Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘biên hòa’

Tác giả : TRẦN ĐÌNH QUẢ

Để đánh giá chất lượng của một sản phẩm gốm sứ, người ta thường dựa vào những tiêu chí sau: nhất dáng, nhì xương, tam men, tứ trí. Như vậy, nghệ thuật tạo hình gốm là hết sức quan trọng bởi hình dáng sản phẩm là yếu tố đứng hàng đầu. Nó là cốt lõi của sản phẩm, là cơ sở để người nghệ nhân tiến hành các hình thức trang trí khác. Hình dáng của sản phẩm gốm được quy định bởi nếp sống, nếp suy nghĩ, cá tính, trình độ thẩm mỹ của nghệ nhân sáng tạo cũng như công chúng mà nó hướng tới. Nó còn được quyết định bởi xu hướng và quan niệm thẩm mỹ của thời đại. Cuối cùng, đó là sự kết hợp của đường nét và mảng khối trong nghệ thuật tạo hình ba chiều với sự cho phép của chất liệu.

Gốm mỹ nghệ Biên Hòa có vô vàn kiểu dáng với nhiều chủng loại khác nhau song vẻ đẹp truyền thống mang tính đặc trưng của nó thể hiện qua hai khía cạnh: sự cân đối, hài hòa trong tạo hình sản phẩm và nét độc đáo, đầy tính thẩm mỹ của các tượng nhỏ.

Sự cân đối và hài hòa trong tạo hình

Trong thiết kế gốm, có thể nói những dáng bình gốm Hy Lạp cổ đại cho thấy một sự cân đối mang tính cổ điển làm nên vẻ đẹp chỉn chu, say đắm lòng người. Nghệ thuật gốm Việt Nam nói chung và gốm Biên Hòa nói riêng cũng không là ngoại lệ, những sản phẩm được tạo dáng trên bàn xoay hoặc có cốt mẫu trên bàn xoay đều trở nên tròn trịa và cân đối. Đó là sự đối xứng tuyệt đối qua một trục cả về các thể thức, hình khối và các chi tiết phụ họa như quai, nắp.

Sự cân đối còn được thể hiện qua những đôn voi và các loại thú khác nhưlân, chó… Chúng luôn có sự đối xứng với nhau qua chính trục giữa của nó hoặc một khoảng cách nhất định như hai con lân đối nhau qua hai trụ cổng.

Bình gốm xoay (vuốt) của Biên Hòa thường được cấu tạo dựa trên năm thể(phần) chính, ngoài ra còn có một số chi tiết phụ, tùy theo sáng tác của nghệ nhân như quai, vòi, nắp… Những phần chính là chân, thân, vai, cổ và miệng bình. Từ 5 phần chính này, nghệ nhân có thể sáng tác ra rất nhiều kiểu dáng khác nhau. Có nhiều dạng bình không cần đủ 5 phần như bình hông dưới, loại không vai hay hũ, loại hình không có cổ. Sự cân đối của tạo dáng gốm Biên Hòa thể hiện qua tính thống nhất của từng phần trong một chỉnh thể nhất định.

Sự hài hòa là cái đích luôn mong muốn vươn tới của nhiều nghệ nhân sáng tạo. Có nhiều yếu tố tạo ra sự hài hòa của một sản phẩm, chẳng hạn như tỷ lệ kích thước của chiều cao và chiều rộng, của độ lớn hông bình với các bộ phận khác, của miệng và đáy bình, của từng bộ phận so với tổng thể. Có dạng bình tròn như trái bóng, hoặc là sự mô phỏng đường cong của tang trống. Phần miệng bình luôn dẫn người xem từ cảm giác chắc khỏe, đến sự dịu dàng và cao quý toát ra qua những tai bèo mềm mại. Phần cổ của bình lại hướng tới độ thanh thoát và là nhịp nối gắn kết sự hòa hợp giữa miệng và phần dưới của bình.

Để đạt đến độ hài hòa trong từng sản phẩm, nghệ nhân gốm Biên Hòa đã chắt lọc từ đa dạng dáng gốm của nhiều vùng khác nhau cộng với sự nỗ lực tìm tòi sáng tạo của chính mình. Trong loại hình bình hoa, sự hài hòa thể hiện rõ qua những đường cong mềm mại, căng tròn và liền lạc. Một bình rượu có hai bầu, trên nhỏ dưới lớn, là hình dáng quen thuộc trên khắp Việt Nam, song riêng với gốm Biên Hòa, nó trở nên thanh thoát, hài hòa hơn với tỷ lệ (vàng) của từng phần để tạo ra một chỉnh thể hoàn thiện.

Dạng bình sữa lại là một xu hướng tạo hình khác. Sự hài hòa được mang đến không phải do tính đối xứng qua một trục mà là cân bằng của khối. Phần vát, lệch một bên của miệng bình đã cân bằng với quai của bên kia, khiến cho sản phẩm rất mềm mại và phong phú về hình thể, cùng sự linh hoạt và chuyển động trong toàn khối. Đó là một phong cách tạo hình có sự tính toán khá phóng khoáng, đem lại hiệu quả thẩm mỹ cao.

Bộ ấm trà của gốm Biên Hòa có đặc trưng khác hẳn so với các dòng gốm của Việt Nam. Bình trà có cách tạo hình theo đề tài cách điệu chữ tửu, đã cho thấy khả năng khái quát cao của người sáng tạo. Một bố cục rất gọn, sự bố trí sắp đặt đúng chỗ của vòi và quai ấm, nhất là cách phối hợp các đường nét và mảng khối đã tạo ra một nhịp điệu uyển chuyển, sống động. Toàn bộ các khối được nghệ nhân phỏng theo nét của chữ Hán, có chỗ to, chỗ nhỏ, có nhiều lỗ trống giữa các nét, tạo ra sự thanh thoát. Họa tiết trang trí chỉ đơn giản là những hoa văn cổ, song lại rất phù hợp để tôn thêm vẻ đẹp cho sản phẩm. Sự phối hợp giữa màu nâu của nền cùng màu trắng của họa tiết làm nổi bật thân bình bên cạnh quai.Vòi ấm có màu xanh đồng, đưa lại một vẻ đẹp vừa sang trọng vừa cung kính.

Bình trà trái bí mang vẻ đẹp của một đồ gốm men ngọc, cách tạo hình thật nhẹ nhàng và quyến rũ. Toàn bộ thân ấm trông giống trái bí cách điệu với các đường khía hội tụ dần về nắp ấm có hình dáng như một chiếc lá úp mềm mại. Một chút đường cong tạo ra quai và vòi càng làm cho bố cục đẹp thanh thoát. Bình trà được phủ một lớp men trắng ta, lại điểm xuyết những chấm vàng, mang lại cái đẹp nhẹ nhàng và tinh khiết.

Khi chiêm ngưỡng một số chén đĩa của gốm Biên Hòa, không ít người phảingỡ ngàng trước sự sáng tạo của nghệ nhân xưa. Lấy đề tài từ hoa, lá sen, một bộ sản phẩm đĩa và chén đã được ra đời, mang đầy đủ sự mềm mại và cao quý. Vẫn với dáng của một chiếc chén ăn cơm bình thường nhưng người thợ đã tạo cho nó sự mềm mại bởi đường gợn của miệng chén được chia theo những cánh sen. Thêm vào đó là sức lột tả của đĩa giống như một lá sen đang nâng niu nụ hoa của nó. Màu men xanh đồng chỗ đậm, chỗ lợt (nhạt), cộng với những chấm bông vàng, đen càng tô điểm thêm cho sản phẩm.

Có lẽ, một số chén của Biên Hòa được làm ra với mục đích để uống nước như chén dùng trong trà đạo của người Nhật. Bởi khi uống trà, người dùng mới có cơ hội để thưởng thức hết giá trị nghệ thuật của chén cho xứng với tầm của nó. Chén được tạo dáng có đáy nhỏ, miệng loe lớn để phô bày hết các trang trí dày đặc bên trong lẫn bên ngoài, nó thực sự vượt khỏi tầm của một đồ gia dụng hàng ngày. Một loạt chén loại này được trang trí theo nhiều đề tài, từ hoa lá cổ đến các loại minh văn đơn giản, nhằm làm phong phú cho một dạng sản phẩm chỉ có ở gốm Biên Hòa. Chúng được sắp các loại men trầm nhưng rất phù hợp với từng đồ án trang trí.

