi tháp cổ nào hiện có. Các nhà khoa học đến nay vẫn chưa tìm ra lý do khác thường này.

Tháp Đôi được xây dựng vào khoảng cuối thế kỷ 12. Ở ngọn tháp lớn, có khắc nhiều bức phù điêu hình khí Hanuman trong tư thế nhảy múa. Còn tháp nhỏ lại có nhiều phù điêu hình thú vật như hươu, nai; phía trong vòm khám thờ có hình người ngồi thiền, đứng chầu hai bên là các sư tử đầu voi. Các góc tháp đều được trang trí hình chim thần Garuda bằng đá.

Ngược lại, vùng “Tây Sơn hạ đạo” có cụm tháp Dương Long. Người Pháp gọi đây là “tháp Ngà”, còn dân địa phương gọi là tháp An Chánh. Tháp Dương Long có ba toà tháp cổ với chiều cao 29-36m. Hệ thống cửa của cụm tháp này phần lớn đã bị sụp đổ. Các đề tài chạm khắc trên tháp Dương Long cũng có các hình thú như voi, sư tử đang đùa giỡn, phía bên trong toà tháp cũng là những tu sĩ đang ngồi thiền. Hầu hết toà tháp có cấu trúc nhỏ dần về phía đỉnh và kết thúc bằng một đoá sen đang nở. Những bức chạm khắc của tháp Dương Long rất tinh tế về nghệ thuật và kỹ xảo. Vòm cửa có hình quái vật Kala khạc ra rắn bảy đầu, bộ diềm mái được nghệ nhân khắc nhiều hoa văn với cảnh trí rất phong phú, đa dạng. Có thể nói, tháp Dương Long có giá trị nghệ thuật nhất trong số các kiến trúc Chăm thời kỳ này. Nhiều nhà nghiên cứu hiện xác định niên đại của tháp là vào khoảng nửa sau thế kỷ 12. Đây là cụm di tích thứ hai được Bộ Văn hoá – Thông tin xếp hạng cùng lúc với tháp Đôi.

Sau hai cụm tháp Đôi và tháp Dương Long là tháp Cánh Tiên và tháp Bánh Ít. Tháp Cánh Tiên được xây dựng ngay ở trung tâm thành phố Đồ Bàn (nay thuộc xã Nhơn Hậu, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định). Có thể nói đây là một trong những kiến trúc còn khá nguyên vẹn. Theo tài liệu của Pháp, tháp Cảnh Tiên còn được gọi là tháp Đồng, nhưng vì sao có tên gọi này thì vẫn chưa có ai xác định được nguồn gốc. Tháp cao khoảng 20m, trông xa giống như đôi cánh của nàng tiên đang bay lên trời xanh. Khác với các tháp Chăm khác, tháp Cánh Tiên được xây dựng một phần bằng chất liệu sa thạch, xung quanh có nhiều phù điêu chạm khắc. Không giống như Cánh Tiên, Bánh ít có đến bốn toà tháp lớn nhỏ khác nhau nằm trên một đỉnh đồi thuộc xã Phước Hiệp, huyện Tuy Phước, cách thành phố Qui Nhơn khoảng 20 km. Đứng xa cụm tháp này trông như những chiếc bánh ít lá gai thường thấy trong các dịp cúng lễ, giỗ chạp ở miền Trung. Người Pháp gọi đây là tháp Bạc. Bốn ngôi cổ tháp đều có các tượng thờ, hình vũ nữ đang múa, hình voi, hình các vị thần linh.

Cũng tại Bình Định còn có tháp Bình Lâm nằm ở xã Phước Hoà (Tuy Phước). Người dân ở đây kể rằng thôn Bình Lâm là vùng đất phì nhiêu có những cư dân người Việt lần đầu tiên đến khai phá mở mang. Trong hệ thống tháp Chăm Bình Định thì tháp Bình Lâm là nhóm tháp cổ có niên đại sớm nhất.

Một cụm di tích khác có tên là tháp Thủ Thiện ở xã Bình Nghi (Tây Sơn) – quê hương của những lò gạch ngói thủ công nổi tiếng nằm trên quốc lộ 19. Năm 1995, ngọn tháp này cũng được xếp hạng di tích quốc gia, nhưng hiện đang bị đổ nát nghiêm trọng. Nhiều di tích, cấu trúc của ngọn tháp đã bị thời gian và con người phá huỷ.

Cùng được xếp hạng với tháp Thủ Thiện là tháp Phú Lộc mà người Pháp đặt tên là tháp Vàng, nằm giáp giới giữa 2 huyện An Nhơn và Tuy Phước. Cao 29m, Phú Lộc nằm trên đỉnh một ngọn đồi cao 76m so với mực nước biển. Dù đã bị đổ nát khá nhiều nhưng nhìn tổng quát, ngọn tháp vẫn có dáng bề thế, uy nghi của một công trình kiến trúc cổ.

Ngoài bảy cụm tháp ở Bình Định đã được Nhà nước xếp hạng, hiện nay vẫn còn một số di tích tháp cổ khác, trong đó có tháp Hòn Chuông ở huyện Phù Cát hiện chỉ còn chân đế, hoặc đã bị sụp đổ, do người dân đào bới tìm vàng.

Có thể nói rằng tám cụm tháp với tổng số 14 toà tháp cổ còn lại được xem như một loại tài sản vô giá mà lịch sử đã ban tặng cho miền Trung. Những bí ẩn về tháp Chăm mặc dù đã được nghiên cứu tìm hiểu từ cả chục năm nay nhưng vẫn chỉ là những nghiên cứu bên ngoài. Nhiều bí ẩn kỳ lạ, nhiều huyền thoại lý thú vẫn đang chờ được hé mở.

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

 


Read Full Post »

Dấu tích Champa trên đất Bình Định

Nghiên cứu khoa học ngày nay cho biết rằng cư dân lâu đời của dải đất miền Trung, trong đó có Bình Định, là chủ nhân một nền văn hóa được đặt tên là văn hóa Sa Huỳnh. Những dấu vết đầu tiên của nền văn hóa này lần đầu tiên được biết đến nhờ các cuộc khai quật của một nhà khảo cổ học nữ, bà Labarre, vào năm 1909. Sau đó, năm 1924, H. Parmantire tập hợp lại, cho công bố trên tạp chí của trường Viễn Đông Bác Cổ.


thap chăm BĐ
Cách đây trên dưới 4.000 năm, trên đất Bình Định ngày nay đã có người cổ sinh sống.

Theo quan điểm của các chuyên gia, văn hóa Sa Huỳnh thuộc sơ kỳ thời đại đồ sắt, có niên đại vào giữa thiên niên kỷ thứ nhất trước công nguyên. Tuy nhiên, tổ tiên của chủ nhân nền văn hóa này là ai? Những dạng thức văn hóa nào đã phát triển lên thành Sa Huỳnh? Đang là những câu hỏi lớn đặt ra cho giới khảo cổ học tiếp tục đi sâu nghiên cứu.

Vào cuối những năm 70, một số cuộc khai quật khảo cổ được tiến hành trên đất Bình Định đã có những đóng góp quan trọng. Kết quả khai quật các di chỉ ở Long Thạnh và Bình Châu vào năm 1978 đã hé mở những khả năng hiểu sâu thêm về thời kỳ tiền Sa Huỳnh. Di chỉ Long Thạnh được đoán định vào sơ kỳ thời đại đồ đồng thau, có niên đại cách ngày nay khoảng 3.500-4.000 năm. Đây là di chỉ khảo cổ liên quan đến văn hóa Sa Huỳnh sớm nhất mà khoa học biết đến. Di chỉ Bình Châu ở vào giai đoạn muộn hơn, thuộc Trung kỳ đồng thau, cũng cách ngày nay tới trên dưới 3.000 năm.

Vào cuối năm 1979, trên một trảng cát gần đầm Trà Ổ có tên gọi Truông Xe (thuộc xã Mỹ Thắng, huyện Phù Mỹ), các nhà khảo cổ lại phát hiện thêm một di chỉ thuộc thời kỳ tiền Sa Huỳnh. Trong tầng văn hóa, người ta tìm thấy những mảnh gốm màu nâu đỏ, nâu xám, xương gốm có lẫn cát và vỏ nhuyễn thể với trang trí chủ yếu là văn thừng, khắc vạch, chấm vải và một ít ô trám. Đó là mảnh vỡ của các bình, lọ và nắp vò. Phân tích kỹ thuật cho thấy những loại gốm này độ nung không cao. Ngoài gốm, trong di chỉ còn tìm được rìu đá, đục, bàn mài và chày nghiền. Dựa vào loại hình và kết cấu địa tầng, có thể đoán định niên đại của di chỉ này vào khoảng 3.000 năm.

Không nghi ngờ gì nữa, cách đây trên dưới 4.000 năm, trên đất Bình Định ngày nay đã có người cổ sinh sống. Họ là một trong những nhóm cư dân xây nền đắp móng cho văn hóa Sa Huỳnh. Rất có thể đó chính là những nhóm người thuộc bộ lạc Dừa mà các bi ký và truyện cổ dân gian Chàm đã nhắc đến.

Vào năm 111 trước Công nguyên, sau khi đánh bại nước Nam Việt của họ Triệu, giành quyền cai trị nước Âu Lạc, nhà Hán đã cho quân tiến sâu xuống phương Nam, chiếm lấy địa bàn cư trú của bộ lạc Dừa, lập ra quận Nhật Nam. Trong suốt thời gian gần 3 thế kỷ, nhân dân vùng này đã cùng chung cảnh ngộ với dân Việt ở hai quận Giao Chỉ và Cửu Châu, bị đô hộ bởi chính quyền Hán tộc ở Giao Châu và cũng đã nhất tề nổi dậy hưởng ứng cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng.

Cuối thế kỷ thứ II, đời Sơ Bình (190-193), nhân Trung Quốc có loạn, nhân dân bộ lạc Dừa, dưới sự lãnh đạo của Khu Liên, đã nổi dậy chống lại ách cai trị của chính quyền đô hộ, lập ra một quốc gia độc lập có tên gọi trong các thư tịch cổ Trung Quốc là Lâm ấp, sau này được gọi là Champa trong các bi ký cổ. Kết hợp với những cư dân ở phía Nam đèo Cù Mông, thuộc bộ lạc Cau, từ đầu thế kỷ thứ VI đến đầu thế kỷ thứ VIII, dưới vương triều Gangaraja, Champa bước vào giai đoạn phát triển khá mạnh mẽ. Lúc này kinh đô của Champa được xây dựng tại thành phố Indrapura (thành phố Sư tử). Các nhà nghiên cứu cho rằng kinh đô đó tương ứng với Trà Kiệu, một địa điểm gần bờ nam sông Thu Bồn, thuộc huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Đây là thời kỳ ưu thế chính trị thuộc về bộ phận quý tộc phía Bắc. Ở phía Tây kinh thành (tương đương với vùng Mỹ Sơn), một thánh địa lớn được xây dựng.

Nhưng từ giữa thế kỷ VIII, quyền lực dần chuyển về tay các quý tộc Nam Champa và kinh đô cũng được chuyển vào Panduranga (Phan Rang). Chính vì vậy mà lịch sử Champa giai đoạn từ giữa thế kỷ VIII đến giữa thế kỷ IX thường được gọi là thời kỳ trị vì của vương triều Panduranga. Một trung tâm tôn giáo mới cũng được xây dựng ở Kauthara (Nha Trang), được gọi là Po Nagar (đền thờ quốc Vương).

Sang đến giữa thế kỷ IX, ưu thế chính trị lại một lần nữa thuộc về Bắc Champa. Một thành phố mới mang tên thần Indra (Indrapura) lại được xây dựng ở phía Bắc làm kinh đô. Địa điểm kinh đô mới này thuộc địa phận làng Đồng Dương (huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam), trên bờ sông Ly Ly (một nhánh sông Thu Bồn), cách Trà Kiệu khoảng 15km về phía Đông – Nam.

Sau khi vương triều Indrapura chấm dứt vào khoảng năm 982-983, kinh đô được dời chuyển vào Vijaya (Chà Bàn). Từ đây, vùng đất Bình Định xưa trở thành đế đô của vương quốc Champa và phát triển phồn thịnh cho đến tận năm 1471. Trong thời gian trên dưới năm thế kỷ, biết bao thăng trầm của lịch sử đã diễn ra trên vùng đất này.

Champa là quốc gia chịu ảnh hưởng sâu sắc của văn minh Ấn Độ. Nhưng bằng sức lao động và óc sáng tạo, người Champa cổ đã kết hợp nhiều yếu tố tiếp thu được với bản sắc riêng của mình tạo nên một nền văn hóa độc đáo. Trên đất Bình Định nay còn để lại không ít di tích của một thời vàng son, mà điển hình là hệ thống tháp cổ với 8 cụm tháp gồm 14 ngôi tháp độc đáo và bí ẩn.

Chú thích : Long Thạnh , Bình Châu thuộc Quảng Ngãi

(Theo báo Bình Định)

Các bài đã đăng :

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Read Full Post »

Văn hóa Sa Huỳnh trên đất Bình Định

Vào đầu tháng 7 năm nay, UBND tỉnh Quảng Ngãi sẽ tổ chức hội thảo nhân kỷ niệm 100 năm ngày tìm ra dấu tích Văn hóa Sa Huỳnh. Trong dịp này, Bình Định là một trong những tỉnh được mời tham dự hội thảo và trưng bày những cổ vật về Văn hóa Sa Huỳnh được khai quật và phát hiện trong những năm qua trên địa bàn tỉnh.

VH sahuynh 01

Đồ gốm tùy táng, khai quật tại Động Cườm.


Những dấu tích văn hóa thời tiền sử ở khu vực miền Trung lần đầu tiên được biết từ năm 1909 và đã được một học giả người Pháp thông báo sơ lược, với việc phát hiện khoảng trên 200 quan tài bằng gốm (gọi là mộ chum hay mộ vò) tại cồn cát ven biển vùng Sa Huỳnh (thuộc huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi), từ đó những khu di tích mang yếu tố mộ chum này được gọi tên chung là Văn hóa Sa Huỳnh. Nhưng cuộc tìm kiếm lúc đó chỉ là những cuộc đào bới tìm đồ cổ, chứ không mang tính khoa học về khảo cổ học. Từ năm 1954 trở về trước, người ta chỉ biết được một cách tương đối về sự phân bố của Văn hóa Sa Huỳnh từ Quảng Bình đến Bình Thuận. Giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1975, với nhiều phát hiện mới đã khẳng định thêm sự có mặt của những nhóm văn hóa này ở cả vùng Đông Nam bộ. Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, giới khảo cổ học nước ta đã tiến hành phúc tra những địa điểm khảo cổ học cũ, đồng thời phát hiện, nghiên cứu và khai quật thêm nhiều địa điểm mới. Cho đến nay, giới nghiên cứu đã thống nhất cho rằng Văn hóa Sa Huỳnh là một tập hợp di tích khảo cổ học từ thời đại Đồng thau và Sắt sớm, phân bố trong một khu vực liền khoảnh từ Quảng Bình cho đến Đồng Nai và có những đặc trưng văn hóa giống nhau, phát triển theo từng thời gian.

Đối với Bình Định, việc nghiên cứu điều tra khảo cổ học, chỉ mới được tiến hành sau năm 1975, với nhiều di chỉ đào thám sát và khai quật trong những năm qua cũng đủ cứ liệu để khẳng định từ hậu kỳ Đồng thau và Sắt sớm cách ngày nay khoảng 2.000 đến 3.500 năm, vùng đất Bình Định đã có con người tiền sử đến định cư và sinh sống. Cho đến nay, trên vùng đất Bình Định đã phát hiện được khá nhiều các di tích thuộc Văn hóa Sa Huỳnh, cũng như những nơi khác, con người Sa Huỳnh có một đặc điểm chung là họ sống ở những cồn cát và chết vùi trong cát, ven biển miền Duyên hải, các rìa cạnh đầm nước ngọt. Di tích Văn hóa Sa Huỳnh ở Bình Định tập trung nhiều nhất ở hai huyện Hoài Nhơn, Phù Mỹ và thành phố Quy Nhơn.

Tại các di tích Truông Xe, Gò Lồi, Thuận Đạo, Chánh Trạch thuộc các xã Mỹ Thắng, Mỹ Thọ (huyện Phù Mỹ); Hội Lộc, Núi Ngang, Đồi Điệp (thuộc TP Quy Nhơn) (các di tích này đã được phát hiện năm 1977 – 1978), Viện Khoa học xã hội TP Hồ Chí Minh đã tiến hành khảo sát và đào thám sát. Trong các lần khảo sát và khai quật tại các di tích này, trong tầng văn hóa đã thu được hiện vật thuộc nền Văn hóa Sa Huỳnh, nhiều loại hình như: rìu đá hình răng trâu, rìu tứ giác, đục nhỏ hình lưỡi xòe, bàn mài, chày nghiền, vò táng bằng gốm chôn đứng có dáng hình trứng, và mộ vò có hình bầu dục có vò nhỏ khác úp lên trên. Hiện vật tìm thấy trong mộ gồm: bình gốm, nồi minh khí, rìu đá hình chữ nhật, rìu hình răng trâu, vòng tay đá, hòn kê, mảnh vòng đeo tay bằng gốm hoa văn hình sống trâu và nhiều mảnh gốm hoa văn trang trí trên gốm là các kiểu hoa văn như: khắc vạch, chấm đôi, văn chải, cắt chéo hình ô trám. Theo giới nghiên cứu, trong các di tích trên, hai di tích Truông Xe và Gò Lồi thuộc giai đoạn sơ kỳ thời đại Đồng thau; các di tích Thuận Đạo, Chánh Trạch, Hội Lộc, Núi Ngang, Đồi Điệp có niên đại muộn hơn – sơ kỳ đồ Sắt.

Đồ trang sức - vật tùy táng khai quật tại Động Cườm

Đồ trang sức - vật tùy táng khai quật tại Động Cườm

Giai đoạn sơ kỳ đồ Sắt cách ngày nay từ 2.500 năm đến đầu Công nguyên, dấu tích Văn hóa Sa Huỳnh còn tìm thấy ở huyện Hoài Nhơn, địa điểm này đã được Colani (học giả Pháp) thuộc Trường Viễn Đông Bác Cổ khảo sát và khai quật năm 1934. Qua nhật ký của bà ghi chép, ở Hoài Nhơn có các điểm: Động Cườm (Tăng Long 2 – Tam Quan Nam), Phú Nhuận, động Bàu Năng ở làng Ca Công (Hoài Hương) và động Công Lương (Hoài Mỹ), Bà Ná, Đông Phù. Di chỉ Động Cườm đã được Bảo tàng Bình Định đào thám sát năm 2001 và năm 2002 -2003 phối hợp với Viện Khảo cổ học, Bảo tàng lịch sử Việt Nam tổ chức khai quật, với diện tích đào trên 300 m2, đã phát hiện được trên 50 mộ chum và mộ nồi chôn úp nhau, mật độ phân bố mộ chum khá dày, khoảng cách từ 20-35cm. Giới nghiên cứu cho rằng, sự táng tục thành cụm là sự thể hiện dấu vết của tôn giáo nguyên thủy và thể hiện tính cộng đồng của cư dân Sa Huỳnh trong khi sống và đến lúc chết. Mộ Động Cườm với hai kiểu dáng: dáng thân hình bầu tròn, miệng bẻ loe xiên; và một loại mộ thân hình trụ, đáy bầu tròn, vai hơi bóp vào, miệng bẻ loe xiên. Nắp đậy hình nón cụt, miệng bẻ loe, thành hơi bóp, vành vê tròn rồi bẻ loe ra ngoài, bên ngoài phía trên trang trí hoa văn khắc vạch, mô típ hình thoi cách điệu.

Hiện vật thu được tại Động Cườm là những đồ tùy táng chôn theo trong mộ, trong đó có nhiều hiện vật nguyên, bao gồm: nồi, bát bồng, dao găm, kiếm, dọi xe sợi. Hàng ngàn mảnh gốm bao gồm các loại hình như thân, nắp, mảnh nồi, mảnh miệng… Với những kết quả thu được đã khẳng định Động Cườm là một khu mộ táng và có thể là cả nơi cư trú của cư dân Sa Hùynh, một di tích rất có giá trị nghiên cứu về những cư dân tiền sử trên đất Bình Định nói riêng và cư dân Văn hóa Sa Huỳnh ở khu vực miền Trung Việt Nam nói chung. Người ta chôn theo người chết đồ gốm, đồ trang sức, công cụ lao động, vũ khí như một hình thức chia của để người chết sử dụng trong “thế giới bên kia”. Nhiều đồ gốm được tìm thấy bên trong và quanh các mộ chum. Đồ gốm giai đoạn này có độ nung khá cao, hoa văn trang trí không còn được chú trọng như ở giai đoạn trước, gốm tô thổ hoàng và than chì, nhiều dọi xe sợi bằng đất nung được tìm thấy, đồng thời dấu vết của vải cũng in lại trên một số đồ gốm và sắt, cho thấy vào giai đoạn này người ta đã biết dệt vải. Đồ trang sức rất phong phú về loại hình lẫn số lượng gồm có: hạt chuỗi được làm bằng thủy tinh xanh, đá màu vàng, nâu, trắng, tím, nhiều hạt chuỗi được làm bằng mã não; khuyên tai 3 mấu bằng gốm, bằng đá; vòng đeo tay bằng thủy tinh. Ở Bình Định hiện nay chưa phát hiện được loại hình trang sức khuyên tai hai đầu thú – đây là loại trang sức rất phổ biến của cư dân Sa Huỳnh.

Qua các di vật tìm thấy cho ta những nhận thức về Văn hóa Sa Huỳnh ở Bình Định có hai giai đoạn: Tiền Sa Huỳnh và Sa Huỳnh muộn. Thời kỳ Tiền Sa Huỳnh, người ta còn sử dụng nhiều những công cụ bằng đá, đến giai đoạn Sa Huỳnh muộn, công cụ sản xuất bằng đá không còn, thay vào đó là những công cụ bằng sắt. Đồ sắt được chôn theo gồm các loại dao, rìu, kiếm, dáo… là những loại công cụ lao động và vũ khí phổ biến trong giai đoạn muộn của Văn hóa Sa Huỳnh. Đồ sắt được làm bằng phương pháp rèn nóng, người ta đã biết làm tăng độ cứng của sắt bằng phương pháp thấm than.

Trong các mộ chum ở Động Cườm có thể thấy sức sản xuất của người cổ Sa Huỳnh khá cao, họ là những cư dân nông nghiệp biết trồng lúa nước, biết khai thác những sản vật của rừng và biển, biết dệt vải, rèn sắt, nấu thủy tinh, làm đồ trang sức… Sức sản xuất phát triển, của cải vật chất ngày càng nhiều tất yếu dẫn đến sự phân hóa xã hội, điều này thể hiện qua các di vật được chôn theo, có chum chôn nhiều đồ mã não, đồ sắt, đồ trang sức, có chum chỉ chôn vài món đồ gốm. Một số nhà nghiên cứu cho rằng, ở giai đoạn muộn của Văn hóa Sa Huỳnh, khu vực này đã có những nhà nước sơ khai, vào những thế kỷ I-II trước Công nguyên, vùng Đông – Nam Á đã xuất hiện những cảng thị làm nơi giao dịch của cư dân lục địa với cư dân các hải đảo, những nhà nước sơ khai ấy đã chi phối mọi hoạt động của các cư dân trong một khu vực rộng lớn, từ khu vực vùng cửa sông đến vùng thượng nguồn, sản vật ở vùng thượng nguồn được vận chuyển xuống vùng hạ lưu để trao đổi với các nơi khác.

Mộ chum, mộ nồi - khai quật tại Động Cườm.

Mộ chum, mộ nồi - khai quật tại Động Cườm.

Nói về phong tục mai táng trong vò của cư dân Sa Huỳnh, hiện nay các nhà nghiên cứu vẫn chưa có đủ cứ liệu về tục cải táng hay hỏa táng, chôn nguyên hay chôn từng bộ phận xác. Tục mai táng trong vò của người Sa Huỳnh – chôn đứng có nắp đậy – là một trong những truyền thống mai táng nổi bật ở Đông – Nam Á trong thời đại Kim khí. Các vò táng Sa Huỳnh, kể cả chum lớn, cũng khó mà tin được là để dùng cho việc chôn nguyên thi thể người lớn. Việc bố trí đồ tùy táng, đặc biệt là đồ gốm, cho thấy không có tục chôn nguyên người lớn trong vò. Các bình gốm tùy táng được đặt trong vò với tư thế đứng ở đáy phần lớn còn nguyên dạng không bị vỡ nát, chứng tỏ không có trường hợp chôn người trên các bình gốm tùy táng và việc không có xương người lớn cũng nói lên điều này. Tuy nhiên, trong các khu mộ Sa Huỳnh không thấy khu mộ nào chôn nguyên xác, do vậy, nhiều khả năng cư dân Sa Huỳnh đã “trả” xác về với thần Biển. Đây là quan niệm và tập tục mai táng của cư dân vùng biển ở nhiều khu vực trên thế giới vẫn tồn tại cho đến ngày nay. Cuộc sống của họ luôn gắn với biển, phụ thuộc vào biển, vì vậy họ tôn thờ thần Biển. Đưa người chết về với biển có thể hoàn thành một vòng luân hồi của tạo hóa: Con người từ tự nhiên sinh ra và trở về với tự nhiên (biển). Những ngôi mộ vò trên mặt đất có lẽ là những mái nhà hoặc các ngôi mộ tượng trưng để các linh hồn có chỗ trú ngụ trên quê quán. Vì vậy, không phải là hiện tượng ngẫu nhiên mà người ta tìm thấy các mộ Sa Huỳnh tập trung theo từng nhóm, nằm thẳng hàng trật tự trên cùng một bình diện địa tầng và đôi chiếc còn có lỗ thủng nhân tạo ở đáy vò như ô cửa để linh hồn ra vào; còn trẻ thơ thì được chôn nguyên trong vò vì chúng còn non dại cần được sự che chở của người lớn, do vậy chúng thường được chôn ngay trong nơi cư trú.

Cũng trong giai đoạn tiền sử, một loại hình di tích khác cũng được phát hiện trên đất Bình Định đó là những điểm phát hiện trống đồng Đông Sơn. Hiện nay trên địa bàn tỉnh Bình Định đã phát hiện được 14 chiếc trống đồng. Sự xuất hiện của trống đồng thuộc Văn hóa Đông Sơn đã phản ánh một thực tế, từ sơ kỳ Đồng thau và Sắt sớm, cư dân Sa Huỳnh đã có mối giao lưu với các nền văn hóa đương đại ở Việt Nam và Đông – Nam Á. Sự tiếp biến văn hóa mạnh mẽ với các nền văn hóa rực rỡ trong khu vực kế cận như Đông Sơn (phía Bắc), Dốc Chùa (phía Nam) và cả với Thái Lan, đã cho đỉnh cao Sa Huỳnh một mô thức văn hóa đa dạng với sắc thái riêng. Rõ ràng trong mối quan hệ qua lại nhiều chiều của Văn hóa Sa Huỳnh, người ta đã thấy bóng dáng của Văn hóa Đông Sơn in đậm trên vùng đất Bình Định.

Tham gia Hội thảo nhân kỷ niệm 100 năm ngày tìm ra dấu tích Văn hóa Sa Huỳnh sẽ được UBND tỉnh Quảng Ngãi tổ chức vào tháng 7 năm nay là dịp để Bảo tàng Bình Định mở rộng phạm vi hoạt động, nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục truyền thống văn hóa dân tộc theo định hướng xã hội hóa các hoạt động bảo tàng trong giai đoạn hiện nay.

* Hồ Thùy Trang ( Báo Bình Định )

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Read Full Post »

Truyền thuyết về kho tàng Champa ở thành Đồ Bàn

champa-1 (Small)

Thành Đồ Bàn đụơc xây dựng từ thế kỷ X nằm trên xã Nhơn Hậu huyện An nhơn tỉnh Bình Định cách QL 1A 3km về hướng tây , xưa kia đây là kinh đô của nước Chiêm thành từ vua Chế bồng Nga – Chế Mân vv. Nơi đây di sản văn hoá Chiêm thành và Tây sơn còn tồn tại cho đến bây giờ: Thành trì – tượng đá phù điều , tháp cổ và các bảo vật hoàng cung,đặc biệt Công chúa Đại Việt: Huyền Trân năm 1306 đã lên kiệu hoa về làm hoàng hậu Champa .

Năm 1377 đại quân của vua Trần Duệ Tông đã tiến đánh thành Đồ bàn . , Quân Việt đã vây và tiến công chiếm thành , vua Chiêm băng hà truóc khi vỡ thành , vua Chiêm đã cho quan quân chôn dấu kho tàng của triều đình , cùng của cải của người dân . Vì vậy cho đến nay vẫn còn truyền thuyết về các kho tàng của Chiêm thành trên đất Bình Định .

1) Khai quật kho tàng tại tháp Mẫn : vào những năm 194.. thời Bảo Đại còn làm vua , tại thôn vạn thuận ,xã nhơn thành , An Nhơn ,Bình Định , ở trước tháp Mẫm một nông dân khi cày ruộng đã vô tình phát hiện khi lưỡi cày của ông vấp vào 1 con nghê bằng đá , đã báo quan và Pháp đã về đây nghiên cứu khai quật . Tại vị trí này Pháp đã rào lại mứon dân công Việt Nam đào khai quật với diện tích 1 sào . Kết quả : rất nhiều tượng cổ nằm dưới hầm này , một số dân công kể lại có những hòn ngọc to xanh , trắng óng ánh đuọc bó kỹ lại tất cả đuọc chất lên 4 chiếc xe GMC của Pháp chở đi , lúc đó có Bảo Đại về tham quan , bà nội tôi có chạy ra xem mặt vua .Một số tượng lớn hiện nay còn lưu giữ tại bảo tàng Chàm Đà Nẵng và Qui Nhơn – phần còn lại quý giá như vàng bạc đá quý đã đuọc đem về nước Pháp .

Ngôi tháp này bị sụp đổ lâu rồi nên đã tận dụng gạch của tháp này về xây dựng chùa Thập tháp .

2) Truyền thuyết về kho tàng Chiêm : vào nhưng năm 1966 có nhiều nguòi dân Chăm đã về nơi đây mang theo bản đồ để tìm lại kho tàng cha ông để lại – sau ngày giải phóng vẫn còn nhiều người Chăm về tìm kiếm . Vào những năm 1950 bà tôi khi vào Ninh thuận buôn bán ở lại 1 nhà dân Chăm , họ hỏi có biết thành Trà Bàn không , và có nói rằng theo lời kể dòng họ thì có kho tàng còn chôn dấu ở trong thành này . khi chôn dấu họ có tính đến chu kỳ quay của mặt trời so với điểm mốc”đó là vào lúc N giờ ngày YY năm XXXX mặt trời sẽ chiếu vào đỉnh tháp Cánh Tiên trong thành , bóng của đỉnh tháp nằm ở đâu thì nơi đó có chôn kho báu vật của triều đình truóc khi tháo chạy” chỉ có dòng họ mới biết ngày giờ năm tháng đó đuọc . Vì vậy hiện nay vẫn chưa khai quật đuọc.

3) Cuộc khai quật theo bản đồ : vào nhửng năm 1985 : một ông giám đốc công ty CS BĐ( HĐE) không biết do nguồn nào ông đã có 1 bản đồ chôn dấu kho tàng này – ông đã xin được giấy phép khai quât của TW , ông đem cả 1 đoàn quân hùng mạnh – che chắn kỹ càng và tiến hành đào bới gần chân thành . kết quả sau 15 ngày là không có gì .

4) Truyền thuyết dân gian : trong dân chúng còn lưu truyền rằng ” vàng của Chiêm được chế tác thành hình các con vật heo , gà vịt vv. trước khi mất thành họ đã chôn giấu và dùng phép thuật để yểm bùa chú vào”. những người dân trong thành ban đêm thường thấy bầy heo vàng đi ăn hoặc bầy gà mẹ dẫn gà con đi ăn , nhưng không thể nào bắt được . Nhưng do duyên số có những người bắt được heo vàng về từ người nghèo khó trở nên giàu có và có nhiều người như vậy .

champa-2 (Small)

Tháp cánh tiên nơi dùng làm chuẩn để xác định kho tàng chămpa

Những chuyện có thật là hiện nay lâu lâu dân chúng trong thành vẫn vô tình đào bới đuọc những vật có giá trị của thời Chămpa : vàng được chế thành buồng cau – con voi- con gà với tuổi vàng thấp ( 6 so với 9 bây giờ) có cả những cộng xích vàng

champa-3 (Small)

Tacgia Loitranchinh – Yamahamotor.com.vn

*MỤC LỤC – GIẢI TRÍ – THƯ GIÃN


Read Full Post »

Con tàu cổ đắm tại vùng biển tỉnh Bình Định.

Những năm gần đây, hàng loạt cuộc khai quật khảo cổ học dưới nước đã tìm thấy nhiều con tàu cổ đắm với hàng trăm ngàn cổ vật ở vùng biển Việt Nam tại Phú Quốc, Hòn Dầm (Kiên Giang), Hòn Cau (Vũng Tàu), Cà Mau, Cù Lao Chàm (Quảng Nam) và Bình Thuận. Vừa qua, Bình Định cũng xác định được một tàu cổ đắm tại vùng biển cửa Hà Ra (xã Mỹ Đức, huyện Phù Mỹ).

tau dam BD

Thợ lặn và cổ vật vớt lên tại tàu đắm.

Ngay sau khi nhận được tin báo của ngư dân về việc có một số thợ lặn bắt tôm hùm vớt được cổ vật gốm sứ và tiền đồng tại vùng biển xã Mỹ Đức, Bảo tàng Tổng hợp Bình Định đã phối hợp với Công ty TNHH Trục vớt – Cứu hộ và Kinh doanh nhà Đoàn Ánh Dương, Đồn Biên phòng 312 và Trung tâm Văn hóa – Thông tin huyện Phù Mỹ kiểm tra. Qua đó, xác định được vị trí có cổ vật nằm ở tọa độ 14o20’540 vĩ Bắc và 109o11’837 kinh Đông, cạnh Hòn Rùa, ngoài cửa biển Hà Ra. Sau đó, Bảo tàng Tổng hợp tiếp tục phối hợp để tiến hành khảo sát thăm dò xác định vị trí tàu đắm, trữ lượng cổ vật tại tọa độ trên.

Công ty TNHH Trục vớt – Cứu hộ và Kinh doanh nhà Đoàn Ánh Dương đã tổ chức thực hiện đúng quy trình phân ô, chia kíp lặn từ tâm tọa độ theo bán kính 50m, ở độ sâu 32m. Toàn bộ khu vực khảo sát đều là đá ngầm. Kết quả đã thu về, giao cho Bảo tàng Tổng hợp, một số cổ vật gốm sứ và tiền đồng. Qua kết quả khảo sát, Công ty TNHH Trục vớt – Cứu hộ và Kinh doanh nhà Đoàn Ánh Dương kết luận: “Việc tàu đắm tại tọa độ trên là có thật, nhưng do tàu đắm nằm trên khu vực đá ngầm, cộng với nhiều yếu tố khác tác động, đã làm cho con tàu không còn tồn tại…”. Dẫu vậy, đây cũng là lần đầu tiên, vùng biển Bình Định tìm thấy được tàu cổ đắm cùng nhiều cổ vật.

Cổ vật tìm thấy ở tàu đắm cửa Hà Ra gồm tiền đồng và nhiều loại hình đồ gia dụng như đĩa, bát, âu, cốc, bình… không có đồ lớn. Hầu hết là đồ men ngọc, một số ít men trắng và men nâu, loại hình gốm ám họa (vẽ chìm). Nhiều hiện vật khi vớt lên, vẫn còn nguyên hiện trạng đồ nhỏ được chồng xếp thứ tự trong đồ lớn. Đĩa loại lớn nhất đường kính 34 cm, có thành cong và mép bẻ ra ngoài, chân cao. Một số đĩa nông lòng có mép thẳng, bắt đầu uốn thẳng lên từ mép đĩa, đa phần đĩa có hoa văn nạo lòng máng ở thành và in cánh hoa cúc chìm ở lòng đĩa. Có loại bát sâu lòng, thành cong, đường kính miệng 20cm. Thành bát có hoa văn dây leo khắc chìm dưới men, lòng bát in chìm hoa cúc. Lại có loại bát miệng loe xiên, ve lòng, men phủ chưa đến chân bát, màu men xanh nhạt và mỏng hơn. Âu có đường kính 15cm, không in khắc hoa văn. Lòng âu men chỉ tráng phần trên miệng, phần dưới và lòng không men. Loại hình bình lớn cao 30cm có vai nở rộng, không tráng men và không có hoa văn; bình nhỏ dáng trái đào, có hai quai. Riêng loại hình cốc tìm thấy nhiều và còn nguyên vẹn nhất. Tiền đồng tìm thấy khá nhiều, đóng kết thành từng khối, tiền còn tốt, chữ rõ nét, chủ yếu là tiền thời Tống.

Một số cổ vật tàu đắm tại Hòn Rùa cửa Hà Ra.

Một số cổ vật tàu đắm tại Hòn Rùa cửa Hà Ra.

Theo nhận định của một số chuyên gia gốm sứ trong nước cũng như nước ngoài: cổ vật gốm sứ vớt được từ tàu đắm ngoài cửa biển Hà Ra thuộc thời kỳ Tống Nguyên (Trung Quốc), khoảng thế kỷ XIII – XIV. Chiếc tàu bị đắm là tàu buôn Trung Quốc đang trên tuyến hải hành Bắc – Nam, bị đắm khoảng thế kỷ XIV. Việc tìm thấy một số lượng lớn tiền trên tàu, có thể đoán định, tàu đã ghé cảng thị Hội An trao đổi, mua bán trước khi bị đắm. Như vậy, lượng hàng gốm sứ trên tàu buôn đã vơi đi một phần. Vì vị trí tàu đắm nằm trên khu vực đá ngầm (kéo dài đến Hòn Rùa), nên tàu không được cát chôn vùi. Qua nhiều thế kỷ, sóng bão và dòng nước ngầm đã làm phá vỡ tàu. Do đó, qua 2 đợt khảo sát đã không tìm thấy xác tàu, còn cổ vật gốm sứ bị hỏng rất nhiều và một số cổ vật trôi dạt rải rác dưới đá san hô.

Việc lần đầu tiên phát hiện con tàu cổ đắm tại vùng biển tỉnh Bình Định có giá trị to lớn về khảo cổ học dưới nước, góp phần định hình con đường tơ lụa trên biển và khẳng định: vùng biển Bình Định từng là lộ trình và nơi dừng chân trao đổi mua bán của các con tàu xa xưa trên tuyến hải hành Bắc – Nam trong khu vực.

Báo Bình Định

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

Read Full Post »

Gốm Gò Sành – gốm Chăm cổ

Từ lâu, Gò Sành hay xóm Sành – tên một xóm nhỏ thuộc thôn Phụ Quang, xã Nhơn Hòa, huyện An Nhơn, Bình Định – đã trở thành điểm tham quan, tìm hiểu của giới nghiên cứu gốm cổ trong nước và quốc tế.

Nằm cạnh quốc lộ nối liền Quy Nhơn với Tây Nguyên, vị trí Gò Sành rất thuận lợi cho những ai có dự định đến thăm.

Người dân Phụ Quang kể rằng, trong khi đào đất xây dựng hoặc canh tác, họ thường gặp những vùng đất ken dày các mảnh gốm sứ với nhiều bát, đĩa, cốc còn nguyên vẹn. Tuy không biết chúng đã bị vùi lấp từ bao giờ nhưng họ cho rằng chủ nhân của những cổ vật này là người Chăm.

Vào khoảng những năm 70 thế kỷ trước, gốm Gò Sành đã theo chân giới buôn bán đồ cổ đi đến nhiều vùng, gây được sự chú ý của các nhà nghiên cứu gốm cổ Việt Nam và thế giới. Tháng 3/1974, một đoàn khảo cổ học từ TP HCM đã đến Phụ Quang để tìm hiểu. Tuy chưa có cuộc khai quật nào tại Gò Sành nhưng họ cũng đưa ra giả thuyết, người Chăm đã làm ra những sản phẩm gốm này.

Gốm Gò Sành được trưng bày tại bảo tàng.

Gốm Gò Sành được trưng bày tại bảo tàng

go-sanh

Tượng gốm Gò Sành.

Hơn 10 năm sau, những hiện vật gốm Gò Sành lại được nhắc đến. Dựa vào những hiện vật có nguồn gốc từ Gò Sành của một nhà sưu tầm trong nước, Rosana Brown, một chuyên gia nghiên cứu gốm cổ Đông Nam Á, dành một chương trong luận văn tiến sĩ của mình viết về đồ gốm và khu lò gốm Gò Sành. Từ những thông tin trên, Viện khảo cổ học Hà Nội, Bảo tàng Tổng hợp Bình Định đã hoạch định một chương trình nghiên cứu lâu dài tại Gò Sành và toàn bộ di tích gốm cổ trên đất Bình Định. Cho đến trước năm 2000, đã có bốn cuộc khai quật được tiến hành liên tục tại khu di tích này.

Các khu lò gốm Bình Định tính đến nay có năm nhóm. Ở huyện An Nhơn có Gò Sành, Gò Cây Ké, Gò Hời. Tất cả các đều nằm dọc hai bờ sông Kôn chảy vào vịnh Thị Nại (cảng Quy Nhơn ngày nay), một vị trí thuận lợi để vận chuyển bằng đường thủy.

Những cuộc khai quật khảo cổ tại Gò Sành được thực hiện vào các năm 1991, 1992, 1993. Cuộc khai quật năm 1994 có sự hợp tác của các học giả Nhật Bản. Trong số các di chỉ lò đã được xác định ở 5 vị trí thuộc phạm vi vùng Vijaya trước đây, lò số 1, số 2 và số 3 là ở Gò Sành.

Lò số 1 có tên là lò Cây Quăng, hiện còn khá nguyên vẹn, từ tường, nền và sản phẩm nung cuối cùng. Nó có dạng hình ống với tổng chiều dài 14 m. Buồng lò hình chữ nhật, mở rộng dần về phía cuối, đo được 1,6 m. Chiều rộng ở phía trước là 2,8 m.

go-sanh2

Gốm Gò Sành có nhiều sản phẩm độc đáo

Ở một bên tường có cửa để vào xếp và dỡ sản phẩm. Một bức tường thẳng cao 0,5 m tách riêng phần buồng lò và bầu đốt. Chỗ tường phía cuối lò cũng xây bằng những bao nung để thoát lửa và khói, được xếp thành hàng ngang với 6 lỗ trống. Hai lớp nền thuộc hai thời kỳ khác nhau, được phân biệt rõ ở phần buồng lò, với lớp nền dày 0,3 m. Tường lò được xây bằng bao nung, nhồi đất sét kín ở bên trong. Đây là kỹ thuật xây rất mới mà các nhà nghiên cứu chưa thấy xuất hiện ở đâu khác trên đất Việt Nam.

Lò số 2 có tên là lò Cây Mận (Cây Roi), nằm ở phía nam của Gò Sành. Về kỹ thuật, nó giống như lò số 1, tường cũng xây bằng những bao nung lèn đất. Cách sắp xếp cột chia lửa trong bầu đốt cũng tương tự.

Lò số 3 nằm dưới lò số 2. Theo đánh giá của giới nghiên cứu, đây là lò có niên đại xây dựng sớm nhất. Tường không làm bằng bao nung mà hoàn toàn bằng đất. Lò rộng 1,2 m chỗ gần bầu đốt, 1,7 m ở phía sau. Chiều dài thân lò 5,3 m. Ở cuối tường mở bốn lỗ trống thoát khói. Ống khói nhỏ, góc thoát lên trên, lối dẫn lửa vào nằm ở cùng độ sâu với buồng lò, cho phép lửa từ bầu đốt đi lên. Đây là kiểu đốt lửa độc đáo của người Chăm mà trước đây chưa thấy một tư liệu nào nói đến.

go-sanh3

Hiện vật tại hố khai quật Gò Sành

Hiện, Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Bình Định thu thập và lưu giữ một bộ sưu tập khá phong phú các sản phẩm gốm Gò Sành. Việc xem xét và nghiên cứu bộ sưu tập có thể giúp hình dung rõ nét hơn về vai trò của di tích khu lò gốm này trong lịch sử. Sản phẩm sành sứ chủ yếu được sản xuất tại đây bao gồm bát, đĩa, chậu tráng men, ngói không men và vật trang trí kiến trúc. Những chiếc bát đĩa tráng men Celadon và bình hũ tráng men nâu có đặc điểm tương tự với sản phẩm các lò Phúc Kiến (Trung Quốc).

Những sản phẩm được sản xuất ở Gò Sành phần lớn có xương màu xám mực, đỏ nhạt, giai đoạn sớm dùng kỹ thuật con kê, men tráng gần sát đáy; giai đoạn muộn dùng kỹ thuật ve lòng. Men gốm dày đều và màu men không ổn định đã tạo ra một sắc thái riêng cho gốm Gò Sành.

Gốm Gò Sành sản xuất ra không chỉ để phục vụ tại chỗ mà còn xuất khẩu sang các nước Đông Nam Á và xa hơn là Ai Cập. Trong số những hiện vật tìm thấy trên con tàu đắm ở quần đảo Calatagan thuộc Philipphines có hàng nghìn đồ gốm Gò Sành.

Cho đến nay, chưa có đủ tư liệu để khẳng định một cách chắn chắn niên đại khởi đầu cho việc sản xuất đồ sành xứ ở Gò Sành nói riêng và của người Chăm nói chung. Nhưng qua những kết quả khai quật tại Gò Sành và ở nước ngoài, có thể thấy rằng giai đoạn phát triển rực rỡ nhất của làng nghề này nằm trong khoảng thế kỷ 15-16. Một số chuyên gia Việt Nam cho rằng, việc sản xuất gốm Bình Định có thể bắt đầu từ cuối thế kỷ 13 đến thế kỷ 15, chậm lắm là đến thế kỷ 16.

Dựa vào các tư liệu lịch sử liên quan đến quá trình hình thành và phát triển vùng đất Bình Định, loại hình các sản phẩm được làm ra, so sánh những mô típ trang trí trên các hiện vật với những tư liệu điều tra dân tộc học, các nhà nghiên cứu kết luận, chủ nhân lò gốm Gò Sành và các khu lò gốm cổ khác ở Bình Định không ai khác ngoài người Chămpa cổ.
Theo Địa Chí Bình Định

 

 

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »