Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘Bắc Ninh’

Gốm Phù Lãng hiện nay (2009)

Nằm bên bờ sông Cầu, cách Hà Nội khoảng 50 km và thành phố Bắc Ninh 20km, làng Phù Lãng ngày nay thuộc xã Phù Lãng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Đây là một làng nghề nổi tiếng trong và ngoài nước với nghề làm gốm truyền thống.

Cùng với làng Bát Tràng của Hà Nội và làng Thổ Hà của Bắc Giang, làng Phù Lãng được coi là một trong ba trung tâm gốm cổ của người Việt. Một số phát hiện khảo cổ cho thấy gốm Phù Lãng đã xuất hiện vào đời Trần, thế kỷ 13. Hiện nay, gốm cổ của Phù Lãng vẫn hiện diện trong nhiều di tích lịch sử ở châu thổ sông Hồng như các đình, đền, chùa…

Gốm Phù Lãng độc đáo ở chất men màu da lươn, thô mộc, khỏe khoắn, bền bỉ và chứa đựng vẻ đẹp nguyên sơ của đất. Sau những thăng trầm của lịch sử, tưởng chừng đã có lúc tàn lụi, nghề gốm ở Phù Lãng vẫn được duy trì và những năm gần đây có dấu hiệu phát triển lạc quan. Để phù hợp với nhu cầu thị trường, sản phẩm gốm Phù Lãng ngày nay đã có thêm nhiều sự cách tân, nhưng vẫn dựa trên cái xưa hồn mộc mạc của mình.

Sau đây là những hình ảnh Đất Việt ghi nhận ở làng gốm Phù Lãng.

Quang cảnh ấn tượng đập vào mắt du khách tới Phù Lãng là những đống củi được chất cao, có khi đến 3 – 4m ở hai bên đường làng. Đây là chất đốt cho những lò nung gốm Phù lãng nổi tiếng. Nhìn vào lượng củi sử dụng có thể thấy sức sống của làng nghề.
Làng có hàng chục xưởng gốm. Mỗi xưởng gốm thường có trên dưới 10 nhân công, đảm nhiệm những công đoạn khác nhau.
Loại đất sét dùng để làm gốm Phù Lãng được khai thác ở huyện Yên Lập – Bắc Giang. Đất thô sẽ được cho vào máy tán thành những mẩu nhỏ trước khi đem gia công.
Trước khi tạo hình, đất sét sẽ được nhào nặn thành những hình khối tròn. Công đoạn này được gọi là se đất.
Những khối đất này sau đó sẽ được đưa lên bàn xoay để vuốt thành hình. Những bàn xoay được xoay bằng lực chân của người se đất ngồi phía trên.
Khi đã có hình dáng hoàn chỉnh, sản phẩm được khắc chìm các hình vẽ và trang trí họa tiết nổi.
Sau đó, sản phẩm sẽ được phơi khô, tráng men và tô màu.
Cuối cùng, sản phẩm sẽ được nung 15 ngày trong lò nung đốt bằng củi. Khi nung gốm được sắp xếp cẩn thận nhằm tận dụng tối đa diện tích trong lò.
Sản phẩm gốm của Phù Lãng rất phong phú, gồm các vật dụng truyền thống như bình, vại, đôn, tiểu… cho đến các sản phẩm mới như tượng gốm và tranh gốm.
Những bức tượng gốm của nghệ nhân Đức Thịnh.
Chị Nguyễn Thị Hoa đang ghép các mảnh ghép để tạo hình một bức tranh gốm. Chị cho biết tranh gốm là một loại hình sản phẩm chỉ mới được phát triển từ 10 năm trở lại đây.
Một bức tranh gốm hoàn chỉnh.
Không chỉ hiện diện ở đồ mỹ nghệ, gốm còn hóa thân được vào nhiều đồ vật khác như đồng hồ treo tường…
… hay dàn loa đủ cả âm treble, bass. Điều này minh chứng cho sức sáng tạo dồi dào của các nghệ nhân Phù Lãng bắt kịp hơi thở thời đại.
Những bức tranh gốm nhỏ này đã xuất hiện ở nhiều cửa hàng bán đồ lưu niệm Hà Nội.
Người làm gốm ở Phù Lãng cho biết, danh tiếng làng nghề vẫn chưa vươn xa nhưng thời gian tới sẽ có nhiều triển vọng. Ông Trần Văn Phận, cán bộ thư viện làng cho biết, đến cuối năm, một con đường và một khu chợ gốm sẽ được hoàn thành và nghề gốm Phù Lãng có thể bước sang trang mới.

MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN

Advertisements

Read Full Post »

Hàng mã của làng tranh Đông Hồ

Làng tranh Đông Hồ (xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh) nay lại nổi tiếng làm hàng mã để phục vụ người ở cõi âm. Trên dương gian có nhà lầu, xe hơi, xe máy… thì âm phủ tất tần tật đều phải có đủ cả.

hangmaDongHo-1

1 xe SH = 20 đám cưới chuột (chiếc xe SH hàng mã đang được lắp ráp có giá 60.000 đồng trong khi một tập tranh đám cưới chuột 20 bức, mỗi bức bán chỉ 3.000 đồng)

hangmaDongHo-2

Áp tết, cả làng rực lên các loại giấy màu được bồi, phết, nhuộm…

hangmaDongHo-3

Người dương “chìm” trong sự xâm lấn của “người âm” ở một gia đình chuyên sản xuất hình nhân bằng giấy

hangmaDongHo-4

Thôn nữ làng Đông Hồ giờ cắt giấy, phết hồ thành thạo và thu nhập chính lại từ những thứ giấy màu để đốt cho người chết

hangmaDongHo-5

Phải đạt đến đẳng cấp “nghệ nhân” hàng mã như anh Nguyễn Văn Sam mới được đặt hàng làm các bộ đồ lễ như thế

hangmaDongHo-6

Thấp thoáng chỉ còn vài người làm tranh ở sân nhà nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế để còn nhớ về một làng tranh có tên Đông Hồ

Có người nói làng tranh Đông Hồ giờ đã là làng vàng mã, vì quanh năm suốt tháng cả làng từ già trẻ lớn bé đều đã đổi nghề tranh sang làm hàng mã. Dân ở đây đã có câu “ráo tay hồ là nhà hết gạo”. Đi từ đầu làng tới cuối thôn, đâu đâu cũng sáng bừng lên sắc màu của các loại mũ mão, cân đai, hài hia, võng lọng, ngựa, xe, hình nhân… cho đến nhà lầu, ôtô, đôla, xe máy, tivi, tủ lạnh, máy bay…

Những tưởng kinh doanh phục vụ người sống mới nhanh nhạy, thức thời nhưng không ngờ phục vụ người chết cũng nhạy bén không kém. Chính vì thế mà chiếc mũ bảo hiểm giờ cũng trở thành một mặt hàng được các nhà sản xuất vàng mã ở đây đặt vào tầm ngắm để phục vụ các cụ ở dưới cõi âm.

Vào dịp giáp Tết âm lịch, trước nhu cầu tiêu dùng hàng mã cho việc cúng ông công ông táo, tất niên, giỗ kỵ nhiều vô kể, cả làng đang làm ngày đêm mà vẫn không đủ bán. Nhờ làm ôtô, xe máy giấy mà có người đã sắm ôtô, xe máy thật. Phú quí sinh lễ nghĩa, xưa các cụ chơi tranh, nay con cháu bỏ tranh sang “chơi” đồ mã. Âu đó cũng là nỗi buồn của một làng nghề thời mở cửa!

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

 


Read Full Post »

Hành trình của một quả chuông cổ Việt Nam

Từ phát hiện tình cờ của một giáo sư Nhật, quả chuông đúc tại đất nước hoa anh đào và lưu lạc trong một cửa hàng đồ cổ ở Tokyo đã được “hồi hương”. Một câu chuyện cảm động về những tấm lòng và chưa có hồi kết

01

Chị Komatsu

Trong bộ sách 55 chương Nhật Bản dưới mắt người Việt có ghi: “Cuối thập niên 70, có người Nhật phát hiện tại một tiệm bán đồ cổ ở Nhật một cái chuông đồng của Việt Nam thuộc chùa Ngũ Hộ, làng Kim Thôi. Chuông hình ống, cao một mét, đường kính 42cm, nặng khoảng 120kg, bên trên có chạm hình con rồng hai đầu, bốn phía có khắc bốn chữ “Ngũ Hộ Tự Chung”. Nhiều người Nhật đã đứng ra quyên góp tiền mua lại chuông này để gởi trả về Việt Nam, được giới truyền thông ủng hộ. Phía tiệm đồ cổ đòi giá 5 triệu yen, trong khi tiền quyên góp được tới 9,6 triệu yen. Ngày 14.6.1978, đã có một buổi lễ trao trả chuông tại chùa Quán Sứ và sau đó đem về chùa Bút Tháp ở tỉnh Bắc Ninh. Từ đó, tiếng chuông lại vang vọng ở Việt Nam, quê hương của chính quả chuông đó!”.

Hành trình của quả chuông cổ

Trên bản khắc ở một mặt của quả chuông có ghi (bằng chữ Hán): “Chiếc chuông của chùa Ngũ Hộ, làng Kim Thôi, thuộc Bắc Ninh, trước đây do loạn lạc đã bị mất tích. Dân làng đã đúc lại cái mới thay vào đó. Nhưng tháng 2.1825, chuông lại bị sơn tặc lấy đi mất. Dân làng hàng ngày đã quen với tiếng chuông chùa, giờ mất nó, mọi người đều rất buồn và họ bàn cách làm chuông mới… Trải qua ba năm, những đồng tiền bằng đồng quyên góp được đem đúc, phần còn thiếu được mua vào cho đủ”.

Người Nhật đứng ra quyên góp tiền đó là Watanabe Takuro, thành viên của uỷ ban Nhật Bản Điều tra tội ác của Mỹ ở Việt Nam, một giáo sư nổi tiếng về lịch sử, văn hoá và dân tộc Việt Nam, sau khi tình cờ phát hiện ra quả chuông trong một tiệm bán đồ cổ ở phố Ginza (Tokyo) vào cuối tháng 9.1977. Chỉ sau hơn hai tháng, hội Hoàn hương chuông cổ của ông đã thành công. Trong suốt nửa năm sau đó, ở nhiều nơi trên đất Nhật, như Tokyo, Kyoto, Nara, Osaka và Kobe, đã diễn ra lễ cầu nguyện cho quả chuông, bắt đầu từ chùa Zojoji (Tokyo) vào 7.12.1997 và kết thúc ở chùa Kaneiji (Tokyo).

02

Quả chuông đang nằm trong kho

Theo tài liệu nghiên cứu của hội này, vào đầu những năm 40 của thế kỷ trước, quân đội Nhật chiếm đóng ở khu vực Bắc Ninh đã dùng chùa Ngũ Hộ làm xưởng gỗ, và ai đó trong số họ đã lấy quả chuông này về Nhật. Đến đầu những năm 50, quân Pháp chiếm lại ngôi chùa này và đã phá huỷ nó. Vì vậy, sau khi nhận quả chuông từ phía Nhật, hội Hữu nghị Việt – Nhật và trung ương giáo hội Phật giáo Việt Nam đã thống nhất gửi về chùa Bút Tháp, bởi trong số 300 người đóng góp tiền đúc chuông (khắc trên ba mặt còn lại của quả chuông) có cả những người ở khu vực Bút Tháp.

Năm1993, chị Komatsu, giáo viên tiếng Nhật ở Việt Nam, người năm 1977 cũng tham gia vận động quyên góp mua quả chuông, nhận được bức thư từ GS Watanabe. Ông viết trong thư rằng, nguyện ước cuối cùng trọn đời của ông là biết được số phận quả chuông ra sao. “Tôi đến chùa Bút Tháp, nhưng không thấy quả chuông đó. Ở đó, họ cũng không biết gì về nó”, chị nói. Kể từ đó, cứ có dịp thuận tiện là Komatsu lại hỏi về tung tích quả chuông, từ những hướng dẫn viên du lịch, bạn bè dạy tiếng Nhật ở Việt Nam, rồi đài Tiếng nói Việt Nam… Chị sục vào tất cả các bảo tàng ở Hà Nội, nhưng đều không thấy.

Mãi đầu năm 2002, chị tình cờ gặp được phó giáo sư khảo cổ học Nishimura, đại học Kansai (Osaka). Ông Nishimura khuyên chị nên đến gặp ông Lê Viết Nga, giám đốc bảo tàng Bắc Ninh. Tháng 5.2002, Komatsu lên Bắc Ninh, được ông Nga cho nhân viên dẫn vào tìm trong kho.

Chị Komatsu kể: “Tôi được dẫn vào một ngôi nhà lụp xụp. Người coi kho phải xê cái tủ ra, tôi mới nhìn thấy quả chuông phủ đầy bụi nằm tít trong góc. Lúc đó, tôi chợt nhớ lại hình ảnh hàng trăm người Nhật Bản đến tụng kinh, cầu chúc cho quả chuông bình yên lên đường về cố quốc, đoàn nhạc công tấu lên những bản nhạc cung đình, và hàng trăm các em sinh viên vẫy cờ hoa… Tôi đã cố kìm để khỏi oà khóc vì nỗi xót xa”.

Bao giờ tiếng chuông ngân vang?

Ngày 15.8 vừa rồi, chị Komatsu đã quay lại Bắc Ninh. Chị muốn biết quả chuông đã được mang ra trưng bày trong bảo tàng như ông Lê Viết Nga đã hứa với chị cách đây sáu năm hay chưa, để báo lại với GS Watanabe. Quả chuông vẫn nằm trong kho, tuy đã được chuyển sang một gian kho mới, sạch sẽ, trong khuôn viên bảo tàng, cùng với mấy quả chuông khác.

Theo ông Nga, đến cuối năm nay, toà nhà bảo tàng mới hoàn thiện. Trong câu chuyện, ông Nga cho biết chùa Ngũ Hộ đã được dân làng góp tiền xây dựng lại trên nền đất cũ (năm 2001). Cách đó ít tháng, một số người dân làng Ngọc Đôi (tên của làng Kim Thôi xưa) đã cùng sư thầy trụ trì chùa Ngũ Hộ đến gặp ông Nga để xin đưa quả chuông về chùa, nhưng ông không đồng ý. Ông Nga giải thích với họ rằng quả chuông này đã là tài sản quốc gia, và chỗ của nó là phải ở bảo tàng cho nhiều người cùng chiêm ngưỡng. Hơn nữa, theo ông Nga, một ngôi chùa nhỏ bé, liệu có đủ khả năng bảo vệ quả chuông quý giá, có ý nghĩa lịch sử hay không.

Sư thầy Huệ Hồng, người chúng tôi gặp ở chùa Ngũ Hộ ngay sau đó, cho biết sắp tới sẽ sang Mỹ để kêu gọi quyên góp cải tạo chùa, và xây gác chuông, cũng như thuê bảo vệ. Đến lúc đó, sư thầy và người dân ở đây lại một lần nữa làm đơn xin lại quả chuông, nếu cần có thể mời cả luật sư vào cuộc. “Đã là chuông chùa thì phải ở chùa chứ”, sư thầy Huệ Hồng nói.

GS Watanabe, khi viết thư cho chị Komatsu năm 1993, có gửi kèm một lời chúc: “Hỡi quả chuông Việt Nam, hãy ngân lên nguyện cầu cho hoà bình!”. Liệu ước nguyện của GS Watanabe có thành hiện thực trước khi ông mất, khi mà trong bảo tàng người ta luôn gắn kèm những tấm biển: “Cấm sờ vào hiện vật”?

Hoàng Ngọc (sgtt)

Read Full Post »

Gốm Phù Lãng xưa và nay

Làng Phù Lãng (thuộc xã Phù Lãng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh), cách thị xã Bắc Ninh khoảng 10km và cách sông Lục Đầu khoảng 4km. Ngày cuối tuần du khách có thể tới đây để tìm hiểu về nghề gốm truyền thống, về lịch sử của làng, cũng như tận hưởng cuộc sống thôn dã vẫn còn đậm nét ở vùng đất này.

Nếu xuất phát từ Hà Nội, bạn chỉ mất khoảng 1 tiếng để tới làng Phù Lãng.

Nay Phù Lãng có 3 thôn: Trung thôn, Thượng thôn, Hạ thôn. Theo Tô Nguyễn, Trình Nguyễn trong sách Kinh Bắc – Hà Bắc thì ông tổ nghề gốm Phù Lãng là Lưu Phong Tú. Vào cuối thời Lý, ông được triều đình cử đi sứ sang Trung Quốc.

Trong dịp đi này, ông học được nghề làm gốm và truyền dạy cho người trong nước. Đầu tiên, nghề này được truyền vào vùng dân cư đôi bờ sông Lục Đầu sau đó chuyển về vùng Vạn Kiếp (Hải Dương). Vào khoảng đầu thời Trần (thế kỷ XIII) nghề được truyền đến đất Phù Lãng Trung.

Có thể thấy, sản phẩm chính của gốm Phù Lãng xưa là chum vại, ấm đất, chậu cảnh, tiểu sành… Ngày nay với những bàn tay tài hoa muốn khôi phục và gìn giữ nghề truyền thống của làng, các nghệ nhân thế hệ mới như nghệ nhân Vũ Hữu Nhung – với cái tên quen gọi Gốm Nhung, nghệ nhân Thiều với tên quan thuộc Gốm Thiều đã phát triển những tinh hoa của nghề gốm với nghệ thuật tạo hình khối, hoa văn.

Nhiều sản phẩm và mẫu gốm mới như: tranh gốm, lọ hoa gốm, ấm chén gốm, gốm trang trí, gốm ốp tường, lư hương… đã và đang được khách, doanh nhân, các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước yêu thích.

Nét đặc trưng nổi bật trong trang trí gốm Phù Lãng là sử dụng phương pháp đắp nổi theo hình thức chạm bong, mà người Phù Lãng quen gọi là chạm kép các đề tài: tứ linh, nghê, hạc, mặt hổ phù, chữ Thọ, hồi văn, cánh sen, sóng nước…

Đối với những sản phẩm được sản xuất đại trà như gốm dân dụng, người Phù Lãng rất ít trang trí. Tuy nhiên, gốm Phù Lãng có ưu thế ở chất men màu tự nhiên, bền và lạ, dáng gốm mộc mạc, thô phác nhưng khỏe khoắn, chứa đựng vẻ đẹp nguyên sơ của đất và đậm nét điêu khắc.

Hiện nay, đồ gốm dùng trong tín ngưỡng dân gian Phù Lãng vẫn còn hiện diện trong một số di tích lịch sử ở châu thổ sông Hồng như các đình, đền, chùa… Tới đây, du khách có thể cùng những người thợ gốm tạo ra những sản phẩm cho riêng mình để kỷ niệm cho một chuyến đi đầy thú vị.

Điều đặc biệt là làng gốm Phù Lãng còn nhiều vẻ nguyên sơ, cuộc sống của người dân nơi đây cũng mộc mạc như chính chất liệu làm gốm vậy!

Theo Sài Gòn giải phóng

MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »