Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘bảo vật quốc gia’

Phế tích và kiến trúc Chăm: Những điều chưa được giải mã

Lâu nay, khi  nhắc đến các kiến trúc Chăm trên địa bàn  Quảng Nam chúng ta thường nghĩ về các khu đền tháp ở Mỹ Sơn, Chiên Đàn, Khương Mỹ, Bằng An, Đồng Dương… Tuy nhiên, những kiến trúc đền tháp ấy dường như mới chỉ là “bề nổi”, thực tế trong lòng đất và rải rác trên địa bàn Quảng Nam vẫn còn ẩn giấu những vẻ đẹp của một nền kiến trúc một thời vang bóng.

Trung tâm Bảo tồn di sản – di tích Quảng Nam  vừa thực hiện đợt điền dã khảo sát trên pham vi rộng, từ Đại Lộc, Điện Bàn, Duy Xuyên, Thăng Bình, Tam Kỳ, Núi Thành đến các huyện miền núi Quế Sơn, Hiệp Đức… Những phát hiện về các phế tích  kiến trúc và các hiện vật thờ cúng, trang trí bằng sa thạch (mà hầu hết đã bị thời gian và con người tàn phá chỉ còn lại những đụn gạch vùi trong lòng đất  như di tích Gò Gạch (Duy Trinh – Duy Xuyên) hoặc đã bị san bằng làm nơi canh tác trồng lúa (di tích Gò Gạch,  Đại Nghĩa – Đại Lộc), hoặc đã bị một kiến trúc khác xây dựng đè lên trên (di tích Hương Quế, Quế Phú – Quế Sơn )…. cho phép giả định rằng ở những nơi này trong quá khứ đã từng tồn tại các công trình kiến trúc Chăm.

Bệ Yoni.

Cũng trong quá trình khảo sát đã phát hiện được những điều rất lý thú nhưng chưa thể lý giải được: đó là sự hiện diện của một thớt đá (kích thước 30cm x 40 cm) trên viết chữ Phạn (Sanskrit) tại đoạn sông cách bến đò Trà Linh khoảng 500m (đoạn chạy giữa  Hòn Kẽm Đá Dừng, Hiệp Hòa – Hiệp Đức),  hay là một chóp tháp và một tượng người ngồi trên lưng trâu (?) đang được trưng bày tại đền Trường An (Đại Quang – Đại  Lộc), hoặc các hiện vật tại di tích Miếu Bà (Điện Hòa – Điện Bàn) …Câu hỏi đặt ra là:  tại sao các hiện vật nói trên lại hiện diện ở những nơi này? Phải chăng chúng được mang từ nơi khác đến hay là hiện vật có nguồn gốc bản địa ?

Đặc biệt, tại nhà thờ tộc Phạm  (thôn Hương Quế, Quế Phú – Quế Sơn) những người tham gia khảo sát đã quan sát sự hiện diện khá đầy đủ các thành phần của một kiến trúc; đó là một tấm bia đá có khắc chữ Sanskrit (kích thước 150cm x 75cm x 45 cm) còn khá nguyên vẹn, nét chữ rất rõ và tinh xảo. Cạnh bên là một tượng Bò thần Nandin nằm, đang được thờ trong một cái am nhỏ. Bò thần đang  nằm, một chân trước gấp ngang trước yếm, chân trước còn lại sấp ra sau về hướng bụng; đầu bò có hai sừng thẳng nhọn, quanh trán phía dưới sừng được quấn  một cái nơ, tượng trông rất sinh động. Ở am kế, bên trong đang thờ ba hiện vật gồm: một phù điêu hình lá đề (có thể là mi cửa trên) chính giữa am, hình một người đang múa, dưới chân có hai người quỳ hai bên như đang dâng lên một vật gì, hiện vật cũng còn khá nguyên vẹn. Cũng trong am, trước tấm mi cửa là một bệ đá cao 35cm, đường kính 90cm (có thể là đế trụ), bên cạnh là một tượng người đứng  trên bệ nhưng đã bị vỡ chỉ còn đôi bàn chân. Ngoài ra, phía trước nhà thờ tộc Phạm còn một thớt đá vuông vức ( tựa như bệ đỡ của Yoni), một chân đế trụ cửa  và một hiện vật có thể là một chóp tháp (?) đã bị vỡ. Và, một điều rất lý thú tại đây là nhóm điền dã cũng phát hiện được một thanh lanh-tô (đà cửa trên ) còn khá nguyên vẹn được người xưa tận dụng xây am để thờ các hiện vật này. Như vậy ở đây đã hiện diện dường như đầy đủ các thành phần kiến trúc cũng như các hiện vật thờ cúng  mà mỗi kiến trúc tháp Chăm thường có; đó là một tấm bia để khắc ghi công đức cũng như các vật phẩm … dâng lên các vị thần, cùng vật để thờ (bò thần, tượng thần hoặc bộ ngẫu tượng Linga  – Yoni), ở thành phần kiến trúc tháp là thanh lanh -tô, đế trụ cửa và chóp tháp. Những thành phần này, tuy chỉ là một phần nhỏ để cấu thành nên một kiến trúc, nhưng cũng khẳng định rằng: nơi đây xưa kia đã từng hiện diện tối thiểu là một kiến trúc đền tháp.

Bò thần Nandin.

Các di tích Chăm ở Duy Trinh (Duy Xuyên), di tích Gò Dinh ở Đại Quang (Đại Lộc), di tích Gò gạch ở Tam Xuân 1 (Núi Thành)  hoặc di tích chùa Vua thôn Kim Sơn (Duy Xuyên) … cũng đặt ra cho các nhà chuyên môn câu hỏi liệu trước kia tại các nơi này đã từng  tồn tại một kiến trúc ? Nếu giả thuyết đúng thì các  nền móng kiến trúc đang nằm tại vị trí nào ? Chúng có quan hệ thế nào với các đền tháp Chăm pa ? Giữa các đền tháp phế tích với khu  di tích Chăm  Mỹ Sơn và các khu đền tháp khác trong lịch sử Amaravati xưa có quan hệ gì với nhau ?  Bên cạnh đó, từ cơ sở các hoa văn điêu khắc trên các hiện vật còn lại của các phế tích, các nhà chuyên môn có thể nghiên cứu, phân tích và đi đến cái nhìn tương đối chính xác hơn về niên đại của các phế tích  so với các di tích còn hiện hữu. Qua đó có thể khái quát về trình tự phát triển của các đền tháp từ sơ kỳ cho đến thế kỷ XIV (thời gian xây dựng  ngọn tháp cuối cùng ở Mỹ Sơn)…

Bia Chăm ở Quế Sơn.

Một điều khiến các cán bộ của Trung tâm bảo tồn  di sản – di tích tỉnh day dứt từ quá trình khảo sát là ở một số nơi, nhiều hiện vật điêu khắc bằng  sa thạch rất đẹp và có giá trị nhưng chưa  được bảo quản tốt, đang “trơ gan cùng tuế nguyệt”. Các hiện vật hiện đang để tại trụ sở thôn Hương Trà, phường Hòa Hương, Tam Kỳ là một ví dụ.   Hiện vật là 2 bậc cấp  rất đẹp,  mỗi bậc cấp được điêu khắc hình 2 người đang vật nhau;  đầu cấp của hiện vật 2 bên được tạo hình xoắn ốc, một lá đề được cách điệu hình trái tim nằm chính giữa 2 rãnh nhỏ chạy phủ dài qua lưng hiện vật.  Hay như tại Trung tâm Văn hóa – thông tin huyện Quế Sơn có tượng đá sa thạch  mô tả một người đang đứng có 4 tay, 2 tay đan xen dưới ngực, 2 tay đưa lên cao, tay phải cầm  một vòng tròn, tay trái cầm một vật hình búp sen nhưng đã bị vỡ … Đây là những tác phẩm điêu khắc rất quý trong kho tàng nghệ thuật điêu khắc Champa mà chúng ta  sẽ còn mất một thời gian dài mới giải mã nổi.

Điểm xuyết như vậy về các kết quả của một cuộc khảo sát điền dã, đã có thể cho chúng ta kết luận rằng, những phế tích và hiện vật kiến trúc Chăm còn nằm rải rác khá nhiều trên địa bàn Quảng Nam. Các cơ quan có thẩm quyền về chuyên môn  cần có kế hoạch phối hợp bảo quản hoặc quy tập vào một nơi để tiện cho công tác nghiên cứu, trưng bày cũng như bảo quản tốt hơn. Có như vậy chúng ta sẽ phần nào hạn chế được sự xuống cấp cũng như xâm phạm (vô tình hoặc hữu ý) của tự nhiên và con người, góp phần vào việc gìn giữ bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa  Chămpa không chỉ cho bây giờ mà còn vì muôn đời sau.

Thân Vĩnh Lộc
(baoquangnam)

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Advertisements

Read Full Post »

Giới thiệu hai cổ vật quý ngàn năm tuổi

(Dân trí) – Ngày 22/11/09, hai cổ vật quý đại diện cho hai nền văn hóa là bức tượng bò thần Nandin (thuộc văn hóa Chămpa) và trống đồng Trà Lộc (thuộc văn hóa Đông Sơn) đã được Bảo tàng Quảng Trị giới thiệu nhân kỷ niệm 64 năm ngày Di sản Văn hóa Việt Nam (23/11/1945- 23/11/2009). Chương trình kỷ niệm “Bảo tàng Quảng Trị – Nơi lưu giữ những giá trị di sản văn hóa” được phần đông đại biểu, quan khách và người dân chờ đợi với phần giới thiệu những hiện vật lịch sử quý giá mà Bảo tàng đang lưu giữ.

Trong hơn 9.000 hiện vật đang được trưng bày tại Bảo tàng Quảng Trị, có thể nói Trống đồng Trà Lộc có tuổi đời trên 2.000 năm tuổi là cổ vật có giá trị lớn nhất. Chiếc trống đồng này được ông Hoàng Công Sơn phát hiện vào ngày 20/3/1998 trong khi rà tìm phế liệu tại khu vực Rú Cát thuộc xóm Phường, làng Trà Lộc, xã Hải Xuân (huyện Hải Lăng).

Trống đồng Trà Lộc

Cán bộ Bảo tàng Quảng Trị thẩm tra xác định chiếc trống đồng này thuộc nền Văn hóa Đông Sơn loại I. Trống đồng Trà Lộc có cấu tạo hài hòa cân xứng với mặt trống tròn, tang trống phình; phần chân và đế loe làm cho trống có âm thanh vang xa. Những họa tiết trên mặt trống thể hiện một không khí sôi động trong sinh hoạt của người Việt cổ, phản ánh khá trung thực đời sống văn hóa của cư dân Việt thời bấy giờ.

Phát hiện trống đồng trên đất Quảng Trị giúp cho việc khẳng định sự tồn tại của văn hóa Đông Sơn ở Quảng Trị từ hơn 2.000 năm trước.

Một cổ vật khác cũng có giá trị rất lớn là tuyệt tác điêu khắc bằng đá của người Chăm – bò thần Nandin. Bò thần Nandin là vật cưỡi của thần Siva, rất được người Chăm sùng kính, xem là loài vật bảo trợ cho tất cả các loài động vật bốn chân.

Tượng bò thần Nandin được tạo bởi khối đá sa thạch, thân và bệ liền khối với nhau. Bệ tượng được trang trí bằng những hoa văn hình cánh sen. Thân bò dài, nằm tư thế thoải mái trên bệ, hai chân gập về phía trước, đầu ngẩng cao; mắt mở to rõ con ngươi, sừng và tai đã bị gãy. U bò cao gần ngang với đầu, bụng thon. Bộ phận sinh dục được thể hiện khá rõ.

Tượng bò thần Nandin

Tượng bò thần Nandin được phát hiện tại di tích tháp Chăm ở làng Kim Đâu, xã Cam An, huyện Cam Lộ, vào năm 1986. Người dân ở làng Kim Đâu đã bảo quản, cất giữ tuyệt tác này rất lâu và đến tháng 11/1996 mới được đưa về Bảo tàng Quảng Trị.

Hai cổ vật quý trên đại diện cho hai nền văn hoá tiêu biểu từng tồn tại trên vùng đất Quảng Trị, nơi giao thoa giữa nhiều nền văn hoá khác nhau. Cả hai cổ vật này nằm trong số 10 hiện vật đang được Bảo tàng Quảng Trị lưu giữ và đề nghị Bộ Văn hoá – Thể thao – Du lịch xếp hạng bảo vật quốc gia.

Văn Được

 

* MỤC LỤC – TIN TỨC THỜI SỰ NGÀNH GỐM 

Read Full Post »

10 bảo vật quốc gia

Hồng Phúc
http://www.tuoitre.com.vn

Ngoài những giá trị văn hóa – lịch sử – khoa học tiêu biểu, đáng trân trọng là 8/10 bảo vật đều do người dân Quảng Trị tự nguyện tặng cơ quan chuyên môn.

Trong mười bảo vật này có năm bảo vật mang phong cách kiến trúc Chăm, còn lại mang phong cách kiến trúc Việt. Trong đó có những bảo vật rất tiêu biểu như tượng tròn Uma Dương Lệ. Khi nghiên cứu pho tượng này, giáo sư Lương Ninh – Viện Khảo cổ học Việt Nam – nhận xét: “Đây có thể là pho tượng tròn vào loại đẹp nhất của nghệ thuật Chăm”. Thạc sĩ Lê Đức Thọ – phó giám đốc Bảo tàng Quảng Trị – cho rằng: “Tượng Nguyễn Ư Dĩ là độc nhất vô nhị tại Việt Nam, những giá trị không đâu có được”.

Ông Lê Đức Thọ cho biết 10 bảo vật quốc gia có niên đại sớm nhất 2.500 năm, muộn nhất gần 300 năm.

Phù điêu lá nhỉ Trà Liên 1

Có niên đại từ nửa cuối thế kỷ 9, cao 1,21m, dày 20cm, đường kính đáy 1,54m, làm bằng đá sa phiến thạch. Nội dung phù điêu chạm hình thần mặt trời Surya và hai trợ thủ. Thần Surya đứng giữa, đầu đội một Kirita-mukuta hai tầng gần giống mũ của thần Visnu, toàn thân khoác áo dài kẻ sọc dày. Khuôn mặt nghiêm nghị, lông mày rậm, mũi cao, miệng rộng, hai tai đeo đồ trang sức to nặng, hai tay cầm búp sen giơ lên cao.

Hai trợ thủ ngồi hai bên phía dưới chân của thần, mỗi vị cầm một cái trượng trên tay, khuôn mặt tươi tắn, miệng rộng, môi dày. Bên dưới phù điêu có hình bảy đầu ngựa tượng trưng cho bảy ngày.

Phù điêu lá nhỉ Trà Liên 2

Có niên đại từ nửa cuối thế kỷ 10, cao 1,2m, rộng 2,1m. Nội dung của bức phù điêu thể hiện ở ba mảng. Hai mảng chính thể hiện bởi hai tượng thần Siva và Uma được chạm nổi trong hai khung hình bán nguyệt, một mảng phụ thể hiện hình tượng cây vũ trụ chạm chìm nằm ở phía trên đầu giữa hai mảng chính. Thần Siva ngồi trên một chiếc bệ, dáng thư thái, miệng hé cười, hai cánh mũi nở.

Hình tượng Uma ngồi trên bệ cao, nửa thân trên để trần lộ ra hai vú căng tròn, hai cánh tay thon thả, ở cánh tay và cổ tay có đeo vòng trang sức. Bức phù điêu hình bán nguyệt làm bằng đá sa thạch.

Bò thần Nan Din Kim Đâu

Có niên đại từ thế kỷ 10, cao 0,6×0,35m được đặt trên bệ cao 0,46×0,29m, bằng đá sa thạch. Xung quanh bệ là dải hoa văn hình cánh sen. Bò Nan Din là vật cưỡi của thần Siva và nữ thần Paravati.

Bò thần Nan Din Quảng Điền

Cao 0,52×0,34m, có niên đại khoảng cuối thế kỷ 9 đầu thế kỷ 10.

Cụm vò bán sứ Đường làng Dương Lệ

5/7 vò còn ngyên vẹn. Vò lớn nhất cao 0,57m, đường kính miệng vò 0,21m, vò nhỏ nhất cao 0,11m. Cả mặt trong và ngoài vò đều được phủ men màu vàng nhạt. Xương gốm tinh có màu trắng sữa. Cụm vò được chế tác theo phương pháp bàn xoay, có niên đại từ thế kỷ 7 đến thế kỷ 10.

Trống đồng An Khê

Có niên đại cách nay 2.500 năm. Trống có tang phình, thân eo, đế thẳng, xung quanh có bốn quai, trống cao 0,26m, đường kính mặt trống 0,30m. Trên mặt trống có hình ngôi sao tám cánh và có sáu vành hoa văn được trang trí các họa tiết.

Bản khoán ước làng Phú Kinh

Bản khoán ước hình chữ nhật, dài hơn 2m, rộng 0,6m được làm bằng gỗ lim, có niên đại năm 1774. Toàn bộ khoán ước có khắc gần 5.000 chữ Hán ở mặt trước. Nội dung bản khoán ước bao gồm những qui định trong đời sống xã hội như giải quyết vấn đề phân chia ruộng đất, giáo dục, khuyến học, giữ gìn phong thủy, tang ma, cưới xin của làng.

Tượng UMa Dương Lệ

Pho tượng tròn, cao 0,65m, được làm bằng đá sa thạch, tạc nữ thần đang tọa trên bệ đài. Chân nữ thần đặt chéo lên nhau, hai tay đặt ở phần đùi trong tư thế thiền định. Đây là biểu tượng của thần Uma, vợ hay chính là hóa thân của nữ thần Siva. Tượng Uma có niên đại cuối thế kỷ 9 đầu thế kỷ 10.

Trống đồng Trà Lộc

Trống có hình dạng thân thon, đế choãi, tang phình, mặt trống được trang trí hình sao 10 cánh, xen giữa cánh sao là hình chữ V, có bảy vành hoa văn với các họa tiết như vòng tròn tiếp tuyến có chấm giữa, chim mỏ dài có mào, đuôi dài bay ngược chiều kim đồng hồ. Vòng chủ đạo mặt trống có bốn hình thuyền, chân trống choãi có năm vành hoa văn được trang trí hình bò u nổi, hình chấm dải. Trống có niên đại cách nay 2.500 năm.

Tượng Nguyễn Ư Dĩ

Tượng được đúc dưới thời chúa Nguyễn, cao 0,62m, phần vai rộng 0,30m. Nhân vật được tạc tượng là Nguyễn Ư Dĩ – cậu ruột chúa Nguyễn Hoàng. Nguyễn Ư Dĩ là người có công lớn trong việc giúp chúa Nguyễn xây dựng cơ đồ ở Đàng Trong, nhất là thời gian 68 năm của chúa Nguyễn Hoàng đóng dinh ở đất Quảng Trị.
Tượng đồng Nguyễn Ư Dĩ được đặt một nơi không an toàn, đã hai lần bị kẻ xấu lấy cắp. Người dân làng Trà Liên, xã Triệu Giang phải dùng máy rà kim loại rà tìm mất mấy ngày, cuối cùng phát hiện bức tượng bị kẻ xấu chôn ở bờ sông Thạch Hãn. Có lẽ kẻ xấu đợi đêm xuống bỏ lên thuyền chở đi tiêu thụ vì bức tượng nặng mấy tạ, không gánh đi xa được.

 

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Read Full Post »