Đôn là một dạng đặc trưng của gốm Biên Hòa. Có một số dáng đôn được sản xuất như loại đơn giản giống một cái trống, đôn ba mặt và đôn voi. Đôn ba mặt được tạo dáng khá đẹp với một chỉnh thể gọn, hài hòa giữa mặt đôn để ngồi và thân đôn là phù điêu nổi cao hình lân. Đôn voi lại là sự mô phỏng theo hình dáng của convoi theo hai dạng: loại vòi cất cao lên trên và loại có vòi đi xuống. Cái đẹp của đôn là sự kết hợp hài hòa giữa tạo hình và hình thức trang trí rất chi tiết của nó.

Tạo hình tượng nhỏ độc đáo

Một trong những dòng sản phẩm gốm Biên Hòa được ưa chuộng nhất là tượng. Tượng gốm được các nghệ nhân chú trọng khai thác, sáng tạo bằng tất cả sự ngưỡng vọng và tâm hồn hướng tới chân, thiện, mỹ. Nó đã góp phần tạo nên loại gốm mỹ nghệ đặc trưng, được định danh là gốm mỹ nghệ Biên Hòa nổi tiếng vào những thập niên 20-50 TK XX.

Bên cạnh tượng phật, gốm Biên Hòa còn thể hiện được nhiều hình tượng con người trong xã hội xưa và nay. Đó là những tác phẩm có tính hiện thực cao như nhóm tượng ngư ông, diễn tả người dân lao động trong nhiều tư thế sinh động. Vẻ mặt của họ ánh lên tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống, cho dù phải đối mặt với lao động cực nhọc hay tuổi tác. Trong nhóm tượng này, các ngư ông được thể hiện khỏe mạnh với quần áo xắn cao, để lộ các cơ săn chắc của người lao động chân tay. Chiếc nón (mũ) rộng vành được bố trí úp sau lưng như tăng thêm sự khẳng định của đề tài, đồng thời làm cho bố cục tượng chắc chắn. Men có màu đen của quần, màu xanh của áo và màu trắng của nón kết hợp lại, tạo nên hình tượng các ngư ông bình dị nhưng thật cao đẹp, đáng để mọi người trân trọng.

slideshow

Tượng Mạnh mẫu Mạnh tử ca ngợi tấm lòng bao la của người mẹ đối với đứa con. Mạnh mẫu tuy lao động vất vả nhưng vẫn hy sinh hết mình để lo cho con ăn học. Những mảng khối và đường nét trên trang phục của Mạnh mẫu cùng động tác và gánh hàng đã tạo nên bố cục sinh động, mặt của Mạnh mẫu hướng về phía Mạnh tử như đang truyền tình cảm cho con. Trong tác phẩm này, tác giả đã dùng nét cong làm chủ đạo để diễn tả nhiều điều: nét cong của đòn gánh diễn tả sức nặng của gánh hàng trên vai mẫu tử, dáng hơi cong của mẫu tử thể hiện phản xạ tự nhiên dưới sức nặng đang mang, nét cong mềm mại của quần áo…Tất cả như diễn tả tình thương ngọt ngào của mẹ dành cho con và mong con ăn học thành người. Các màu men xanh đồng trổ, xanh coban, trắng ta và đen đã kết hợp để mang lại vẻ đẹp của một điển cố xưa nhưng có giá trị đến muôn đời.

Tượng xe ngựa cho thấy sự tinh tế và tính khái quát cao trong việc tái hiện một phương tiện giao thông xưa của giai cấp quý tộc. Đối với chất liệu gốm, những khắt khe của độ co đất cùng nhiều biến đổi trong quá trình nung không cho phép nghệ nhân được phóng khoáng tạo khối như các chất liệu điêu khắc khác. Vì vậy,khi tạo khối, nghệ nhân phải tính đến yếu tố trọng lực cho phù hợp với kỹ thuật tạo hình bằng đất và sự biến đổi khi nung. Quần tượng xe ngựa là thành công của việc tạo ra một chỉnh thể có nhịp điệu, tư thế sinh động của ngựa hòa quyện cùng người dắt phần nào trái ngược với sự tự tại của người ngồi trên xe. Điều này đã nói lên được ý tưởng của đề tài bên cạnh giá trị nghệ thuật đơn thuần của nó.

Tượng tình mẫu tử là bài ca về tình cảm của mẹ con. Bố cục tượng gọn, mang đến sự truyền cảm sâu sắc qua tấm lưng còng của mẹ. Dù khó nhọc, ánh mắt của mẹ vẫn luôn trìu mến, muốn đem đến cho con một cuộc sống thanh bình và vui tươi. Con nhỏ được mẹ ôm trong lòng đang rạng rỡ với cánh chim trên tay, thật hạnh phúc trong vòng tay của mẹ. Toàn bộ tác phẩm phủ một màu men trứng cúc, bình dị và gần gũi.

Tính phong phú của mảng, khối trong sản phẩm gốm hiện đại

Bên cạnh mảng gốm có phong cách tạo hình truyền thống trên bàn xoay(vuốt) với những sản phẩm tròn và cân đối, gốm Biên Hòa còn rất ấn tượng và giàu tính sáng tạo qua nhiều tác phẩm gốm độc bản, mang tính hiện đại.

Trong giai đoạn Pháp thuộc, phong cách tạo hình này mới chỉ thấp thoáng qua một số sản phẩm bình trà, nó chỉ thật sự bùng nổ khi đất nước bước vào thời mở cửa. Những kiểu dáng gốm hiện đại, phóng khoáng nhưng mang nhiều tính sáng tạo đã trở nên hấp dẫn và có ảnh hưởng đến tạo dáng gốm Biên Hòa. Hàng loạt tác phẩm gốm do thày và trò Trường Cao đẳng mỹ thuật trang trí Đồng Nai sáng tác cùng với sự thể nghiệm của một số lò gốm ở Biên Hòa đã khẳng định một mảng gốm rất đặc trưng của Đồng Nai.

Nói đến gốm hiện đại là đã đề cập tới cách giải quyết vấn đề theo phong cách nghệ thuật hiện đại, từ tư duy chọn đề tài đến thể hiện qua mảng khối. Trong các tác phẩm gốm hiện đại Biên Hòa, sự phong phú của mảng, khối là nét khác biệt rõ nhất so với gốm truyền thống. Khối và mảng trở nên biến hóa với tính khái quát cao về đề tài mà tác giả muốn thể hiện.

Bình ốc, cho thấy một điển hình về sự chuyển của khối và đường nét. Đó là sự kết hợp của nhiều khối to nhỏ, âm dương, mỗi khối lại có những hình dáng khác nhau tạo nên một tổng thể vô cùng phong phú. Bên cạnh đó, những đường khắc chìm trên thân của khối lớn đã tạo ra sự liên kết trong một tập hợp, chia thân khối ra thành nhiều mảng có diện tích và hình dáng khác nhau, làm nên một cái nền. Toàn thể tập hợp đó gợi nên một cảm giác nhẹ nhàng nhưng sâu thẳm của đại dương qua chính loài vật sống trong đó. Một nhịp điệu được toát ra qua sự uyển chuyển của đường nét và cách sắp xếp các khối. Một màu men xanh phủ toàn bộ tác phẩm đã làm rõ hơn sự diễn tả cho đề tài.

Các đề tài lấy từ hình tượng con người được sử dụng nhiều trong sáng tác gốm hiện đại. Trong đó, nhân vật được đơn giản hóa tối đa, các khối quyện chặt vào nhau trong nhịp chuyển động linh hoạt của mảng và đường nét. Nhìn chung bố cục của chúng đều hướng tới sự vận động liên tục của cuộc sống ngay cả khi con người đang trong tư thế tĩnh. Tác phẩm Tình yêu lứa đôi diễn tả đôi trai gái đang chìm đắm trong vũ điệu của tình yêu. Nhân vật nam và nữ được cách điệu thành những khối đơn giản với các đường cong mềm mại và uyển chuyển trong bố cục rất chặt chẽ giữa một không gian ba chiều rõ nét. Tác giả đã cố gắng diễn tả không gian sao cho khi ta xoay chiều nào cũng tạo được góc nhìn ưng ý, góc nào cũng thấy được nhịp điệu sinh động của mảng khối. Sự chặt chẽ nhưng không ngợp bởi khoảng trống giữa các khối đã tạo nên cảm giác nhẹ nhàng và sâu rộng của không gian. Sự chuyển động thông qua đường nét và mảng khối làm sáng tỏ hơn chủ đề mà tác phẩm đang hướng đến. Toàn bộ tác phẩm được tráng một màu xanh đồng nhẹ nhàng và đặc trưng của gốm Biên Hòa.

Sự tìm hiểu và khai thác các đề tài về văn hóa và con người của nhiều dân tộc trên khắp đất nước là một mảng rất ấn tượng trong gốm hiện đại Biên Hòa. Tác phẩm Tây Nguyên, dưới dạng một bình hoa, cho thấy một phong cách thể hiện kết hợp giữa tạo hình truyền thống và điêu khắc. Tính truyền thống ở đây là một bố cụckhá cân đối, sự tạo dáng ban đầu dựa vào bàn xoay nhưng nó đã được điêu khắc hóa khi thể hiện những chi tiết, mảng và khối nhỏ. Trong Tây Nguyên, các khối được gắn kết với nhau theo một trình tự ngẫu nhiên như thực tế, song nó đã được tính toán ở một tỷ lệ vừa đúng để tạo ra tổng thể hoàn chỉnh. Với một khối đơn giản có tính khái quát cao, việc nêu bật được đặc điểm của một nền văn hóa, một dân tộc là rất khó. Bình Tây Nguyên đã cho người xem cảm nhận được những đặc điểm chính của người phụ nữ nơi đây qua mảng khăn quấn trên đầu, hai vòng đeo tai có dạng như hai chiếc chiêng, hai lỗ tai lớn, biểu thị cho hệ quả của việc đeo vòng nặng từ nhỏ và cuối cùng là ba vòng tròn ở cổ. Chính các chi tiết của khối như: mắt, miệng, tai… là những họa tiết trang trí vừa để hoàn chỉnh ý tưởng đề cập của đề tài, đồng thời góp phần mang lại tính mỹ thuật cao hơn, sâu sắc hơn. Màu men nâu chủ đạo đã trở nên phù hợp và làm đẹp hơn cho cả nội dung và hình thức của tác phẩm.

Bình đèn Múa Chăm lại đưa người xem đến cảm nhận khác về sự biến đổi của mảng khối và đường nét trên một sản phẩm gốm. Trong tư thế hết sức sinh động và mềm mại, hình tượng người múa hiện lên duyên dáng với những hoa văn mang đậm bản sắc Chăm trên trang phục. Với bố cục thật đơn giản và gọn, hình tượng vũ nữ được chia làm ba khối chồng lên nhau theo xu hướng nhỏ dần lên trên. Đó là ba khối biến thể có tính khái quát cao, một khối tay đưa lên, một cánh tay chống vào hông… tất cả được kết hợp đầy sáng tạo. Những hoa văn Chăm được trang trí phù hợp với kỹ thuật khắc, lộng, đã tạo ra sự thông thoáng cần thiết để ánh sáng đèn bên trong hắt ra, vừa đủ đẹp. Màu men xanh đồng của thân và màu men nâu đậm, màu đen của hoa văn hài hòa và sâu lắng.

Như vậy, khả năng kết hợp của mảng và khối trong gốm hiện đại thật phong phú. Sự phong phú đó bắt nguồn từ tính đa dạng của đề tài mà gốm hiện đại thể hiện, hơn nữa phong cách tạo hình mới trong các sáng tác đã giúp cho việc tạo hìnhmảng, khối ngày càng đa dạng hơn. Nó không chỉ làm đẹp cho một bố cục mà tự bản thân nó đã bộc lộ những ngữ nghĩa tùy theo sự biến hóa và cách sắp đặt của tác giả.

Cùng với những dòng gốm khác trên khắp quê hương Việt Nam, gốm Biên Hòa đã và đang góp phần làm tôn vinh vẻ đẹp và phong phú của làng nghề truyền thống thủ công mỹ nghệ. Với nỗ lực phấn đấu của các doanh nghiệp sản xuất, ngành gốm Biên Hòa sẽ gặt hái được nhiều thành công trên bước đường phát triển, mãi mãi xứng đáng là dòng gốm nổi tiếng mang đặc trưng riêng của khu vực miền Đông Nam Bộ.

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN

*Mục Lục – Gốm Sản xuất Ở Miền Đông Nam Bộ

Advertisements

Read Full Post »

I. Tôi nhớ mãi câu của Tư Mã Quan:

“Học xong mà thành đạt quên cả người thầy dạy mình thì chưa phải là học”

Tôi ngồi dưới mái trường Trung học Mỹ Nghệ thực hành Biên Hòa không đủ bốn năm, mà chỉ học tới năm thứ ba (Đệ Tam Niên) thôi!

Nếu học trọn khóa, lãnh bằng tốt nghiệp, là công thành danh toại, tựa bông hoa tới kỳ nở rộ, khoe sắc hương thơm.Trong khi tôi học hành dang dở, nghề nghiệp chưa thành, tựa nụ hoa chưa nở, nên không tỏa hương sắc – Nụ hàm tiếu.

Tuy vậy, tôi cũng có kỷ niệm về nụ Hàm Tiếu. Xin kể ở đoạn sau.

– Giờ đây có ai hỏi tôi, ngôi trường Trung học Mỹ Nghệ thực hành Biên Hòa giờ ở đâu?

– Tôi xin thưa: Ngôi trường thân yêu ấy hiện nó đang “nằm” trong trái tim tôi.

Vâng. Tôi “lọt” vào “đôi mắt kính” của truờng Mỹ Nghệ thực hành Biên Hòa khóa 1960-1964. Qủa không dễ chút nào ! Cũng “trầy da tróc vẩy”. Bởi một, phải “chọi” với năm, tỉ lệ 1/5. Nghĩa là: khóa học năm ấy! Chỉ tiêu của trường tuyển bốn mươi học sinh, cho lớp đệ nhất niên (đệ thất), nhưng có tới bốn trăm người dự thi và tôi may mắn nằm trong số bốn mươi người trúng tuyển và đậu hạng tư. Với hạng này, tôi được học bổng của tỉnh, mỗi tháng hai trăm đồng “tương đương hai triệu đồng bây giờ”. Cũng cần nói thêm, trường hồi ấy có hai loại học bổng: Của Bộ Quốc Gia giáo dục, mỗi tháng được bốn trăm, cho hai xuất. Hạng nhất và hạng nhì của tỉnh, từ hạng ba tới hạng năm, ba tháng lãnh một kỳ, mỗi lần lãnh tôi được sáu trăm, nếu có tác phẩm bán được, hưởng thêm 30% nữa! Vị chi tôi cũng được 7-8 trăm đồng, đủ trang trải giấy bút, sắm áo quần, giầy dép, cũng bớt gánh nặng cho gia đình!

Học năm đầu đệ nhất, tôi có chuyện vui vui, đáng nhớ! Xin kể – số là một lần có người hỏi thăm tôi bao nhiêu tuổi, và học lớp mấy? Tôi trả lời tôi mười lăm tuổi và học lớp đệ nhất! Họ tròn mắt nhìn tôi, thán phục! Qủa là tuổi trẻ tài cao, mới có tí tuổi này! Mà đã chuẩn bị lấy bằng tú tài kép “ tú tài đôi” (Hồi xưa chúng tôi vẫn gọi thế). Với bằng này thường ở tuổi 18-20. Cấp T.H.P.T, năm đầu là lớp đệ thất ( lớp 7) nhưng với trường nghề như Trường Mỹ Nghệ Biên Hòa lại gọi là đệ nhất, thế mới oái oăm! Tôi có mấy người bạn nữ trường K.T học lớp đệ lục “lớp 6” vẫn đinh ninh rằng tôi chuẩn bị “giựt” bằng tú đôi, rồi khoe với bạn bè, ra vẻ hãnh diện lắm! Ai có ngờ! Đời là thế!

Tôi cứ lặng im như … thóc, chẳng biện bạch chi cả. Kệ! Họ muốn hiểu sao thì hiểu, mình cứ hiên ngang tiến bước…

Chuyện thứ hai cũng đáng nhớ. Đó là giờ văn của Cô NGUYỆT( cô Nguyệt vừa dạy văn vừa dạy toán) đề Cô cho chúng tôi hôm ấy: Tả cây Phượng già trước sân trường. Cây cây phượng này là nguyên nhân, gây ra bao rắc rối, bởi những tay có tâm hồn lãn mạng hay viết vớ vẩn lên thân nó! Nào là hình hai trái tim lồng lên nhau với chữ HL (H.L) y như chữ Hy Lạp ! Mà chỉ có người trong cuộc mới hiểu ! Hoặc hình trái tim có mũi tên đâm vào, lại có vài giọt máu rơi xuống ! Qủa khó hiểu! Mà thôi ! Ai muốn hiểu sao thì hiểu !!!

Còn nhiều câu, nhiều hình đan xen nhau, chi chít! Làm tội cái gốc cây phải “gồng mình cõng” biết bao nhiêu cái đầu hâm nóng….

Cũng có những hình không lành mạnh, bởi cái đầu lệch lạc! Nên ai đó ?! Đã đè lên thân nó câu : “ Người họa sĩ này có bàn tay vẽ rất khéo ! Nhưng có tư tưởng không đứng đắn !”

Bài làm trong giờ xong, nộp cho Cô và Cô hẹn tiết sau trả bài. Chúng tôi chờ đợi trong sự hồi hộp. Hai ngày sau gặp Cô cũng tiết văn. Chúng tôi nhận lại bài, cả lớp ai lấy đã có bài. Bài thằng Lộc ngồi cạnh tôi, được điểm năm, nó không vui, cũng không buồn ! Tính nó là vậy ! Duy có tôi chưa nhận được bài ! Và tôi thấy trên tay Cô còn cầm một bài. Tôi hồi hộp tự hỏi chuyện gì sẽ xảy ra đây ! Thằng Lộc nó bảo” chắc bài của mày rồi! Bài mày làm chắc quá ẹ ! Nên bị Cô giữ lại” Tao nào biết ! Tôi trả lời nó vậy ! Bất ngờ Cô hỏi” em Phát đâu ? Đứng lên Cô coi ?”  Vì mới “ chân ướt chân ráo” nên Cô chưa biết mặt học trò. Tim tôi như muốn nhảy khỏi lồng ngực, đánh như trống… làng ! Phải đợi Cô gọi tới lần thứ ba, tôi mới từ từ đứng lên, mặt xanh như tàu lá (sau thằng Lộc nó bảo tôi vậy). Cô nhìn tôi mỉm cười, vẻ trìu mến, làm tôi hơi an tâm ! Rồi Cô nói: “Bài em làm r..ấ..t” Cô kéo dài chữ rất làm tôi càng điếng hồn! Cả lớp đổ dồn ngó tôi!!! Thú thật, lúc ấy! Phải là tôi Ngộ Không thì tôi đã thăng thiên, hoặc độn thổ ngay lập tức! Rồi Cô nói tiếp: “Bài em làm rất hay, điểm chín, đáng làm bài mẫu! Tôi thở phào nhẹ nhõm, như vừa chút được bao chì nặng trĩu! Tôi liền đá vào chân thằng Lộc một cái!!! Nó trợn mắt ngó tôi…cười! (Tôi thân với thằng Lộc hồi còn tiểu học). Rồi Cô trích một đọan và phân tích câu cú cho cả lớp nghe.

Tôi viết: Cây phượng trong sân trường! không biết nó mọc ở đây, từ bao đời! Và đã trải qua, bao thế hệ học sinh, thầy, cô, tới nay! Chính xác nó được bao nhiêu tuổi đời!?

Tôi chẳng biết! Chỉ biết rằng, cứ nhìn vào “ Dung nhan” về chiều của nó, với cái gốc to bè, sần sùi, đến 3-4 người lớn ôm không xuể, thì có thể đóan nó phải ngoài thất thập (ngoài 70 tuổi). Mà nó lại mọc ngay bìa trường, đứng sừng sững như người mẹ già nua vương những cánh tay khổng lồ ngoằn ngèo như những con rắn lượn! Phủ rợp cả một sân rộng, che nắng cho đàn con đông đúc, vui đùa, thỏa thích. Nhưng trong đám con ấy! Lại có những đứa tinh nghịch, ưa phá phách! Cứ leo lên từng cánh tay mẹ (vì tôi thấy có một sợi dây thừng to bằng cổ tay người lớn, được cột từ cành to cao nhất xuống tận đất ( chắc để học sinh chơi du dây) để bẻ những “ ngón tay” mẹ, mà vứt xuống! (bởi trên sân đầy những cành phượng nhỏ mang chùm hoa đỏ rực, tựa màu máu). Lúc ấy! Chắc “mẹ” đau lắm!? (Bài còn dài xin dừng tại đây!).

Sang năm thứ hai thì chọn ban, tôi theo bạn chọn điêu khắc đá nhân tạo. Đúng như lời cổ nhân có câu ” Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh” Trường hồi ấy có mấy ban như: Ban đồng do thầy Ung Văn Nam dạy, Ban Xoay do thầy Hai Bồi dạy, Ban Men thầy Nguyễn Văn Nhàn, ban điêu khắc thầy Nguyễn Văn Mậu, đá nhân tạo thầy Cừ, ban khuôn thầy Đinh, năm đầu mọi học sinh đều qua các ban. Năm hai thì chọn ban theo năng khiếu và học lấy một nghề cho thật giỏi, thật tinh thông, thế mới đúng: Nhất nghệ tinh…! Trường đã đi đúng lời cổ nhân dạy!..

Ban khắc có hơn mười bạn. Tôi, Thanh, Lịch, Soi, Lộc, Phép, Phấn, Liễu, Hướng, Tòng, còn mấy người bạn người nam, tôi không nhớ hết tên! Ban này do thầy Cừ và thầy Mậu giảng dạy. Thầy Đinh tuy dạy cùng phòng với hai thầy Cừ và thầy Mậu, nhưng thầy dạy môn khuôn, môn này tôi cũng học qua năm đầu, nhưng không có khiếu, đành trả nghề lại thầy! Em mong thầy lượng thứ cho thằng học trò bất tài này!!!.. vì không theo nổi nghề của thầy!

Với môn khiêu khắc đá nhân tạo, tôi cũng có vài kỷ niệm buồn, vui với các bạn! Chẳng hạn: Học được vài tháng đầu tôi nghe theo lời thầy Cừ bảo: “ Các em phải luôn có óc sang tạo, luôn đổi mới trong tư duy! Nhất là ngành khiêu khắc đá, phải tìm mọi hướng đi nghệ thuật cho riêng mình, như danh họa Picasso, có riêng một trường phái của ông, ngày nay khó có ai sánh kịp! Trước giờ! Điêu khắc chỉ thuần túy nắn một kiểu tròn, góc vuông, tức đồ giặt, rồi sẽ tạo riêng trường phái giặt!!! “ Câu nói của thầy Cừ cứ mãi xoáy vào tâm trí tôi, để rồi tôi đã thực hiện được điều thầy dạy.

Lần ấy! Chúng tôi thực tập, nặn con dơi sống, nó được nhốt trong cái lồng sắt, chúng tôi đứng bao quanh nó, nhìn và nặn, lâu lâu lại đổi chỗ xoay vòng, cốt để hoàn chỉnh tác phẩm.Và kết quả con dơi đá nhân tạo của tôi đã được trưng bầy trên H.T.X, mà bây giờ không biết nó “ bay” về phương mô?! Kể từ H.T.X không còn nữa.

Riêng môn đá nhân tạo, ngoài những chất liệu chính như: Xi măng, bột đá, màu, dụng cụ, dăm bằng sắt dăm lên tác phẩm để tạo sần sùi như đá thiên nhiên ra, còn có một bí quyết! Mà không phải ai cũng có thể làm được: Sư phụ cũng không dạy! Theo tôi! Chỉ có thiên phú, trời cho ai, người ấy được! Đó là chất… mồi hôi tay: “ Nghe có vẻ khôi hài, nhưng đó là sự thật”! Mồ hôi ai mà chẳng có, người thì mồ hôi muối, người mồ hôi dầu, mà đá nhân tạo lại chỉ hợp với người mồ hôi dầu, thế mới lạ kỳ ? Tôi đã bao phen “ghen” với tay Lịch, vì bài nó luôn được điểm cao, mặc dù xét về kỹ thuật tạo hình, tôi không thua hắn! Mà thua hắn về mỹ thuật. Nhìn tác phẩm của hắn luôn bóng láng và hấp dẫn! Vì hắn hay lấy tay xoa xoa lên tác phẩm “ thì ra hắn mồ hôi dầu!” Tôi cũng bắt trước hắn xoa xoa lên tác phẩm đến nỗi rát cả tay, đỏ tấy lên mà chẳng bóng! Trái lại nó cú bạc trắng ra, nhìn cứ như bị mốc! Hóa ra tôi mồ hôi muối!.

II- Nụ Hàm Tiếu:

Vừa rời mái trường Trung học Mỹ Thuật Thực Hành Biên Hòa năm 1963, tôi lên sài gòn kiếm việc và tìm cách học thêm để luyện thi cấp 3, tôi ở trọ nhà một người bà con, ở xóm Chí Hòa, dường Lê Văn Duyệt, nay là đường C.M.T.8. Quận 3, TP.Hồ Chí Minh, đang thất nghiệp đi lang thang trên đường Lê Văn Duyệt ngắm cảnh hai bên đường. Đi gần tới chợ Ông Tạ, tôi thấy trước cửa nhà có treo tấm bảng nhỏ đề vỏn vẹn bốn chữ: Cần người biết vẽ! Mừng quá, như người đang trong cơn khát, được ai cho ly nước uống, tôi liền vào xin việc, chủ tiệm đang lim dim gật, nghe tôi hỏi, anh tỉnh hẳn, nhìn tôi từ đầu tới chân. Biết tôi xin việc, rồi cuộc phỏng vấn chớp nhoáng về nhân thân, tên tuổi, biết tôi vừa dời Trường Trung Học Mỹ Nghệ Biên Hòa ra, và anh cho biết cũng mới tốt nghiệp Trường Bách Nghệ Phú Thọ và thuê phòng này mở phòng vẽ được hai tháng nay. Anh hơn tôi năm tuổi, tên Sơn. Vậy là cùng cảnh ngộ, đồng hội, đồng thuyền, dễ cảm thông!!! Rồi anh hẹn tôi ra nhận việc… để rồi nụ hàm tiếu nó “ mọc lên từ đây …!”.

Phòng vẽ, thì chủ yếu vẽ quảng cáo, bảng hiệu cho mấy quán bar. Vì thời gian ấy (1963) quân Mỹ ồ ạt sang Việt Nam mang theo những đồng đôla xanh, đỏ, rải đi mấy quán có cave “tiếp viên nữ” nên quán xá mọc lên càng nhiều! “ Chúng ta cứ chặc đẹp, tiền chùa mà” Anh Sơn bảo vậy!

Chúng tôi làm ăn với nhau được vài tháng, thì vào một sáng đẹp trời, tiết thu. Hai anh em đang thổi “kèn” và nghĩ ngợi lung tung, thì có một vị khách bước vào, ông khoảng năm mươi tuổi, lịch sự chào chúng tôi và muốn đặt chúng tôi vẽ bức tranh: Nụ hàm tiếu, đồng thời cho biết giá. Sau khi thỏa thuận giá cả, khách đồng ý. Chúng tôi hẹn ngày giao hàng, khách còn hào phóng đặt cọc và nở nụ cười “ hàm tiếu” ( sau này sự việc vỡ lẽ, chúng tôi mới hiểu nụ cười “ chết người ấy”! … cười chế diễu).

Sau khi ông khách ra về, hai thằng tôi nhìn nhau: Tôi hỏi anh Sơn hoa Hàm Tiếu là hoa gì? Anh Sơn lắc đầu!

–         Tôi cũng không biết nữa! Hồi học ở trường có ai dạy vẽ hoa Hàm Tiếu đâu?!

–         Tôi nói – hồi học ở trường em có vẽ khỏa họa bông hoa hồng, hay mình vẽ hoa hồng!?

–         Ừ! Cũng được, anh Sơn gật đầu, và chạy ngay ra chợ Ông Tạ mua một bông hồng to, tươi, nức mùi thơm, kèm theo cái nụ trên cành, rồi anh trao tôi vẽ, mẫu sao vẽ vậy! Sau một ngày vẽ và anh Sơn chỉnh sửa, bức tranh đã hoàn chỉnh, một bông hồng to và cái nụ hoa trên nền vải nhung tím được lồng trong khung gỗ, khổ 30 x 40cm, coi cũng có hồn lắm!!! Và bức tranh được bọc một lớp nhật trình, rất cẩn thận, chúng tôi chờ đợi trong sự hồ hởi! Rồi ngày hẹn cũng tới, khách đến lại vào cái giờ mà chúng tôi cho là “kị”- gặm bánh mì, buộc chúng tôi phải bỏ ra tiếp khách.

–         Khách nhìn chúng tôi, tỏ vẻ thân thiện, miệng luôn nở nụ cười như buổi đầu gặp, tôi liền trao bức tranh cho ông.

–         Ông giỡ lớp giấy bọc ngoài! Ngắm tranh một lúc, ông gật đầu khen “ Tranh vẽ bông hồng với cái nụ phải không? Khá đấy! Rất nổi! Vì hoa màu hồng đỏ, lại đặt lên nền nhung tím sẫm càng bật lên nét đặc trưng của hoa và cái nụ nho nhỏ, vậy cái nào là nụ Hàm Tiếu?!”

–         Hai thằng tôi ngớ người nhìn nhau, sau một giây, tôi chỉ đại vào cái bông hoa và bảo:

–         Dạ! đây là nụ Hàm Tiếu!!!

–         Ông khách phá lên cười dòn dã một hồi, và hai tay vỗ vỗ vào vai hai thằng tôi và nói:

–         Không phải rồi hai chú ơi! Hoa hồng là hoa hồng, nụ hàm tiếu là nụ hàm tiếu! Không thể lẫn lộn nhau được, Rồi ông giải thích cặn kẽ.

–         “Thật ra, khi nói đến nụ hàm tiếu là nói chung cho mọi nụ của các loài hoa chứ không riêng hoa hồng, hoa cúc, hoa mimosa chẳng hạn! Rất tiếc cái nụ này ( ông chỉ vào bức tranh) các chú vẽ nó hãy còn ngậm!!! Chưa hé nở! Vậy nụ hàm tiếu là cái nụ chớm nở! Các văn nhân thi sĩ khi ngắm nụ hoa chớm nở, đều cho là đẹp hơn cả bông hoa đã nở rộ! Vì thế người ta ví người con gái nào có nụ cười chúm chím, cười mỉm chi, khi cười chỉ khoe chút răng, đều cho là đẹp. Cái đẹp ở đây cón ẩn ý là người con gái kín đáo, ý tứ, được giáo dục kỹ lưỡng, nên được gọi là “Nụ Cười Hàm Tiếu”.

–         Hai thằng tôi cúi đầu sượng sùng! Lạnh thinh! Anh Sơn di di chân dưới đất, còn tôi, tay chân lúc ấy cảm thấy sao mà nó thừa đến vô duyên, chẳng biết giấu đâu! Căn phòng gần chục mét vuông, bình thường thấy rộng thênh thang, mà sao lúc này! Nó trở nên chật chội, ngột ngạt, khó thở lạ! Đang gặp nước bí, chưa biết ăn nói thế nào cho khách!!! Thì như hiểu được cảm nghĩ của hai thằng tôi!? Ông lên tiếng phá tan bầu không khí “ đặt quánh” bao trùm chúng tôi!. Ông tế nhị nói: “ Qua biết hai chú mới ra nghề, như mới dời trường lớp phải không? Nên chưa dầy dặn kinh nghiệm trường đời! Thế nên qua muốn thử cho vui thôi! Không ác ý gì đâu, dẫu sao đây cũng là bài học cho hai chú em. Người Pháp có câu : Ecol de lavie “ Trường đời” rất có nghĩa! Nói xong! Ông trả nốt tiền còn lại và lấy bức tranh, còn bắt tay hai thằng tôi vẻ chân tình, thân thiện, rồi chào tạm biệt!

Chúng tôi chưa kịp nói lời tạ lỗi, và cảm ơn vị khách quí, thì bóng ông đã mất hút vào lòng chợ Ông Tạ. Chúng tôi chợt bừng tỉnh! Như một cơn mê! Tiếc ngẩn ngơ!!!

Cho tới nay! Dù đã trải qua mấy chục năm, bao vật đổi, sao dời, biết bao việc đổi thay, nhưng với cái nụ Hàm Tiếu và vị khách quý kia, vẫn không phai mờ trong tâm trí tôi, bởi tôi đã coi ông như một người thầy trong đời, dù ông không dạy như thầy cô dạy trong trường lớp! Nhưng đã có câu: Nhất tự vi sư, bán tự vi sư “Một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy”, nếu không, làm sao chúng tôi biết được nụ hàm tiếu ra sao!? Để nó vẫn “ đeo sát” tôi trong gần nửa thế kỷ nay!!!

Nhân kỷ niệm 105 năm thành lập trường Cao đẳng Mỹ thuật Trang trí Đồng Nai, tôi viết lên những dòng này! Kính dâng lên vong linh các thầy cùng bạn thân yêu, như thắp lên nén hương lòng vậy!

Đồng Nai, ngày 07 tháng 3 năm 2008

Read Full Post »

Kiến trúc xưa ở Cù lao Phố

Cù lao Phố là một cù lao nằm trên sông Đồng Nai, thuộc thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Sông Đồng Nai chảy đến một khúc quanh thì đã tự chia ra làm hai nhánh ôm trọn một dải đất sa bồi. Dải đất đó chính là Cù lao Phố, nằm ở phía Đông – Nam của thành phố Biên Hòa, tên hành chính hiện nay là xã Hiệp Hòa, với tổng diện tích đất đai là 694,6495ha.

Cù lao Phố còn được gọi là Đông Phố, Giản Phố, Cù Châu, Nông Nại Đại Phố. Tuy nằm cách biển nhưng là nơi sông sâu, nước chảy có thể đi đến mọi miền.rải qua nhiều thăng trầm lịch sử, Cù Lao Phố, thương cảng sầm uất của Nam Bộ một thời, nay vẫn còn lưu được nhiều nét xưa.

Trước thế kỷ thứ 6, Cù Lao Phố là vùng đất hoang vu thuộc vương quốc Phù Nam. Trong lịch sử mở rộng bờ cõi của cha ông, cuộc nam tiến đã thực sự thành công khi vùng đất Đồng Nai – Gia Định được tiền nhân khai phá.

Sự hình thành và phát triển của dải đất nằm giữa sông Đồng Nai này bắt đầu từ năm 1679, gắn với sự kiện hai trung thần nhà Minh (Trung Quốc) là Trần Thượng Xuyên, Dương Ngạn Địch không quy phục triều đình Mãn Thanh, đã dẫn dắt hơn ba nghìn binh lính vượt biển xuôi về Nam trên 50 chiến thuyền. Họ vào cửa Tư Dung (địa phận Thuận Hóa) xin chúa Nguyễn Phúc Tần cho lánh nạn. Chúa Nguyễn đã thu nạp và cho họ đến khai khẩn đất miền Nam. Nhóm di dân này chia làm hai cánh, một do hai tướng Trần Thượng Xuyên, Trần An Bình chỉ huy đã chọn vùng Đồng Nai – Gia Định để khai phá, một do Dương Ngạn Địch, Hoàng Tiến thống lĩnh tiến xa hơn, chọn vùng Mỹ Tho – Cao Lãnh làm chốn dung thân.

Cầu Ghềnh dẫn vào Cù Lao  Phố.

Trần Thượng Xuyên sau khi định cư đã chiêu mộ thương lái từ Trung Quốc sang mua bán và mở mang thương cảng. Từ đó, vùng Cù Lao Phố trở nên sầm uất, trên chợ, dưới thuyền, bán mua tấp nập. Nhiều ngành nghề thủ công truyền thống có điều kiện phát triển như dệt chiếu, tơ lụa, đúc đồng, làm pháo, đồ gốm, đục đá… Các thương thuyền của người nước ngoài như Nhật Bản, Trung Hoa, Ấn Độ thường xuyên vào ra.

Là người có tầm nhìn xa, Trần Thượng Xuyên thấy vùng đất này có nhiều tiềm năng về nông nghiệp và thương nghiệp vì thuận lợi giao thông thủy, bộ. Do đó, ông đã huy động sức người sức của để xây dựng thương cảng Nông Nại Đại Phố thành trung tâm thương mại danh tiếng bậc nhất phương Nam thời bấy giờ. Năm 1720, Trần Thượng Xuyên qua đời, được chúa Nguyễn truy phong Thượng đẳng thần, thờ ở đình Tân Lân bên bờ sông Đồng Nai, cạnh chợ Biên Hòa.

Trong các công thần nhà Nguyễn có công khai khẩn, mở mang bờ cõi phương Nam, Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh là người đầu tiên được nhắc đến. Vào năm 1698, được chúa Nguyễn sai kinh lược phương Nam, viên thống soái này đã chọn Cù Lao Phố làm nơi đặt tổng hành dinh. Tại đây, ông  thiết lập bản doanh, tổ chức cơ sở hành chính, ổn định đời sống dân chúng bằng cách thiết lập phủ, huyện, tổng, xã, thôn của các vùng Phước Long, Biên Trấn. Việc quy định khai khẩn ruộng đất, lập sổ bộ đinh, điền, thuế má đã giúp chúa Nguyễn có thêm nguồn lợi. Ông cũng chính là người có sáng kiến khuyến khích dân chúng các dinh trấn Quảng Nam, Quảng Ngãi vào khai khẩn ruộng đất, lập vườn tược, hình thành các làng mạc trù phú ở Đồng Nai.

Về sau, Cù Lao Phố bị tàn phá nặng nề do cuộc bạo loạn của thương nhân người Phúc Kiến (Trung Quốc) là Lý Văn Quang vào năm 1747 và cuộc giao tranh giữa nhà Tây Sơn và chúa Nguyễn, đặc biệt là năm 1776. Nhà cửa phố xá bị thiêu trụi, cư dân dần dần lưu tán, chấm dứt thời kỳ hưng thịnh của Cù Lao Phố sau gần 100 năm.

Tinh hoa còn đó

Chùa Ông ở Cù Lao Phố.

Cù Lao Phố hiện còn lưu nhiều dấu tích về thời hưng thịnh với những công trình mang đậm tín ngưỡng như chùa Đại Giác, đền thờ Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh, miếu Quan Đế, chùa Thủ Huồn… Những tinh hoa trong các làng nghề gốm sứ, điêu khắc hay những sự kiện lịch sử trong lao động và bảo vệ lãnh thổ, sự định hình thiết chế xã hội, các di tích văn hóa của vùng đất này… được Trịnh Hoài Đức biên khảo hết sức công phu trong bộ Gia Định Thành thông chí.

Đình Tân Lân, đánh dấu nơi định cư đầu tiên của nhóm Trần Thượng Xuyên ở vùng Đồng Nai.

Đình Tân Lân, đánh dấu nơi định cư đầu tiên của nhóm Trần Thượng Xuyên ở vùng Đồng Nai.

Tượng Nguyễn Hữu Cảnh nơi đình thờ ông ở Cù lao Phố.

Tượng Nguyễn Hữu Cảnh nơi đình thờ ông ở Cù lao Phố.

Với hệ thống những công trình tín ngưỡng tôn giáo trên mảnh đất ghi đậm dấu ấn lịch sử văn hóa, Cù Lao Phố là điểm du khảo lý thú cho những ai yêu thích thiên nhiên, nghệ thuật. Đứng bên bờ sông Đồng Nai, du khách có thể nhìn thấy Cù Lao Phố nổi bật giữa dòng sông, thấp thoáng mái đình, mái chùa cổ, tịnh xá…

Chùa Đại Giác

Chùa Đại Giác

Được xem là nơi địa linh nhân kiệt, Cù Lao Phố đang là đối tượng của các nhà nghiên cứu khảo cổ học về những giá trị văn hoá, lịch sử.

Đền Nguyễn Hửu Cảnh

Đền Nguyễn Hửu Cảnh

Sự kiện lịch sử:

Sự thịnh vượng của vùng Cù lao Phố chỉ kéo dài được 97 năm (1679 -1776), bởi đã xảy ra hai sự kiện lớn:

* Năm 1747, một nhóm khách thương người Phúc Kiến qua lại buôn bán, thấy Cù lao Phố rất giàu có nên dậy lòng tham muốn chiếm lấy để làm chỗ dung thân lâu dài. Cuộc bạo loạn do Lý Văn Quang (tự xưng là Giản Phố Đại vương) cầm đầu, đánh úp dinh Trấn Biên (tiền thân của Biên Hòa sau này), giết chết Nguyễn Cư Cẩn (tước Cẩn Thành Hầu) là người cai quản dinh. Tin cấp báo về Thuận Hóa, chúa Vũ vương (Nguyễn Phúc Khoát) liền sai cai cơ Tống Phước Đại (tước Đại Thắng Hầu) đang đóng ở Mô Xoài đem binh vào cứu viện. Tống Phước Đại phá tan đạo quân của Lý Văn Quang, bắt được chúa đảng cùng đồng bọn 57 người. Tuy dẹp được cuộc bạo loạn, nhưng Cù lao Phố cũng đã chịu nhiều thiệt hại.

* Năm 1776, quân Tây Sơn đã đến đàn áp những người Hoa ở cù lao Phố vì họ đã ủng hộNguyễn Phúc Ánh  . Trịnh Hoài Đức mô tả: Nơi đây biến thành gò hoang, sau khi trung hưng người ta tuy có trở về nhưng dân số không được một phần trăm lúc trước (Gia Định thành thông chí). Sau khi chợ búa cùng phố xá bị tàn phá nặng nề, các thương gia người Hoa rủ nhau xuống vùng Chợ Lớn (nay là Quận 5 và Quận 6, thuộc Thành phố Hồ Chí Minh), sáp nhập với làng Minh Hương sinh sống và lập những cơ sở thương mãi khác cho đến nay…

Kể từ đó, vùng Cù lao Phố đánh mất vai trò là trung tâm thương mại của Đàng Trong mà thay vào đó là Chợ Lớn và Mỹ Tho.

* MỤC LỤC –  TÀI LIỆU VỀ DI SẢN NHÀ – KIẾN TRÚC CỔ 

Read Full Post »

Gốm Cây Mai của Sài Gòn xưa

Cuối thế kỷ trước, sách Gốm Cây Mai, Sài Gòn xưa(*) đã được xuất bản. Sau đó năm 1997, Bảo tàng lịch sử Việt Nam thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành khai quật khu lò gốm cổ Hưng Lợi (tục gọi lò Cây Keo, ở phường 16, quận 8): đưa ra ánh sáng những phát hiện thêm về làng gốm đầu tiên ở đất Sài Gòn này. Nay dựa trên những gì mới tìm thấy được, xin nói thêm đôi điều về Gốm Cây Mai, về xóm Lò Gốm.

Xóm Lò Gốm là địa danh được ghi bằng văn tự lần đầu tiên trên bản đồ Gia Định – Sài gòn do Trần Văn Học vẽ vào năm 1815. Sau đó không lâu, địa danh này được kể đến trong bài Phú Cổ Gia Định phong cảnh vịnh:

Cắc cớ chợ Lò Rèn, chạc chạc nghe nhà Ban đánh búa;

Lạ lùng xóm Lò Gốm: chơn vò vò Bàn cổ xây trời.

Như vậy, Xóm Lò Gốm hình thành muộn nhất là cuối thế kỷ 18. Nói cách khác, cùng với các làng nghề khác (như xóm Chậu, xóm Chỉ, xóm Bột, xóm Dầu/ Phụng du lý, chợ Lò Rèn, chợ Đũi… ), xóm Lò Gốm đã ra đời cuối thế kỷ 18 và thịnh đạt sau khi chiến tranh Tây Sơn – Nguyễn Ánh kết thúc, khoảng sau 1790 trở về sau – đặc biệt những năm cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. gốm Cây Mai là sản phẩm do cộng đồng thợ gốm di dân người Hoa tạo tác. Do đó, sự hình thành của xóm Lò Gốm ở xứ Đề Ngạn (Sài Gòn xưa) gắn bó nhân quả với việc tụ cư ở đây của các nhóm người Hoa lưu tán vì chiến tranh Tây Sơn – Nguyễn Ánh từ Cù Lao Phố (Biên Hòa), Mỹ Tho (Tiền Giang) và thậm chí cả từ Hà Tiên hồi những năm 70, 80 của thế kỷ 18, dữ kiện lịch sử tụ cư này cũng khớp với nhận định nêu trên.

Sách Monographie de province de Biên Hòa (Ménard, 1901) cho biết: “theo thỏa thuận với người Hoa ở Chợ Lớn (hiểu là Đề Ngạn – Sài Gòn xưa) những người làm gốm ở Biên Hòa không được sản xuất loại sản phẩm Cây Mai”. Điều này chỉ ra: 1, Thợ gốm Cây Mai đã có một số người chuyển lên Biên Hòa lập nghiệp (theo kết quả điều tra trong năm 2003 thì gốm Cây Mai không chỉ dời về Biên Hòa, Lái Thiêu mà có một xóm gốm trung chuyển ở vùng TườngThọ, Thủ Đức – nay vẫn còn dấu vết); và 2, Họ đã có tổ chức “phường hội” để định ra những thỏa thuận trong công việc làm ăn.

Mới đây, trong cuộc điều tra tổng thể về các cơ sở tín ngưỡng ở các quận huyện tại thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi phát hiện “trụ sở” của các lò gốm Cây Mai, gọi là “Đào lư Hội quán”, ở đình Phú Hòa (phường 12, quận 6, TP. Hồ Chí Minh). Tấm biển này ghi được làm năm Giáp Thân (1884 hoặc 1944?), chữ viết do “Bổn hội Mạch Chiếu Minh Thư”. Phát hiện này là bằng cớ chỉ ra tính chất phường hội của giới chủ lò và thợ gốm Cây Mai xưa và đồng thời góp phần xác định “trung tâm” của xóm Lò Gốm. Cũng cần lưu ý: hiện đình có thờ ba pho tượng vốn của chùa Giải Bịnh gần đình, gồm tượng Chơn Võ, Huê Quang và Nam Triều Đại Đế, là những đối tượng thờ tự của cộng đồng thợ gốm Phước Kiến ở Bình Dương (Tân Khánh, Lái Thiêu, Bà Lụa, Chòm Sao…). Điều này chỉ ra rằng chùa Giải Bịnh là trụ sở của Đào Lư Hội quán. Mặt khác cũng chỉ ra gốc gác của gốm Cây Mai và mối liên hệ của xóm Lò Gốm với các làng gốm ở Bình Dương – đặc biệt là làng gốm Lái Thiêu.

Biển: Đào Lư Hội Quán. Đình Phú Hòa. "Giáp thân tuế mạnh đông cốc đán tạo Bổn hội Mạch chiếu Minh Thư"

Biển: Đào Lư Hội Quán. Đình Phú Hòa. "Giáp thân tuế mạnh đông cốc đán tạo Bổn hội Mạch chiếu Minh Thư"

Từ “trung tâm” này chúng tôi tiến hành khảo sát lại một vòng rộng có bán kính từ 2 đến 3, 4 cây số để tìm lại các di vật gốm Cây Mai, chủ yếu là xem xét các tượng thờ ở các đình, chùa miếu trong vùng. Kết quả là có một loạt tượng thô phác đáng chú ý:

Ba tượng gốm đất nung sơn màu: 1, Chơn võ; 2, Huê Quang; và 3, Nam Triều Đại đế của chùa Giải Bịnh, gần bên đình Phú Hòa (nay tượng được thờ trong đình).

Bộ tượng đất nung Quan Công, Lưu Bị, Trương Phi ở miếu thờ thuộc đình Phú Đinh (quận 8).

Các tượng gốm sơn màu Quan Công, Thiên Hậu Nguyên Nhung, Kim Huê phu nhân và các tượng Cô, Cậu… ở chùa Từ Quang (191 Ba Tơ, quận 8).

DFGIEP042415
Tượng Lưu Bị

Bộ ba tượng gốm đất nung Quan Công Châu Thương – Quan bình ở chùa Thiên Phước (1581), Phạm Thế Hiển, quận 8.

Nói chung, các bộ tượng tại các địa điểm trên đều biểu hiện sự “non kém” về kỹ thuật dựng hình cũng như trình độ mỹ thuật so với tượng gốm men màu Cây Mai phổ biến mà chúng ta đã thấy. Trái lại, nó khá gần với loại tượng thờ nặn bằng đất sét (có trộn các chất phụ gia như vôi, giấy, sợi bông vải v.v… gọi chung là nê tố) mà di tích hiện tồn mà tiêu biểu là Quan Công ở chùa Phước Long nằm trong vùng này (288 Hậu Giang, phường 9, quận 6).

DFGIEP042415
Tượng Quan Công
Đất sét sơn màu (Nêtố)
Chùa Phước Long

Việc dựng hình đặc trưng của loại tượng gốm đất nung này là các pho tượng ngồi ở trong Từ Quan, có lẽ là tượng Minh Vương: phần tượng gốm phải nhờ chiếc ghế/ ngai gỗ mới ngồi được. Nếu không có ghế gỗ thì đài bệ gốm vẫn còn đậm dấu ấn của kết cấu gỗ dạng bậc cấp (tượng Thiên Hậu Nguyên Nhung và Kim Hoa phu nhân). Nói chung, kỹ thuật dựng hình phản ánh dấu ấn của kỹ thuật đắp tượng nê tố.

Về trang trí trên trang phục chúng ta cũng thấy rõ việc áp dụng hai kỹ thuật trang trí thuộc kỹ pháp nê tố: 1, Dùng các lát đất in khuôn các mảng rời (mũ, giáp, mây, rồng… trên long bào) để gắn vào cốt tượng; và 2 là, dùng kỹ thuật “bắt bông” (hiểu là cách trang trí giống như bắt bông kem trong nghề làm bánh) . Ở đây, nghệ nhân gốm dùng giấy quấn thành ống hình nón, đoạn đổ đất nguyên liệu vào đó và bóp mạnh để tạo thành sợi mà tạo nên các hoa văn. Kỹ thuật in khuôn áp dụng cho các đồ án phức tạp, còn kỹ thuật “bắt bông” áp dụng cho các đồ án trang trí đơn giản, bố cục thưa thoáng. Kỹ thuật này về sau được áp dụng trang trí tượng gỗ, tượng làm bằng giấy bồi gọi là kỹ thuật “sơn xe” (nguyên liệu chính gồm dầu chai, bột thạch cao).

DFGIEP042415
Tượng Thiên Hậu Nguyên Quân
(Đài bệ và lỗ khoét ở lưng để yểm tiền đồng còn dấu ấn tượng gỗ)
DFGIEP042415
Tượng Minh Vương ở chùa Từ Quang.
Tượng đặt ngồi trên ghế gỗ.

Những gì trình bày trên đây, chúng tôi muốn lưu ý rằng sản phẩm gốm mỹ thuật của xóm Lò Gốm (gọi chung là Gốm Cây Mai) có giai đoạn khởi phát với loại tượng gốm đất nung còn đậm dấu ấn của loại tượng nê tố và ít nhiều còn “hoài niệm” về tượng gỗ. Theo đó, việc hình thành làng nghề xóm Lò Gốm là một quá trình tiệm tiến hơn là sự chuyển giao ngành “công nghệ miếu vũ” có tính chất tốc hỷ, sản xuất các tượng thần, Phật và quần thể tiểu tượng men màu xinh đẹp. Ở đây, cũng cần lưu ý là loại tượng đất nung sơn màu cây mai đến nửa đầu thế kỷ 20, có một dòng phái sinh ở vùng Hoá An (Biên Hòa): tạo nên một tập thành tượng gốm đất nung sơn màu/ thếp vàng đặc sắc vừa có thừa kế truyền thống cây mai vừa có nhiều đổi thay về kỹ pháp dựng hình và trang trí (**). Việc phân biệt như vậy là cần thiết trong việc tìm hiểu về tượng gốm đất nung hiện còn tại các cơ sở ở Nam Bộ.

Huỳnh Ngọc Trảng

(*) Huỳnh Ngọc Trảng, Nguyễn đại Phúc: Gốm Cây Mai Sài Gòn xưa, NXB Trẻ, Tp.HCM, 1994.
(*) Huỳnh Ngọc Trảng, Nguyễn đại Phúc và các tác giả: Tượng Gốm Đồng Nai – Gia Định, NXB Đồng Nai, 1997.


MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Gốm Biên Hòa – Đồng Nai xưa và nay

Nghề gốm là làng nghề truyền thống của vùng đất Biên Hòa – Đồng Nai. Ra đời khoảng đầu thế kỷ XX, gốm Biên Hòa ngoài kỹ thuật chế tác bắt nguồn từ gốm bản địa, còn tiếp thu kỹ thuật tạo tác từ gốm Cây Mai (Sài Gòn) và kỹ thuật làm gốm của người Hoa từ sau năm 1679, tạo nên một dòng đặc sắc với nhiều làng gốm nổi tiếng.
Giai đoạn phát triển rực rỡ của gốm mỹ nghệ Biên Hòa từ năm 1923 đến đầu những năm 1960. Nhiều lần sản phẩm gốm Biên Hòa tham dự Hội chợ triển lãm quốc tế về mỹ thuật trang trí vào những năm 1925, 1932, 1934, 1938, 1942 tại Paris (Pháp), Nhật Bản, Indonesia, Hà Nội và Sài Gòn, các lần tham dự hội chợ triển lãm đều được ban tổ chức trao huy chương vàng, bằng khen…

Năm 1903, trường Mỹ nghệ Biên Hòa được thành lập (ngày nay là trường Cao đẳng trang trí mỹ thuật Đồng Nai) gốm Biên Hòa bước vào giai đoạn phát triển mới với việc tiếp thu kỹ thuật tạo gốm của phương Tây. Ban đầu gốm Biên Hòa được tráng men Pháp nhưng men phương Tây tráng lên gốm phương Đông không phù hợp nên bà Marie Balick (tốt nghiệp trường gốm Limoges, phụ trách ban gốm trường Mỹ nghệ Biên Hòa) đã lập nhóm nghiên cứu men mới, chỉ dùng nguyên liệu trong nước như: đất sét Bình Phước, đá trắng An Giang, vôi Càn Long, tro rôm, tro củi, tro trấu và thủy tinh, mạt đồng, đá đỏ (đá ông Biên Hòa) và bột màu cobalt để tạo màu lên men; làm nên màu men độc nhất của gốm Biên Hòa: men xanh đồng của Biên Hòa (vert de Bien Hoa). Gốm Biên Hòa còn sử dụng màu đá đỏ, màu trắng rất được ưa chuộng. Đất làm gốm được lấy từ Sông Bé (Bình Phước) đem làm nhão hay hóa lỏng rồi in lên khuôn thạch cao. Đến năm 1960, kỹ thuật rót khuôn mới được phổ biến khi các chuyên gia Nhật Bản đến làm tư vấn cho trường Mỹ nghệ Biên Hòa. Sản phẩm gốm Biên Hòa được nung ở nhiệt độ khoảng 1.3000C. Đặc trưng chính của gốm Biên Hòa là trang trí theo kiểu chạm khắc chìm phối hợp men màu, tráng men dày kể cả phông nền. Đây là ưu thế để gốm Biên Hòa nhanh chóng khẳng định phong cách độc lập trong sáng tạo và xu hướng riêng biệt. Các sản phẩm gốm Biên Hòa cũng rất phong phú về kiểu dáng, đa dạng về chủng loại. Một trong những dòng sản phẩm gốm Biên Hòa được ưa chuộng nhất là tượng. Tượng gốm được các nghệ nhân chú trọng khai thác, sáng tạo bằng tất cả sự ngưỡng vọng và tâm hồn hướng tới chân – thiện – mỹ. Ngoài những mẫu tượng Phật, Bồ tát do nghệ nhân bản xứ sáng tác còn có các mẫu tượng mang phong cách văn hóa các dân tộc khác nhau, hoặc theo cùng dòng chảy tín ngưỡng dân gian như tượng Lão Tử, Khổng Tử. Đối với các sản phẩm dùng trong sinh hoạt như: bình hoa, chậu kiểng, chóe… cũng rất đẹp mắt.

click trên hình để xem full size:

 

Năm 1933, nhận thấy gốm Biên Hòa của trường Mỹ nghệ Biên Hòa được người tiêu dùng ưa chuộng, trường đã thành lập hợp tác xã (HTX) Mỹ nghệ, thâu nhận các học sinh tốt nghiệp làm thợ gốm. Chính từ HTX này gốm Biên Hòa đã được phổ biến rộng rãi và xuất khẩu đến nhiều nước trên thế giới. Đến năm 1950, sau khi ông bà Balick về Pháp, HTX Mỹ nghệ tách ra khỏi trường, trở thành các đơn vị sản xuất gốm tự lập, một số thợ của HTX trước kia về sinh sống ở Tân Vạn, Tân Thuận, Hòa An (Đồng Nai)… và thành lập các xưởng sản xuất gốm tại nhà, kể từ đó gốm Biên Hòa bước sang một giai đoạn mới và phát triển nhanh cho đến ngày nay. Hiện nay, làng gốm Biên Hòa có khoảng 70% cơ sở mang tính gia đình.

Cùng với gốm Cây Mai (Sài Gòn) và gốm Lái Thiêu (Bình Dương), gốm Biên Hòa đã tạo thành dòng gốm mang phong cách Nam bộ, đánh dấu một giai đoạn phát triển lịch sử của nghệ thuật làm gốm tại miền Nam trong thời cận và hiện đại. Ngày nay, gốm Biên Hòa với nghĩa hẹp là sản phẩm của trường Mỹ nghệ Biên Hòa trở nên hiếm hoi. Mấy chục năm trở lại đây, sản phẩm gốm Biên Hòa đã trở thành “của hiếm” trên thị trường và được giới sưu tập gốm ở Việt Nam và trên thế giới ưa chuộng.

Chào mừng kỷ niệm 310 năm Biên Hòa – Đồng Nai, ngày 28-10-2008, Bảo tàng Đồng Nai (số 1 Nguyễn Ái Quốc, TP. Biên Hòa) đã tổ chức trưng bày triển lãm Gốm Biên Hòa bao gồm 160 sản phẩm gốm được chế tác từ năm 1903 – 1975. Bộ sưu tập quý giá này thể hiện sức sống văn hóa, sáng tạo và sự tài hoa của những nghệ nhân Biên Hòa, đặc biệt là những nghệ nhân xuất thân từ trường Mỹ nghệ thực hành Biên Hòa – ngôi trường vừa tròn 105 tuổi; nơi đào tạo nhiều thế hệ tài năng cho nghề gốm truyền thống của Biên Hòa – Đồng Nai.

MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »