Feeds:
Bài viết
Phản hồi

Posts Tagged ‘bình dương’

HÌNH ẢNH FESTIVAL GỐM SỨ BÌNH DƯƠNG VIỆT NAM – BÌNH DƯƠNG  2010

đã khai mạc Triển lãm trưng bày gốm cổ với chủ đề “Tinh hoa Gốm việt”. Triển lãm trưng bày gần 720 hiện vật gốm cổ qua các thời kỳ như gốm sứ Đông Sơn, thời Đinh – Tiền Lê, thời Lý – Trần, gốm sứ Óc eo, Champa… của Bảo tàng lịch sử Việt Nam và một số tỉnh thành. Đây được xem là cuộc trưng bày lớn nhất về gốm cổ Việt từ trước cho đến nay với các cổ vật được quy tụ từ các bảo tàng trong cả nước như: Bảo tàng lịch sử Việt Nam, Bảo tàng các tỉnh: Thừa Thiên – Huế, Quảng Nam, Bình Định, Phú Yên, Đồng Nai… và cổ vật của các nhà sưu tập trong và ngoài tỉnh. Các hiện vật thuộc các chất liệu như: đất nung, sành, gốm với các dòng men như gốm men độc sắc gồm: men trắng, men ngọc, men nâu, gốm hoa nâu, gốm hoa lam, men lam xám, gốm men rạn… thể hiện sự đa dạng và phong phú của gốm Việt. Triển lãm trưng bày gốm cổ diễn ra từ ngày 03/9 đến 08/9/2010 tại Bảo tàng tỉnh. Ngoài  ra tại sân vận động tỉnh cũng  tổ chức Hội chợ triển lãm “Gốm sứ – Thế giới sắc màu”. Hội chợ triển lãm với hơn 600 gian hàng trưng bày gốm sứ trong và ngoài nước như gốm sứ Minh Long, Cường Phát, Bát Tràng, gốm sứ Trung Quốc…Tại Triển lãm, ngoài việc giới thiệu sản phẩm gốm sứ đây còn là cơ hội để các công ty đẩy mạnh xúc tiến thương mại, giao dịch, ký kết hợp đồng sản xuất, mua bán…

Ngoài ra, một số sản phẩm tham gia cuộc thi “Gốm đề cử kỷ lục Việt Nam” cũng được trưng bày cho công chúng tham quan như Gốm mây, Đất nước, Lu Thiên địa, Thăng Long hoài cổ…Bên cạnh đó, còn trưng bày một số sản phẩm cao cấp được trang trí hết sức sinh động dưới bàn tay của những nghệ nhân gốm sứ. Đây là một trong những hoạt động nhằm chào mừng Quốc khánh 2/9, hướng tới kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội và nằm trong chuỗi hoạt động của Festival gốm sứ Việt Nam- Bình Dương

Dưới đây là hình ảnh trong cuộc triển lãm :

“Tinh hoa gốm việt”

This slideshow requires JavaScript.

“Gốm sứ – thế giới sắc màu”

This slideshow requires JavaScript.



Hình ảnh của bản tin: KhanhHoaThuyNga

* MỤC LỤC – TIN TỨC THỜI SỰ NGÀNH GỐM 


Read Full Post »

Lò lu Đại Hưng

Ông Tám Giang bên những chiếc lu tmới sản xuất

Ông Tám Giang bên những chiếc lu tmới sản xuất

Thủ Dầu Một – Bình Dương với lịch sử hơn 300 năm hình thành và phát triển; với những ngành nghề thủ công truyền thống khá nổi tiếng cả trong và ngoài nước như sơn mài, điêu khắc và gốm sứ. Trong đó nghề gốm cũng đã du nhập đến vùng đất này khá lâu đời đã. Hiện nay ngành gốm sứ đã phát triển một cách mạnh mẽ và có một chỗ đứng vững chắc trong sự phát triển kinh tế của tỉnh trong những năm gần đây. Hầu hết nghề thủ công truyền thống làm gốm ở Bình Dương nói riêng và khu vực Nam bộ nói chung đều có nguồn gốc khá lâu đời, phần lớn do những người Trung Hoa di cư thế kỷ XVll – XVlll, đến vùng đất này sinh cơ lập nghiệp. Lò lu Đại Hưng thuộc ấp 1, xã Tương Bình Hiệp, TX.TDM, tỉnh Bình Dương cũng là một trong các lò lu như thế.

Lúc đầu lò được làm theo kiểu lò ống (hiện vẫn còn nhưng không sử dụng nung được) nằm ở phía trên lò lu hiện tại. Sau đó được làm lại phần lò bao như ngày nay, khi đó lò chỉ được lợp bằng tre và lá dừa nước lẩy ở sông Sài Gòn, cũng không ngoại lệ. Ong chủ đầu tiên sáng lập nên lò lu này là một người Hoa tên gọi là chú Ngâu, ông là người Quảng Đông – Trung Quốc. Khi đó hàng làm ra chủ yếu là các loại lu khạp, hủ… Đến khi ông Ngâu chết lò được sang lại cho ông Tư Ti ở Sài Gòn – Chợ Lớn, khi ông Tư Ti chết thì lò được sang lại cho một người Hoa khác có tên là Lầm, người quản lý lò cho ông Lầm cũng là một người Hoa. Nguyên liệu chính để làm ra những sản phẩm lu – khạp… lúc bấy giở, thường được lấy ba hoặc bốn loại đất như: đất đen, đất cát, đất lá bài và bùn dưới sông Sài Gòn trộn lẫn với nhau, cho vào hầm xay sẵn rồi đạp cho nhuyễn. Phương tiện chủ yếu để vận chuyển nguyên liệu là xe bò. Thành phẩm làm ra được các thương lái ở Sài Gòn mua lại, rồi bán về các tỉnh miền Tây Nam bộ và các vùng phụ cận, vận chuyển sản phẩm bằng ghe theo sông Sài Gòn xuôi về khắp nơi. Hiện tại, lò lu đã sản xuất nhiều mặt hàng gốm, sành rất đa dạng về mẫu mã và màu sắc. Đặc biệt, lò vẫn giữ nét thủ công truyền thống của nghề làm gốm, chủ yếu tạo sản phẩm bằng thủ công, màu sắc sản phẩm cổ điển, nguyên vật liệu của địa phương, chất đốt bằng củi, chưa sử dụng kỹ thuật, máy móc hiện đại Loại hình sản phẩm truyền thống là lu, khạp, vại, chậu… với kích thước đa dạng. Sản phẩm được xuất đi khắp nơi trong nước và xuất khẩu sang thị trường Campuchia…

Lò được xây hoàn toàn bằng gạch sống (gạch chưa nung), phơi khô sau đó đem vào xây lò và được trét bằng đất sét. Sau một thời gian lò được đốt thì lớp đất sét và phần gạch sống này sẽ trở nên rất chắc chắn. Sở dĩ người ta không dùng xi măng vì nó sẽ bị cháy hoặc nổ trong quá trình đốt lâu dài. Lò chính được xây theo kiểu lò Bao, các bao rộng từ 2,5 – 3m cao từ 2,6 – 2,8m, với tổng cộng 15 bao nối liền nhau từ thấp đến cao nhìn như những vỏ sò nằm nối tiếp nhau, cái nọ sát cái kia. Căn đầu tiên (Bao đầu tiên) được gọi là căn mồi lửa, căn này có cửa cao khoảng 1 ,5m và rộng 1m, riêng ở bên hông các căn còn lại đều có 2 cửa hai bên rộng khoảng O,8m cao 1,2m các cửa này dùng để đưa sản phẩm vào lò và lấy sản phẩm ra sau khi đã nung chín. Sau khi đưa sản phẩm vào lò các công nhân sẽ dùng gạch bít kín các cửa này lại, chỉ chừa lại một ô nhỏ phía trên hình chữ nhật rộng khoảng 15cm, dài 30cm những ô này để cho người thợ chụm củi quan sát lửa trong bao, xem độ nóng trong lò đã đủ chưa và đạt đến độ chín cần thiết hay không. Các ô này còn được gọi là nhãn lò ”Mắt lò thường thì các bao lớn ở phía trước của lò chủ yếu để nung các loại lu lớn và nhỏ, lu lớn có thể xếp được 2 tầng với 3 hàng khoảng 40 chiếc, các bao nhỏ ở phía sau chủ yếu là xếp khạp và hủ, các bao nhỏ này có thể xếp được khoảng 200 khạp lớn và 100 khạp nhỏ. Thông thường thì đốt liên tục khoảng 6 giờ thì sản phẩm sẽ chín, nhưng có khi cũng chỉ khoảng 4 giờ là được, chủ yếu là do con mắt tinh tế của người nghệ nhân.

Nguyên liệu chủ đạo là đất sét, nhưng phải là loại đất có pha cát, sỏi không phải là loại đất dẻo. Phần nguyên liệu này chủ yếuđược lấy từ Dầu Tiếng, Tân Uyên… Khi mới được đưa về được đổ các bãi ngoài trời trước khi đưa vào nghiền. Đất được để ngoài trời càng lâu thì càng tốt. Vì khi để ở ngoài trời, dưới tác động của thời tiết mưa nắng, đất bắt đầu có sự phân rã sẽ làm cho chất phèn trong đất dần dần chảy hết ra ngoài. Đất sẽ được cho vào máy xay cho nhuyễn và loại hết các loại tạp chất, đem ngâm trong bể khuấy đều và đạp bằng chân cho đất thật nhuyễn, thật đều các nguyên liệu với nhau, rồi đất được vớt lên để khoảng 2 giờ thì cho vào máy ép cho nhuyễn, cũng như làm cho đất sét đặc lại không còn không khí bên trong. Các sản phẩm ở đây chủ yếu là lu và khạp. Trong đó lu nhất là lớn nhất có thể đựng tới 200 lít nước. Hoa văn trang trí trên sản phẩm thường là hình rồng, phụng được đắp nổi. Khạp là lại sản phẩm cũng dùng chủ yếu là đựng nước, nhưng nhỏ hơn lu, lu và khạp có màu chủ yếu là vàng da bò, da lươn. Đây là loại men chủ yếu dùng cho hai loại sản phẩm này.

lò lu Đại Hưng 01

Hiện nay, theo ông Bùi Văn Giang là người trực tiếp sản xuất ra các sản phẩm này thì trong những năm gần đây, các loại lu lớn, nhỏ cũng được các thương lái từ TP.HCM và các tỉnh miền Tây Nam bộ đặt hàng. Sau đó, một phần cũng tiêu thụ trong nước chủ yếu là các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long Thị trường nước ngoài chủ yếu và duy nhất của lò này thị trường Campuchia, các thương lái buôn Việt Nam và Campuchia sau khi mua các sản phẩm tại đây thì cho thuyền ngược theo sông Sài Gòn để qua Campuchia tiêu thụ, các sản phẩm được thị trường này chấp nhận là các loại lu lớn (lu nhất).

Là một trong những lò lu còn khá nguyên vẹn, đã hình thành tồn tại và phát triển qua hàng trăm năm trên vùng đất Thủ Dầu Một – Bình Dương. Bảo quản và giữ gìn được lò lu này, nhằm giáo dục cho thế hệ hôm nay và mai sau về một nghề thủ công truyền thống, đóng góp và có nhiều ý nghĩa trong đời sống, mà còn thể hiện tính nhân văn. Giữ gìn được nét văn hóa đặc trưng của nghề gốm – một trong các nghề thủ công truyền thống ở Bình Dương. Ngày nay, khoa học kỹ thuật tiến bộ từng ngày, những lò lu gốm thủ công này có thể dần dần sẽ bị biến mất và thay thế vào đó là những công nghệ, kỹ thuật tiên tiến hơn. Vì vậy, gìn giữ và bảo quản được di tích này sẽ góp một phần không nhỏ trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của địa phương, trong hành trình của lịch sử dân tộc, đang bước vào thời kỳ mới.

Lò lu Đại Hưng đã được xếp hạng Di tích cấp tỉnh theo Quyết định số 4815/QĐ-UBND ngày 3-10-2006 của UBND tỉnh Bình Dương.

(Ban Quản lý Di tích lịch sử Binh Dương)

MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Người vẽ tranh trên kính cuối cùng ở đất Bình Dương

Lái Thiêu là một thị trấn nhỏ thuộc huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương. Nơi đây nổi tiếng với những vườn cây ăn trái, lò gốm, xưởng mộc gia truyền… Nhưng, có lẽ còn ít người biết mảnh đất này trước đây cũng khá nổi tiếng với nghề vẽ tranh trên kính. Theo thời gian, những bức tranh trên kính vàng son cũng dần phai mờ trong trí nhớ.

Tiệm kính Mỹ Nga là một căn nhà nhỏ, nằm ở mặt tiền một con đường nhỏ của thị trấn Lái Thiêu. Khi chúng tôi bước vào tiệm kính thì người nghệ nhân ấy đang cặm cụi hoàn tất công đoạn cuối cùng của một bức tranh kính khảm ốc. Khi biết chúng tôi là nhà báo đến đây để tìm hiểu nghề vẽ tranh trên kính thì ông hết sức ngạc nhiên: “Hồi nào giờ, có ai hỏi ba cái vụ mần tranh kiếng (tức kính) này đâu!”.

Thong thả, vừa làm, vừa hút thuốc, trò chuyện, người nghệ nhân vẽ tranh kính ấy cho chúng tôi biết, tên khai sinh của ông là Trương Trung Thơ, gọi theo thứ bậc trong nhà là Sáu Thơ, năm nay đã 66 tuổi. Theo dòng hồi ức của một người… hay quên, ông Sáu Thơ cho biết, cha ông là một người gốc Hoa tên Trương Tường, còn mẹ ông là người Việt. Từ thời xa xưa, những người Hoa đến vùng Lái Thiêu để lập nghiệp, mưu sống, với chủ yếu là nghề gốm, mộc, thì cha ông đã có sẵn trong tay nghề vẽ tranh trên kính. Theo hình dung của ông thì cha ông chắc hẳn phải là một họa sĩ, có học trường lớp hẳn hoi ở bên Trung Hoa. Nhưng lúc ấy, nghề vẽ tranh trên kính của người Hoa chỉ là “vẽ chơi”, đủ thứ hoa văn chứ không theo một chủ đề nào.

người thợ vẽ cuối cùng và bức tranh trên kính

người thợ vẽ cuối cùng và bức tranh trên kính

Theo như những gì mà chúng tôi đọc được thì có lẽ người Trung Hoa lúc ấy đã lãnh hội kỹ thuật vẽ tranh trên kính của châu Âu. Còn ông Sáu Thơ thì đinh ninh rằng: cha ông là người đầu tiên “sáng lập” ra nghề vẽ tranh kính ở Lái Thiêu. Từ những thứ “vẽ chơi” của người Hoa, ông Trương Tường đã nghiên cứu vẽ theo chủ đề để phục vụ cho cuộc sống và phong tục của người Việt. Mà, điển hình nhất là tranh kính thờ và tranh kính sơn thủy dùng để trang trí.

Người Hoa có tục thờ linh vị, chỉ có chữ chứ không có hình. Còn người Việt thì có cả một ban thờ với đủ “chư vị”, lại thêm những bức liễn, trướng khá công phu, phong phú. Từ chỗ quan sát cuộc sống, ông Trương Tường bắt tay vào vẽ tranh thờ trên kính. Ngay lập tức, tranh thờ trên kính của ông nổi tiếng, tạo nên một thị trường tranh kính sôi động tại Lái Thiêu. Sau đó, có người đến xin làm “đệ tử”. Tranh kính phát triển lên Sài Gòn – Chợ Lớn và các tỉnh lân cận…

Nghệ nhân Sáu Thơ nhớ lại: “Hồi đó ở miệt Lái Thiêu này làm gì có kiếng. Để mua kiếng, cha tôi phải đánh xe bò lên tuốt… cái cảng gì đó ở Sài Gòn. Kiếng được nhập cảng chứ không phải của người mình làm. Mua kiếng xong lại đánh xe bò về. Tui đã từng theo cha ngồi vắt vẻo trên chiếc xe bò đó. Hồi nhỏ, thấy đường đi xa lắm. Mà cũng phải, hồi đó vùng này hoang vu, chỉ thấy toàn cây chuối với ao, mương…”.

Khoảng 13 tuổi, Sáu Thơ đã được cha truyền nghề. Vẽ tranh trên kính, tất nhiên không phải là món “dễ mần”, trái lại rất khó, bởi phải vẽ ngược. Dụng cụ dùng để vẽ là cọ, mà cọ phết trên kính thì dễ bị “trôi” hoặc nhòe đi. Do đó phải luyện cho bàn tay đạt đến mức: mạnh, nhanh mà uyển chuyển. Đấy là cách luyện của người vẽ thư pháp, chỉ chấm phá mà tạo đường nét, sắc sảo, có hồn. Chưa hết, do vẽ trên kính màu lâu khô, nên người vẽ phải vẽ liên tục, không được dừng, vẽ cho đến khi xong bức tranh thì thôi. Nếu vẽ đứt đoạn, nghỉ dừng tùy ý thì bức tranh cũng đậm nhạt, đứt đoạn lôi thôi.

Cặm cụi với cha vẽ tranh kính riết cũng chán. Năm 20 tuổi, Sáu Thơ rời Lái Thiêu lên Sài Gòn để vẽ tranh cho các gánh hát. “Tui vẽ tranh cho các gánh hát Thúy Nga, Trâm Vàng, Thống Nhất… gần cả chục năm. Vẽ tranh cho gánh hát nhưng tánh tui không thích theo gánh hát nên kêu họ dựng cho một cái trại ngay tại Sài Gòn. Tui vẽ cảnh tuồng, rồi vẽ luôn mẫu quần áo cho thợ may. Các gánh hát thỉnh thoảng về đó lấy phông cảnh tập tuồng, rồi mang phông cảnh, quần áo đi. Còn tui thì có cái xe hơi, rảnh rỗi là… đổ xăng đi chơi”.

Sau hơn 10 năm vẽ tranh cho các gánh hát, ông Sáu Thơ lại quay về Lái Thiêu để tiếp tục nghề vẽ tranh kính. Bởi, khi cha ông mất đi thì ông là người vẽ tranh kính cuối cùng của Lái Thiêu nói riêng, đất Bình Dương nói chung. “Ở Sài Gòn-Chợ Lớn bây giờ có còn người vẽ tranh kiếng?”- Chúng tôi đặt câu hỏi. Ông Sáu Thơ nheo nheo đôi mắt, giọng buồn buồn: “Có lẽ vẫn còn. Nhưng mà lớp “hậu sanh” không tận tâm về nghề đâu. Họ biết vẽ, nhưng làm biếng, chỉ làm tranh in hoặc dán đề-can…”

Nghề vẽ tranh kính trước nguy cơ thất truyền

“Giữa một bức tranh kiếng in, với một bức tranh kiếng vẽ, đâu là chỗ phân biệt?”- Chúng tôi hỏi. Không trả lời ngay, nghệ nhân Sáu Thơ lôi từ trong góc ra hai bức tranh kính thờ Mẹ Sanh (tức là thờ có trước, có sau, có ông bà cha mẹ mới có mình. Với hình Phật Bà Quan Âm ngồi giữa, hai nữ hầu cầm quạt hai bên) cho chúng tôi xem. Thoạt nhìn bức tranh kính thờ Mẹ Sanh dùng kỹ thuật in trông phẳng phiu và… dễ nhìn hơn. Nhưng nhìn kỹ, bức tranh vẽ lại chi tiết, có hồn.

Nghệ nhân Sáu Thơ giải thích: “Tranh in thì cũng từ tranh vẽ, nhưng tạo khuôn rồi cứ theo khuôn đó mà rập. Còn tranh vẽ thì cũng là tranh đó nhưng mỗi cái mỗi khác, vì đường nét linh động, sắc sảo, có hồn. Mà tranh có hồn hay không là do tay nghề và thần thái của người vẽ!…”.

Một bức tranh kính in rẻ hơn tranh kính vẽ từ 3-4 lần. Do đó mà ngày càng nhiều người chỉ mua tranh in. Dù vậy, công việc của nghệ nhân Sáu Thơ vẫn không ngớt, bởi những người yêu thích tranh kính vẽ vẫn còn, nhất là lớp người lớn tuổi hay sống trong hoài niệm, hoặc những người biết được giá trị của tranh kính vẽ đích thực.

Hiện nay, tranh kính thờ vẫn có mặt ở hầu khắp đất nước. Nhưng người vẽ tranh kính như ông Sáu Thơ chắc hẳn chỉ đếm trên đầu ngón tay. Hơn thế nữa, ông Sáu Thơ là nghệ nhân còn lại duy nhất của dòng tranh kính Lái Thiêu, là cội nguồn, cái nôi của tranh kính Việt Nam. Thế mà cho đến bây giờ nghệ nhân Sáu Thơ vẫn chưa có một “đệ tử” nào cả. Nếu sau này ông mất đi, liệu nghệ thuật tranh kính Lái Thiêu có thất truyền?

Giải thích cho việc không có ai xin làm “đệ tử”, nghệ nhân Sáu Thơ lại nheo mắt, giọng trầm buồn: “Có lẽ vì nghề này khó học. Trường đại học Mỹ thuật cũng không có khoa nào dạy tranh kiếng. Trước đây, cậu tui là GS Nguyễn Văn Rô cũng là học trò của cha tui. Cậu tui dạy Cao đẳng Mỹ thuật (ĐH Mỹ thuật bây giờ), nhưng cũng không dạy vẽ tranh trên kiếng. Mà người chơi tranh kiếng bây giờ cũng hiếm. Chỉ thỉnh thoảng có “đại gia” hay một trí thức Việt kiều nào đó về đây đặt tui vẽ một bức theo đơn đặt hàng…”. Nói rồi, nghệ nhân Sáu Thơ mang ra khoe một bức tranh kính vừa hoàn tất. Đấy là bức tranh thờ “Cửu quyền thất tổ” (tức là thờ chín đời). Một bức tranh khá đẹp, phong cảnh sơn thủy hữu tình, ngoài màu vẽ còn được khảm ốc, xà cừ khá độc đáo, sắc sảo hiếm thấy. Lại mang ra một bức Phật Bà Quan Âm được khảm ốc, nghệ nhân Sáu Thơ tự hào: “Đẹp không? Tranh kiếng khảm ốc chỉ có ở Lái Thiêu này thôi. Mà tui cũng chỉ làm theo đơn đặt hàng, chứ không làm chơi, làm đại trà…”.

Nhìn những bức tranh kính khá đẹp của nghệ nhân Sáu Thơ và nghĩ đến nguy cơ thất truyền của nghề tranh kiếng Lái Thiêu, chúng tôi không khỏi chạnh buồn.

Đoạn kết

“Có một dạo, ông nhà văn già Sơn Nam có ghé tui chơi. Ổng nói nghề tranh kiếng có ở Lái Thiêu đâu chừng khoảng 100 năm. Ổng kêu nghề tranh kiếng này quí lắm, tui ráng giữ và truyền lại cho con cháu. Nhưng tui già rồi, nhà chỉ có một cháu gái lại theo nghề kinh doanh. Đó cái tiệm kiếng, tủ nhôm này là của nó đó. Còn tui cũng chỉ làm chơi chơi thôi…”.

Chúng tôi hỏi, có bao giờ ông nghĩ đến chuyện mở một cuộc triển lãm tranh kính không? Nghệ nhân Sáu Thơ tủm tỉm: “Hồi năm 1957 tui có mở một cuộc triển lãm: “Tranh kiếng Mỹ thuật” tại Sài Gòn. Cũng như cha tui, ngoài vẽ tranh sơn thủy, tranh thờ, tui cũng có tranh kiếng sáng tác. Cuộc triển lãm đó thú vị lắm. Sau đó, trên dưới chục năm, tui không nhớ, tui có làm một cái triển lãm nữa rồi thôi!”. Khi chúng tôi muốn tìm xem những tranh sáng tác trên kính của ông, cũng như tranh kính “di cảo” của cha ông thì ông buồn bã: “Đâu có giữ được cái nào. Bán hết rồi. Hồi đó phòng Văn hóa – Thông tin huyện có xuống chụp hình làm tài liệu, nhưng tui cũng không giữ. Còn tranh của cha tui thì làm đâu bán hết đó. Ông vẽ cho người ta biết bao nhiêu mà khi mất đi không có cái riêng cho mình. Cái hình thờ, phải lấy thẻ căn cước mà phóng ra. Tội lắm!…”.

Trước khi tìm đến nghệ nhân Sáu Thơ, chúng tôi được biết ở huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre có anh họa sĩ nghèo Đoàn Việt Tiến cũng là người vẽ tranh trên kính (tất nhiên là cũng vẽ ngược). Anh nổi tiếng vì dùng bàn tay (không cầm cọ) bôi màu và vẽ lên kính những chân dung rất đẹp, đặc biệt xuất thần nhất là chân dung Bác Hồ. Anh Đoàn Việt Tiến được mệnh danh là người duy nhất Việt Nam vẽ tranh bằng tay trên kính. Chúng tôi nghĩ vẽ tranh trên kính dù bằng tay không hay cầm cọ đều khó như nhau. Để có thể có được những bức tranh trên kính đẹp, mang tâm hồn Việt Nam, họ – những nghệ sĩ được nuôi dưỡng trong dân gian đã bỏ biết bao công sức và tâm huyết. Hành trình lao động nghệ thuật âm thầm, lặng lẽ ấy thật đáng trân trọng.

Trần Nhã Thuỵ

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

Read Full Post »

Nghệ thuật trang trí trong một căn nhà cổ ở Bình Dương

Tìm hiểu về các ngôi nhà cổ người Việt ở Bình Dương, mà nét nổi bật và mang tính đặc trưng của lối kiến trúc nghệ thuật phải nói đến 3 ngôi nhà của họ Trần, nằm trong khu chợ Thủ Dầu Một ngày nay. Trong đó, có 2 ngôi nhà được công nhận di tích cấp quốc gia (nhà Bác sĩ Trần Công Vàng và nhà ông Trần Văn Hổ).

Ngôi nhà ông Trần Văn Hổ tọa lạc số 18 đường Bạch Đằng, phường Phú Cường, thị xã Thủ Dầu Một, Bình Dương. Ông Trần Văn Hổ (tự Đẩu) – nguyên là Đốc Phủ sứ thời thuộc Pháp. Công trình được xây dựng năm Canh Dần (1890), tháng Trọng Xuân (tháng 2), nhằm niên hiệu Thành Thái thứ 2 cách ngày nay (2008) là 116 năm. Công nhận di tích quốc gia ngày 29-4-1993, tổng diện tích còn lại là 1.296m2 .

Hiện nay, di tích còn lại là một ngôi nhà chính, đây là ngôi nhà lớn chủ yếu là để thờ cúng ở gian giữa. Ngôi nhà trông bề thế và trang nghiêm, biểu hiện cung cách tôn ti trật tự, nề nếp. Mặt chính diện ngôi nhà quay về hướng Tây Nam, hướng sông Sài Gòn để hưởng được làn gió mát trong lành quanh năm.

Lối kiến trúc của ngôi nhà theo dạng chữ “Đinh”, tổng diện tích xây dựng là 200m2, kiểu nhà được người dân Thủ Dầu Một xưa rất ưa thích. Trước sân được che phủ bởi cảnh thiên nhiên thu nhỏ của vườn hoa, cây cảnh, hòn non bộ được trang trí đầy đủ cảnh sinh hoạt “Ngư – Tiều – Canh – Mục”. Ngôi nhà có dáng dấp nhìn từ ngoài vào hơi thấp, với mái ngói rêu phong, tạo cảnh sắc thiên nhiên của sự cổ kính, thanh tịnh tách hẳn với ồn ào náo nhiệt của cảnh phố chợ bên ngoài.

Bước vào bên trong là nét đẹp trang trí thể hiện sự sung túc của ngôi nhà. Nguyên vật liệu toàn là gỗ quý như Cẩm lai, Giáng hương, Gõ, Sến, Mật… được sử dụng bài trí lớp lớp, từ mái nhà xuống cửa võng và cả bậc ngạch. Từ những song gỗ, đường nét ô vuông đến các mảng phù điêu đều được bố trí đối xứng đến từng chi tiết, tạo nên bề thế trang nghiêm, thể hiện phong cách vương quyền.

Ngôi nhà xây dựng theo kiểu 3 gian, 2 chái gồm 36 cột tròn. Mái ngói âm dương dài thoai thoải và thấp mang đậm nét nhà truyền thống người Việt. Trên nóc nhà có hồi văn, hình bát quái. Loại nhà này có nhiều ưu điểm so với các nhà cổ truyền khác ở chỗ có bộ khung sườn cứng cáp, lòng nhà rộng rãi. Kết cấu bộ vì kèo theo kiểu nối cột cái với cột con bằng “giả thủ” tạo không gian thoáng đãng, hệ thống kẻ ngòi phong phú (theo lối kẻ ngòi đãng: ngắn, ráp, nối nhau) gắn chặt xà, kẻ, bẫy vào đầu cột theo không gian 3 chiều. Kẻ, bẩy vươn qua không gian, ăn mộng vào đầu cột tạo cho nghé kẻ thêm phần vững chắc ở điểm nối giữa nách và cột. “Bẩy” (đầu kèo) ở đây được chạm thẳng vào cục gỗ “Tứ linh”, xà nách thì chạm Tứ thời, kẻ ngòi (thân kèo) thì ngoài chạm ra còn tạo hình dáng uốn lượn trông mềm mại.

Từ hệ thống mái vững chắc, có phần hơi thấp, bên trong nội tự được ngăn đôi bức tường giả hình chữ U tạo chiều sâu. Mảng giữa tường và khánh thờ là các bức Hoàng phi được sơn son thiếp vàng, các bức liễn bằng những câu đối cẩn xà cừ đính trên cột.

Gian giữa phía trên là khám thờ với tấm Thủ quyển chạm nổi hình Tứ linh hoàng tráng, giữa bức thủ quyển ấy là ba hàng chữ đề danh hiệu các vị thần được thơ. Phía trái là thờ thần Táo với danh hiệu “Đông Trù Tư Mạng”, giữa là thờ trời với danh hiệu “Hiệp Thiên Đại Đế”, bên phải thờ phúc thần với danh hiệu “Phúc Đức Chánh Thần”, phía dưới thờ gia tiên nhiều đời, hai bên nơi thờ chính là hai câu đối:

Canh độc lưỡng đồ, độc khả vinh thân, canh khả phú

Cần kiệm nhị, cần năng sáng nghiệp, kiệm năng doanh.

Tạm dịch:

Cày ruộng và đọc sách là hai con đường: đọc sách có thể hiển vinh. Còn cày ruộng chắc là giàu có.

Hai chữ cần và kiệm thì vần (siêng năng) ta có thể dựng nên sự nghiệp, còn tiết kiệm cũng có thể đủ đầy.

Ở hai bên phải và trái, có hai bức thờ cẩn xà cừ rất công phu và độc đáo. Bức bên phải đề hai chữ “Hạc Toán” (sống lâu như tuổi Hạc), bức bên đề “Qui linh” (tuổi thọ như Rùa thiêng). Bốn chữ ấy đều cẩn ốc xà cừ màu ngũ sắc óng ánh tuyệt đẹp với lối viết cách điệu, mỗi nét chữ là hình ảnh của chim muông hoa lá tạo thành. Hai bên mỗi bức thờ là đôi câu đối viết kiễu chữ “Chân lư” (một loại chữ mà cho đến nay chưa đọc được), cẩn ốc xà cừ nét chữ khó đọc thể hiện sự huyền bí pha lẫn sự khéo léo của các nghệ nhân tài hoa xưa.

Hai bên thờ chính, có cặp đối:

Hoa đường thụy ái hoàng khai phú hậu chi cơ

Đại địa linh chung triệu khải văn minh chi vận.

Tạm dịch:

Rực rỡ mây lành rộng mở nền phú hậu

Địa linh hun đúc gầy dựng vận văn minh

(ước mơ vừa giàu vừa có văn hóa).

Ở hai bên gian thờ giữa là hai buồng (phòng) ngủ của chủ nhà (buồng ông và buồng bà) bài trí 2 bộ ván nằm ngủ (dạng nguyên khối gỗ). Trên hai cửa buồng có hai bức hoành đề: Ngự dược, Diên phi (cá nhảy, diều bay: Có ý mong thi đậu hoặc thăng quan lên chức). Nơi đây còn có các bao lam đều trang trí đẹp, công phu. Đối xứng hai bên hông buồng ngủ là hai tủ đứng cẩn xà cừ màu sắc sặc sỡ, tủ dùng bài trí các vật dụng trong nhà.

Nét độc đáo của ngôi nhà là lớp cửa thứ hai, tất cả đều chạm nổi, khắc chìm, khắc lộng… thể hiện toàn bộ trên các khung cửa, cách cửa: khung cửa chính dựng theo lối Tam quan, ở đây là một bức tranh khá hoành tráng với cảnh có hình bán nguyệt được trổ lộng, thể hiện cảnh lầu son gác tía ở cung đình. Bề mặt của khung cửa chạm trổ Tứ thời, bên trên là đề tài, bên dưới đề câu đối, tạo nếp hài hòa sinh động qua cảm giác khoảng thời gian của mỗi mùa.

Phần thể hiện các đề tài trên cửa được chia ra các ô vuông. Ô chữ nhật thể hiện Tứ Linh: Long với sóng nước vân mây, Lân với cuộc giấy, Qui với chân đèn, Hạt với cây Tùng. Các hoa văn tứ hữu “Mai – Lan – Cúc – Trúc” với những đường diềm chi tiết khéo léo được phân bố hợp lý nét chạm – khắc tinh tế.

Các tấm lá gió đường diềm ở giữa cột được gia công, chạm lộng, hình chữ Thọ, các chắn song song đều nhau, ngăn cách một cách chuẩn mực. Ở đây công trình chạm lộng từ bẩy, kẻ ngòi, xà nách, bao lam, khám thờ… song cũng có nhiều chủ đề khác nhau nhưng vẫn tập trung của 2 đề án trang trí chính: Đồ án trang trí theo các đề tài tôn giáo phong kiến như: Tứ linh, Đồ án trang trí dân gian lấy thảo mộc, hoa quả làm chủ đề chính như: Bát bảo, Bát quả, Tứ hữu, Tứ thời… Mỗi chủ đề là sự thể hiện một mãn tâm hồn, một phần đời sống, một cảnh thiên nhiên với nhiều ý nghĩa khác nhau.

Bộ phận văn hóa chữ Hán được thể hiện ở những tấm hoành phi, cặp liễn, trên bức thờ, thủ quyển, tấm hoành, câu đối. Những bài thơ, văn ở đây đều được thể hiện ngắn gọn, súc tích. Có câu mang tính ước lệ, khuôn sáo nhưng nội dung vẫn giàu tính nhân văn, chẳng hạn để diễn tả nét đẹp của mặt tiền ngôi nhà đã có câu: Định tiền sinh thụy thảo

Liêm ngoại xuất kỳ hoa

Tạm dịch:

Trước sâu sinh cỏ lành

Ngoài rèm mọc hoa quý.

Ở nơi hàng cột nhì trong ngôi nhà trên bốn cột có treo bốn bức tranh “Tứ bình” (thật đáng tiếc nay chỉ còn lại 3 bức tranh) khảm ốc rất đẹp, đẹp đến từng đường nét cẩn ốc rất tinh xảo nhuyễn – nhỏ và uyển chuyển sinh động.

Bức thứ nhất vẽ chủ đề “Mai – Nhạn” với hai câu thơ:

Nguyệt Minh thời hữu Nhạn lai quy

Lan bất tri mai nguyên Nhạn ước.

Tạm dịch:

Vào đêm trăng sáng nhạn trở về,

Lan nào hay biết nhạn với mai đà ước hẹn).

Bức thứ hai vẽ chủ đề “Trúc – Phượng” với hai câu thơ:

Tập lai nghi phượng tảo tầm qui

Cúc tảo tri tha thường trúc thực.

Tạm dịch:

Đàn phượng tìm về vừa đúng lúc

Nhưng cúc cũng đã sớm ưa tìm ăn trái trúc!

Bức thứ ba vẽ chủ đề “Cúc – Yến” với bốn câu thơ:

Chất bạn cúc li kiên vãn tiết

Hương tùy chu thất tán thu phong

Phong nguyên chấn lập li tao lí

Yến kết di phục cư bội trung.

Tạm dịch:

Cúc luôn giữ khí tiết

Hương vào nhà thơm theo gió thu

Thẳng tới chốn phòng văn

Hay dầu én đã đến nơi đây làm tổ.

Nơi lạc khoảng một trong ba bức tranh này đề: Quý Tỵ Niên Khiến Tạo (1833). Như vậy, phần trang trí nội thất không phải tiến hành cùng một lúc với công trình xây cất ngôi nhà.

minh họa không gian nội thất nhà cổ nói chung, không phải căn nhà trong bài viết

minh họa không gian nội thất nhà cổ nói chung, không phải căn nhà trong bài viết

    minh họa không gian nội thất nhà cổ nói chung, không phải căn nhà trong bài viết

minh họa không gian nội thất nhà cổ nói chung, không phải căn nhà trong bài viết

    minh họa không gian nội thất nhà cổ nói chung, không phải căn nhà trong bài viết

minh họa không gian nội thất nhà cổ nói chung, không phải căn nhà trong bài viết

Một di tích kiến trúc cổ được đặt trên một nền văn hóa nghệ thuật chạm trổ – điêu khắc gỗ thể hiện hài hòa và điêu luyện, được tồn tại và bảo lưu quý giá về chất liệu sử dụng cả về nghệ thuật trang trí làm cho người xem khó có thể phân biệt tách rời giữa ranh giới đâu là chạm và đâu là khắc các đường nét sắc bén tinh vi, tỉ mỉ đến từng đường nét uốn lượn từ lớn đến nét nhỏ nhất, từ độ sâu đến nét cạn… tất cả đều thể hiện một nét riêng độc đáo của loại hình nghệ thuật dân gian truyền thống Việt Nam.

Cái đẹp của công trình kiến trúc ngôi nhà là người chủ đã xác định được địa thế, địa hình: đồi, dòng sông, nắng trời, trăng và phong cảnh xung quanh hòa hợp. Đó là đặc điểm truyền thống trong kiến trúc cổ của dân tộc Việt Nam, kiến trúc ngôi nhà với sự hài hòa với địa hình, phong cảnh và thiên nhiên vùng nhiệt đới.

Giá trị kết cấu kiến trúc của ngôi nhà cổ Trần Văn Hổ được thể hiện ở cách bố trí không gian bên trong ngôi nhà. Nghệ thuật trang trí cho thấy ngôi nhà vừa cổ điển, vừa sâu kín và ấm cúng, thanh thoát. Nghệ thuật chạm trổ tinh vi từ các vì kèo, bao lam, khán thờ – uy nghi của tấm Thủ quyển chạm hình Tứ linh hoàng tráng nhũ vàng, các bức hoành phi sơn son thiếp vàng, các bức liễn cẩn xà cừ theo motyp truyền thống như: Tứ linh, Bát bửu, Hồi văn, Chữ thọ… cùng với những đường nét theo kiểu hình học. Những cây trính đều được uốn cong và chạy chỉ, trên thích với kiểu cánh dơi theo kiểu truyền thống từ miền Bắc và miền Trung nước ta. Đặc biệt, là những cái lá dung ở mỗi đuôi kèo được chạm khắc tinh xảo, thể hiện nét tiêu biểu của kiểu nhà cổ Việt Nam, nói lên óc thẩm mỹ đặc sắc của nghệ nhân đất Thủ xưa.

Phần giàu có nhất của ngôi nhà được thể hiện ở vật trang trí từ các bộ bàn ghế, tủ chè, tủ thờ, hoành phi, câu đối, trường kỹ, ván nằm (dạng nguyên khối gỗ) có niên đại cổ xưa và giá trị nghệ thuật, kinh tế cao. Ngoài chất liệu gỗ được sử dụng như sao, gõ, huỳnh đàn, cẩm lai, mật… được chạm trổ với các kiểu nghệ thuật khác nhau: chạm lọng, chạm nổi, khắc, chạm giũa thật tinh xảo, hệ thống các hiện vật trong trang trí nội thất đều nâng lên được giá trị đặc biệt về mỹ thuật lẫn niên đại.

Qua những nét đặc trưng nổi bật về trang trí mỹ thuật của kiến trúc nghệ thuật dân dụng. Ngôi nhà cổ Trần Văn Hổ là sự hội tụ mọi yếu tố văn hóa khác nhau, phù hợp với điều kiện tự nhiên khí hậu thổ nhưỡng, về kinh tế – xã hội thời bấy giờ. Với nghệ thuật chạm trổ, điêu khắc ngôi nhà tồn tại trên vùng đất trù phú (Phú Cường) đã đạt đến đỉnh cao về nghệ thuật chạm trổ, điêu khắc gỗ ở thế kỷ XIX, mang phong cách đặc trưng của địa phương đất “Thủ” – Bình Dương ngày nay.

Hiện nay, di tích được Ban Quản lý di tích tỉnh quản lý và khai thác phát huy tác dụng giá trị nghệ thuật quý giá ấy. Giá trị của ngôi nhà được bảo tồn và trùng tu, tôn tạo ngày một đẹp hơn. Hàng năm ngôi nhà đón tiếp nhiều du khách trong và ngoài nước tham quan chiêm ngưỡng và nghiên cứu. Tại đây, hàng tháng còn tổ chức lớp học về nhạc cụ dân tộc, đờn ca tài tử Nam bộ… làm cho ngôi nhà trở nên sinh động hơn và ngôi nhà góp phần giúp giới trẻ tìm về với cội nguồn, gần gũi với nghệ thuật truyền thống dân tộc, làm giàu tính nhân văn tâm hồn Việt trong thời hội nhập và phát triển.

Nguồn Hội Khoa Học Lịch Sử Bình Dương  (VĂN THỊ THÙY TRANG)

* MỤC LỤC –  TÀI LIỆU VỀ DI SẢN NHÀ – KIẾN TRÚC CỔ 

Read Full Post »

Gốm Cây Mai của Sài Gòn xưa

Cuối thế kỷ trước, sách Gốm Cây Mai, Sài Gòn xưa(*) đã được xuất bản. Sau đó năm 1997, Bảo tàng lịch sử Việt Nam thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành khai quật khu lò gốm cổ Hưng Lợi (tục gọi lò Cây Keo, ở phường 16, quận 8): đưa ra ánh sáng những phát hiện thêm về làng gốm đầu tiên ở đất Sài Gòn này. Nay dựa trên những gì mới tìm thấy được, xin nói thêm đôi điều về Gốm Cây Mai, về xóm Lò Gốm.

Xóm Lò Gốm là địa danh được ghi bằng văn tự lần đầu tiên trên bản đồ Gia Định – Sài gòn do Trần Văn Học vẽ vào năm 1815. Sau đó không lâu, địa danh này được kể đến trong bài Phú Cổ Gia Định phong cảnh vịnh:

Cắc cớ chợ Lò Rèn, chạc chạc nghe nhà Ban đánh búa;

Lạ lùng xóm Lò Gốm: chơn vò vò Bàn cổ xây trời.

Như vậy, Xóm Lò Gốm hình thành muộn nhất là cuối thế kỷ 18. Nói cách khác, cùng với các làng nghề khác (như xóm Chậu, xóm Chỉ, xóm Bột, xóm Dầu/ Phụng du lý, chợ Lò Rèn, chợ Đũi… ), xóm Lò Gốm đã ra đời cuối thế kỷ 18 và thịnh đạt sau khi chiến tranh Tây Sơn – Nguyễn Ánh kết thúc, khoảng sau 1790 trở về sau – đặc biệt những năm cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. gốm Cây Mai là sản phẩm do cộng đồng thợ gốm di dân người Hoa tạo tác. Do đó, sự hình thành của xóm Lò Gốm ở xứ Đề Ngạn (Sài Gòn xưa) gắn bó nhân quả với việc tụ cư ở đây của các nhóm người Hoa lưu tán vì chiến tranh Tây Sơn – Nguyễn Ánh từ Cù Lao Phố (Biên Hòa), Mỹ Tho (Tiền Giang) và thậm chí cả từ Hà Tiên hồi những năm 70, 80 của thế kỷ 18, dữ kiện lịch sử tụ cư này cũng khớp với nhận định nêu trên.

Sách Monographie de province de Biên Hòa (Ménard, 1901) cho biết: “theo thỏa thuận với người Hoa ở Chợ Lớn (hiểu là Đề Ngạn – Sài Gòn xưa) những người làm gốm ở Biên Hòa không được sản xuất loại sản phẩm Cây Mai”. Điều này chỉ ra: 1, Thợ gốm Cây Mai đã có một số người chuyển lên Biên Hòa lập nghiệp (theo kết quả điều tra trong năm 2003 thì gốm Cây Mai không chỉ dời về Biên Hòa, Lái Thiêu mà có một xóm gốm trung chuyển ở vùng TườngThọ, Thủ Đức – nay vẫn còn dấu vết); và 2, Họ đã có tổ chức “phường hội” để định ra những thỏa thuận trong công việc làm ăn.

Mới đây, trong cuộc điều tra tổng thể về các cơ sở tín ngưỡng ở các quận huyện tại thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi phát hiện “trụ sở” của các lò gốm Cây Mai, gọi là “Đào lư Hội quán”, ở đình Phú Hòa (phường 12, quận 6, TP. Hồ Chí Minh). Tấm biển này ghi được làm năm Giáp Thân (1884 hoặc 1944?), chữ viết do “Bổn hội Mạch Chiếu Minh Thư”. Phát hiện này là bằng cớ chỉ ra tính chất phường hội của giới chủ lò và thợ gốm Cây Mai xưa và đồng thời góp phần xác định “trung tâm” của xóm Lò Gốm. Cũng cần lưu ý: hiện đình có thờ ba pho tượng vốn của chùa Giải Bịnh gần đình, gồm tượng Chơn Võ, Huê Quang và Nam Triều Đại Đế, là những đối tượng thờ tự của cộng đồng thợ gốm Phước Kiến ở Bình Dương (Tân Khánh, Lái Thiêu, Bà Lụa, Chòm Sao…). Điều này chỉ ra rằng chùa Giải Bịnh là trụ sở của Đào Lư Hội quán. Mặt khác cũng chỉ ra gốc gác của gốm Cây Mai và mối liên hệ của xóm Lò Gốm với các làng gốm ở Bình Dương – đặc biệt là làng gốm Lái Thiêu.

Biển: Đào Lư Hội Quán. Đình Phú Hòa. "Giáp thân tuế mạnh đông cốc đán tạo Bổn hội Mạch chiếu Minh Thư"

Biển: Đào Lư Hội Quán. Đình Phú Hòa. "Giáp thân tuế mạnh đông cốc đán tạo Bổn hội Mạch chiếu Minh Thư"

Từ “trung tâm” này chúng tôi tiến hành khảo sát lại một vòng rộng có bán kính từ 2 đến 3, 4 cây số để tìm lại các di vật gốm Cây Mai, chủ yếu là xem xét các tượng thờ ở các đình, chùa miếu trong vùng. Kết quả là có một loạt tượng thô phác đáng chú ý:

Ba tượng gốm đất nung sơn màu: 1, Chơn võ; 2, Huê Quang; và 3, Nam Triều Đại đế của chùa Giải Bịnh, gần bên đình Phú Hòa (nay tượng được thờ trong đình).

Bộ tượng đất nung Quan Công, Lưu Bị, Trương Phi ở miếu thờ thuộc đình Phú Đinh (quận 8).

Các tượng gốm sơn màu Quan Công, Thiên Hậu Nguyên Nhung, Kim Huê phu nhân và các tượng Cô, Cậu… ở chùa Từ Quang (191 Ba Tơ, quận 8).

DFGIEP042415
Tượng Lưu Bị

Bộ ba tượng gốm đất nung Quan Công Châu Thương – Quan bình ở chùa Thiên Phước (1581), Phạm Thế Hiển, quận 8.

Nói chung, các bộ tượng tại các địa điểm trên đều biểu hiện sự “non kém” về kỹ thuật dựng hình cũng như trình độ mỹ thuật so với tượng gốm men màu Cây Mai phổ biến mà chúng ta đã thấy. Trái lại, nó khá gần với loại tượng thờ nặn bằng đất sét (có trộn các chất phụ gia như vôi, giấy, sợi bông vải v.v… gọi chung là nê tố) mà di tích hiện tồn mà tiêu biểu là Quan Công ở chùa Phước Long nằm trong vùng này (288 Hậu Giang, phường 9, quận 6).

DFGIEP042415
Tượng Quan Công
Đất sét sơn màu (Nêtố)
Chùa Phước Long

Việc dựng hình đặc trưng của loại tượng gốm đất nung này là các pho tượng ngồi ở trong Từ Quan, có lẽ là tượng Minh Vương: phần tượng gốm phải nhờ chiếc ghế/ ngai gỗ mới ngồi được. Nếu không có ghế gỗ thì đài bệ gốm vẫn còn đậm dấu ấn của kết cấu gỗ dạng bậc cấp (tượng Thiên Hậu Nguyên Nhung và Kim Hoa phu nhân). Nói chung, kỹ thuật dựng hình phản ánh dấu ấn của kỹ thuật đắp tượng nê tố.

Về trang trí trên trang phục chúng ta cũng thấy rõ việc áp dụng hai kỹ thuật trang trí thuộc kỹ pháp nê tố: 1, Dùng các lát đất in khuôn các mảng rời (mũ, giáp, mây, rồng… trên long bào) để gắn vào cốt tượng; và 2 là, dùng kỹ thuật “bắt bông” (hiểu là cách trang trí giống như bắt bông kem trong nghề làm bánh) . Ở đây, nghệ nhân gốm dùng giấy quấn thành ống hình nón, đoạn đổ đất nguyên liệu vào đó và bóp mạnh để tạo thành sợi mà tạo nên các hoa văn. Kỹ thuật in khuôn áp dụng cho các đồ án phức tạp, còn kỹ thuật “bắt bông” áp dụng cho các đồ án trang trí đơn giản, bố cục thưa thoáng. Kỹ thuật này về sau được áp dụng trang trí tượng gỗ, tượng làm bằng giấy bồi gọi là kỹ thuật “sơn xe” (nguyên liệu chính gồm dầu chai, bột thạch cao).

DFGIEP042415
Tượng Thiên Hậu Nguyên Quân
(Đài bệ và lỗ khoét ở lưng để yểm tiền đồng còn dấu ấn tượng gỗ)
DFGIEP042415
Tượng Minh Vương ở chùa Từ Quang.
Tượng đặt ngồi trên ghế gỗ.

Những gì trình bày trên đây, chúng tôi muốn lưu ý rằng sản phẩm gốm mỹ thuật của xóm Lò Gốm (gọi chung là Gốm Cây Mai) có giai đoạn khởi phát với loại tượng gốm đất nung còn đậm dấu ấn của loại tượng nê tố và ít nhiều còn “hoài niệm” về tượng gỗ. Theo đó, việc hình thành làng nghề xóm Lò Gốm là một quá trình tiệm tiến hơn là sự chuyển giao ngành “công nghệ miếu vũ” có tính chất tốc hỷ, sản xuất các tượng thần, Phật và quần thể tiểu tượng men màu xinh đẹp. Ở đây, cũng cần lưu ý là loại tượng đất nung sơn màu cây mai đến nửa đầu thế kỷ 20, có một dòng phái sinh ở vùng Hoá An (Biên Hòa): tạo nên một tập thành tượng gốm đất nung sơn màu/ thếp vàng đặc sắc vừa có thừa kế truyền thống cây mai vừa có nhiều đổi thay về kỹ pháp dựng hình và trang trí (**). Việc phân biệt như vậy là cần thiết trong việc tìm hiểu về tượng gốm đất nung hiện còn tại các cơ sở ở Nam Bộ.

Huỳnh Ngọc Trảng

(*) Huỳnh Ngọc Trảng, Nguyễn đại Phúc: Gốm Cây Mai Sài Gòn xưa, NXB Trẻ, Tp.HCM, 1994.
(*) Huỳnh Ngọc Trảng, Nguyễn đại Phúc và các tác giả: Tượng Gốm Đồng Nai – Gia Định, NXB Đồng Nai, 1997.


MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Nhà cổ ở Nam bộ – tư liệu tổng hợp

“Du khảo” một vòng quanh các ngôi nhà cổ nổi tiếng ở nam bộ mà xưa nay đã được ­nhắc đến ít nhiều qua việc lược ghi một số tư liệu

OVROUQ103638
Nhà Hội đồng Liêu (Đồng Nai). Ảnh: Huỳnh Nghĩa
OVROUQ103638

ĐỒNG NAI

Ngôi nhà mang tên Đạt Đức đường nhưng nhân dân địa phương quen gọi là nhà Hội đồng Liêu, tọa lạc ở xã Phú Hội, huyện Nhơn Trạch. Nhà được xây dựng cách nay khoảng một trăm năm. Do nhà có tới 114 cột, nên một tốp thợ thi công gồm 10 người đã phải mất hai năm mới hoàn tất ngôi nhà.

Nhà có dạng chữ đinh, nằm khuất sau hàng rào quýt dại và sau những tán lá xanh tươi của vườn sầu riêng, hài hoà trong cảnh vật của làng quê thanh bình. Bước vào hiên nhà là những mảng điêu khắc hoa, lá, trái cây sống động trên khung cửa, trên các khuôn bông và trước những kèo hiên chạm khắc những cành lá được cách điệu khéo léo thành những con rồng như đang vươn ra đỡ mái hiên nhà. Nội thất, cách bài trí cho đến các vật dụng đều được duy trì từ ngày đầu xây dựng ngôi nhà cho đến nay. Ba gian thờ đều nằm sát vách và còn đầy đủ những tự khí như đỉnh đồng, bát nhang, chân đèn và bình hoa, chò tử quả được bài trí đúng cách: đông bình tây quả.

Nhiều chi tiết được chạm trổ rất tinh xảo như các thành kèo, khuôn bông, các mảng cánh én hay những khung cửa buồng. Đặc biệt ba bức bao lam của những gian thờ là những tuyệt tác chạm lộng với những đoá hoa sen nở xòe trong dáng điệu gợi cảm thanh cao, những dải hoa lá xen nhau mềm mại, uyển chuyển, sinh động. Một đôi chim thiêng, dáng như chim phượng với cánh và đuôi xoè ra như múa. Các bức đại tự, bức liễn sơn son thếp vàng hay cẩn xà cừ chứa đựng những ước nguyện của người xưa càng làm cho không gian ngôi nhà có thêm một vẻ đẹp sâu xa.

BÌNH DƯƠNG .

Cụm nhà cổ gồm 3 ngôi nhà nằm cách nhau trên một khu đất giữa một bên là đường Đinh Bộ Lĩnh, một bên là chợ Phú Cường (thị xã Thủ Dầu Một). Nếu tính từ sông Sài Gòn trở lên, lần lượt là nhà các ông Trần Văn Hồ, Trần Văn Tề và Trần Công Vàng, chủ nhân của ba ngôi nhà này đều có quan hệ huyết thống với nhau.  Nhà ông Trần Văn Hồ xây vào năm 1890, nhà ông Trần Văn Tề là năm 1895 và nhà ông Trần Công Vàng dựng vào năm 1835.  Về kiểu thức kiến trúc, ngoại trừ nhà ông Hồ, hai ngôi nhà kia đều theo lối chữ đinh, có sân con và cầu nổi. Nhà ông Tề theo kiểu chữ đinh thuận, còn nhà ông Vàng theo lối chữ đinh nghịch. Nhà ông Vàng thiết kế theo hình chữ nhật, gồm 8 căn 2 chái (8 cột, 8 dầm, 8 khuyết), dài 24m, ngang 22m, diện tích sử dụng khoảng 500m2. Mái khá thấp so với kiến trúc hiện nay nhưng bên trong lúc nào cũng thoáng mát nhờ bốn phía đều có cửa sổ. Nền nhà lát gạch tàu. Vật liệu xây dựng chủ yếu là các loại danh mộc như sao, cẩm lai, mun, huỳnh đường… Có cả thảy 6 hàng cột với 48 cây. Giàn kèo đều được chạm trổ hình đầu rồng có những con dơi bám vào rất tinh vi. Nhưng đặc biệt hơn cả là giàn kèo cột đều được vào mộng, toàn bộ ngôi nhà không sử dụng một cây đinh!

Phần nhà trên của cả ba ngôi nhà đều cất theo kiểu xuyên trính với hai mái hai chái. Riêng nhà ông Hồ không có phần hành lang nội bao bọc quanh phần nhà thờ như hai ngôi nhà kia. Về những môtip chạm trổ thì cả ba ngôi nhà có những nét giống nhau, nhưng nhà ông Vàng nét chạm trổ tinh vi, sống động hơn, nhất là ở các bao lam, khám thờ và đầu vách ngăn. Các liễn đối, hoành phi, bao lam, bức thờ thì ở mỗi ngôi nhà có nét độc đáo riêng, tinh xảo và đa dạng.   Nhà ông Hồ có cái thủ quyển treo giữa nhà trông hoành tráng, nét chạm hình tứ linh thật sinh động. Hai bức thờ khảm xà cừ mà mỗi chữ Hán lại là sự kết hợp hình những con chim, con bướm, cành lá, đoá hoa… tạo thành một bức tranh sinh động.

Ở nhà ông Tề có những câu đối viết lối chân đỉnh, những chữ triện cách điệu, những bức tranh hoạt cảnh có kèm theo những bài thơ bát cú minh hoạ, tất cả đều khảm xà cừ công phu.

Nhà ông Vàng còn lưu một cặp liễn đối vẽ cách điệu bằng hình ảnh hoa trái treo hai bên bàn thờ giữa và cũng được cẩn xà cừ.

LONG AN

Nhà Hội đồng Trần Văn Hoa ở xã Long Hựu Đông, huyện Cần Đước được xây dựng vào năm 1898.   Ban đầu khi xây dựng có đến 160 cột. Đến nay ngôi nhà còn 120 cột: 68 cột tròn bằng gỗ, 52 cột vuông xây bằng gạch. Các cột tròn được phân bố thành 6 hàng, các cột vuông chủ yếu ở các vách tường và hai chái phía sau. Cột cao nhất cũng gần 5m, làm bằng các loại gỗ tốt như cẩm lai, gõ đỏ, thao lao, giáng hương… Tường làm bằng vôi trộn mật đường. Mái ngói dày đến 3 lớp: ngói thí tạo nguồn sáng cho nhà, lớp âm dương ở giữa và lớp ngói ống bên cho mát mẻ. Diện tích nhà trên 460m2, được xây theo kiểu chữ đinh, gồm 5 gian 2 chái, hai cửa ra vào theo hướng đông và đông nam. Phần trước để tiếp khách và thờ tự, phần sau để sinh hoạt.

OVROUQ103638
Nhà trăm cột (Long An). Ảnh: B.H.C

Nền nhà lót gạch tàu hình lục giác, nền cao nhất vùng (92cm) được cẩn đá hộc và xi măng kiên cố nhằm chống lại những con nước lớn từ sông Rạch Cát tràn vào. Các bao lam được chạm trổ tinh xảo theo kiểu cung đình Huế càng tôn thêm vẻ đẹp cho ngôi nhà. Ngôi nhà được xây dựng chỉ trong hai năm nhưng công đoạn chạm trổ, trang trí thì mất đến ba năm ròng qua bàn tay của 15 nghệ nhân từ miền Trung vào. Các đề tài tứ linh, tứ thời, “phúc – lộc – thọ” được chạm trổ rất điêu luyện. Mỗi đầu kèo đều được chạm khắc hình rồng, phần giữa kèo, nơi tiếp giáp với đầu cột được chạm một bông hoa nổi lớn, trên các thanh xà đều trang trí hoa văn. Những công đoạn khó ở trên cao, nghệ nhân phải mắc võng trên trần để thực hiện. Ba kiến trúc sư thuộc Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế đã phải mất hơn nửa tháng mới vẽ xong toàn bộ căn nhà để góp phần vào việc phục chế, sửa chữa lại căn nhà quý giá này.  Bộ lư đồng thờ cúng, các tấm liễn sơn son thếp vàng, khảm xà cừ, bộ bàn ghế, trường kỷ có chạm khắc, bộ xalông thúng, bàn quay tròn, đèn lồng, tủ, giường trong ngôi nhà cổ này đến nay vẫn còn được gìn giữ cẩn thận.

OVROUQ103638
Nhà cổ xóm nhà giàu. Ảnh: Trọng Nhân

Năm 1997, ngôi nhà cổ “trăm cột” này được công nhận di tích lịch sử cấp quốc gia. Ong Trần Văn Ngộ, cháu nội Hội đồng Trần Văn Hoa hiện là vị chủ nhà kiêm luôn thuyết minh lẫn nhân viên bảo vệ di tích.

“Xóm nhà giàu” ở xã Thanh Phú Long, huyện Châu Thành để chỉ 4 căn nhà nằm liền nhau do 4 anh em nhà họ Nguyễn xây dựng khoảng từ năm 1900 – 1908.    Bốn ngôi nhà đều có chung kiểu kiến trúc chữ công, ba gian hai chái, lợp ngói đại ống và được bao quanh bằng hàng rào với những thanh sắt được tạo dáng một cách công phu và tao nhã. Điều gây ấn tượng đầu tiên là 4 hàng cột, mỗi hàng 6 cột, đường kính một vòng tay người ôm, làm bằng gỗ căm xe lên nước đen bóng.

Giữa các hàng cột là 3 bao lam với những mảng chạm khắc hình muông thú, hoa trái vô cùng tinh xảo. Chỉ riêng việc trang trí nội thất cho ngôi nhà đã mất 3 năm trời. Các bao lam trung tâm phía dưới chạm hoa sen lá xòe, lá cụp, gương sen mãn khai lẫn búp sen; bên trên chạm cây tùng, chim trĩ, hoa cúc và chim hoàng anh, trông thật sinh động. Giữa bao lam chạm cuốn thư khắc ba chữ “phúc – lộc – thọ” theo kiểu chữ triện chân lư, dưới cùng là môtip bướm và hai bao lam tả hữu giống nhau, chạm hoa hồng và chim sẻ, cây tùng và chim công, chim hoàng anh và hoa cúc, ở giữa chạm dơi tả thực và dơi cách điệu. Kỹ thuật chạm lộng đặc sắc, tinh xảo, nét đục sắc gọn, đường vuốt công phu.  Ngoài ra, còn có những hoành phi, liễn, câu đối mang đậm nét văn hoá phương Đông; tất cả được bảo quản rất tốt. Nhiều đoàn làm phim đã mượn bối cảnh ở đây làm trường quay, cũng như  đã có nhiều thợ chạm khắc đến tham quan, học hỏi tay nghề bậc thầy của người xưa.

BẾN TRE.

Nhà của Hương Liêm (tức Huỳnh Ngọc Khiêm, sinh 1842) ở xã Đại Điền, huyện Thạnh Phú được xây dựng trước năm 1900. Một điền chủ có trên 2.000 mẫu ruộng.

OVROUQ103638

Nhà cổ Đại Điền. Ảnh: Nguyễn Thành Công

Ngôi nhà trông rất đồ sộ, kiến trúc như một ngôi đình. Nhà cất theo hình chữ nhật, chu vi khoảng 100m với 48 cột bằng gỗ lim và căm xe quý. Cột hàng ba cao 3,5m, mỗi cột chu vi khoảng 80cm. Cột chính cao 4,5m, mỗi cột chu vi hơn 1,2m. Nhiều cột có chạm khắc, cẩn chữ Hán, hoa văn bằng ốc xà cừ. Xuyên, trính, kèo đều được chạm trổ. Hoành phi sơn son thếp vàng với 4 chữ: Hiếu, Để, Trung, Tín. Thành vọng chạm, lọng, với những họa tiết phong cảnh hay tứ linh trông thật sống động. Tủ, bàn, trường kỷ và hàng chục bức chạm khắc gỗ theo các điển tích xưa được cẩn xà cừ.  Mái lợp ngói âm dương, trên từng miếng ngói có in cảnh sinh hoạt dân gian với các chủ đề quen thuộc như mục đồng cưỡi trâu, con gà, con cua, bó lúa…Nền cao trên 1m, viền bọc nền là những thớt đá hoa cương dài 2 – 3m, được đục và gắn kết liền mặt, bao quanh nền nhà. Ngày trước thợ chạm, lọng thành vọng, cửa nhà, vách nhà được tính tiền công theo số dăm bào trong ngày, bao nhiêu chén dăm bào thì trả bấy nhiêu tiền. Việc vận chuyển gỗ, đá để làm nhà theo đường sông Hàm Luông. Ngôi nhà do những người thợ tài hoa của Thủ Dầu Một (Bình Dương) và Cần Giuộc (Long An) đến xây dựng. Người ta kể rằng, khi làm lễ khởi công, kéo gỗ từ ngoài bến vào, thợ làm nhà ăn bưởi cúng lễ khởi công rồi vứt hạt ra xung quanh. Những hạt bưởi đó mọc thành cây, lớn lên ra lứa quả đầu tiên (trong khoảng 5 năm) mà ngôi nhà vẫn chưa làm xong!

CẦN THƠ

Ngôi nhà cổ năm gian hai chái nằm trên đường Bùi Hữu Nghĩa, phường Bình Thủy, thành phố Cần Thơ được xây dựng từ năm 1870. Nhà kiến trúc theo kiểu Pháp với nền nhà được nâng cao 1m so với mặt sân, có bốn bậc thang hình cánh cung tao nhã nối kết nhà với khoảng sân rộng, trần cao trang trí hoa văn, mở nhiều cửa lớn nhỏ với khung sắt uốn khá đơn giản trông ngôi nhà có vẻ thông thoáng, mặt tiền trang trí phù điêu đắp nổi. Toàn bộ gạch bông hoa hồng đỏ, đen lót nền nhà cùng hàng rào sắt đúc bảo vệ khuôn viên đều được đặt và chở từ Pháp sang. Đây là mẫu nhà cổ hiếm hoi còn sót lại khá nguyên vẹn ở đồng bằng sông Cửu Long, thể hiện khá đầy đủ những đặc trưng về nhà ở nông thôn khu vực này ở thế kỷ trước. Đó là nhà luôn gắn với vườn với hơn 6.000m/8.000m2 toàn khuôn viên; rộng 22m; chiều dài 16m. Tiền sảnh dùng để tiếp khách mà không chia thành các phòng nhỏ, hai cửa hậu thông ra khu nhà ở phía sau, sân rộng có lát gạch tàu có đủ hòn non bộ, chậu kiểng, cổng tam quan, khu nuôi thú…

Các đồ vật trong nhà được bố trí hài hoà: hai bộ bàn ghế Vân Nam (Trung Quốc), xalông kiểu Pháp đời Louis XV, chùm đèn bạch đăng thế kỷ 18, cặp đèn treo thế kỷ 19, lavabô cùng bốn cây đèn đường đốt bằng dầu cao hơn 3m được chế tác tại Pháp vào thế kỷ 18, tách nậm trà – rượu đời Minh –  Thanh…Trước đây, để xử lý chống mối mọt và giữ độ lạnh trong nhà, người ta rải đều dưới nền nhà một lớp muối hột dày 10cm. Nhà không dùng ximăng để xây mà dùng ô dước. Hệ thống vì kèo, bao lam cùng 16 cây cột lớn đường kính 180cm, cao 4 – 6m được nối kết bằng mộng – ngàm.

Giữa tiền sảnh, nơi trang trọng nhất đặt bàn thờ, khánh thờ tổ tiên, phía sau là giường thờ luôn trải chiếu, tủ chè, sập gụ, trường kỷ, cặp thành vọng cao hơn 3m…do những bàn tay tài hoa của nghệ nhân ba miền tạo tác bằng gỗ quý được phủ sơn son thếp vàng hoặc cẩn xà cừ, nét chạm khắc rất tinh tế.  Ngôi nhà này từng là phim trường của hàng chục bộ phim trong đó có bộ phim nổi tiếng Người tình của đạo diễn Pháp J.J. Annaud vào tháng 3 – 1990.

ĐỒNG THÁP

Nhà của Hương chủ Dược ở làng Tân Phú Đông (nay thuộc thị xã Sa Đéc) được xây dựng vào năm 1860, nằm trên hương lộ 5 nối liền Sa Đéc với Hà Tiên. Ngôi nhà có bề ngang 18,7m, dài 16m, cao 7m, trên lợp ngói, cấu trúc theo kiểu ba căn hai chái bát dần (gọi là kiểu nhà tám đấm, tám khuyết), làm toàn bằng gỗ căm xe. Nhà có mái hiên với hàng cột vuông tám cây, cây nào cũng đục, khắc chữ Hán. Sau hàng cột vuông là hàng cột tròn, to, cao, uy nghi đường bệ. Ngay giữa bao lơn rộng lớn là một bộ trường kỷ dùng để tiếp khách. Ngăn giữa bao lơn và gian trong là vọng cửa với ba cửa lớn có hoa văn được chạm trổ rất công phu, đường nét sắc sảo, tinh tế.    Ngay gian giữa nhà là nơi thờ tổ tiên với tủ thờ, giường thờ, đồ thờ, lư đồng, bên trên có một tấm bảng sơn son thếp vàng ghi dòng chữ Nguyễn phủ đường. Hai bên là tủ thờ của người trong thân tộc. Gian trong là nơi nghỉ ngơi của gia đình, hai bên chái dùng làm chỗ sinh hoạt thường ngày.

OVROUQ103638 OVROUQ103638
Nhà cổ Rạch Giá. Ảnh: Hoàng Nam

Ngôi nhà quy tụ những thợ giỏi của miền Bắc, miền Trung và cả Nam Vang (Campuchia), công việc kéo dài đúng một năm ròng. Giá trị ngôi nhà là 950 đồng bạc lớn vào lúc bấy giờ. Hiện ngôi nhà do ông Lê Văn Võ (81 tuổi), cháu năm đời của Hương chủ Dược trông nom.

KIÊN GIANG

Nhà của ông Trần Chánh (người Hoa), toạ lạc tại số 27, thị xã Rạch Giá được xây trong 9 năm từ 1911 đến 1920, thuộc loại đồ sộ nhất Rạch Giá lúc bấy giờ. Ngôi từ đường của Trần phủ rộng 2000m2, kiến trúc ba gian hai chái, theo dạng “nội công ngoại quốc”, chất liệu gỗ truyền thống, riêng phần nền cao 7 tấc ở cái xứ biển hồi đầu thế kỷ trước quả là kỳ công. Nhà cao 9m, móng nền xây đá, tường nhà xây bằng gạch thẻ, mái lợp ngói âm dương. Mỗi gian rộng 3m, mỗi chái rộng 4m, chiều sâu 16,2m, hàng hiên chạy bốn mặt.

Thiết kế bên ngoài chịu ảnh hưởng theo lối kiến trúc Pháp thời bấy giờ, chỉ có khác là phần trong làm toàn bằng gõ đỏ theo kiểu kẻ chuyển, tiền kẻ hậu bẩy có soi chạm, hoành tháo xẻ (hoành vuông). Kết cấu chịu lực cả ngôi nhà theo sáu vì kèo, gồm 30 cột chia ra làm 8 cột cái, 16 cột quân và 6 cột hiên, đều làm bằng căm xe. Cột kê tảng bằng đá giáp hộc (cao 0,45m).

Nếu như nơi tiền sảnh, mặt trước, mặt sau và hai bên hông của ngôi nhà được xây dựng theo kiểu Pháp (Vila Daniel) thì nơi chính điện để thờ ông bà lại theo phong cách kiến trúc phương Đông. Thần vọng, khám thờ, hoa văn trên các khung cửa và cột kèo bằng danh mộc được sơn son thếp vàng, chạm khắc rất công phu. Ba gian giữa nhà ngăn với tây phòng, đông phòng là hai bức thuận cao 3,60m. Các hình trên giàn chạm trổ mai, tùng, trúc, sen, lan, đào, mẫu đơn và dây nho cách điệu; chim muông gồm phượng hoàng, khổng tước, anh vũ xen lẫn bầu rượu, ống thơ, sách bên cạnh nét mềm mại của dải lụa.   Trên trăm tay thợ trứ danh ở Gia Định, miền Bắc đảm nhận việc xây dựng ngôi nhà trong suốt 9 năm. Tiếc là phần mái nhà do phải trùng tu (vẫn mái ngói âm dương) nên ít nhiều mất đi vẻ trầm mặc vốn có.  Thời Pháp, ngôi nhà bị trưng dụng làm toà án. Đến thời Mỹ dùng làm câu lạc bộ tổ chức các cuộc giao lưu của các quan chức cỡ lớn. Sau năm 1975, ngôi nhà cổ được sử dụng làm nhà triển lãm của Sở Văn hoá Thông tin Kiên Giang. Từ năm 1981 trở thành Nhà bảo tàng Kiên Giang. Năm 1993, ngôi nhà đã được công nhận là di tích lịch sử – văn hoá cấp quốc gia.

* MỤC LỤC –  TÀI LIỆU VỀ DI SẢN NHÀ – KIẾN TRÚC CỔ 

Read Full Post »