Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘bảo tồn’

Gốm Luy Lâu – Một dòng gốm đã tắt

Các cuộc khai quật gốm cổ Luy Lâu (hay còn gọi là gốm Dâu) ở khu vực như Nguyệt Đức, Thanh Khương, Bãi Định, Bãi Nổi, Hà Mãn…thuộc huyện Thuận Thành đã cho thấy nét nổi bật của dòng gốm này là một loại men lạ mắt phủ màu xanh ô-liu trầm ấm và trong vắt. Khi xem màu và chất liệu men của dòng gốm cổ Luy Lâu nhiều người liên tưởng đến màu xanh ngả bí của dòng gốm Thiệu Dương, Thanh Hoá. Thậm chí, nhiều sản phẩm của dòng gốm này khiến ta dễ nhầm lẫn. Giáo sư sử học Dương Trung Quốc cho rằng: “Dòng gốm Thiệu Dương, Thanh Hoá xuất hiện vào khoảng thế kỷ thứ ba trước Công nguyên nên có lẽ gốm cổ Luy Lâu cũng đồng niên đại như vậy. Đây là dòng gốm phát triển có niên đại cách đây đã trên dưới 2000 năm”.

Cho đến nay, những sản phẩm gốm cổ Luy Lâu vẫn được coi là sản phẩm mẫu mực của dòng gốm dân gian rất đậm nét tồn tại trong xã hội cổ đại nước ta, tiêu biểu cho dòng gốm bản địa ở phương Nam. Xưa kia các nghệ nhân làm gốm cổ Luy Lâu đã có một trình độ kỹ thuật cao. Sản xuất gốm được làm trên bàn xoay là một thớt gỗ tròn dưới trục quay cắm xuống đất. Kỹ thuật của bàn xoay là một miệng đất dẹt hình đĩa dùng cân đáy, sau đó lấy một thỏi đất vê xếp vòng tròn cao lên dần, trên gần miệng vê đất dày hơn cho miệng đầy đặn. Cách tạo hình này giúp cho phần giáp giới giữa đáy và vòng đất đầu tiên không lưu lại một rãnh lõm.

Gốm cổ Luy Lâu có nhiều dòng sản phẩm. Ngoài những vật liệu xây dựng như gạch ngói các loại, đồ dùng sinh hoạt có men hoặc không men như bát, đĩa, âu, vò… phục vụ cho tầng lớp quý tộc quan lại và thị dân còn có những sản phẩm bình dân đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của dân chúng. Trang trí hoa văn trên gốm Luy Lâu là hình chữ S trên những viên gạch, là vòng tròn tiếp tuyến trên khuôn đúc đồng, đường vặn thừng thô hay mịn trên các nồi gốm. Sắc thái của đồ gốm cổ Luy Lâu xưa phổ biến là màu đỏ thẫm hoặc xám nhạt; xương gốm có các hạt cát, bã thực vật, vỏ ốc hến.

Trải qua những thăng trầm của lịch sử, gốm Luy Lâu đã bị mai một khá nhiều và có nguy cơ thất truyền. Thực tế hiện nay chỉ có Hợp tác xã Gốm sứ mỹ nghệ Luy Lâu (xã Hà Mãn, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh) tổ chức sản xuất gốm Luy Lâu theo đúng cách thức truyền thống. Dưới bàn tay khéo léo của đội ngũ thợ lành nghề, hàng ngàn mẫu mã như các loại hũ, ngọc bình, trống đồng, tượng,… được sản xuất. Một điểm khác biệt của gốm Luy Lâu với nhiều nơi khác là mẫu mã do Hợp tác xã Gốm sứ mỹ nghệ Luy Lâu sản xuất chỉ đơn chiếc, hoàn toàn làm bằng thủ công, các hoạ tiết mang nhiều yếu tố dân gian, có kích thước to nhưng tinh xảo. Chất men đặc trưng chiết xuất từ cây dâu nên có màu men xanh, màu đỏ, nâu đậm, màu ôliu. Những sản phẩm sản xuất hầu hết do các tổ chức, cá nhân yêu thích gốm Luy Lâu đặt hàng. Tuy còn gặp rất nhiều khó khăn trong việc duy trì, phát triển một dòng gốm “vang bóng một thời” nhưng với những nét riêng độc đáo, gốm Luy Lâu đã và đang từng bước khẳng định giá trị văn hoá lẫn trí tuệ của những nghệ nhân vùng đất Kinh Bắc xưa và nay.

Ông Nguyễn Đăng Vông say sưa với gốm

Ông Nguyễn Đăng Vông say sưa với gốm


Gốm cổ Luy Lâu

Gốm cổ Luy LâuCầu kỳ đến từng chi tiết

 

Click trên hình để xem bigger size

 


Các bài đã đăng :

MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN


Advertisements

Read Full Post »

Gốm Gò Sành – gốm Chăm cổ

Từ lâu, Gò Sành hay xóm Sành – tên một xóm nhỏ thuộc thôn Phụ Quang, xã Nhơn Hòa, huyện An Nhơn, Bình Định – đã trở thành điểm tham quan, tìm hiểu của giới nghiên cứu gốm cổ trong nước và quốc tế.

Nằm cạnh quốc lộ nối liền Quy Nhơn với Tây Nguyên, vị trí Gò Sành rất thuận lợi cho những ai có dự định đến thăm.

Người dân Phụ Quang kể rằng, trong khi đào đất xây dựng hoặc canh tác, họ thường gặp những vùng đất ken dày các mảnh gốm sứ với nhiều bát, đĩa, cốc còn nguyên vẹn. Tuy không biết chúng đã bị vùi lấp từ bao giờ nhưng họ cho rằng chủ nhân của những cổ vật này là người Chăm.

Vào khoảng những năm 70 thế kỷ trước, gốm Gò Sành đã theo chân giới buôn bán đồ cổ đi đến nhiều vùng, gây được sự chú ý của các nhà nghiên cứu gốm cổ Việt Nam và thế giới. Tháng 3/1974, một đoàn khảo cổ học từ TP HCM đã đến Phụ Quang để tìm hiểu. Tuy chưa có cuộc khai quật nào tại Gò Sành nhưng họ cũng đưa ra giả thuyết, người Chăm đã làm ra những sản phẩm gốm này.

Gốm Gò Sành được trưng bày tại bảo tàng.

Gốm Gò Sành được trưng bày tại bảo tàng

go-sanh

Tượng gốm Gò Sành.

Hơn 10 năm sau, những hiện vật gốm Gò Sành lại được nhắc đến. Dựa vào những hiện vật có nguồn gốc từ Gò Sành của một nhà sưu tầm trong nước, Rosana Brown, một chuyên gia nghiên cứu gốm cổ Đông Nam Á, dành một chương trong luận văn tiến sĩ của mình viết về đồ gốm và khu lò gốm Gò Sành. Từ những thông tin trên, Viện khảo cổ học Hà Nội, Bảo tàng Tổng hợp Bình Định đã hoạch định một chương trình nghiên cứu lâu dài tại Gò Sành và toàn bộ di tích gốm cổ trên đất Bình Định. Cho đến trước năm 2000, đã có bốn cuộc khai quật được tiến hành liên tục tại khu di tích này.

Các khu lò gốm Bình Định tính đến nay có năm nhóm. Ở huyện An Nhơn có Gò Sành, Gò Cây Ké, Gò Hời. Tất cả các đều nằm dọc hai bờ sông Kôn chảy vào vịnh Thị Nại (cảng Quy Nhơn ngày nay), một vị trí thuận lợi để vận chuyển bằng đường thủy.

Những cuộc khai quật khảo cổ tại Gò Sành được thực hiện vào các năm 1991, 1992, 1993. Cuộc khai quật năm 1994 có sự hợp tác của các học giả Nhật Bản. Trong số các di chỉ lò đã được xác định ở 5 vị trí thuộc phạm vi vùng Vijaya trước đây, lò số 1, số 2 và số 3 là ở Gò Sành.

Lò số 1 có tên là lò Cây Quăng, hiện còn khá nguyên vẹn, từ tường, nền và sản phẩm nung cuối cùng. Nó có dạng hình ống với tổng chiều dài 14 m. Buồng lò hình chữ nhật, mở rộng dần về phía cuối, đo được 1,6 m. Chiều rộng ở phía trước là 2,8 m.

go-sanh2

Gốm Gò Sành có nhiều sản phẩm độc đáo

Ở một bên tường có cửa để vào xếp và dỡ sản phẩm. Một bức tường thẳng cao 0,5 m tách riêng phần buồng lò và bầu đốt. Chỗ tường phía cuối lò cũng xây bằng những bao nung để thoát lửa và khói, được xếp thành hàng ngang với 6 lỗ trống. Hai lớp nền thuộc hai thời kỳ khác nhau, được phân biệt rõ ở phần buồng lò, với lớp nền dày 0,3 m. Tường lò được xây bằng bao nung, nhồi đất sét kín ở bên trong. Đây là kỹ thuật xây rất mới mà các nhà nghiên cứu chưa thấy xuất hiện ở đâu khác trên đất Việt Nam.

Lò số 2 có tên là lò Cây Mận (Cây Roi), nằm ở phía nam của Gò Sành. Về kỹ thuật, nó giống như lò số 1, tường cũng xây bằng những bao nung lèn đất. Cách sắp xếp cột chia lửa trong bầu đốt cũng tương tự.

Lò số 3 nằm dưới lò số 2. Theo đánh giá của giới nghiên cứu, đây là lò có niên đại xây dựng sớm nhất. Tường không làm bằng bao nung mà hoàn toàn bằng đất. Lò rộng 1,2 m chỗ gần bầu đốt, 1,7 m ở phía sau. Chiều dài thân lò 5,3 m. Ở cuối tường mở bốn lỗ trống thoát khói. Ống khói nhỏ, góc thoát lên trên, lối dẫn lửa vào nằm ở cùng độ sâu với buồng lò, cho phép lửa từ bầu đốt đi lên. Đây là kiểu đốt lửa độc đáo của người Chăm mà trước đây chưa thấy một tư liệu nào nói đến.

go-sanh3

Hiện vật tại hố khai quật Gò Sành

Hiện, Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Bình Định thu thập và lưu giữ một bộ sưu tập khá phong phú các sản phẩm gốm Gò Sành. Việc xem xét và nghiên cứu bộ sưu tập có thể giúp hình dung rõ nét hơn về vai trò của di tích khu lò gốm này trong lịch sử. Sản phẩm sành sứ chủ yếu được sản xuất tại đây bao gồm bát, đĩa, chậu tráng men, ngói không men và vật trang trí kiến trúc. Những chiếc bát đĩa tráng men Celadon và bình hũ tráng men nâu có đặc điểm tương tự với sản phẩm các lò Phúc Kiến (Trung Quốc).

Những sản phẩm được sản xuất ở Gò Sành phần lớn có xương màu xám mực, đỏ nhạt, giai đoạn sớm dùng kỹ thuật con kê, men tráng gần sát đáy; giai đoạn muộn dùng kỹ thuật ve lòng. Men gốm dày đều và màu men không ổn định đã tạo ra một sắc thái riêng cho gốm Gò Sành.

Gốm Gò Sành sản xuất ra không chỉ để phục vụ tại chỗ mà còn xuất khẩu sang các nước Đông Nam Á và xa hơn là Ai Cập. Trong số những hiện vật tìm thấy trên con tàu đắm ở quần đảo Calatagan thuộc Philipphines có hàng nghìn đồ gốm Gò Sành.

Cho đến nay, chưa có đủ tư liệu để khẳng định một cách chắn chắn niên đại khởi đầu cho việc sản xuất đồ sành xứ ở Gò Sành nói riêng và của người Chăm nói chung. Nhưng qua những kết quả khai quật tại Gò Sành và ở nước ngoài, có thể thấy rằng giai đoạn phát triển rực rỡ nhất của làng nghề này nằm trong khoảng thế kỷ 15-16. Một số chuyên gia Việt Nam cho rằng, việc sản xuất gốm Bình Định có thể bắt đầu từ cuối thế kỷ 13 đến thế kỷ 15, chậm lắm là đến thế kỷ 16.

Dựa vào các tư liệu lịch sử liên quan đến quá trình hình thành và phát triển vùng đất Bình Định, loại hình các sản phẩm được làm ra, so sánh những mô típ trang trí trên các hiện vật với những tư liệu điều tra dân tộc học, các nhà nghiên cứu kết luận, chủ nhân lò gốm Gò Sành và các khu lò gốm cổ khác ở Bình Định không ai khác ngoài người Chămpa cổ.
Theo Địa Chí Bình Định

 

 

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Kiến trúc xưa ở Cù lao Phố

Cù lao Phố là một cù lao nằm trên sông Đồng Nai, thuộc thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Sông Đồng Nai chảy đến một khúc quanh thì đã tự chia ra làm hai nhánh ôm trọn một dải đất sa bồi. Dải đất đó chính là Cù lao Phố, nằm ở phía Đông – Nam của thành phố Biên Hòa, tên hành chính hiện nay là xã Hiệp Hòa, với tổng diện tích đất đai là 694,6495ha.

Cù lao Phố còn được gọi là Đông Phố, Giản Phố, Cù Châu, Nông Nại Đại Phố. Tuy nằm cách biển nhưng là nơi sông sâu, nước chảy có thể đi đến mọi miền.rải qua nhiều thăng trầm lịch sử, Cù Lao Phố, thương cảng sầm uất của Nam Bộ một thời, nay vẫn còn lưu được nhiều nét xưa.

Trước thế kỷ thứ 6, Cù Lao Phố là vùng đất hoang vu thuộc vương quốc Phù Nam. Trong lịch sử mở rộng bờ cõi của cha ông, cuộc nam tiến đã thực sự thành công khi vùng đất Đồng Nai – Gia Định được tiền nhân khai phá.

Sự hình thành và phát triển của dải đất nằm giữa sông Đồng Nai này bắt đầu từ năm 1679, gắn với sự kiện hai trung thần nhà Minh (Trung Quốc) là Trần Thượng Xuyên, Dương Ngạn Địch không quy phục triều đình Mãn Thanh, đã dẫn dắt hơn ba nghìn binh lính vượt biển xuôi về Nam trên 50 chiến thuyền. Họ vào cửa Tư Dung (địa phận Thuận Hóa) xin chúa Nguyễn Phúc Tần cho lánh nạn. Chúa Nguyễn đã thu nạp và cho họ đến khai khẩn đất miền Nam. Nhóm di dân này chia làm hai cánh, một do hai tướng Trần Thượng Xuyên, Trần An Bình chỉ huy đã chọn vùng Đồng Nai – Gia Định để khai phá, một do Dương Ngạn Địch, Hoàng Tiến thống lĩnh tiến xa hơn, chọn vùng Mỹ Tho – Cao Lãnh làm chốn dung thân.

Cầu Ghềnh dẫn vào Cù Lao  Phố.

Trần Thượng Xuyên sau khi định cư đã chiêu mộ thương lái từ Trung Quốc sang mua bán và mở mang thương cảng. Từ đó, vùng Cù Lao Phố trở nên sầm uất, trên chợ, dưới thuyền, bán mua tấp nập. Nhiều ngành nghề thủ công truyền thống có điều kiện phát triển như dệt chiếu, tơ lụa, đúc đồng, làm pháo, đồ gốm, đục đá… Các thương thuyền của người nước ngoài như Nhật Bản, Trung Hoa, Ấn Độ thường xuyên vào ra.

Là người có tầm nhìn xa, Trần Thượng Xuyên thấy vùng đất này có nhiều tiềm năng về nông nghiệp và thương nghiệp vì thuận lợi giao thông thủy, bộ. Do đó, ông đã huy động sức người sức của để xây dựng thương cảng Nông Nại Đại Phố thành trung tâm thương mại danh tiếng bậc nhất phương Nam thời bấy giờ. Năm 1720, Trần Thượng Xuyên qua đời, được chúa Nguyễn truy phong Thượng đẳng thần, thờ ở đình Tân Lân bên bờ sông Đồng Nai, cạnh chợ Biên Hòa.

Trong các công thần nhà Nguyễn có công khai khẩn, mở mang bờ cõi phương Nam, Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh là người đầu tiên được nhắc đến. Vào năm 1698, được chúa Nguyễn sai kinh lược phương Nam, viên thống soái này đã chọn Cù Lao Phố làm nơi đặt tổng hành dinh. Tại đây, ông  thiết lập bản doanh, tổ chức cơ sở hành chính, ổn định đời sống dân chúng bằng cách thiết lập phủ, huyện, tổng, xã, thôn của các vùng Phước Long, Biên Trấn. Việc quy định khai khẩn ruộng đất, lập sổ bộ đinh, điền, thuế má đã giúp chúa Nguyễn có thêm nguồn lợi. Ông cũng chính là người có sáng kiến khuyến khích dân chúng các dinh trấn Quảng Nam, Quảng Ngãi vào khai khẩn ruộng đất, lập vườn tược, hình thành các làng mạc trù phú ở Đồng Nai.

Về sau, Cù Lao Phố bị tàn phá nặng nề do cuộc bạo loạn của thương nhân người Phúc Kiến (Trung Quốc) là Lý Văn Quang vào năm 1747 và cuộc giao tranh giữa nhà Tây Sơn và chúa Nguyễn, đặc biệt là năm 1776. Nhà cửa phố xá bị thiêu trụi, cư dân dần dần lưu tán, chấm dứt thời kỳ hưng thịnh của Cù Lao Phố sau gần 100 năm.

Tinh hoa còn đó

Chùa Ông ở Cù Lao Phố.

Cù Lao Phố hiện còn lưu nhiều dấu tích về thời hưng thịnh với những công trình mang đậm tín ngưỡng như chùa Đại Giác, đền thờ Lễ Thành Hầu Nguyễn Hữu Cảnh, miếu Quan Đế, chùa Thủ Huồn… Những tinh hoa trong các làng nghề gốm sứ, điêu khắc hay những sự kiện lịch sử trong lao động và bảo vệ lãnh thổ, sự định hình thiết chế xã hội, các di tích văn hóa của vùng đất này… được Trịnh Hoài Đức biên khảo hết sức công phu trong bộ Gia Định Thành thông chí.

Đình Tân Lân, đánh dấu nơi định cư đầu tiên của nhóm Trần Thượng Xuyên ở vùng Đồng Nai.

Đình Tân Lân, đánh dấu nơi định cư đầu tiên của nhóm Trần Thượng Xuyên ở vùng Đồng Nai.

Tượng Nguyễn Hữu Cảnh nơi đình thờ ông ở Cù lao Phố.

Tượng Nguyễn Hữu Cảnh nơi đình thờ ông ở Cù lao Phố.

Với hệ thống những công trình tín ngưỡng tôn giáo trên mảnh đất ghi đậm dấu ấn lịch sử văn hóa, Cù Lao Phố là điểm du khảo lý thú cho những ai yêu thích thiên nhiên, nghệ thuật. Đứng bên bờ sông Đồng Nai, du khách có thể nhìn thấy Cù Lao Phố nổi bật giữa dòng sông, thấp thoáng mái đình, mái chùa cổ, tịnh xá…

Chùa Đại Giác

Chùa Đại Giác

Được xem là nơi địa linh nhân kiệt, Cù Lao Phố đang là đối tượng của các nhà nghiên cứu khảo cổ học về những giá trị văn hoá, lịch sử.

Đền Nguyễn Hửu Cảnh

Đền Nguyễn Hửu Cảnh

Sự kiện lịch sử:

Sự thịnh vượng của vùng Cù lao Phố chỉ kéo dài được 97 năm (1679 -1776), bởi đã xảy ra hai sự kiện lớn:

* Năm 1747, một nhóm khách thương người Phúc Kiến qua lại buôn bán, thấy Cù lao Phố rất giàu có nên dậy lòng tham muốn chiếm lấy để làm chỗ dung thân lâu dài. Cuộc bạo loạn do Lý Văn Quang (tự xưng là Giản Phố Đại vương) cầm đầu, đánh úp dinh Trấn Biên (tiền thân của Biên Hòa sau này), giết chết Nguyễn Cư Cẩn (tước Cẩn Thành Hầu) là người cai quản dinh. Tin cấp báo về Thuận Hóa, chúa Vũ vương (Nguyễn Phúc Khoát) liền sai cai cơ Tống Phước Đại (tước Đại Thắng Hầu) đang đóng ở Mô Xoài đem binh vào cứu viện. Tống Phước Đại phá tan đạo quân của Lý Văn Quang, bắt được chúa đảng cùng đồng bọn 57 người. Tuy dẹp được cuộc bạo loạn, nhưng Cù lao Phố cũng đã chịu nhiều thiệt hại.

* Năm 1776, quân Tây Sơn đã đến đàn áp những người Hoa ở cù lao Phố vì họ đã ủng hộNguyễn Phúc Ánh  . Trịnh Hoài Đức mô tả: Nơi đây biến thành gò hoang, sau khi trung hưng người ta tuy có trở về nhưng dân số không được một phần trăm lúc trước (Gia Định thành thông chí). Sau khi chợ búa cùng phố xá bị tàn phá nặng nề, các thương gia người Hoa rủ nhau xuống vùng Chợ Lớn (nay là Quận 5 và Quận 6, thuộc Thành phố Hồ Chí Minh), sáp nhập với làng Minh Hương sinh sống và lập những cơ sở thương mãi khác cho đến nay…

Kể từ đó, vùng Cù lao Phố đánh mất vai trò là trung tâm thương mại của Đàng Trong mà thay vào đó là Chợ Lớn và Mỹ Tho.

* MỤC LỤC –  TÀI LIỆU VỀ DI SẢN NHÀ – KIẾN TRÚC CỔ 

Read Full Post »

Đến Bát Tràng mua hàng Phù Lãng, về Hà Ðông vớ phải lụa… Tàu” ?!

Chợ gốm Bát Tràng những ngày đầu xuân khá sầm uất. Ngay lối ra vào là một quầy hàng lớn bán đồ gốm men da lươn. Vào sâu trong chợ, càng thấy loại men này được bày bán phổ biến. Hỏi một chủ quầy, tôi nhận được câu trả lời: “Của Bát Tràng đấy, người ta làm gốm da lươn bán được, tội gì mình không làm”.
Bát Tràng và Phù Lãng là hai dòng gốm có từ lâu đời. Ðặc trưng của Bát Tràng là làm xương gốm bằng đất sét trắng (xưa Bát Tràng có tên Bạch Thổ Phường, tức “phường Ðất Trắng” vì có mỏ đất sét trắng, nay đất sét trắng phải mua từ nơi khác), xương gốm đó được tráng men, với những màu men cơ bản như: men ngọc, men nâu, hoa lam… Trong khi đó, xương gốm Phù Lãng là đất sét có màu hồng nhạt, khi nung ở nhiệt độ cao, xương gốm chuyển màu gan gà, với hai màu men chủ đạo là nâu vàng và nâu đen (thường gọi là men da lươn). Nếu vẻ đẹp của Bát Tràng là sự đa dạng về nước men, những nét vẽ tinh tế, thì hồn cốt của Phù Lãng được tạo nên từ sự dân dã, mộc mạc của nước men da lươn.
Hơn chục năm trước, Phù Lãng suýt nữa mất nghề nếu không kịp thời chuyển từ sản xuất đồ gia dụng như chum, vại, ang, tiểu sành… sang đồ gốm mỹ nghệ. Nước men da lươn mộc mạc được người Phù Lãng kết hợp với những đường nét, những tạo hình mang đậm chất nông thôn Việt đã tạo nên sức hút kỳ lạ của gốm Phù Lãng. Theo những chủ cửa hàng ở chợ gốm Bát Tràng, khi thấy gốm mỹ nghệ Phù Lãng ăn khách, người ta nhập về bán kiếm lời. Thế rồi sẵn nghề trong tay, người ta làm phỏng theo phong cách Phù Lãng. Tôi liên lạc với Trần Mạnh Thiều – chủ nhân thương hiệu “Gốm Thiều” của Phù Lãng. Mạnh Thiều phàn nàn: “Ðiều ấy xảy ra vài năm rồi, những mẫu đẹp của Phù Lãng vừa ra lò thì chỉ vài hôm sau Bát Tràng đã sản xuất mẫu như thế. Bát Tràng giao thông thủy bộ thuận tiện, gần trung tâm, mạnh về vốn, đấy là khó khăn lớn cho gốm Phù Lãng “.
Ngoài những sản phẩm “nhái” Phù Lãng, thì những sản phẩm “nhái” Trung Quốc, thậm chí cả những sản phẩm phỏng theo gốm Chăm cũng xuất hiện khá nhiều. Trao đổi ý kiến với chúng tôi, anh Nguyễn Văn Ðạt, một nghệ nhân làng gốm Bát Tràng, không khỏi băn khoăn: “Ðây là điều đáng buồn với những nghệ nhân Bát Tràng. Những người làm nghề thật sự như chúng tôi luôn sáng tạo trên nền truyền thống của làng mình là chủ đạo. Tuy nhiên, cũng có những người vì lợi nhuận…”.
Nếu như Bát Tràng là làng nghề đặc trưng của Thủ đô thì đất Hà Tây cũ vốn được mệnh danh là “quê lụa”. Quê lụa ở đây là lụa Hà Ðông. Lụa Hà Ðông nổi tiếng là thế, nhưng ngay khi đến tận đất lụa Hà Ðông, thì người ta lại mua phải lụa không rõ nguồn gốc. Trong đó, có một số loại vải na ná như lụa Hà Ðông, mà nhiều người cho rằng có nguồn gốc từ Trung Quốc. Càng buồn hơn cho du khách khi đi bao nhiêu cây số gió bụi đến tận gốc gác của nghề lụa nức tiếng gần xa vẫn mua phải lụa rởm, mà giá thì cao không khác gì lụa xịn. Vạn Phúc nằm trong tua của nhiều hãng du lịch lữ hành, nên các du khách đến từ nhiều vùng, miền đất nước cũng như khách quốc tế cùng chịu chung cảnh “mua nhầm”. Những sản phẩm này thường có chất lượng kém hơn so với lụa Vạn Phúc và giá cả ở trên thị trường cũng rẻ hơn rất nhiều.
Tìm đến nghệ nhân Nguyễn Hữu Chỉnh, Chủ tịch Hiệp hội làng nghề Vạn Phúc, ông Chỉnh thẳng thắn thừa nhận: “Ðúng là có hiện tượng trộn hàng không rõ nguồn gốc để bán lẫn với hàng lụa Vạn Phúc. Hiệp hội làng nghề không cấm bán hàng từ nơi khác, nhưng phải ghi rõ xuất xứ. Nhưng vẫn có một số người kém ý thức, “lập lờ đánh lận con đen”.
Nguy cơ đánh mất bản sắc
Hai làng nghề được coi là nức tiếng nhất của Thủ đô bây giờ, mỗi làng một vẻ, nhưng đều ít nhiều có dấu hiệu của một đoàn tàu đang có nguy cơ chệch hướng. Cả Bát Tràng lẫn Vạn Phúc đều là những làng nghề làm ra những sản phẩm có tính mỹ thuật, đòi hỏi sự sáng tạo cao. Nhưng thay vì tìm tòi để sáng tạo ra những mẫu mới với chất lượng cao trên nền truyền thống của làng nghề, không ít người tìm đến một con đường ngắn hơn. Những gì đang diễn ra cho thấy sự sáng tạo không được đặt ở vị trí xứng đáng.
Các sản phẩm gốm da lươn được bày bán tràn lan ở làng gốm
Bát Tràng.
Không chỉ làm phỏng theo những dòng gốm khác, mà những sáng tạo của các nghệ nhân chân chính ở Bát Tràng cũng bị nhiều người đánh cắp không thương tiếc. Một nghệ nhân giấu tên ở Bát Tràng cho biết, khi anh vừa nghiên cứu chế ra được một loại men mới, thì ngay lập tức nhiều hộ gia đình tìm cách bắt chước. Và sáng chế về loại men đó của anh, dù mất rất nhiều công sức và thời gian nghiên cứu, chỉ có giá trị trong vài lần đốt lò, vì sau đó, hàng loạt sản phẩm tương tự như thế được bắt chước và làm với giá rẻ hơn. Ở Vạn Phúc, ngoài thương hiệu thuộc sở hữu chung của cả làng, không có một thương hiệu nào bật lên với những sáng tạo riêng, cũng chỉ vì lý do một thời gian sau khi mẫu lụa ra đời, cả làng cùng dệt, và người sáng tạo cũng chỉ còn cách chấp nhận… hòa cả làng!
Trao đổi ý kiến với chúng tôi về việc làm thế nào để loại trừ những hiện tượng “phá” thương hiệu ra khỏi làng nghề, nghệ nhân Nguyễn Hữu Chỉnh cho biết: “Hiệp hội không có thẩm quyền đi phạt những người vi phạm. Nhưng hiện giờ chúng tôi đã có dự án xây dựng khu trung tâm giới thiệu và bán sản phẩm Vạn Phúc. Dự kiến trung tâm rộng chừng 1.000 m2, được xây ba tầng. Ngoài ra, có khu nhà cổ giới thiệu quy trình làm lụa. Chúng tôi sẽ gây dựng để trung tâm là địa chỉ tin cậy của khách hàng. Những người làm ăn theo kiểu “chụp giật” sẽ không được tham gia trung tâm. Không tham gia trung tâm, đồng nghĩa với việc không được Hiệp hội làng nghề bảo đảm về chất lượng. Từ đó, sẽ loại trừ những tiêu cực khỏi làng nghề”. Cách làm của Vạn Phúc, có lẽ là một gợi ý hay cho nhiều làng nghề của Hà Nội nói chung, trong cuộc “đấu tranh” để giữ gìn bản sắc trong cơ chế thị trường.
Sau khi hợp nhất Hà Tây với Hà Nội, Thủ đô hiện có hàng trăm làng nghề khác nhau. Tiếng tăm của những làng nghề kể trên có được, chính là bản sắc được dày công tích tụ qua nhiều đời. Nhưng cơ chế thị trường khiến bản sắc của không ít làng nghề phai nhạt mà hai làng nghề nổi tiếng nói trên là những thí dụ tiêu biểu. Hy vọng rằng, người ta sẽ sớm nhận ra, cái lợi trước mắt có thể gây ảnh hưởng tiêu cực lâu dài, nếu những làng nghề đậm bản sắc văn hóa đánh mất những nét độc đáo riêng có của mình…
nguồn  ” Nhân Dân”

Read Full Post »

Gốm truyền thống Hòn Đất, Kiên Giang

Nghề gốm ở Hòn Đất thuộc tỉnh Kiên Giang đã phát triển thành nghề truyền thống của một bộ phận cư dân xứ Hòn gần 100 năm qua góp phần ổ định cuộc sống của nhiều gia đình nơi đây.

Tuy nhiên, mấy chục năm qua nghề gốm ở Hòn Đất chủ yếu là sản xuất các mặt hàng truyền thống như lò ràng, lị than, nồi đất, khuôn bánh khọt , các loại am, chum đựng nước, diệm dùng đặc rượu, v.v…

Mấy năm gần đây, đời sống của nhân dân được nâng lên cùng với thị trường đa dạng hoá các mặt hàng gia dụng như bếp ga, đồ điện, các mặt hàng được sản xuất từ nhuôm, sành, sứ cao cấp vừa tiện lợi, giá cả phù hợp với điều kiện kinh tế của đại bộ phận nhân dân đã làm ảnh hưởng đến giá thành và đầu ra của sản phẩm gốm Hòn Đất.

Do đó, để nghề gốm ở Hòn Đất tồn tại và phát triển đòi hỏi cấp thiết đối với những người sống bằng nghề gốm là phải thay đổi hình thức sản xuất sao cho phù hợp với điều kiện và nhu cầu phát triển của xã hội.

Để giải bài toán về làng nghề gốm ở Hòn Đất, đầu năm 2007 với sự tài trợ của Trung tâm khuyến công tỉnh Kiên Giang một mô hình sản xuất gốm mới theo hình thức sản xuất hàng mỹ nghệ, do Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Đồng Thịnh ở xã Bình Sơn đang triển khai thực hiện.

Đây là một hình thức sản xuất mới với những mặt hàng gốm được sản xuất đảm bảo cả ba tiêu chí: kỹ thuật, mỹ thuật và giá thành sản phẩm. Qua bước đầu thực nghiệm cho thấy đây là một triển vọng mới đối với nghề làm gốm ở Hòn Đất.

Theo sự hướng dẫn của anh Đào Hùng Phương, Trưởng phòng Công Thương Khoa học Công nghệ Hòn Đất chúng tôi đến thăm làng nghề gốm thủ công thuộc ấp Đầu Doi, Thị Trấn Hòn Đất, huyện Hòn Đất.

Hiện nay trong ấp có trên 500 hộ dân, đã có gần một nửa với trên 500 lao động làm nghề sản xuất mặt hàng gốm.

Đất sét của xứ Hòn có độ mịm và dẻo rất cao nên khi nắn, nung ít hư, sản phẩm lại có độ bền nên được rất nhiều người tiêu dùng ưa chuộng. Vào những năm 1980 là giai đoạn sung túc nhất của làng gốm Đầu Doi.

Các mặt hàng gia dụng làm bằng gốm ở thời điểm đó bán rất chạy nên hầu người dân địa phương sống nhờ vào nghề gốm. Nhà nào cũng có từ hai đến ba lò gốm và sản phẩm được ủ nung thường xuyên.

Nhiều gia đình có điều kiện còn tranh thủ mùa nắng sản xuất, tích luỹ để có hàng bán vào những tháng mùa mưa.

Giá mỗi cái lò ràng ở thời điểm đó có lúc tính bằng một giạ lúa. Có lẻ đây là giai đoạn ăn nên, làm ra nhất đối với những người dân ấp Đầu Doi.

Mấy năm gần đây các mặt hàng gia dụng được sản xuất từ gốm đã ít được người tiêu dùng quan tâm sử dụng hơn.

Hầu hết những gia đình thuộc diện trung bình trở lên đã dùng bếp ga, nồi cơm điện hoặc xây lò chụm bằng củi, trấu bằng gạch thay cho việc nấu củi bằng lò ràng, nồi đất.

Các mặt hàng gia dụng khác cũng dần được thay thế bằng đồ sành, sứ, nhuôm, nhựa, Inox nên các mặt hàng bằng gốm bán ít chạy và giá thành lại thấp. Giá sản phẩm thấp nên công thợ cũng rẻ. Một người thợ làm suốt ngày chỉ kiếm được 20.000 đồng tiền công.

Đến thăm gia đình chú Trần Văn Tuồng, gia đình chú cũng đã có trên 30 năm sống nhờ vào nghề gốm. Thế nhưng theo chú Tuồng cho biết hiện nay làm nghề gốm rất khó sống.

Một cái cà ràng loại lớn chỉ bán được 7.000 đồng. Lò than được rạng bằng thiết, trét xi măng thật kỉ loại lớn bán được hơn 40.000 đồng. Còn lại những loại nồi đất, lò nhỏ chỉ bán vài ba ngàn đđồng.

Nếu như so sánh với giá lúa ở thời điểm như hiện nay, gần hai chục cái cà ràng mới mua được một gịa lúa. Mặc dù giá thành thấp như vậy nhưng số lượng tiêu thụ cũng rất ít. Mội tháng chỉ bán hơn ngàn sản phẩm các loại đã là nhiều.

Chú Tuồng tâm sự:” Mấy mười năm chỉ làm quen với nghề này nên việc đổi nghề là rất khó. Còn con Trai chú Tuồng, em Trần Thanh Nam cho biết:” Nhiều khi cũng muốn tìm cách làm mới để duy trì và phát triển để cải thiện nghề gốm của gia đình nhưng chưa biết làm cách nào ?”

Đó cũng là những trăn trở và suy nghĩ của anh Huỳnh Như Sanh, giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn Đồng Thịnh. Là hoạ sĩ lại kiếm sống bằng công việc kế toán cho một công ty ở Kiên Lương.

Cứ mỗi lần có dịp đi ngang qua làng nghề gốm ở ấp Đầu Doi, anh Sanh lại thấy thương cho người dân làng nghề.

Lao động cật lực nhưng thu nhập lại thấp. Nhìn thấy màu gốm tươi gói, anh tiết cho những sản phẩm làm ra quá thô sơ, giá thành không cao. Với anh Sanh việc thay đổi cách sản xuất gốm để vừa có giá trị kinh tế cao hơn đã thôi thúc anh bắt tay vào nghiên cứu cách làm mới.

Anh Sanh đã bỏ công tìm hiểu xây dựng dự án sản xuất mặt hàng gốm mỹ nghệ chất lượng cao.Với dự án này anh Sanh đã thành lập Công ty trách nhiệm hữu hạn Đồng Thịnh.

Để có kinh phí đầu tư đi vào sản xuất anh Sanh đã vận động bạn bè, gia đình ủng hộ trên với số vốn đầu tư ban đầu là 500 triệu đồng, trong đó trung tâm khuyến công tài trợ 150 triệu đồng.

Với một người mới vào nghề, mà là nghề làm gốm mỹ nghệ quả là quá nhiều trở ngại. Tất cả điều bắt đầu từ con số không.

Để làm được việc, anh Sanh đã vận động một số thợ trẻ, say mê nghề cùng anh làm việc, Trung tâm Khuyến công Tỉnh Kiên Giang giúp anh rất nhiều trong việc chuyển giao kỹ thuật xây lò nung, tìm hiểu về độ mịn, độ nềm dẻo của đất, v.v… Riêng anh Sanh đã tự thiết kế ra hơn chục mẫu sản phẩm để đưa vào sản xuất thử.

Chúng tôi đến thăm cơ sở sản xuất của anh Sanh trong những ngày giáp tết. Nói là cơ sở sản xuất nhưng qui mô cũng còn rất nhỏ hẹp. Khuôn viên làm việc với diện tích gần 200m2 vừa là nhà kho, nhà trưng bày sản phẩm, khu làm việc cho gần chục công nhân, lò nung, khu chế tác tượng của hoạ sĩ.

Theo sự giới thiệu của anh Sanh sau hơn gần một năm vừa nghiên cứu, vừa sản xuất thí điểm cơ sở của anh đã cho ra trên 1.000 sản phẩm với khoản 30 mẫu sản phẩm.

Đặc biệt là sản phẩm bình hoa loại lớn có gần 100 chiếc, nhưng là mẫu sãn phẩm độc bình . Mỗi kích cỡ , mỗi mẫu chỉ sản xuất một chiếc duy nhất như Bình Hồ Lơ cao gần một mét, bình cấm hoa lại lớn và loại trung bình với nhiều kiểu dáng và hoa văn khác nhau.

Tất cả các loại bình này được nung từ đất gốm của xứ Hòn với màu rất sắc. Những chiếc bình hoa này khi trang trí trưng bày trên những chiếc đế làm chân bình được chế tác từ gốc cây tràm.

Cây sắn đã tạo thêm vẻ đẹp tự nhiên hài hoà giữa: Màu đỏ đất gốm, của cây lá và hoa nhưng lại rất sang trọng và điệu nghệ khi được bày trí trong phòng khách hàng ngày hay trong phịng khách.

Bên cạnh việc sản xuất sản phẩm độc bình, Công ty Đồng Thịnh cũng sản xuất một số mặt hàng mỹ nghệ bằng gốm màu như: Những loại tranh nỗi bằng gốm, các loại sản phẩm dùng để trang trí.

Do mới sản xuất thử nghiệm nên sản phẩm chưa thật sự sắc sảo nhưng từ thành công bước đầu đã mở ra một triển vọng mới, một hình thức sản xuất để có sản phẩm mới hơn và có giá trị hơn đối với việc sản xuất gốm ở Hòn Đất


MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Nét đẹp chạm khắc Nhà Trăm Cột

netdepnhatramcot_11

Đi về phía đông thị trấn Cần Đước, vượt qua kênh Nước Mặn, đến xã Long Hựu Đông, tỉnh Long An, một vùng quê hiền hòa ven biển. Tại đây có một di tích kiến trúc khá độc đáo, được công nhận là di tích quốc gia về lịch sử văn hóa, đó là Nhà Trăm Cột. Cái “độc” của di tích không chỉ vì tên gọi xuất xứ theo theo đặc trưng kiến trúc (nhà có trên một trăm cây cột), mà còn vì đây là ngôi nhà “rường” miền Trung điển hình nằm lọt giữa vùng quê Nam Bộ. Vào thời Minh Mạng, vùng đất này thuộc tổng Lộc Thành Hạ, huyện Phước Lộc, phủ Tân An, tỉnh Gia Định. Dưới thời Pháp thuộc (thời điểm xây dựng ngôi nhà), đổi thành tổng Lộc Thành Hạ, tỉnh Chợ Lớn. Ngôi nhà cổ này được khởi công vào năm 1901, xây dựng ròng rã ba năm liền, đến năm 1903 thì hoàn thành và năm 1904 thì xong phần chạm khắc trang trí. Chủ nhân đầu tiên là hương sư của làng Long Hựu, sau đó làm hội viên Hội đồng quản hạt Chợ Lớn, vì thế mà tên gọi thủa ban đầu của nó là Nhà ông hội đồng, Nhà ông cả (Hình 1).

IUTQMT101547

Hình 2

Quy mô kiến trúc ngôi nhà có chiều ngang 21m, chiều dọc 42m, được xây dựng giữa một miếng đất có diện tích 4040m2. Nhà xây theo hình chữ quốc, gồm hai phần: phần chính là ngôi nhà 3 gian, 2 chái đôi, phần sau là hai dãy nhà bếp với một sân trong của ngôi nhà. Nhà Trăm Cột có kết cấu theo theo kiểu xuyên trính, còn gọi là đâm trính hay kiểu nhà rường, một loại nhà điển hình từ miền Trung trở vào. Với kết cấu này, nhà có bộ khung vững chắc, “rộng lòng căn” rất tiện lợi cho việc sinh hoạt bên trong, nhất là gian thờ. Tuổi của ngôi nhà đã cao nhưng vẫn còn bền vững, vì nhà được làm bằng các loại gỗ quí như cẩm lai, mật, gõ đỏ… Tốp thợ làm ngôi nhà này là người làng Mỹ Xuyên, một làng nghề nổi tiếng ở Huế. Vì lẽ đó, các cây chính được uốn cong hai đầu, chạy chỉ theo kiểu miền Trung khác với lối cây thẳng của phía Nam.

Với 104 cột gỗ còn lại cho đến ngày nay, nhà Trăm Cột không chỉ nổi tiếng vì nhiều cột, giá trị của nó là sự công phu trong chạm khắc của người thợ chạm xưa, biến ngôi nhà ở thành một tác phẩm nghệ thuật. Theo lời kể của con cháu chủ nhân ngôi nhà thì ngôi nhà được xây dựng xong thợ chạm mới tiến hành chạm khắc, số thợ chạm là 15 người và chạm trong 3 năm. Hình trang trí được chạm khắc khắp nơi từ vì kèo, vách ngăn đến bao lam… Bên cạnh đó, muốn làm đầy hơn không gian chạm khắc này là các vật dụng đồ gỗ, nó cũng được đóng cùng lúc và cho riêng căn nhà với sự chạm khắc tỉ mỉ, cầu kì như bàn, ghế, trường kỷ, bàn thờ…

IUTQMT101547

Chạm khắc trang trí của ngôi nhà được chia làm ba mảng chính:

Trang trí phần kết cấu khung xương.

Phần trang trí này nằm ở nhiều bộ phận kiến trúc như các vì kèo, đầu kèo, lá dung, bao hộc, cây xuyên cột… Từ ngoài hàng ba, 8 đầu kèo chạm trổ “Văn hóa long” một kiểu thức mang phong cách Huế rõ nét. Các hình “Văn hóa long” này có tính cách điệu cao, chỉ là họa tiết lá, mây tạo nên hình ảnh một cái đầu rồng. Tiếp theo các đầu kèo là vì kèo hàng ba được chạm lộng (Hình 2), Các họa tiết hoa lá được chạm lộng một cách duyên dáng làm thanh thoát cho các vì kèo. Mặt dưới của 4 cây kèo trung tâm chia phòng khách thành 3 gian, chạm hình “Tứ thời” với phong cách đặc biệt Huế gồm: Sen hóa quy (hình 3), Phật thủ hóa long, Mai hóa lân, Cúc hóa phượng… Sau khi đã dựng kèo, người ta mới tiến hành chạm khắc, giăng võng chạm từ trên xuống. Mỗi mặt kèo đều chạm khung chỉ hai đầu chạm hoa lá, ở giữa là hình đặc trưng cho bốn mùa. Hình chạm có khối cao, nhiều lớp, tách bạch khỏi mặt kèo. Ở hai kèo trên tường nhà chạm đồ án Lưỡng long hồi thủ và Tùng lộc. Hàng cột thứ 2 nằm chính giữa phòng khách, được chia làm 5 gian. Trong cây xuyên ngang hàng cột, chia làm năm khung chạm khắc. Các khung có chạm các đồ án hoa, trái ở giữa, hai bên là khung dây chạm hoa cúc cách điệu. Đặc biệt là đồ án chạm hoa, trái có nhiều loại trái cây mang tính địa phương như: mãng cầu, dưa gang cùng với loại trái cây truyền thống như đào, lựu thành đồ án Bát quả.

Trang trí bao lam và các vách ngăn

IUTQMT101547

Hình 3

Bao lam được trang trí mặt trước của 3 gian thờ, giữa 4 hàng cột. Các bao lam được chạm lộng công phu tạo thành khung trang trí cho gian thờ. Bao lam chính giữa (Hình 4) chạm đồ án hoa sen ở phía dưới, hình dáng hoa sen thiên về tả thực rất sinh động, khác nhiều lối trang trí hoa sen cách điệu. Phía trên của bao lam chạm cây tùng với chim trĩ, hoa cúc và chim hoàng anh. Khối trang trí này bao lấy quấn thư trung tâm khắc chữ phước, lộc, thọ. Hai bộ bao lam của hai gian thờ bên đều chạm chung một đồ án. Phía trên, chính giữa bao lam chạm hình con dơi cách điệu, hàm nghĩa là phúc, các hình khác là hoa hồng và chim sẻ, tùng với công. Nét chạm của bộ bao lam này rất điêu luyện, khối của các môtíp rất cao như tượng tròn, nét khắc chau chuốt, uyển chuyển trong sự thay đổi về khối từ những khối dày dặn đến những nét chạm mảnh mai như cây tăm. Hai bên bao lam có khung dọc cột chạm đồ án Tứ thời với các hình ảnh như tùng lộc, mai hạc ở giữa, trong khung chỉ viền và hoa lá.

IUTQMT101547

Hình 4

Phía trên các bao lam, giáp với mái nhà là các khung “ô hộc” chia làm nhiều lớp gồm chấn song gió (chấn song con tiện), chấn song bản là các tấm chạm hình chữ nhật đan xen. Các tấm chấn song bản chạm hình hoa lá, đồ án cách điệu văn hóa phượng hai bên, tấm giữa chạm hình lân. Phía dưới, sát trên bao lam, các tấm bản chạm các loại trái cây mang tính địa phương như măng cụt, khế, điều chen giữa các bản chạm hoa hồng (hình 5). Phần chạm khắc không chỉ có ở ba gian thờ chính mà còn được thể hiện khắp nơi kể cả các gian phụ. Hai vách bên gian thờ, từ bộ cửa vòng cung đến các bao hộp, khung vách đều chạm trổ cầu kì các đồ án như văn hóa phúc, tứ thời, tứ quí, bát quả… Sự kết nối các hình chữ nhật đứng, nằm ngang, hình tam giác giữa các khung chỉ soi tạo nên sự hài hòa, vui tươi cho mặt vách. Xen kẽ giữa các tấm chạm lộng cầu kỳ là các tấm song tiện đều đặn to, nhỏ, thưa, dày khác nhau tạo sự thay đổi dễ chịu về thị giác (Hình 6). Các vách gió ngăn phòng khách với hai chái, phòng thờ với phòng ngủ đều có chạm các khung ô hộc (chấn song gió, chấn song bản) với các đồ án trên cùng các loại văn hóa long, dây lá hóa long, mai điểu. …

IUTQMT101547

Hình 5

Trang trí đồ gỗ

Đồ gỗ đi theo ngôi nhà rất phong phú và được làm cùng với ngôi nhà. Nó gồm đồ gỗ cho phòng khách và đồ gỗ cho gian thờ. Tại phòng khách có 6 bộ bàn ghế được chạm trỗ công phu. Các bộ bàn ghế được đóng theo cặp và được tính sẵn nơi để. Các bộ bàn, ghế đều có khung chạm lộng với nhiều đề tài khác nhau như trái cây là đào, lựu, phật thủ, bầu,… hoặc các đồ án có đề tài theo cặp như mai điểu, tùng lộc, trúc hạc, bí đào, nho sóc…

Phần trang trí, chạm khắc của Nhà Trăm Cột là một giá trị mỹ thuật đã được khẳng định, đánh dấu một giai đoạn mỹ thuật trong đầu thế kỷ XX. Về mặt tạo hình, ngoài các lối chạm mang tính cách điệu cao, những nghệ nhân này còn thể hiện những bức chạm mang xu hướng tả thực với sự quan sát, diễn tả rất sống động; sự đan xen giữa các phong cách không hề làm mất tính thống nhất, chặt chẽ về bố cục mà còn giúp cho các tấm chạm ấm áp hơn, hợp với tư gia hơn (khác với không khí đình, chùa). Đề tài được sử dụng cũng rất phong phú, mang tính xã hội, phản ánh được đời sống Nam Bộ thời đó – một thuộc địa của Pháp. Ngoài các đề tài truyền thống mang tính cổ điển như “Tứ linh”, “Tứ thời”, “Bát quả”, “Mai điểu”… đã xuất hiện những môtíp mới như trái cây vùng Nam Bộ như mãng cầu, mãng cầu dai, điều, khế, bình bát… Các môtíp phương Tây cũng đã xuất hiện một cách nhuần nhuyễn như hoahồng, nho, sóc, dây lá lối châu Au, chuỗi ngọc.

IUTQMT101547

Hình 6

Với sự tồn tại của mình qua 100 năm, Nhà Trăm Cột là hiện thân văn hóa của một vùng đất mới, một ngôi nhà rường miền Trung nhưng mang tình cảm của người phương Nam. Đây là một di tích kiến trúc có nhiều yếu tố mỹ thuật quý giá, đánh dấu một giai đoạn trong lịch sử trang trí của mỹ thuật truyền thống Việt Nam. N.T.TẢnh trong bài: Bùi Hải Châutài liệu tham khảo: bảo tàng long an: Hồ sơ di tích kiến trúc nghệ thuật nhà trăm cột, 1997.

Nguyễn Trung Tín
Ảnh trong bài: Bùi Hải Châu

click trên hình để xem full size:

* MỤC LỤC –  TÀI LIỆU VỀ DI SẢN NHÀ – KIẾN TRÚC CỔ 


Read Full Post »

Nhà rường cổ Huỳnh Phủ – Bến Tre

Chủ nhân xưa và lịch sử xây dựng ngôi nhà

Làng Đại Điền xưa nổi tiếng là vùng đất trù phú có nhiều người giàu có, trong số đó có những người mà đến nay vẫn được người dân trong làng nhắc đến như Đốc Phủ Kiểng, Phó Hoài, ông Hương Liêm… Qua một thời gian dài với biến động của thời cuộc, cơ ngơi của các nhân vật trên không còn lại gì, chỉ duy nhất ngôi nhà của ông Hương Liêm là vẫn tồn tại như một bằng chứng về thời kỳ vàng son của chủ nhân nó khi xưa.

Ông Hương Liêm có 6 ngôi nhà gồm một ngôi nhà chính là nơi thờ cúng và nghỉ ngơi của ông bà, 5 ngôi nhà phụ được bố trí hai bên và phía sau để làm nơi sinh hoạt, nhà kho, nhà xay lúa, nhà cầu. Cổng và các ngôi nhà phụ đã bị hư hỏng hoàn toàn, dấu tích còn lại chỉ là những thềm đá. Ngôi nhà hiện còn mà người dân trong vùng thường gọi là nhà ông Hương Liêm hay Huỳnh Phủ, là ngôi nhà chính cũng là ngôi nhà lớn và đẹp nhất bấy giờ. Căn cứ vào bức hoành phi mừng tân gia cho họ Huỳnh do tri huyện Bảo An họ Võ tặng vào năm Giáp Thìn và các dòng chữ ghi trên khán thờ ông bà Huỳnh Ngọc Khiêm thì ngôi nhà được hoàn thành trước năm 1904 (Giáp Thìn), vì năm 1904 là năm tổ chức tân gia và hai năm sau đó 1906 (Bính Ngọ) phần nội thất thờ tự mới thực hiện. Như vậy, ngôi nhà được xây dựng khoảng cuối thập niên 80 hoặc đầu thập niên 90 của thế kỷ XIX.

Bộ cửa chính

Thợ làm nhà là những người thợ ở Miền Trung vào, nơi vốn nổi tiếng với nghề chạm khắc gỗ từ lâu đời. Các thợ mộc được tính tiền công mỗi ngày bằng hình thức đong dăm bào bằng chén ăn cơm. Ông vốn là người tỉ mỉ nên dù giá công cao nhưng thợ không được làm quá 1 chén dăm bào một ngày vì như vậy cho là làm dối. Theo lời kể phải hơn 13 năm ngôi nhà mới xây dựng xong. Nhìn các công trình chạm khắc gỗ dày đặc và tỉ mỉ ở nội thất, chúng ta thấy thời gian xây dựng kéo dài là hoàn toàn hợp lý. Khi mà ở thời điểm bấy giờ toàn bộ từ các chi tiết nhỏ như tiện, đục, bào, chạm đều được làm bằng thủ công.

Nét đẹp chạm khắc của ngôi nhà

Bao lam hàng cột trước khám thờ

Huỳnh Phủ là một trong những công trình kiến trúc nhà ở bằng gỗ đẹp mang phong cách nghệ thuật nhà Nguyễn và được xếp vào loại di tích kiến trúc nghệ thuật. Qui mô xây dựng khá lớn nhưng phần chạm khắc trang trí cho ngôi nhà mới là phần có giá trị nhất.

1. Qui mô kiến trúc ngôi nhà:

Qui mô kiến trúc ngôi nhà hiện còn gồm ngôi nhà chính có diện tích 244,77m2 với một căn phụ bằng gạch nối liền ở góc phải. Nhìn từ bên ngoài và theo các hàng cột phía trước của ngôi nhà ta thấy có chín gian, nhưng thực ra đây là ngôi nhà ba gian được mở rộng ra bốn phía mà thợ mộc xưa ở Nam Bộ gọi là “Nhà tám đấm, tám khuyết” – một kiểu nhà rất to ngày xưa và chỉ có những người thật sự giàu có mới có khả năng xây dựng. Nhà xây dựng trên nền cao 0,7m chung quanh được kè đá xanh, thềm cũng được viền bằng những thanh đá xanh. Vách và hàng cột ngoài cùng làm bằng vôi gạch, nhưng nội thất và sườn nhà làm bằng các loại gỗ có giá trị cao như: gỗ lim, thau lau. Nhà có 80 cây cột (48 cột gỗ và 32 cột gạch ở hàng thứ tư) làm theo kiểu nhà xuyên trính (nhà rường ở Huế) với hai hàng cột cái gồm 8 cây – còn gọi là đại trụ – đứng song song nhau. Các cây cột cái cao trên 5,5m có chu vi 1,2m được gắn kết với nhau từng cặp theo chiều ngang bởi các cây trính và theo chiều dọc mỗi hàng có một thanh gỗ dài xuyên qua 4 cây cột. Mái lợp ngói âm dương, bên dưới là lớp ngói có hoa văn. Hai đầu song được xây kín và trang trí hình một bông hoa 4 cánh rất sắc xảo.

2. Trang trí chạm khắc của ngôi nhà:

Hình trang trí được chạm khắc khắp nơi trong nhà, từ vì kèo, khung cửa, bao lam tới vách ngăn. Các tấm chạm đã đạt tới trình độ cao của nghệ thuật chạm khắc gỗ. Bên cạnh các đề tài truyền thống thể hiện ước vọng về sự trường tồn, thanh tao, quyền quí là các hoa văn chạm khắc theo xu hướng tả thực với sự quan sát diễn tả rất sinh động các đối tượng miêu tả. Đầy hơn trong không gian chạm khắc này là các vật dụng đồ gỗ, nó cũng được đóng cùng lúc và cho riêng căn nhà với sự chạm khắc tỉ mỉ, cầu kì, cẩn ốc xà cừ như bàn, ghế, trường kỷ, bàn thờ…

Vách tường được tạo bởi ô hộc và chấn song Chi tiết cánh cửa Quấn thư trên đầu cột

Phần chạm khắc trang trí đầu tiên là các bộ phận kiến trúc như vì kèo, đầu kèo, cuối đuôi kèo, đuôi kèo đòn tay, cột, xuyên, trính rất công phu và sắc xảo… và trên cả những cái đố sát nền nhà cũng được chạm trổ, điều thật khó tìm thấy ở các ngôi nhà rường cổ khác trên nhiều địa phương trong  cả nước.

Gần như các kèo của ngôi nhà đều được chạm trổ. Kèo chạm ít thì chạm ở đầu kèo như chạm nổi hình đầu rồng theo lối hoa lá hóa long, hoặc một chùm trái lựu. Kèo chạm nhiều thì chạm kín hai mặt kèo, hoa văn được chạm sinh động  như các loại trái cây Nam Bộ, với các con vật gần gũi như chuột, chim… các loại hoa lá như  dây leo, dưa hấu, hoa mẫu đơn, cúc cùng các vật dụng như cuốn thư, đàn tỳ bà. Từ hàng cột thứ ba ra hàng cột thứ tư là những thanh gỗ nhỏ, mỏng hơn làm dạng đầu rồng đuôi phụng; phần cạnh trên có hình cong gợn sóng, phần lõm xuống là nơi các cây đòn tay đi qua, tạo vẻ đẹp thanh thoát mà chắc chắn cho các cây đòn tay. Đặc biệt, gần cuối đầu kèo nơi giao với đầu cột hàng tư, mỗi cây được chạm hình một trong các tứ linh với phong cách đặc trưng của Huế gồm sen hóa quy, Phật thủ hóa long, mai hóa lân, cúc hóa phượng. Cùng sự xuất hiện họa tiết hoa văn ngũ phúc (5 con dơi) hay các vật trong bát bửu : bút, cuốn thư, bầu rượu, đoản đao… được cách điệu. Đây là những đề tài dân gian truyền thống, thể hiện sự mong muốn của người xưa về hạnh phúc. Các hoa văn chạm nổi theo kiểu đối xứng hai mặt của từng cây kèo, đối xứng kèo mái nhà trước và kèo mái nhà sau, đối xứng góc.

Khám thờ

Nhà có hai lớp vách gọi là vách đôi, lớp ngoài là tường, bên trong là vách gỗ. Phần trang trí nội thất chạm khắc tập trung ở lớp vách gỗ bên trong bao quanh năm gian nhà: 3 gian chính ở giữa và 2 gian phụ hai bên. Hoa văn ở các cửa, vách được đục chạm trong các ô lớn nhỏ hình vuông hoặc hình chữ nhật có khung viền gọi là trám hay ô hộc. Các trám hình chữ nhật được đặt nằm hoặc đứng xen với các trám suông tạo nên sự hài hòa, vui tươi cho mặt vách. Các ô hộc được trang trí hoa văn chìm nằm sâu trong khung viền, chạm lộng trang trí hoa văn lồi lên bằng mặt khung viền được sử dụng cho chạm nổi. Hoa văn chạm trên vách khá phong phú như hoa sen, khế, đào lộn hột, lựu, mãng cầu… cùng các con vật như lân, sóc cùng các đồ án dây hóa long, mai hóa long, bách điểu, cá hóa long, dưa hấu hóa phụng. Trong các trám còn sử dụng hình chạm lộng chữ Hỷ, Phúc và chữ Thọ.

Các trám ở phần khuôn sáo được chạm lộng để thông gió và lấy ánh sáng từ bên ngoài. Trám chữ nhật được lộng chữ rất tinh xảo hoặc chấn song to nhỏ đều đặn, thưa, dày khác nhau tạo sự thay đổi dễ chịu về thị giác. Còn các trám vuông lộng chữ hoặc hình các loại trái cây có bố cục đẹp mang tính địa phương như mãng cầu, bưởi, khế, măng cụt, điều chen giữa các bản chạm hoa hồng, hoa cúc…

Bốn cây cột cái phía ngoài và các cột ở năm cửa trước đều có liễn áp cột. Các liễn được viết bằng chữ Hán với hình thức đa dạng  chữ lồng trong hoa lá, tranh và chữ “nhất họa nhất thi”, hoa lá nằm trong chữ và được bố trí đối xứng theo từng gian, chữ và hoa văn được cẩn xà cừ tỉ mỉ, công phu và khéo léo. Phần vách từ xuyên trở xuống có các hoa văn đa dạng nhất. Tùy theo mỗi cửa hoặc mỗi vách mà hoa văn được thể hiện khác nhau theo khung bao với các đố ngang, đố dọc. Hoa văn trang trí trên khung cửa chạm nổi xen với cẩn ốc xà cừ. Cửa giữa là cửa lớn nhất có hình cánh cung, khung cửa và kỷ đều có chạm trổ cầu kỳ văn hoa dây,  tổ ong, cuốn thư. Trên cao là tấm biển “HUỲNH PHỦ” viết bằng chữ Hán theo lối đại tự được sơn son thếp vàng. Phần khung được chạm nổi kiểu truyền thống hoa dây, cuốn thư và tổ ong. Phần giữa đố dọc trang trí hoa văn chạm nổi xen kẽ với hoa văn cẩn xà cừ rất tinh tế. Dọc hai bên là mô típ hoa lựu, tùng lộc, mai điểu, bướm, phía trên là hoa dây leo, lựu, dơi, đàn tì bà được chạm khắc theo lối cách điệu. Các hình ảnh quen thuộc của mẫu đơn, sen, hạc, bách điểu, dơi, cá, lựu hóa cá, lựu hóa rồng hoặc phụng và các hoa văn hoa lá có cẩn xà xừ làm tăng thêm vẻ đẹp của cửa. Phần hai góc phía ngoài cánh cung chạm trổ mai trĩ, mai lan duyên dáng, uyển chuyển rất đẹp mắt. Đố ngang chia phần trên của khung bao lam làm 3 tầng; giữa phần này có một trám vuông lớn được chạm 3 con lân đang nhảy múa dáng rất động. Hoa văn các trám chữ nhật nhỏ được lộng chữ Thọ (kiểu Hán tự). Các trám còn lại được chạm trổ rất điêu luyện, khối của các mô típ rất cao, nét khắc trau chuốt,  gần như tả thật các con vật gần gũi như tôm, cua, cá, xen cây cỏ. Còn cửa gồm 4 cánh rất dày, làm tbeo kiểu chuỗi dưới là trám chạm nổi sen – vịt – ếch và sen – chim – cá – lúa đối xứng ở hai bên, cảm nhận về thiên nhiên trù phú.

Giống như phần cửa giữa, cửa hai gian hai bên đều chạm trổ phức tạp. Phần giữa của các đố trong có các hoa văn chạm nổi như dây dưa hấu, sóc, chim, nho, bướm… các dây nho và dưa hấu được chạm nối quấn nhau và đều được hóa rồng, hóa phụng. Các ô hộc xen kẽ nhau bằng những hình vuông, chữ nhật đứng, nằm chạm nổi các mô típ hoa văn như lân, phụng, dây leo xen kẽ với các hoa văn cẩn xà cừ. Ở chân là bình hoa mẫu đơn, hai bên là mai – lan – trúc – điểu với thân mai được chạm hình rồng (mai hóa long) duyên dáng, tỉ mỉ. Hai góc ngoài chữ U chạm một chùm quả lựu cách điệu. Cửa vào hai gian phụ làm theo kiểu “thượng song hạ bản” có khung bao bên ngoài được trang trí các hoa văn chạm nổi dày đặc, sinh động như: hoa lan, lựu, dưa hấu,… xen kẽ với các hoa văn cẩn ốc xà xừ, khoảng giữa là các song tiện hình chuỗi. Riêng khu hình vòng nguyệt được trang trí các mô típ hoa văn dây hóa long, hoa mẫu đơn – chim trĩ, dưa hấu hóa long, sóc… Các ô hộc được chạm nổi hai lớp rất công phu với hình loan, phượng vờn mây.

Vách và gian cửa bên, sự kết hợp giữa các ô hộc và chấn song. Các đồ án được chạm trổ và cẩn ốc

Các cửa đầu song có hình cánh cung kích thước giống như cửa hai gian chính thức phía trước nhưng hoa văn trang trí khác nhau. Các trám vuông to nhất ở đố ngang phía trên chạm hình lân (cửa trái), hình long, phụng (của phải) các trám chạm nổi rất sắc xảo, các loại cây trái xen với chạm lộng các chữ Vạn và chữ Phúc. Phần khung cửa ở các đố dọc, đố ngang được chạm đục hoa văn đủ loại. Ba gian thờ chính là nơi trang trọng nhất của ngôi nhà nên tất cả hoa văn câu chữ trang trí đều được sơn son thiếp vàng hoặc cẩn xà cừ. Bốn cột cái có bao lam cột bao quanh với thủ quyển ở đầu và liễn áp cột, trên khuôn sáo ở ba gian thờ chính treo ba bức hoành: Gian giữa “HIẾU ĐỆ TRUNG TÍN”, bên phải “THỌ NAM SƠN”, bên trái “LAN QUẾ PHƯƠNG”. Bao lam cột có khung bao bên ngoài, phía trên là các trám, dọc hai bên khung bao lam các hoa văn được chạm nổi theo từng cụm dạng tứ quý: Mai – Lan – Cúc – Trúc, chân khung bao lam có kỷ gỗ kê chân áp cột hình nửa chiếc độc bình, miệng bình là đĩa ngũ quả: lựu, điều, khế hoặc đào tiên, xoài; thân bình chạm nổi hình hoa mai, cúc, trúc.

Hoa văn ở khám thờ của mỗi gian mang tính chất khác nhau nhưng đều trang trí phức tạp. Bao lam cột chạm nổi cầu kỳ, hình lưỡng long chầu nhật, hai bên lan – bách điểu (gian giữa); chạm hình mai hóa long, chuột – quả – lựu, sóc – hoa lan (gian bên phải); bao lam giữa là cuốn thư mở, hai bên bao lam là đơn trĩ cùng với chuột – hoa lan (gian bên trái). Liễn áp cột ở hai cột gian giữa là 24 bức tranh minh họa được chạm và cẩn ốc xà cừ về truyện Thập Nhị Tứ Hiếu. Mỗi bức tranh có 3 câu thơ gồm 20 chữ trích trong sách “Nhị Thập Tứ Hiếu”. Khám thờ làm hai lớp kiểu long trụ chạm hình tứ linh, chân long trụ chạm hình lân, trên đỉnh là hình lưỡng long chầu nhật, dọc theo bao lam hình quy, phụng và hoa lan. Hoặc chạm hình loan phượng chầu nguyệt ở trên đỉnh, hai bên chạm long giáng, hoa mẫu đơn – trĩ; cúc – trúc; tùng lộc; mai – lan…

Tùy theo kiểu chạm khắc mà hoa văn khác nhau, hoa văn chạm lộng, ngoài lọng hình còn có lọng chữ (Hán tự) hoặc  song; chạm lưới với hoa văn hình tổ ong. Đặc sắc và công phu nhất là hoa văn ở các trám với kiểu chạm nổi hai lớp, lớp bên trong có hình chữ thập, hình mắt lưới, hình tròn, hình cánh hoa… lớp này làm nền cho lớp hoa văn chạm nổi bên ngoài. Hoa văn ở từng mảng không đơn thuần mà thường là kết hợp các loài động thực vật trong cùng một chủ đề: sen – vịt – ếch, chim – sen, chim – gà – hoa cỏ; mai – đào… Điều làm cho các hoa văn trang trí hấp dẫn sinh động là dù cùng một chủ đề nhưng các nghệ nhân đã thể hiện chúng ở các tư thế khác nhau, không có sự trùng lắp ngay cả trong cùng mảng trang trí. Hai con cùng loại trong một trám được làm ở tư thế ẩn hiện hoặc đối nghịch nhau như cua một con nằm úp, một con ngửa; chim, chuồn chuồn, bươm bướm: con bay, con đậu. Có nơi các con thú được thể hiện ẩn trong cây lá, chim chóc treo lơ lửng trên cành, luồn lách qua những cây trái thật sinh động.

Đồ án trang trí còn thể hiện sự phóng khoáng của các bậc thầy tài hoa trong việc kết hợp đề tài dân dã là các loài động thực vật quen thuộc với cuộc sống hàng ngày của cư dân địa phương như chuồn chuồn, lựu cá, chim, mãng cầu… xen với các đề tài theo khuôn mẫu đã có tứ linh; tứ quý, tứ thời. Các mô típ phương Tây cũng xuất hiện một cách nhuần nhuyễn như hoa hồng, nho, sóc, chuỗi ngọc. Đây là một di tích kiến trúc có nhiều yếu tố mỹ thuật quý giá, đánh dấu một giai đoạn trong lịch sử trang trí của mỹ thuật truyền thống Việt Nam tại Nam Bộ.

Phạm Thanh phương

Ảnh trong bài: Nguyễn Thành Công

Tài liệu tham khảo:

[1]- Bảo tàng Bến Tre : Lí lịch di tích.
[2]- Tạp chí “Kiến trúc nhà đẹp” số tháng 7 năm 2002.
[3]- Qua lời kể của ông Huỳnh Ngọc Chất, 74 tuổi cháu đời thứ 5 của ông Huỳnh Ngọc Khiêm và ông Tô Quang Minh 80 tuổi – cháu rể đời thứ 5 của ông Huỳnh Ngọc Khiêm.

* MỤC LỤC –  TÀI LIỆU VỀ DI SẢN NHÀ – KIẾN TRÚC CỔ 

Read Full Post »

« Newer Posts - Older Posts »