Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘Bảo tàng tại Việt Nam’

Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh tọa lạc tại số 2 đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, phường Bến Nghé, quận 1, bên cạnh Thảo cầm viên. Đây là nơi bảo tồn và trưng bày hàng chục ngàn hiện vật quí được sưu tầm trong và ngoài nước Việt Nam

Ngày 18 tháng 2 năm 1927 nhà sưu tập Holbé qua đời , đề lại nhiều cổ vật trị giá 45.000 bạc Đông dương ( một số tiền lớn lúc bấy giờ ) . Sau khi vận động một số nhà hảo tâm mua bộ sưu tập lớn đương thời là sưu tập Holbé với hàng ngàn hiện vật, hội Nghiên cứu Đông Dương đem tặng toàn bộ hiện vật mà họ sở hữu cho nhà nước thuộc địa và đề nghị chính phủ thuộc địa Pháp ở Nam Kỳ thành lập Viện Bảo tàng với điều kiện hội được đóng trụ sở và đặt thư viện trong Bảo tàng.

ngày 24-11-1927, Thống đốc Nam kỳ Blanchard de la Brosse ra nghị định thành lập Musée de la Cochinchine tức Bảo tàng Nam kỳ với trụ sở được chọn như hiện nay là tòa nhà lớn đang chuẩn bị xây vào năm sau đó: Năm 1928 – trong Thảo Cầm viên Sài gòn (ở phía trái cổng vào) do kiến trúc sư Delaval vẽ kiểu, mà trước đây dự kiến làm Musée du Riz (Bảo tàng Lúa gạo), sử dụng chung cổng ra vào với Thảo Cầm Viên.

Về mặt quản lý  , trong nghị định thành lập  , Bảo tàng Nam kỳ có quy chế riêng  trực thuộc trường  Viễn Đông Bác cổ , nhưng hội nghiên cứu Đông Dương lại được đặt trụ sở trong Bảo tàng  . Vì vậy  ngày  8 tháng 6 năm 1928, viên Bảo thủ văn thư của Hội  nghiên cứu Đông Dương là Jean Bouchot đồng thời cũng là thành viên của trường Viễn Đông Bác Cổ được cử làm Giám thủ đầu tiên của Bảo tàng  ( tương đương chức Giám Đốc  ) . Sau đó, có lẽ vì muốn cho thấy vai trò của người Pháp trong việc hình thành hệ thống Bảo tàng ở Đông Dương nên ngày 6-8-1928, lại có một nghị định đổi tên Bảo tàng Nam kỳ thành Bảo tàng Blanchard de la Brosse  tức lấy tên người ký nghị định thành lập Bảo tàng làm tên Bảo tàng –  và ngày 1-1-1929 Bảo tàng chính thức ra mắt công chúng.

Nhiệm vụ của Viện Bảo tàng Blanchard de la Brosse là như sau: “… có mục đích tập trung và gìn giữ tất cả các vật cũ ở Đông dương có tính cách mỹ thuật và khảo chứng, đặc biệt là những vật tìm thấy trong những dịp đào đất hay làm công tác gì trên địa hạt Nam kỳ, kể cả những vật điêu khắc riêng biệt mà sự bảo vệ khó thực hiện được chu đáo ở nơi phát hiện vì tình thế, chất liệu hoăc kích thước của vật đó.”

Trong 18 năm tồn tại dưới chính quyền thực dân Pháp . Bảo Tàng Blanchard de la Brosse   trải qua  2 đời Giám Thủ  :

1.    Jean Bouchot : nhà nghiên cứu, Giám thủ từ năm 1928-1932.
2.    Louis Malleret: nhà khảo cổ học, Giám thủ từ năm 1932-1946.

Năm 1945, sau khi Cách Mạng tháng 8 thành công,  Ngày 20 tháng 10 năm ấy, Bộ Quốc gia Giáo dục nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra nghị định đổi tên các Học viện, Thư viện và Bảo tàng. Theo đó, Bảo tàng Blanchard de la Brosse được đổi tên là Gia Định Bảo Tàng Viện. nhưng thực ra chính quyền người Việt ở Nam  Kỳ không  nắm quyền quản lý Bảo tàng mà phải theo mô hình  cũ cũng như nhờ đến sự trợ giúp của người Pháp , đã có những người Pháp do trường Viễn Đông Bác Cổ  biệt phái tiếp tục thay nhau làm Giám Thủ Bảo Tàng  :

1/Louis Malleret , tiếp tục được lưu dụng  1946 – 1948

2/Pierre Dupont  , nhà nghiên cứu – 1948 – 1950

3/Bernard Groslier , chuyên gia nghiên cứu văn hóa Champa -1951-1954

Từ năm 1948 Vương Hồng Sển đã vào làm việc tại Bảo tàng, đến năm 1954 khi cử Vương Hồng Sển làm Quyền Giám thủ, chế độ Sài gòn mới thực sự quản lý Bảo tàng, Bảo tàng không còn trực thuộc hội Nghiên cứu Đông Dương cũng như không còn các nhân viên người Pháp nữa.

Ngày 16 tháng 5 năm 1956, theo nghị định 321-GD/NĐ, chính quyền Sài gòn đổi tên Bảo tàng Blanchard de la Brosse thành viện Bảo tàng Quốc Gia Việt Nam (Sài Gòn). Dưới chế độ Sài gòn, về mặt quản lý, Bảo tàng cũng có quy chế riêng trực thuộc Viện Khảo cổ của bộ Quốc gia Giáo dục (sau là bộ Văn hóa Giáo dục và Thanh niên) chính quyền Sài gòn nhưng căn phòng phía sau đại sảnh bát giác vẫn còn dành cho hội Nghiên cứu Đông Dương làm thư viện hội.

Nhiệm vụ của Viện Bảo tàng Quốc Gia Việt Nam tại Sài Gòn được quy định rất đơn giản

*Nghiên cứu sưu tầm và trưng bày trong viện những di tích và các  tài liêu cổ  thời  thuộc về mỹ thuật , sử học , cổ học và nhân chủng học gồm chung của nước Việt Nam cũng như các nước lân cận hoặc đồng hóa : Trung Hoa , Nhật Bản , Cao  Ly , Cao Miên , Phù Nam , Lào , Thái Lan , Tây Tạng , Ấn Độ , Cổ Chiêm Thành …

*Tập trung về một chỗ và tàng trữ chung tại Viện  những cổ vật hoặc di tích còn ẩn tàng trên lãnh thổ Việt  Nam …

Từ năm 1956- 1975 Bảo tàng đã được quản lý bởi các quản thủ sau:
1.    1956-1964:Vương Hồng Sển, nhà nghiên cứu
2.    1964-1969: Nguyễn Gia Đức, kiến trúc sư
3.    1969-1975: Nghiêm Thẩm, giáo sư Dân tộc học.

.

Sau ngày 30 tháng 4  năm 1975, Bảo tàng được được Chính quyền Cách mạng tiếp thu nguyên vẹn. Sau đó, vào ngày 26 tháng 8  năm 1979, ngành chức năng đã cho đổi tên là Bảo tàng Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đổi lại là Bảo tàng Lịch sử Việt Nam – Thành phố Hồ Chí Minh cho đến nay.

Bảo tàng  Lịch Sử có chức năng bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc qua các hoạt động nghiên cứu , sưu tầm , giám định , kiểm kê , bảo quản , bảo vệ , phục chế , phục hồi , trưng bày , thuyết minh , tuyên truyền , xuất bản , ấn phẩm , maketing … giới thiệu các  tư liệu , hiện vật có liên quan đến lịch sử VN , các nước trong khu vực  nhằm góp phần giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ VN  , đáp ứng  thỏa mãn nhu cầu tìm hiểu  , nghiên cứu  cũng như thưởng ngoạn của khách tham quan trong và ngoài nước  về lịch sử và các  sưu tập cổ vật

Hệ thống trưng bày của Bảo tàng hiện có 2 nội dung :

1/  Lịch sử Việt Nam từ khởi thuỷ đến hết thời Nguyễn (1945) với 10 phòng trưng bày:

* Việt Nam thời Tiền sử

*Thời Hùng Vương

*Thời Đấu tranh giành độc lập dân tộc

*Thời Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý

*Thời Trần

*Văn hoá Champa

*Văn hoá Óc Eo

*Thời Lê

*Thời Tây Sơn

*Thời Nguyễn

2/ Một số sưu tập về lịch sử – văn hoá các nước trong khu vực với 8 phòng và khu trưng bày:

* Tượng Phật một số nước Châu Á:

*Súng thần công thế kỷ 18-19

*Điêu khắc đá Campuchia

*Gốm một số nước Châu Á

*Xác ướp Xóm Cải (TPHCM)

* Sưu tập Vương Hồng Sển

*Văn hoá các thành phần dân tộc phía Nam

*Một phòng trưng bày ngắn hạn luân phiên trưng bày từ 3 đến 9 tháng, giới thiệu những sưu tập cổ vật mới phát hiện.

 

Vị trí và Kiến Trúc

Bảo tàng Blanchard de la Brosse được đặt tại một công thự nằm trong một khu vườn rộng lớn (trở thành Thảo Cầm Viên Sài Gòn  năm 1864) ở phía đông thành Phiên An, gần dinh Tân Xá (do chúa Nguyễn Ánh sai dựng để Giám mục Bá Đa Lộc  làm nơi dạy dỗ Hoàng Tử Cảnh ).

Công thự do kiến trúc sư người Pháp  Delaval thiết kế theo lối Đông Dương cách tân và được hãng  thầu  Etablissements Lamorte Saigon thực hiện trong  3 năm : 1926 – 1927 – 1928

Phần giữa công thự có một khối bát giác (gợi nhớ quan niệm về bát quái củaKinh Dịch ) có 2 nóc mái lợp ngói  ống, có gắn vật trang trí hình phụng , hình rồng  cách điệu. Trên cùng, là 4 quả cầu nhỏ dần và đặt chồng lên nhau. Vì vậy, có người cho rằng phần nóc mái này, mang nhiều yếu tố của kiến trúc cổ Trung Quôc ..

Vào những năm đầu 70 của thế kỷ 20, Bảo tàng được mở rộng diện tích bằng việc xây thêm phần sau dạng chữ U theo thiết kế của kiến trúc sư Nguyễn Bá Lăng. cùng là dãy nhà ba tầng với hai lớp mái, có gắn đầu rồng kiểu gặm trang trí ở các góc mái. Nhờ các cửa đều hướng ra hồ cây cảnh, nên phòng trưng bày khá thoáng mát và sáng sủa.

Thông tin bạn cần biết :

Tại Bảo tàng Lịch sử, quý khách còn có thể tham quan:

1. Đền thờ Hùng Vương- một công trình xây dựng đầu thế kỷ 20 theo kiến trúc cổ Phương Đông được công nhận “Di tích cấp nhà nước” năm 2012- từ năm 1956 được chọn là nơi thờ kính, tưởng nhớ các vua Hùng và các vị Tổ tiên thành lập nước Văn Lang.

2.  Tra cứu tư liệu tại Thư viện Bảo tàng với trên 12000 đầu sách có niên đại từ thế kỷ 19 đến nay với các loại ngôn ngữ: Việt, Pháp, Anh, Hoa, Nhật, Thái…(trước đây là thư viện của Hội Nghiên Cứu Đông Dương, thành lập từ cuối thế kỷ 19).

3. Xem trình diễn Múa Rối Nước- một hình thức biểu diễn văn nghệ dân gian của nước Đại Việt xuất hiện từ hơn 1000 năm trước.

4. Mua sách về cổ vật cũng như những vật dụng kỷ niệm và thưởng thức café trong shop Bảo tàng…

*Giá vé người lớn : 2000 đ

*Miễn phí cho trẻ em từ 15 tuổi trở xuống tham quan Bảo tàng trong dịp hè ( 2012 ).

*Giờ mở cửa  : 8g – 17g từ thứ ba đến  chủ nhật .

*Thứ hai hàng tuần nghỉ  .

* Chụp hình – quay phim  giá vé : 22.000 đ .

* ĐT : 08.38298146  – 38290268  .

* Email  : btlsvnhcm@yahoo.com


Khanhhoathuynga tổng hợp .

Nguồn tham khảo : Bảo tàng Lịch Sử VN – TPHCM

Trích dẫn môt số bài viết của TS Phạm Hữu Công ( PGĐ  BTLSVN – TPHCM ) .

BẢO TÀNG LỊCH SỬ VIỆT NAM – TP.HCM – P I

BẢO TÀNG LỊCH SỬ VIỆT NAM – TP.HCM – P II –  CỔ VẬT MỘT SỐ NƯỚC ĐÔNG NAM Á

BẢO TÀNG LỊCH SỬ VIỆT NAM – TP.HCM – P III –

 

 

MỤC LỤC – BẢO TÀNG 

DANH MỤC TỔNG HỢP

 

Advertisements

Read Full Post »

Tọa lạc tại số 97 A Phó Đức Chính  – phường Nguyễn Thái Bình – Q 1 – TP Hồ Chí Minh . Bảo tàng Mỹ Thuật  Thành Phố Hồ Chí Minh được thành lập  ngày  05 thánh 09 năm  1987  .

Khu nhà  của Bảo tàng Mỹ Thuật  trước đây là  của dòng họ  Hui  Bon Hoa  –  hay còn gọi là Hứa Bổn Hòa  ( tục gọi là CHú Hỏa  ) , một thương nhân người Hoa  giàu  có và nổi tiếng  nhất  Sài Gòn lúc bấy giờ  . Ngoài ngôi nhà trên  chú Hỏa  còn xây dựng nhiều công trình  nổi tiếng khác như    :  Khách sạn Majestic  , bệnh viện Từ Dũ  , trung tâm cấp cứu Sài Gòn  …..vv

Toà nhà do  ông   Rivea một kiến trúc sư  người Pháp thiết kế  theo phong cách kiến trúc Pháp cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX kết hợp một cách hài hòa của kiến trúc phương Đông trong trang trí bên ngoài, mái ngói, cột ốp gốm và các trang trí bằng gốm trên mái nhà … Trong các toà nhà này đã từng tồn tại nhiều đồ vật có giá trị mỹ thuật bằng nhiều chất liệu và có giá trị thẩm mỹ; từ đồ gỗ cẩn ốc xà cừ, đồ gỗ chạm tinh xảo, đồ gốm …

Khu nhà được xây dựng không phải với công năng của một bảo tàng, mà là nhà ở và làm việc. Đến  năm 1987  ngôi nhà  được cải tạo sửa chữa thành Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh và chính thức mở cửa đón khách tham quan vào cuối tháng 5 /1989  cho đến nay .  Bảo tàng có chức năng nghiên cứu, sưu tầm, bảo quản, trưng bày tài liệu, hiện vật tiêu biểu có giá trị về mỹ thuật và phản ánh  những nét đặc sắc của mỹ thuật cổ Việt Nam , các tác phẩm thế giới, đặc biệt là các tác phẩm mỹ thuật tiêu biểu của khu vực phía Nam.

Bảo tàng Mỹ Thuật thành Phố Hồ Chí Minh là một trung tâm mỹ thuật lớn của Việt Nam , tọa lạc trên một diện tích rộng có không gian đẹp ở trung tâm Thành phố .  với tổng diện tích xây dựng là 3.514 m vuông  gồm 03 tầng lầu . Mặt bằng tổng thể khối nhà hình chữ U  được  đúc kiên cố , tường xây dày từ  40 cm – 60 cm  , cấu trúc bên trong tòa nhà gồm : tầng hầm dành cho khối văn phòng làm việc; tầng trệt dành cho các gallery hoạt động triển lãm và kinh doanh tranh  , lầu 1 là nơi trưng bày tranh tượng mỹ thuật; lầu 2 trưng bày các đồ gốm sứ, thủ công mỹ nghệ truyền thống  .

Ngoài các khu vực trưng bày cũ   , hiện nay  Bảo Tàng mở rông thêm khu trưng bày mới  có diện tích 1500 m vuông là nơi dành riêng để giới thiệu trưng bày các bộ sưu tập mỹ thuật  đặc trưng ,  khu trưng bày mới  này được xây dựng ngay cạnh Bảo tàng Mỹ thuật TP HCM, vẫn thuộc quần thể kiến trúc chung của bảo tàng.

Tháng 5 năm 2012 Bảo tàng đã được công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp thành phố .

Một số hiện vật được trưng bày tại Bảo Tàng Mỹ Thuật  Thành phố Hồ Chí Minh :

1/ Nghệ thuật điêu khắc cổ đồng bằng Nam Bộ

Tại phòng trưng bày nghệ thuật điêu khắc cổ đồng bằng Nam Bộ  gồm có các tác phẩm điêu khắc như các tượng  thần Ấn Độ Giáo và Phật Giáo có niên đại từ thế kỷ IV – XI

Tượng Thần Ấn Độ Giáo : gồm tượng  Vishnu, Surya, Laksmi, Uma, Ganesa, các nam thần và nữ thần có niên đại từ thế kỷ V-XI  với chất liệu sa thạch mịn

tượng Phật có niên đại từ thế kỷ IV – X, chất liệu gỗ bằng lăng và sa thạch mịn. Ngoài ra, còn có các hiện vật kiến trúc như các bức trang trí tạc nổi hình rắn Naga và chim thần Garuda, nam thần.

2/Nghệ thuật điêu khắc cổ Champa

Nghệ Thuật điêu khắc cổ Champa là một trong những nền nghệ thuật đặc sắc trong kho tàng di sản nghệ thuật Việt Nam , với nền văn hóa đa tôn giáo và đa dân tộc của Việt Nam , góp phần không nhỏ vào nền văn hóa đa dạng đó có văn hóa tôn giáo dân tộc Chăm  với nền văn hóa bản địa  lâu đời   ,  khi  các tôn giáo Ấn Độ du nhập vào Champa cũng giống như một số nền văn hóa trong khu vực Nam Á, Đông Nam Á, ngoài những ảnh hưởng tôn giáo của ấn Độ , người Chăm còn tiếp thu  cả nền văn hóa , phong tục và đặc biệt nghệ thuật kiến trúc , điêu khắc của Ấn độ  và   khi tiếp thu những thành tựu văn minh Ấn Độ  , người Chăm đã bản địa hóa  nhanh chóng và  sớm tạo nên những nét độc đáo hấp dẫn  đặc sắc  riêng của một phong cách Chăm trên  từng tác phẩm  điêu khắc  .

Trưng bày  tại bảo tàng Mỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh các bức  tượng  , phù điêu, bán phù điêu thần Ấn Độ Giáo, người, động vật như tượng Kinnara – vũ nữ thiên tiên, người cầu nguyện, phù điêu Dvarapala – thần Hộ Pháp, nữ thần, Kala – quái vật canh giữ đền đài, các hiện vật kiến trúc như đài thờ, trụ cửa, Bán phù điêu nam thần, sư tử. đều có niên đai từ thế kỷ thứ VII – XIV ,      với chất liệu chính là sa thạch thô , đất nung .

Điêu khắc cổ Champa có niên đại chung từ thế kỷ VII – XVI, với các phong cách Mỹ Sơn E1 (thế kỷ VII – VIII), Hòa Lai (đầu thế kỷ IX), Đồng Dương (cuối thế kỷ IX), Trà Kiệu (thế kỷ X), Tháp Mẫm (thế kỷ XII – XIII), Po Klaung Garai (thế kỷ XIV – XVI).

3/Tượng nhà mồ Tây Nguyên – đầu thế kỷ XX

Điêu khắc nhà mồ và tượng nhà mồ ở Tây Nguyên là một mảng điêu khắc khá độc đáo trong nền nghệ thuật điêu khắc Việt Nam. Tục dựng nhà mồ, tạc tượng gắn bó với người dân Tây Nguyên từ trong lòng xã hội nguyên thủy. Một phần từ các quan niệm tín ngưỡng cổ sơ còn lại cho đến ngày nay.
Cũng chính vì nghệ thuật mang tính nguyên thủy luôn tự do không bị hạn chế của chức năng ma thuật nên tượng nhà mồ Tây nguyên khá đa dạng, đặc sắc và không như những dòng nghệ thuật điêu khắc khác, công cụ để làm nên những pho tượng nhà mồ cũng hết sức đơn giản, đơn thuần là những công cụ sản xuất thuần túy: rựa và dao.Có thể nói đây là một biệt tài của nghệ nhân Giarai và Bana. Theo quan niệm của người Giarai, Bana tượng thay thế người, nên những hình tượng được làm quanh nhà mồ không gì khác hơn là để phục vụ cuộc sống vật chất và tinh thần của người chết. Phổ biến là tượng người ngồi khóc, tượng mẹ con, tượng đàn ông hoặc đàn bà khỏa thân, phụ nữ giã gạo…

Tượng nhà mồ ở Tây nguyên (cũng như tượng ở Châu Đại Dương và Châu Phi) đều phát triển theo chiều cao và trong phạm vi hình trụ, vì tất cả tượng đều làm theo thân cây. Ở đây nghệ nhân buộc phải dàn trải ý niệm của mình theo chiều cao và trong khuôn khổ tròn. Cũng do sự giới hạn đó của thân gỗ mà gờ dọc thành mũi, mắt, miệng thường được chạm chìm. Các pho tượng thường có lưng dài, chân ngắn không đúng tỉ lệ, thiếu chi tiết song đều thể hiện khái quát được đặc điểm chính của đối tượng, sự đồng nhất thiên nhiên với con người là sức truyền cảm mạnh mẽ của dòng nghệ thuật này. ( sử dụng nội dung bài trong trang Bảo Tàng Mỹ Thuật TPHCM )

4/Gốm Việt Nam từ thế kỷ XI đến đầu thế kỷ XX

Trải qua bao thăng trầm của lịch sử , ngành gốm truyền thống Việt Nam vẫn phát triển và tồn tại . Dưới thời Lý (1010 – 1225), thời Trần (1226 – 1400), thời Lê (1428 – 1527)   nghề gốm phát triển rất mạnh và đạt tới đỉnh cao của nghệ thuật và cả kỹ thuật , các thợ gốm thời bấy giờ đã cho ra đời một loại gốm quý rất đẹp nổi tiếng trên thế giới đó là gốm  men ngọc  , gốm men nâu , gốm men rạn , gốm hoa lam ….  Kéo dài đến cuối thế kỷ XIX , đầu thế kỷ XX , các trung tâm gốm sứ nổi tiếng ở Việt Nam như Bát Tràng , Thồ Hà , Phù Lãng , Hương Canh , Thanh Hóa , Bình Định , Biên Hòa , Thủ dầu Một  … tiếp tục cho ra đời những sản phẩm gốm hết sức đa dạng và phong phú từ kiểu dáng , chất liệu cho đến những đường net hoa văn được thể hiện trên gốm kết hợp với sự tinh tế điêu luyện và hài hòa  trong kỹ  mỹ thuật chế tác

Bảo Tàng Mỹ Thuật Thành Phố Hồ Chí Minh Trong phần trưng bày gốm Việt  đã giới thiệu một số dòng gốm nổi tiếng để người xem có thể thấy được sự phong phú đa dạng của gốm Việt Nam .

5/Mỹ thuật Nam Bộ thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XX

Cuối thế kỷ XVII  vùng đất Nam Bộ – Việt Nam đã được hình thành  , sự gặp gỡ của những di dân người Hoa với người Việt và Khmer trên vùng đất Nam bộ. Đó cũng là cuộc gặp gỡ của những người nông dân, thợ thủ công, những kẻ lưu lạc vì chiến tranh , đành phải rời bỏ quê hương của mình  ,  tìm đến vùng đất mới này để tạo dựng cho mình một cuộc sống mới . Trong số những lớp người di dân đến vùng đất Nam Bộ ngoài những thương nhân có không ít thợ thủ công , những đóng góp của họ không nhỏ đó là mở mang và phát triển  các hoạt động thủ công nghiệp  . Với khối óc sáng tạo , đôi bàn tay khéo léo   vùng đất Nam bộ  thưở ban đầu khai mở tạo điều kiện cho việc phát huy tài năng , tay nghề của các thợ thủ công  , họ đã sớm nhận ra tiềm năng gốm sứ  và biết tận dụng những nguồn nhiên liệu dồi dào , đất sét tốt  cộng với cả kinh nghiệm để làm ra những sản phẩm gốm sứ đáp ứng nhu cầu của người dân Nam Bộ và kỹ thuật chế tác điêu luyện  đã tạo nên một phong cách đặc sắc trong văn hóa gốm sứ của Việt Nam và vùng đất Nam bộ.

Phòng trưng bày giới thiệu khái quát về mỹ thuật Nam Bộ qua các sưu tập đồ gốm, đồ gỗ, đồ đồng… ở Sài Gòn và các vùng phụ cận từ thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XX.

 

6/Mỹ thuật đồng Việt Nam thế kỷ XIX – XX

Nghề đúc đồng là một nghề thủ công có truyền thống lâu đời ở Việt Nam và đặc biệt phát triển khá mạnh vào thế kỷ XIX.

         

     Theo thời gian, đồng chứng tỏ là một kim loại có nhiều ưu thế trong kỹ thuật chế tác cũng như sự bền chắc và trang trọng. Cùng với sự kết tinh của một bề dày kinh nghiệm, điêu luyện trong kỹ thuật, các nghệ nhân đã mang những cảm xúc thẩm mỹ và sự sáng tạo của mình hòa vào hiện vật. Tất cả đã mang lại cho những sản phẩm đúc đồng một sức sống mới với nhiều phong cách nghệ thuật thông qua các bộ sưu tập lư hương, tượng, ấm, bình… mang những đặc điểm truyền thống riêng biệt từng vùng tiêu biểu như: Ngũ Xã (Hà Nội), Phường Đúc (Huế), Tân Hòa Đông (Sài Gòn)…

 

     Các sản phẩm đồng mang một giá trị mỹ thuật cao trong việc tạo hình là những tư liệu quý góp phần vào việc nghiên cứu nghệ thuật và lịch sử của nghề đúc đồng thủ công Việt Nam.

 

     Bộ sưu tập của Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh rất phong phú, đa dạng về loại hình, kiểu dáng, đồ án trang trí.  ( sử dụng nội dung bài trong trang BTMTTPHCM)

7/ Mỹ thuật đương đại:

trưng bày những tác phẩm (tranh và tượng) tiêu biểu của các tác giả tiêu biểu, đại diện cho các xu hướng sáng tác của:

1.        Mỹ thuật giai đoạn từ đầu thế kỷ XX – 1975.

2.        Mỹ thuật giai đoạn từ 1975 – đến nay.

Thông tin cần biết

  • Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh
    97A – Phó Đức Chính – phường Nguyễn Thái Bình – Quận 1 – TP. Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (08) 38.294.441 – (08) 38.216.331
    Fax: (08) 38.213.508
    Web:   www.baotangmythuattphcm.vn
    Email:  btmthcm@hotmail.com
  • Giờ mở cửa
    Bảo tàng mở cửa từ 9h00 đến 17h00 hàng ngày, nghỉ ngày thứ hai hàng tuần.
  • Vé vào cửa
    * Người lớn: 10.000 đồng/1 người.
    * Trẻ em: 3.000 đồng/1 người.
    * Học sinh, sinh viên, quân nhân, các đối tượng chính sách tham quan tập thể, có chế độ miễn hoặc giảm.
  • Hướng dẫn khác
    * Có hướng dẫn, thuyết minh.
    * Không được quay phim, chụp ảnh trong các phòng trưng bày.
  • Nội quy tham quan
    * Mua vé tại phòng bán vé và xuất trình tại bàn trực.
    * Không được sờ vào hiện vật và tác phẩm trưng bày, mọi hư hỏng do khách gây ra phải chịu trách nhiệm bồi thường đúng giá trị hiện vật.
    * Không mang vũ khí, các chất dễ cháy nổ vào Bảo tàng, hành lý mang theo phải gửi vào tủ hành lý theo đúng quy định.
    * Không được chụp ảnh, quay phim các hiện vật trưng bày khi chưa được phép của Bảo tàng.
    * Giữ vệ sinh chung, không mang thức ăn, nước uống vào các phòng trưng bày.

*Theo thông tin từ cô nhân viên soát vé của bảo Tàng : một quý ( 4 tháng ) Các hiện vật trưng bày trong bảo tàng sẽ được thay đổi trưng bày và sắp xếp lại .

Mời các bạn xem :

 

 

Khanhhoathuynga

 

MỤC LỤC – BẢO TÀNG 

DANH MỤC TỔNG HỢP

Read Full Post »