Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘bảo tồn’

Bảo tàng gốm sứ mậu dịch Hội An – Địa chỉ: Số 80 Trần Phú, Hội An.

Được xây dựng từ năm 1995, lưu giữ trên 430 hiện vật gốm sứ có niên đại từ thế kỷ 8 đến thế kỷ 18. Được xây dựng vào năm 1995, bảo tàng lưu giữ trên 430 hiện vật gốm sứ có niên đại từ thế kỷ 8 đến thế kỷ 18. Hầu hết các hiện vật là gốm sứ mậu dịch có nguồn gốc từ Trung Cận Đông, Ấn Độ, Trung Hoa, Nhật Bản, Thái Lan, Việt Nam… minh chứng cho vai trò quan trọng của thương cảng Hội An trong mạng lưới mậu dịch gốm sứ trên biển vào các thế kỷ trước, đồng thời cũng cho thấy quan hệ giao lưu văn hoá- kinh tế quốc tế đã từng diễn ra rất mạnh mẽ ở Hội An.

Hình chụp do Khanhhoathuynga thực hiện…

Hội An là một thành phố trực thuộc tỉnh, được thành lập ngày 29 tháng 1 năm 2008 theo Nghị định số 10/2008/NĐ-CP[1] của Chính phủ Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hội An hiện nay đã được công nhận là đô thị loại III, trực thuộc tỉnh Quảng Nam.

 

MỤC LỤC – MỘT SỐ BỘ SƯU TẬP GỐM SỨ

Advertisements

Read Full Post »

Viết bởi Triệu Thế Việt
chuaphattichphatadida.jpgNhìn dọc theo các mốc thẩm mỹ nước nhà thì thẩm mỹ thời Lý là mốc thẩm mỹ thứ hai sau thẩm mỹ Đông Sơn, nhưng về thiết chế xã hội là thời kỳ nhà nước quân chủ trung ương tập quyền độc lập đầu tiên. Do những yếu tố lịch sử đương thời cũng như thừa hưởng cái gốc sâu bền từ những thời đại trước mà ở thời Lý đã hình thành nền văn hóa đa dạng, nhiều chiều.Khi ta ngắm nhìn chu vi tượng để cảm nhận về luân hồi, dáng ngồi tĩnh tọa gợi lên sự an lành nơi thần thái, phiêu sái trong nếp áo mỏng nhẹ, vẻ tròn trĩnh dưới làn nét mà điểm tụ của chúng chạy hút vào hư vô, cuốn ta vào suy tư về thân phận con người. Cái khoáy áo phía sau lưng, bên tay phải thực là đột hứng ngoài niêm luật như tiếng cười sảng khoái của nghệ sĩ sau chuỗi dài hóa hồn vào thân Phật. ánh sáng ngưng đọng hòa điệu cùng khối làm tâm tư ta tìm thấy nhịp độ bình tĩnh và an lạc, đôi môi nồng nàn cuộc sống kia như hứa hẹn một nụ cười hoan hỷ sẽ mãn khai làm ta bâng khuâng biết bao hy vọng. Những cảm xúc ấy từ đâu mà có? Nếu không có tình cảm như cơn gió làm gợn lên những làn sóng xúc cảm trên mặt hồ tâm thức, hình tướng của tượng đòi hỏi được tắm mình trong tình cảm. Tác phẩm đã tiếp biến Rupa và Bhava trong Sadanga chính là quá trình tinh thần hóa cái đẹp.BẢO TỒN VÀ TIẾP BIÊN VĂN HÓA THỜI LÝ QUA TƯỢNG PHẬT CHÙA PHẬT TÍCH


Triệu Thế Việt

1. Bảo tồn bản sắc của văn hóa thời Lý

Bằng yếu tố Mẹ qua tượng Phật chùa Phật Tích (1)

Nhìn dọc theo các mốc thẩm mỹ nước nhà thì thẩm mỹ thời Lý là mốc thẩm mỹ thứ hai sau thẩm mỹ Đông Sơn, nhưng về thiết chế xã hội là thời kỳ nhà nước quân chủ trung ương tập quyền độc lập đầu tiên. Do những yếu tố lịch sử đương thời cũng như thừa hưởng cái gốc sâu bền từ những thời đại trước mà ở thời Lý đã hình thành nền văn hóa đa dạng, nhiều chiều.

Nét khái quát lớn nhất là văn hóa thời Lý giải Hoa để trở về với văn hóa Đông Nam Á vốn chung sống từ thuở Đông Sơn. Một trong những yếu tố văn hóa bản địa của người Việt nói riêng và của vùng văn minh lúa nước nói chung là tín ngưỡng thờ Nữ thần, thờ Mẹ. Ở tục thờ nữ thần, tín ngưỡng Mẫu của người Việt, hình ảnh Mẹ âu Cơ, mẹ Gióng, Phật Mẫu, các bà Tứ Pháp, hệ thống Mẫu… hình tượng nữ tính là hình tượng hằng xuyên trong văn hóa Việt, thẩm mỹ Việt.

Đối với thẩm mỹ thời Lý, yếu tố Mẹ hiện diện trên tượng Đức Phật thanh cao, bao dung và mát lành. Ngắm gương mặt thanh tú của tượng Đức Phật, có thể thấy sống mũi rất thoát với các nét mày, khóe mắt, bờ môi của nữ tính, vẻ kín đáo trong từng lớp áo dịu dàng, dáng hình mảnh mai, đôi bờ vai xuôi nhẹ tảo tần với cổ kiêu ba ngấn đến là duyên kia làm ta thấy tha thiết cái tình bao la của Mẹ Việt.

Bằng phương pháp tạo hình Việt qua tượng Phật ở chùa Phật Tích

Dù thẩm mỹ thời Lý vẫn tựa vào tiêu chuẩn không gian ba chiều của điêu khắc thế giới nhưng vẫn thản nhiên gắn với phương pháp tạo hình ước lệ vốn là lề lối từ thưở tiền Đông Sơn cho mãi đến nghệ thuật đình làng Ước lệ là cách ứng xử tạo hình rất riêng của người Việt.

Ngay từ cái nhìn đầu tiên, ta đã có thể cảm nhận rằng chiều chính diện của tượng một cái nhìn ôm choán lấy tổng thể mà dường như quên đi tỷ lệ mặt nghiêng có phần bị lép đi, vơi đi cái thân hình quá mảnh của tượng Đức Phật. Ta nhận thấy, về tỷ lệ, dường như vô lý ở đâu đó dăm ba chi tiết nhỏ, ước lệ mà không giả định, nó đủ đầy để đem lại hợp lý trong cấu trúc tổng thể.

Bằng sự từ chối những yếu tố văn hóa không phù hợp của văn hóa Ấn

Văn hóa Ấn Độ đồng nhất thần thánh với con người, bao gồm cả tu hành và tham vọng, thánh thiện và nhục cảm. Ở tạo hình, chất nhục cảm cứ rung lên khao khát theo từng làn cơ bắp nhỏ nhất, những người đẹp hoan hỷ lõa thể với một chút e lệ Á Đông, cho ta có cảm giác nhân vật đang do dự giữa nhục cảm, bản năng gốc và tiết hạnh, nết na, những khát khao cứ cồn cào trong đời sống âm thầm của đá, mong mỏi xóa đi cái lằn ranh nhọc nhằn giữa thiêng liêng và trần tục. Ở tư duy tạo hình Ấn Độ nhục cảm là mẫu số chung, nhưng điều đó đã bị gạt một cách cương quyết ra khỏi nhận thức thẩm mỹ của người Việt. Quả là cách ứng xử sòng phẳng.

Tượng Đức Phật ở Phật Tích không thuộc về trần thế, nó thuộc thế giới thiêng liêng của lòng mộ đạo, cảnh giới thanh tịnh và siêu nhiên, ý niệm cao thượng, biểu tượng của đỉnh cao chân lý, đạo đức và giải thoát. Cái đẹp của tượng Đức Phật ở Phật Tích là biểu tượng thẩm mỹ thời Lý, đó là sự cao cả, phi phàm và lý tưởng hóa.

Bằng sự từ chối những yếu tố văn hóa không phù hợp của văn hóa Hoa

Dù khôn khéo thế nào, dù đề tài Phật giáo có từ bi và minh triết vô tận thì uy lực của đế chế Hán – Đường và tinh thần tuyệt đối hóa Trung Hoa vẫn đẩy các vị Phật trong hang Đôn Hoàng đến cái đẹp hốt hoảng, xô đẩy tâm thức con người tuân theo và quy phục Đức Phật như quy phục trước quyền lực của đế chế, suy cho cùng, đó là nỗi sợ hãi truyền kiếp của con dân hèn mọn trước uy lực của vương quyền.

Văn hóa thời Lý từ chối tiếp nhận và đối lập lại với uy quyền, nam tính của các vị Phật Đại Đường, tượng Đức Phật ở Phật Tích đến với chúng sinh bằng lòng yêu thương và che chở bao la của tình Mẹ, bằng cái đẹp thanh tao và xinh xắn, đó là cuộc đối thoại âm thầm trong tâm thức để con người tìm về bản chất người trong tâm mình (Minh tâm kiến tính).

Văn hóa thời Lý giữ gìn độc lập quả là khôn khéo. Trong lúc đó, văn hóa Nhật Bản đôi khi trở thành đoạn kéo dài của thẩm mỹ Trung Hoa, văn hóa Champa mang nặng thẩm mỹ văn hóa của Ấn Độ suốt một thời gian dài. Ngay bản thân văn hóa ấn Độ đồ sộ và vĩ đại như vậy, trong những khúc ngoặt của lịch sử cũng không thể cưỡng lại sự quyến rũ ở cấu trúc hấp dẫn của thẩm mỹ cổ điển Hy Lạp.

Sự bảo tồn những yếu tố văn hóa của dân tộc đã tạo cho văn hóa thời Lý khả năng chống lại sự nô dịch của các vùng văn hóa lớn mà vẫn tiếp biến những yếu tố tinh hoa, có lợi cho sự phát triển của văn hóa Việt.

2. Giá trị tiếp biến văn hóa của tác phẩm

“Không một nền văn hóa nào đứng chơ vơ trước lịch sử như một hòn đảo, sự giao thoa văn hóa là lẽ tự nhiên và rất nhân loại” (2).

Sự giao thoa là lẽ tự nhiên nhưng tiếp nhận yếu tố văn hóa tinh hoa của nền văn hóa khác (yếu tố ngoại sinh) và Việt hóa chúng để phù hợp với văn hóa dân tộc (yếu tố nội sinh) là đặc thù của văn hóa thời Lý.

Tiếp biến văn hóa với văn hóa Trung Quốc

Phong cách diễn tả tà áo của tượng Đức Phật ở Phật Tích là đem lại cho đá một đời sống của vải mềm, đủ mềm chứ không quá mềm và xô lệch tới rối mắt như ở tượng hang Phật Cười, Triết Giang. Nó cho ta thấy sự tiếp thu nghệ thuật Trung Hoa ở thời này là ít. Mặc dù, trong lịch sử, văn hóa Trung Hoa đã cưỡng bức người Việt phải tiếp nhận, nhưng ở thời kỳ này tinh thần dân tộc đã khá rõ ràng và trong tiếp nhận có xu hướng giải Hoa để tìm về với văn hóa Đông Nam Á và văn hóa gốc Ấn Độ.

Tiếp biến văn hóa với văn hóa Ấn Độ

Sự tiếp biến văn hóa Ấn Độ ở nghệ thuật thời Lý là thừa hưởng từ giai đoạn trước, với thái độ tự nguyện từ hai phía, mà hệ thống Tứ Pháp với các chùa Dâu, Đậu, Dàn, Tướng là minh chứng cho sự tự nguyện giao thoa Việt – Ấn.

Ở tác phẩm này, thoạt nhìn những đường nét nổi ở nếp áo trên thân tượng, chúng tôi không muốn nhắc lại ý kiến của nhiều người khác là giống gân lá sen, cảm nhận đầu tiên của chúng tôi là những đường gân đó thật gần gũi với tượng Phật và phù điêu chạm nổi ở nghệ thuật Gandhara thời kỳ Kusshan – Ấn Độ (TK II).

Nhưng để nói rằng tượng Đức Phật ở Phật Tích giàu chất Ấn, thì chất Ấn ôm trùm lên tổng thể lại là tư tưởng của bộ thư tịch thẩm mỹ, nghệ thuật vĩ đại Sadanga của Ấn Độ.

Sadanga, gồm sáu chuẩn của thẩm mỹ Ấn Độ cho đến nay vẫn là ẩn số về xuất xứ và tác giả, ngay Tagore là người giới thiệu và bênh vực bản quyền thuộc Ấn Độ của Sadanga cũng không làm sáng tỏ được ẩn số kia dù văn minh sông Hằng, sông ấn đã chứa đựng nó từ rất lâu. âu cũng là bí mật của lịch sử,

Rupa Bhêda, khoa học về hình tướng, là chuẩn mực quan trọng hơn cả trong sáu chuẩn mực, cũng như trong tác phẩm này, là thể hiện toàn vẹn sự đồng nhất giữa nội dung và hình thức; là khoa học toàn diện về hình thức (vật chất) và sắc tướng (thần thái- tinh thần).

Nếu nghệ sĩ tiếp cận với sự vật mà chỉ ở bên ngoài sự vật một cách vật chất, vốn chỉ chứa chất những đổi thay nông nổi, giả tạm, là người nghệ sĩ chưa nắm chút gì sự thật cả, vì thần tướng bên trong mới là sự sống của tác phẩm bởi nó hàm chứa tư tưởng, thần thái là giá trị vĩnh cửu và siêu việt. Cho nên, Sadanga đã chỉ rõ, thưởng thức và sáng tạo nghệ thuật đều bằng tâm. Đối với phương Tây khái niệm tâm là khái niệm ngông tưởng và mờ nhạt nhưng đối với người phương Đông, tâm là tư tưởng vô hạn, là thái độ sống và triết lý về cái chết – nó vượt ra ngoài lẽ tử sinh.

Rupa ở tượng Đức Phật ở Phật Tích là cảm nhận bằng tâm thức cái hình bên ngoài và cái tướng ở bên trong. Nghệ sĩ sáng tạo tượng Đức Phật ở Phật Tích tiếp thu Rupa của Sadanga ở cả hai chiều, bên trong và bên ngoài của hình tướng.

Bhava, tình cảm với hình tướng. Thẩm mỹ Ấn độ và tượng Đức Phật ở Phật Tích đều có điểm chung là hướng nội. Nhận thức nghệ thuật không phải là chiếm đoạt bằng vật chất của tác phẩm mà là hòa vào bên trong nó bằng tình cảm và xúc động, thức tỉnh bản chất người trong ta, tác động tình cảm lên hình tướng. Ở đây, đỉnh cao của thưởng thức và sáng tạo là tâm thức con người hòa vào tác phẩm để ngân lên bản tình ca nhân loại. Nhưng khi tâm ta đạt đến thanh tịnh, trong sáng và phẳng lặng như mặt hồ nước, thì tình cảm lại là trạng thái khơi dậy cảm xúc thẩm mỹ, không có tình cảm tác động thì tâm cứ im lặng và trống không. Muốn tiếp cận được điều này, trước hết tình cảm của chúng ta không bị đáng lừa bởi biểu hiện nông nổi bên ngoài sự vật, lại không bị một trạng thái tâm lý cực đoan nào chi phối.

Khi ta ngắm nhìn chu vi tượng để cảm nhận về luân hồi, dáng ngồi tĩnh tọa gợi lên sự an lành nơi thần thái, phiêu sái trong nếp áo mỏng nhẹ, vẻ tròn trĩnh dưới làn nét mà điểm tụ của chúng chạy hút vào hư vô, cuốn ta vào suy tư về thân phận con người. Cái khoáy áo phía sau lưng, bên tay phải thực là đột hứng ngoài niêm luật như tiếng cười sảng khoái của nghệ sĩ sau chuỗi dài hóa hồn vào thân Phật. ánh sáng ngưng đọng hòa điệu cùng khối làm tâm tư ta tìm thấy nhịp độ bình tĩnh và an lạc, đôi môi nồng nàn cuộc sống kia như hứa hẹn một nụ cười hoan hỷ sẽ mãn khai làm ta bâng khuâng biết bao hy vọng. Những cảm xúc ấy từ đâu mà có? Nếu không có tình cảm như cơn gió làm gợn lên những làn sóng xúc cảm trên mặt hồ tâm thức, hình tướng của tượng đòi hỏi được tắm mình trong tình cảm. Tác phẩm đã tiếp biến Rupa và Bhava trong Sadanga chính là quá trình tinh thần hóa cái đẹp.

Như vậy, thông qua tượng Đức Phật ở Phật Tích, ta nhận thấy, sự bảo tồn và tiếp biến văn hóa đủ độ, đúng cách đã tạo ra văn hóa thời Lý những tinh hoa quý báu, chứng minh cha ông ta đã thành công trong quá trình hội nhập. Bài học đó dường như không chỉ là ngày hôm qua mà nó vẫn còn nguyên vẹn những giá trị cho hôm nay và mai sau.

Trích Văn Hoá Nghệ Thuật 4-2005

Chú thích

1. Tượng Đức Phật chùa Phật Tích ( Bắc Ninh), chất liệu đá, cao 184 cm không kể bệ tượng, TK XI. Có nhiều tài liệu gọi là tượng A Di Đà, theo văn bia chùa Phật Tích có ghi: Đức Phật mình vàng. Ở đây, chúng tôi gọi là tượng Đức Phật chùa Phật Tích.

2. Thái Bá Vân, Tiếp xúc với nghệ thuật, Viện Mỹ thuật xb, Hà Nội, 1995.

Các bài đã đăng :

 

 

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

Read Full Post »

 Nếu Hội An không còn phố cổ… 

 Hội An không còn là một phố thị đìu hiu sau khi trở thành Di sản văn hóa thế giới vào năm 1999. Nhưng vẻ sôi động, nhộn nhịp hàng ngày chỉ là bề ngoài, còn trong sâu thẳm, nỗi khổ của người dân sống trong lòng thành phố di sản cùng bao lo âu về sự hiện hữu, tồn vong của khu phố cổ vẫn còn đó…

“Phố cổ là phố khổ”, “Nhà cổ là nhà khổ”…, nhiều người đã từng nói thế về Hội An. Khổ vì luôn phải thường trực chống đỡ sự xuống cấp của các kiến trúc cổ: nhà ở, nhà thờ họ, đình, chùa, hội quán…, khổ vì phải tuân thủ những quy định bảo tồn của chính quyền địa phương, khổ vì không thể xoay xở được kinh phí để sửa chữa, để hoàn nguyên di tích. Nhưng người Hội An vốn có truyền thống thích ứng với những điều kiện sống nhiều biến cải trong diễn trình lịch sử mấy trăm năm, vì thế khi những giá trị văn hóa của đô thị cổ được thế giới tôn vinh thì việc phải giữ gìn cho được những giá trị ấy được họ xác định là lẽ sống còn. Từ năm 1997, bằng nhiều nguồn kinh phí, Hội An đã đầu tư hơn 66 tỷ đồng tu bổ 166 di tích, hỗ trợ hơn 5,2 tỷ đồng tu bổ 110 di tích, các gia đình cũng đã tự bỏ tiền tu sửa mỗi năm khoảng 200 ngôi nhà…
 
Với 9 năm là di sản văn hóa thế giới, thay thế một Hội An – “phố thị đìu hiu”, một Hội An – “thành phố dưỡng già” là một nhịp sống đô thị với gần 20.000 người dân đang sinh sống sôi động, bán mua nhộn nhịp hàng ngày. Nhưng đó là vẻ bề ngoài, còn trong sâu thẳm, “nỗi khổ” của người dân sống trong lòng thành phố di sản cùng bao lo âu về sự hiện hữu, tồn vong của khu phố cổ vẫn còn đó. Bão lũ là hiểm họa ngày càng rõ nét, đe dọa hàng năm. Bình quân mỗi năm khu phố cổ phải chịu đựng từ hai đến ba cơn lũ, mỗi cơn kéo dài ba, bốn ngày với lưu tốc dòng chảy ngày càng hung bạo. Trong cơn lũ lịch sử vào trung tuần tháng 11/ 2007 có hơn 900 di tích trong tổng số hơn 1.000 di tích bị xuống cấp do phải ngâm nước và chống chọi với dòng nước chảy xiết nhiều ngày.
Nhưng một dòng lũ âm thầm mà không kém phần nguy hiểm đang tàn phá từng kèo nhà, cột nhà… hàng ngày, hàng giờ là mối mọt, nấm mốc. Hầu hết các di tích đều đang xuống cấp, nhiều di tích xuống cấp nghiêm trọng có nguy cơ sụp đổ bất cứ lúc nào. Nguồn kinh phí tu bổ một di tích nhà cổ gấp ba, bốn, thậm chí gấp chục lần so với nhà bê tông hiện đại, trong khi nguyên vật liệu để tu bổ như gỗ nhóm I, nhóm II hay ngói âm dương… và những vật liệu truyền thống khác thì không phải muốn mua là có, việc khai thác rừng Quảng Nam đã bị nghiêm cấm, các lò nung vôi, gạch, ngói theo cách thức truyền thống cũng bị cấm hoạt động để bảo vệ môi trường.
Mới đây, tôi có đọc bản dự thảo cuốn phim tài liệu về sự nghiệp bảo tồn Hội An trong vòng 10 năm, từ trước khi Hội An được công nhận di sản văn hóa thế giới (năm 1999) tới nay. Một con số khiến tôi không khỏi bận tâm đó là trong vòng 10 năm qua, ở khu phố cổ đã có 83 trường hợp chuyển nhượng chủ sở hữu và 181 trường hợp cho thuê nhà, nghĩa là đã có 264 chủ những ngôi nhà di tích, tương đương với 3.000 cư dân phố cổ Hội An đã phải rời khỏi ngôi nhà của mình vì bán hoặc cho người khác thuê (hơn 80% số người mua nhà, thuê nhà chủ yếu làm cửa hiệu để kinh doanh). Tất nhiên, việc giãn dân ra vùng ngoại vi khu phố cổ để tránh áp lực do dân số gây ra cho di sản là cần thiết, đúng đắn; việc chuyển nhượng cho thuê nhà khi chủ nhân di tích không đủ điều kiện kinh tế sửa chữa nơi ở của mình là điều không tránh khỏi nhưng con số 3.000 cư dân phố cổ rời khỏi, ngôi nhà mà họ đã gắn bó cả đời, thậm chí từ nhiều đời, thì làm sao khiến lòng người không khỏi xót xa?
 

 

Những dãy phố cổ ở Hội An gần như còn được giữ nguyên vẹn

 

Ngôi nhà Hội An từ bao đời xưa đã là ngôi nhà để buôn bán, tất nhiên rồi, vì nơi đây từng là cảng thị sầm uất với những cửa hiệu lớn đã trở thành thương hiệu nổi tiếng trong nhiều thế kỷ, nhưng ngôi nhà Hội An trước hết vẫn là ngôi nhà để người ta ở trong đó, lấy vợ, lấy chồng, sinh con, đẻ cái… Một ngôi nhà gắn bó máu thịt khác hẳn một ngôi nhà chỉ thuần túy dùng để kinh doanh. Hãy thử vào một vài shop vải lớn đã đổi chủ sở hữu trong khu phố cổ, bạn sẽ không thấy vị trí bàn thờ tổ tiên, không thấy bếp, không thấy giếng trời… đâu nữa. Những vị trí linh thiêng như bàn thờ đã bị dời đi vì chủ nhân mới không ở đây nên không thờ cúng ông bà, họ cũng không nấu nướng ngày ba bữa nên chẳng cần tới bếp, sân trời cũng được che lại để tận dụng diện tích làm nơi bày hàng hóa. Cuộc sống với những người chủ mới đã thực dụng tới mức họ biến nhà bếp với bàn thờ ông Táo thành kho chứa hàng và tận dụng diện tích đến nỗi che luôn khoảng không gian “giếng trời” – vốn được coi là kiến trúc đặc trưng của nhà cổ Hội An.

Người Hội An có muốn bán nhà không? Tôi cho rằng phần đông không muốn. Nhưng họ vẫn phải bán, một phần do không thể lo liệu được tiền tu bổ theo đúng yêu cầu của bảo tồn di sản, phần khác do hiện nay nhiều ngôi nhà đang có quá nhiều chủ sở hữu, giá nhà lên khiến ai thấy cũng muốn đòi chia chác. Vài năm trước, ngôi nhà của ông Trần Sung ở số 98 trên đường Bạch Đằng được Nhà nước hỗ trợ 60% kinh phí tu bổ, tức là ông Sung đã phải bỏ ra 40% của số tiền vài tỉ để ngôi nhà có thể vững chãi như hiện nay. Nhưng sau đó, bốn chị em gái của ông đã đâm đơn kiện đòi chia nhà. Ông Sung đã phải trả tiền cho hết thảy bốn chị em ruột – dẫu từ lâu nay họ đều đã có nhà ở nơi khác. Số tiền đó lớn tới nỗi, cho đến nay, ở Hội An, có lẽ nhân vật như ông Trần Sung vẫn là trường hợp duy nhất có thể trả tiền cho các đồng sở hữu để trở thành chủ nhân duy nhất trong ngôi nhà của mình.

Hai vợ chồng ông La Vĩnh Diệu hiện đang ở ngôi nhà 16 Nguyễn Thái, ngôi nhà này không đứng tên ông. Ông sống ở đây, buôn bán và làm bổn phận của đứa cháu, trông coi nhà thờ tổ tiên. Ngôi nhà có tuổi đời hơn 150 năm nên nhiều phần đã xuống cấp. Thi thoảng bà con họ hàng cũng gửi tiền về nhưng chỉ đủ để tu sửa khu nhà thờ. Mỗi mùa lũ lụt, những người làm công tác bảo tồn Hội An đều đến nhắc nhở và phụ giúp vợ chồng ông chống đỡ nhà bằng những cột chống tạm để nó qua khỏi mưa gió…

Việc bảo tồn ở Hội An cũng không tránh khỏi có khi xảy ra chuyện lơ là hoặc sai sót về chuyên môn. May mắn là khi xảy ra điều đó, người ta đã kịp thời sửa sai. Tôi còn nhớ rất rõ sự quyết liệt của ông Nguyễn Sự – Bí thư Thành ủy Hội An trước những vi phạm trong bảo tồn, sửa chữa nhà cổ: “Với tốc độ vi phạm như hiện nay thì chỉ trong ba, bốn năm nữa chúng ta sẽ không còn phố cổ. Việc giữ gìn từng ngôi nhà, từng đầu hồi, vì kèo, mắt cửa… là vấn đề sống còn. Chúng ta phải quyết liệt, dứt khoát phải quyết liệt xử lý, tôi đã nói rồi, nhà nào lát nền gạch bông phải bóc nền ra, dán la phông trần phải bóc trần xuống, nếu xây lầu cũng phải đập lầu đi…”. Có những chủ cửa hiệu lớn sau khi mua hai, ba ngôi nhà cổ liền kề đã thông tường, đục vách để thuận lợi hơn cho việc kinh doanh nhưng sau đó, theo sự vận động của chính quyền, họ đã trả lại những vách ngăn, bức tường cho căn nhà để giữ lại vẻ đẹp kiến trúc vốn có của ngôi nhà cổ.

Tôi từng nghe về một dự định lớn của Hội An, rằng Hội An sẽ xin Chính phủ và vận động các nguồn vốn có được để mua lại những ngôi nhà cổ và sau đó, Nhà nước sẽ cho chính chủ nhân của ngôi nhà ở lại trong ngôi nhà ấy với giá cho thuê, mong muốn sẽ giữ lại được “chất Hội An” với “hồn phố”, “hồn người”. Để mua một ngôi nhà cổ loại đặc biệt sẽ tốn khoảng trên dưới chục tỉ. Giả sử, chỉ mua một trăm ngôi nhà thôi cũng tốn hàng ngàn tỉ đồng, quả là khó thực hiện, nhất là vào giai đoạn khủng hoảng kinh tế như hiện nay, nhưng nó cho thấy quyết tâm của người phố Hội. Trên thực tế, chính chủ những ngôi nhà cổ, đặc biệt là những người đã từng gắn bó cả đời, thậm chí nhiều đời với khu phố này, là những người có thể giữ gìn ngôi nhà và khu phố một cách tốt nhất. Dẫu biết dự định ấy có thể sẽ chỉ là giấc mơ, nhưng là một giấc mơ đẹp, cho chúng ta có quyền hy vọng…
Bài đăng trên trang vnciem.gov.vn
Hội An vẫn được xem như một bảo tàng sống
về kiến trúc và lối sống đô thị

Read Full Post »

Ứng xử tàn bạo với di tích

Chưa bao giờ và chưa ở đâu lại có sự ứng xử tàn bạo với di tích như thực tế hiện nay ở Hội Xá, thuộc nội thành thủ đô ngàn năm văn vật” – PGS-TS Trần Lâm Biền

Ngôi chùa mới xây không phép - Ảnh: Anh Tuấn

Ngôi chùa mới xây không phép - Ảnh: Anh Tuấn

Một ngôi chùa hơn 400 năm tuổi, được xếp hạng di tích cấp quốc gia, đang bị xuống cấp nghiêm trọng ngay giữa lòng thủ đô Hà Nội.

Chùa bị “làm mới”

Chùa Linh Tiên (thuộc làng Hội Xá, xã Hội Xá, huyện Gia Lâm cũ, nay thuộc P.Phúc Lợi, Q.Long Biên, Hà Nội) đã được Bộ VH-TT (nay là Bộ VH-TT-DL) xếp hạng di tích quốc gia từ năm 1995. Vào thời điểm đó, chùa còn lưu giữ được hệ thống kiến trúc (tòa Tam bảo) và hệ thống tượng, đồ thờ, chuông, bia niên đại trải dài từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 19. Đặc biệt, chùa có bộ tượng Tam thế Phật được đánh giá là “độc nhất vô nhị”. Theo hồ sơ xếp hạng di tích cấp quốc gia, bộ Tam thế này vừa mang nét phong cách nghệ thuật phương Nam, lại gần với nghệ thuật Ấn Độ. Tượng để hở nửa ngực, vai và cánh tay bên phải; các nếp áo uốn lượn mềm mại, thể hiện chiều sâu suy tư. Đài sen của cả 3 pho tượng đều mang phong cách nghệ thuật thời Mạc (nửa cuối thế kỷ 16 – nửa đầu thế kỷ 17). Tiếc rằng 9 năm trước, ba pho tượng Tam thế đặt trên ba bệ tượng đều đã bị đánh cắp.

Chùa Linh Tiên có kết cấu hình chữ “đinh” bao gồm Tiền đường (5 gian) và Phật điện. Nhưng đến nay, 3 gian phía bên trái của Tiền đường đã bị đổ sụp, chỉ còn lại 2 gian phía bên phải. Cửa phía trước của tòa Tiền đường thì chắp vá bởi những thanh gỗ khác nhau. Pho Khuyến thiện niên đại thế kỷ 19 bị bật cả đế lên và đổ nghiêng về phía sau. Pho Trừng ác phía bên phải lại đổ nghiêng về phía trước và bị gãy một cánh tay. 9 pho Thập điện Diêm vương thì ở các tư thế nghiêng ngả. Mùa mưa năm 2008, mái ba gian giữa cũng bị “thông thiên”, hệ thống tượng do bị mưa nắng xói mòn đã xuống cấp nghiêm trọng.

Điều đáng kinh ngạc là thay vì tu bổ, sửa sang ngôi chùa cũ, năm 2000 – 2001, nhà chùa và người dân trong vùng lại quyên tiền để xây mới một ngôi chùa cao 2 tầng bề thế. Tam bảo mới xây của ngôi chùa mới không tuân theo bất kỳ quy chuẩn nào. Công trình xây dựng không phép này đã vi phạm pháp luật hiện hành, lại nằm trong khu vực bảo vệ I (tức khu vực bất khả xâm phạm được ghi rõ trong hồ sơ xếp hạng di tích của Bộ VH-TT-DL), phá vỡ cảnh quan gốc, kể cả không gian hình thức và không gian tâm linh của chùa.

Mái của chùa Linh Tiên bị “thông thiên” mà chẳng ai quan tâm

Mái của chùa Linh Tiên bị “thông thiên” mà chẳng ai quan tâm

Chính quyền địa phương không có biện pháp ngăn chặn, chấn chỉnh, còn các chuyên gia Cục Di sản (Bộ VH-TT-DL) thì đến bây giờ mới biết “sự cố” này. “Chưa bao giờ và chưa ở đâu lại có sự ứng xử tàn bạo với di tích như thực tế hiện nay ở Hội Xá, thuộc nội thành thủ đô ngàn năm văn vật. Người ta truất ngôi của “ông già”, viết giấy khai tử cho ông, bằng cách đặt ngay sát ông một “thằng bé” vô hồn lai căng vô lối: chẳng phải Tây, không phải Tàu và chỉ “giả vờ” là Việt Nam”, PGS-TS Trần Lâm Biền (Cục Di sản, Bộ VH-TT-DL) thốt lên.

Tượng hộ pháp đổ nát

Tượng hộ pháp đổ nát

Đình cũng chẳng còn

Trong cuộc gặp với chính quyền và người dân Hội Xá mới đây, các nhà khoa học và quản lý di tích đều bày tỏ sự “đau lòng”, “chua xót” trước thực trạng của cụm di tích chùa Linh Tiên và đình Hội Xá. Ông Nguyễn Doãn Tuân, Trưởng ban quản lý di tích, danh thắng Hà Nội đã yêu cầu UBND Q.Long Biên phải nghiêm túc kiểm điểm trách nhiệm và phối hợp với các chuyên gia tư vấn, bảo tồn để lập quy hoạch tổng thể mặt bằng cho cụm di tích, đồng thời lên phương án tôn tạo lại ngôi chùa chính và ngôi đình đã hư hỏng nghiêm trọng. Riêng với ngôi chùa 2 tầng mới, Cục Di sản (Bộ VH-TT-DL) sẽ cân nhắc để có hình thức xử lý thích hợp, thậm chí có thể tính tới phương án phá bỏ.

Đình Hội Xá (có từ thời Lê) nằm cạnh chùa Linh Tiên, tạo thành quần thể di tích. Theo hồ sơ xếp hạng di tích lịch sử cấp quốc gia năm 1994 thì đình Hội Xá vẫn còn khá vững chãi. Các bức ảnh chụp cho thấy đình được dựng với mặt bằng chữ “nhị”, có cánh cửa đề 3 chữ “Phúc Thọ Môn”. Nóc của đình được chạm trổ kỹ lưỡng với các họa tiết vân xoắn, lá cúc cách điệu… Ngoài ra, trong đình còn nhiều ngai, bài vị, y môn và một số đồ thờ tự mang phong cách nghệ thuật thế kỷ 18. Đáng chú ý là 2 bức phù điêu hình chữ nhật chạm rồng nổi. Còn theo tư liệu của PGS-TS Bùi Xuân Đính (Viện Dân tộc học), đình Hội Xá là một trong những ngôi đình thuộc loại bề thế ở miền Bắc. Thế nhưng, tới nay, ngôi đình gốc này cũng không còn vì người dân đã tự tiện dỡ ra để làm mới. Giờ đây, đình Hội Xá chỉ còn trơ lại một ngôi nhà nhỏ, được làm theo kiểu chữ “đinh”, ba gian tường hồi, bào trơn đóng bén, chẳng khác gì một ngôi miếu!

Theo Thanh Nien online

* MỤC LỤC –  TÀI LIỆU VỀ DI SẢN NHÀ – KIẾN TRÚC CỔ 

Read Full Post »

Kỷ niệm và triển lãm 100 hiện vật tiêu biểu văn hóa Sa Huỳnh

100namsahuynh

Bảo tàng Lịch sử Việt Nam (Hà Nội) hôm nay (8-7-2009) đã khai mạc triển lãm 100 hiện vật tiêu biểu của văn hoá Sa Huỳnh nhân kỷ niệm 100 năm phát hiện nền văn hoá này.

Mộ nồi úp bình được phát hiện tại di chỉ văn hoá Sa Huỳnh ở Hà Tĩnh.

Mộ nồi úp bình được phát hiện tại di chỉ văn hoá Sa Huỳnh ở Hà Tĩnh.

Từ năm 1909 đến nay, các nhà khảo cổ học đã phát hiện nhiều hiện vật quý làm sáng tỏ nguồn gốc, niên đại, chủ nhân của văn hoá Sa Huỳnh. Qua đó chứng minh nét bản địa của nền văn hoá này, cũng như sự giao lưu, tiếp biến với các nền văn hoá khác trong và ngoài nước.

Nhân dịp này, một hội thảo quốc tế mang tên “100 năm phát hiện, nghiên cứu văn hoá Sa Huỳnh” sẽ được tổ chức tại tỉnh Quảng Ngãi, từ ngày 20 đến ngày 24-7. Hội thảo do Bộ Văn hoá-Thể thao và Du lịch phối hợp với Viện Khoa học xã hội Việt Nam và UBND tỉnh Quảng Ngãi thực hiện.

100 năm phát hiện di tích văn hóa Sa Huỳnh

Đã 100 năm kể từ ngày một người Pháp tên là M. Vinet có thông báo ngắn và sớm nhất về sự có mặt của di tích Sa Huỳnh trong tập san của Trường Viễn Đông Bác cổ. Từ đó đến nay, nền văn hóa mang tên một địa danh của huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi, đã được xác lập, nghiên cứu sâu.

Sưu tập hiện vật gốm tập trung và điển hình cho văn hóa Sa Huỳnh

Sưu tập hiện vật gốm tập trung và điển hình cho văn hóa Sa Huỳnh

Tiến sĩ Nguyễn Giang Hải, Phó Viện trưởng Viện Khảo cổ học, cho biết từ những tư liệu của các nhà khảo cổ học trong và ngoài nước, có thể xác định về mặt niên đại đây là nền văn hóa thuộc thời đại Kim khí, khi con người đã biết đến việc chế tác và sử dụng kim loại.

Văn hóa Sa Huỳnh có niên đại vào khoảng 500 năm trước Công nguyên đến đầu Công nguyên. Đây là 1 trong 3 đỉnh của tam giác văn hóa Việt Nam cổ: Đông Sơn-Sa Huỳnh-Óc Eo.

Về địa bàn phân bố, văn hóa Sa Huỳnh phân bố chủ yếu ở miền Trung, từ Quảng Bình đến Bình Thuận. Khu vực tìm được đậm đặc nhất di tích Tiền Sa Huỳnh và Sa Huỳnh chính là hai tỉnh Quảng Nam và Quảng Ngãi.

Các địa điểm có di tích thường tập trung ở ven biển, nhất là khu vực cửa các con sông lớn đổ ra biển như sông Trà Bồng, Trà Khúc hoặc các vịnh biển như Sa Huỳnh, Cam Ranh. Các di tích gồm có các khu mộ táng lớn, thường chôn trong các mộ vò hay chum mà các nhà khảo cổ Pháp gọi là “bãi mộ chum”.

Đồ gốm Sa Huỳnh có những loại hình đồ gốm khá phát triển như nồi, bát, bình con tiện, chậu, vò… Đồ gốm được trang trí rất đẹp bằng cách tô màu, khắc vạch, in vỏ sò, tô ánh chì đen.

Sa Huỳnh còn có chum gốm để chôn người chết. Những chum này có nắp đậy và tô màu đỏ, trang trí hoa văn khắc vạch ngoài thân. Đặc biệt, người Sa Huỳnh đã sáng tạo ra các loại khuyên tai độc đáo và có sức giao lưu lan tỏa khá rộng khắp các vùng Đông Nam Á.

Họ còn sáng tạo nhiều đồ trang sức thủy tinh như các loại hạt cườm, hạt chuỗi rất đẹp, trang sức mã não đỏ…

Vào khoảng đầu Công nguyên, cách đây khoảng 2.000 năm, văn hóa Sa Huỳnh có sự chuyển biến thành nền văn hóa Chăm. Khi đó, tộc người vẫn là người Chăm cổ, tức người Sa Huỳnh trước đó, nhưng nền văn hóa đã có sự thay đổi, tự thân vận động mà cũng có giao lưu mạnh mẽ với những nền văn hóa khác như Đại Việt ở miền Bắc, Hán ở phương Bắc, với Ấn Độ và các văn hóa đến từ phía tây như Thái Lan.

Tiến sĩ Nguyễn Giang Hải cho biết trải qua 200 năm, vẫn có thể thấy được một số nét văn hóa Sa Huỳnh vẫn còn được lưu giữ tới ngày nay. Một số đồ trang sức của đồng bào dân tộc miền núi của miền Trung nước ta vẫn thích đeo đồ trang sức như cư dân Sa Huỳnh đã từng đeo. Đó là các loại hạt chuỗi mã não màu đỏ óng ánh.

Một số dân tộc ở tỉnh Quảng Nam ưa loại mã não này, thậm chí gần đây, một vài hạt mã não có thể đổi được cả một con trâu. Một số tộc người như người H’Rê ở Quảng Ngãi hiện còn đeo khá nhiều hạt cườm và hạt chuỗi giống hệt như cách đây hai ngàn năm.

Một số phong tục tập quán thể hiện trong cách chôn cất của người Sa Huỳnh có thể gặp được ở một số dân tộc Tây Nguyên trước đây. Việc người Sa Huỳnh rất thạo công việc luyện sắt cũng được một số dân tộc ở Tây Nguyên tiếp thu sau này.

Hình ảnh hiện vật triển lãm:

100namsahuynh-3

100namsahuynh-4

100namsahuynh-5

100namsahuynh-6

Khuyên tai 3 vầu

Khuyên tai 3 vầu

Khuyên tai 2 đầu thú

Khuyên tai 2 đầu thú

KhanhHoaThuyNga tổng hợp tin

* MỤC LỤC – TIN TỨC THỜI SỰ NGÀNH GỐM 

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Read Full Post »

Làng gốm Cây Me – Bình Định

Ngày 26/4/2009, Phòng VHTT, Trung tâm VH huyện và UBND xã Nhơn Mỹ đã có biên bản sơ bộ đề nghị cơ quan chức năng tỉnh Bình Định lập kế hoạch khảo sát, đánh giá và bảo tồn di tích làng gốm Cây Me, thôn Đại Bình, xã Nhơn Mỹ.

 

Di tích này vốn chỉ được cư dân địa phương phát hiện và tự phát “khai thác” từ tình trạng xâm thực, xói lở liên tục dọc bờ sông Côn. Tại hiện trường, nhóm công tác ghi nhận có nhiều mảng gốm vỡ xuất lộ dày đặc dưới chân luỹ tre chắn sóng. Trong khi đó, một số hiện vật có hoạ tiết tinh xảo, hình dáng nguyên vẹn như chén, dĩa, bình vôi tráng men… đã được “thu gom”, cất giữ bởi những hộ dân quanh vùng (ảnh).

Huyện Tây Sơn, huyện An Nhơn, huyện Tuy Phước, thuộc tỉnh Bình Định nằm trên lưu vực sông Côn, đất đai màu mỡ trù phú, nước sông Côn không bao giờ khô cạn, thuyền bầu nan tre xưa có thể giao thương từ đầm Thị Nại lên đến thượng nguồn. Từ thời Chămpa đã hình thành các thành cổ dọc sông như Thành Cha ở Đông Lâm, Nhơn Lộc, An Nhơn hay kinh đô Đồ Bàn ở Nam Tân, Nhơn Hậu, An Nhơn…và thương cảng Nước Mặn ở Phước Quang, Tuy Phước.

 

Các làng nghề cũng hình thành dọc lưu vực sông Côn, trong đó các làng gốm thịnh hành nhất, các di tích làng Gốm ngày nay còn lưu dấu như: Làng Gốm Gò Sành ở Phụ Quang, Nhơn Hoà, An Nhơn; Làng Gốm Trường Cửu, Nhơn Lộc, An Nhơn; Làng Gốm Gò Hời và Làng Gốm Cây Ké ở Tây Vinh, Tây Sơn…

 

Theo đánh giá ban đầu, làng gốm Cây Me có thể là một phần của “kinh đô gốm Chămpa” cổ nổi tiếng mà dấu tích và sản phẩm từng được biết đến qua các địa danh: Gò Sành, Trường Cửu, Gò Hời, Cây Ké…; một làng gốm mà còn nguyên di tích, chưa được khai quật khảo cổ, đang có nguy cơ xói mòn do giòng nước lũ sông Côn xâm thực, đó là di tích làng Gốm Cây Me

Sau những mùa lũ hằng năm dòng sông Côn chảy qua phần đất giáp ranh từ huyện Tây Sơn đến huyện An Nhơn đã tạo dòng chảy bên lỡ bên bồi. Bên bờ sông phía thị tứ An Thái bối đắp thành dãi cát vàng rộng dài, tạo thuận lợi cho làng nghề bún Song Thằn làm bãi phơi bún…

Bãi cát dùng phơi bún Song Thằn và phơi bánh tráng, bún các loại

Bãi cát dùng phơi bún Song Thằn và phơi bánh tráng, bún các loại của làng nghề bún bánh An Thái, Nhơn Phúc, An Nhơn


Phía trên bãi cát dân làng  phơi bún bánh Phía dưới bãi cát thành mỏ...cát thoải mái tận thu!?

Phía trên bãi cát dân làng phơi bún bánh Phía dưới bãi cát thành mỏ...cát thoải mái tận thu!?


Còn bên bờ sông Đại Bình xói lỡ hàng năm, ông cha ta nghìn năm đã trồng tre chống xói dọc bờ sông, nhưng nguy cơ sụt lỡ không tránh khỏi nếu không chăm sóc luỹ tre mà chỉ biết chặt tre thu hoạch! Do xói mòn lộ dần phế tích một làng nghề Gốm Cổ:

Dưới các bụi tre dọc sông Côn ở xóm Mỹ Kim nước lũ xói lộ dấu tích làng Gốm xưa

Dưới các bụi tre dọc sông Côn ở xóm Mỹ Kim nước lũ xói lộ dấu tích làng Gốm xưa

Mãnh vỡ các loại đồ dùng bằng gốm Xếp chồng chiều dày trên một mét, dưới mặt đất khoảng hơn mét

Mãnh vỡ các loại đồ dùng bằng gốm Xếp chồng chiều dày trên một mét, dưới mặt đất khoảng hơn mét

Mãnh vỡ chén tô, dĩa các loại...

Mãnh vỡ chén tô, dĩa các loại...

Một mãnh vỡ ...cái tô có màu xanh ngọc, và màu men chàm...

Một mãnh vỡ ...cái tô có màu xanh ngọc, và màu men chàm...

Lu, thạp... màu đất nung... hay là những bao nung?

Lu, thạp... màu đất nung... hay là những bao nung?

Dấu tích làng Gốm Xưa kéo dài mấy trăm mét dọc sông

Dấu tích làng Gốm Xưa kéo dài mấy trăm mét dọc sông


Chúng tôi ngỡ ngàng trước một dấu tích còn lưu lại một làng nghề Gốm Cổ một thời hưng thịnh của một Vương Triều! Trên gò làng nghề Gốm Cổ này còn lại các cây me cổ thụ, nên tục danh gò còn gọi là gò Gốm Cây Me:
Cây me cổ thụ nằm sát bờ sông Côn có nguy cơ ngã đỗ...vì lũ!

Cây me cổ thụ nằm sát bờ sông Côn có nguy cơ ngã đỗ...vì lũ!

Chúng tôi khảo sát cả một khu rộng lớn, nhiều người dân sau cơn lũ, trên đáy sông, hay dọn bờ làm ruộng, hoặc đào lỗ trồng trụ điện…đã nhặt được các vật dụng bằng Gốm Cổ…Dân ai cũng biết đã thấy, nhưng ngại thu…nên không ai cho xem!?

May sao chúng tôi gặp một em bé nghèo nghỉ học, năm 2008 học hết lớp 10 trường công lập số 2 huyện, không có khả năng theo học dù rằng kết thúc năm học lớp 10 điễm trung bình trên 6, đang chăn mấy con bò! Em đã nhiệt tình hướng dẫn chúng tôi đến nhà em để cha em và em cho xem các cổ vật Gốm Cổ mà em đã nhặt được

 

Cha con em đã trân trọng gìn giữ cổ vật Gốm Xưa dù có nhiều người sưu tầm gạ mua, nhưng không bán!

Cha con em đã trân trọng gìn giữ cổ vật Gốm Xưa dù có nhiều người sưu tầm gạ mua, nhưng không bán!

Bát Gốm Sành xưa...

Bát Gốm Sành xưa...

Dĩa Gốm Cổ...

Dĩa Gốm Cổ...

Tô Gốm Cổ....

Tô Gốm Cổ....

Dĩa Gốm Cổ...

Dĩa Gốm Cổ...

Bình vôi cổ màu xanh ngọc...

Bình vôi cổ màu xanh ngọc...

Bình vôi cổ màu nâu đen...mất quai!

Bình vôi cổ màu nâu đen...mất quai!

Bình vôi cổ màu ...da lươn?

Bình vôi cổ màu ...da lươn?

Bình vôi cổ màu...da lươn?

Bình vôi cổ màu...da lươn?

Ly uống nước cổ...

Ly uống nước cổ...

Bình vòi rượu và vật dụng giống...ly rượu?

Bình vòi rượu và vật dụng giống...ly rượu?

Theo Lao Động & Làng Nghề

Read Full Post »

Nhà cổ dân gian tại Bà Rịa, Vũng Tàu

Trên vùng đất Bà Rịa -Vũng Tàu ngày nay, vẫn còn tồn tại hàng trăm ngôi nhà cổ xưa . Mỗi một ngôi nhà không chỉ là một tác phẩm kiến trúc có giá trị mang đậm nét tài hoa của những nghệ nhân hàng mấy trăm năm trước mà còn  ẩn chứa sâu sắc những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể .

nhacobaria

Bà Rịa Vũng Tàu vốn nổi tiếng là một vùng đất trù phú, xuất hiện khá sớm trong lịch sử khai phá của người Việt.Từ thế kỷ XVII lớp cư dân đầu tiên ngoài vùng Ngũ Quảng đã tiến vào Nam lập nghiệp. Họ dừng chân nơi đây và cùng nhau khai khẩn đất hoang, khơi thông nguồn lạch, lập ấp dựng làng. Trên vùng đất trù phú được thiên nhiên ưu đãi, nên dân cư Bà Rịa Vũng Tàu xưa có đời sống ổn định, nề nếp, phong lưu, văn hóa phát triển. Ngày nay, dấu ấn về một cuộc sống phong lưu nhưng nề nếp ấy vẫn còn được lưu giữ trong nhiều ngôi nhà cổ kính với nét rêu phong phủ mờ bởi thời gian. Trải qua hàng thế kỷ,  dãi dầu cùng mưa nắng của xứ nhiệt đới gió mùa khắc nghiệt, nhưng những ngôi nhà cổ xưa vẫn giữ được nét đẹp bình dị . Mỗi ngôi nhà đều ghi dấu những kỷ niệm, những câu chuyện dài của cha ông trong hành trình đi mở cõi vùng đất phương Nam.

Thống kê chưa đầy đủ cho thấy, trên địa bàn Bà Rịa – Vũng Tàu hiện còn 177 kiến trúc nhà ở dân gian truyền thống, có niên đại xây dựng cách nay gần 70 năm đến trên 100 năm, tập trung chủ yếu ở các huyện Long Điền, Đất Đỏ, thị xã Bà Rịa. Trong số đó có 46 nhà có niên đại xây dựng trước năm 1900. Qua bao biến cố lịch sử, biến cố cuộc đời nhưng nhiều ngôi nhà vẫn được các thế hệ con cháu nối tiếp nhau gìn giữ nguyên vẹn. Nhà ở dân gian truyền thống trên địa bàn tỉnh có nguồn gốc từ loại nhà cột giữa và nhà rường của các tỉnh miền Trung.  Chúng được xây cất từ những kíp thợ từ xứ Ngũ Quảng, miền Trung vào Bà Rịa lập nghiệp, từ cuối thế kỷ 17 đầu thế kỷ 18,  chứ không phải từ kinh nghiệm truyền thừa của những chủ nhân ở vùng đất Mô Xoài vốn sớm có mặt khoảng đầu thể kỷ XV. Vì thế, nhà cổ xưa ở  BRVT đđược  nhìn nhận như một phần quan trọng của kho tàng văn hóa kiến trúc quý giá của cư dân vùng đất Bà Rịa Vũng Tàu tạo dựng được trong quá trình mưu sinh và khai khẩn vùng đất phương Nam.

nhacobaria01

Theo kiến trúc sư Mai Quý – giám đốc trung tâm  kiến trúc sư miền Nam: Nhà cổ xưa ở Bà Rịa Vũng Tàu rất phong phú về kiểu dáng kiến trúc gồm kiểu chữ Nhất, chữ Nhị, chữ Tam, chữ Đinh, chữ Công…Hầu hết đều lợp ngói âm dương, ngói vẩy cá hay ngói mốc, nền nhà lót gạch tàu đỏ. Nhà có ba gian trên làm nơi thờ tự và tiếp khách, ba gian dưới dùng cho người nhà sinh họat, nghỉ ngơi và chứa lương thực dự trữ. Bề thế và sự am tường của gia chủ được thể hiện rõ trong cách bày trí trong ba gian thờ tự . Gian giữa đặt bàn thờ Phật, hai gian bên thờ tổ tiên, ông bà. Những gia đình giàu có thường mời những nhóm thợ mộc nổi tiếng về đặt làm khám thờ bằng gỗ quý, chạm trổ tinh xảo với các mô típ truyền thống như : lưỡng long chầu nguyệt, hổ phù, tùng, trúc, cúc, mai…sau đó sơn son thếp vàng . Các tủ thờ thường được cẩn xà cừ công phu, trên bàn thờ bài trí hai bên đặt bộ chân đèn bằng đồng, giữa là chiếc đỉnh dùng để đốt trầm, bát nhan sứ trắng men lam hoặc men đồng. Phía trước tủ thờ còn đặt thêm sập thờ, nơi bày trái cây, món ăn trong ngày tết, giỗ chạp.Phía ngoài cùng đặt thêm bộ bàn ghế dùng tiếp khách . Tại xà ngang của gian giữa còn treo thêm vài bức đại tự bằng chữ Hán cũng được sơn son thếp vàng. Hai bên cột cái và cột quân treo hai cặp câu đối .Nội dung đề cao lòng hiếu đễ với ông bà tổ tiên, nề nếp gia phong, việc kính trọng và phụng dưỡng cha me. Cách bài trí này không chỉ nói lên sự quyền quý của chủ nhân tại thời điểm tạo dựng mà chủ nhân của những ngôi nhà cổ này hẳn có ý muốn để lại dấu ấn của mình cho con cháu sau này

Hai bên gian còn lại là nơi đặt hai bộ ván ngựa bằng gỗ, để cho đàn ông và khách nghỉ ngơi. Bộ ván ngựa thường được làm bằng gỗ tốt, dày 20 cm, kiểu chân quỳ. Nhiều bộ ván dùng lâu trở nên đen bóng rất đẹp. Ba gian nhà dành cho sinh họat đặt vài bộ ván ngựa, bàn ghế đơn sơ làm nơi sinh họat,ăn uống, nghỉ ngơi, khâu vá. Phía trước nhà là khỏang không thư giãn, được bố trí một hòn non bộ, trồng vài chậu mai vàng, mai chiếu thủy, thiên tuế hoặc nguyệt quế… tỏa hương thơm ngát bốn mùa.

Nhà chữ Đinh là một trong những kiểu nhà cổ phổ biến nhất tại Bà Rịa Vũng Tàu, thường có có kích thước trung bình, mái ngói cổ rêu phong, hiền hòa giữa những vườn cây xanh, tạo cho cảnh quan cư trú một vẻ đẹp yên bình và sung túc.

Kiểu nhà này có hai căn, căn nhà trên nằm ngang và căn dưới nằm xuôi, đòn dông của hai căn này thẳng góc với nhau, giống như chữ Đinh   trong Hán tự. Điển hình nhất là nhà của ông Lê Văn Còn, ở khu phố Phước Trung- thị trấn Đất Đỏ. Trải qua bao thăng trầm của cuộc đời, bao biến cố của lịch sử những thành viên trong gia đình không còn nhớ chính xác ngôi nhà đượcxây dựng từ năm nào, chỉ phỏng đoán được xây dựng từ những năm cuối thể kỷ 19 đầu thể kỷ 20.

Cửa cái của nhà trên trổ ở chiều dài của ngôi nhà, còn cửa cái của nhà dưới trổ ở chiều rộng, do đó cửa cái hai căn nhà trên và nhà dưới đều mở ra cùng một hướng, có chung mái hiên trước, tạo sự đồng nhất cho toàn bộ ngôi nhà. Kiến trúc nhà chữ Đinh thể hiện ý thức về trật tự phong kiến rất rõ. Nhà trên quan trọng vì là nơi thờ cúng tổ tiên nên thường bề thế, cao hơn nhà dưới. Và đây cũng là nơi sinh hoạt chủ yếu của nam giới trong gia đình.Nhà dưới là nơi ở chung của gia đình, nơi sinh hoạt thường xuyên của phụ nữ.

nhacobaria02

Nói đến nhà cổ ở Bà Rịa Vũng Tàu, không thể không nhắc đến nhà của ông Nguyễn Văn Hồng , ở khu phố Thanh Long _ thị Trấn Đất Đỏ. Ngôi nhà này đã từng được mượn làm bối cảnh cho nhiều bộ phim Việt Nam. Tổng thể căn nhà theo hình chữ Nhất với lối kiến trúc thuần Việt cổ. Mặt tiền nhà về hướng Nam – theo thuật phong thủy – “Lấy vợ hiền hòa, xây nhà hướng Nam”. Hệ thống cột kèo toàn bằng danh mộc quý hiếm. Trên các đầu kèo, đầu đòn,  kể cả những chi tiết nhỏ trong các ngóc ngách đều chạm khắc kỳ công theo kiểu tứ linh,  mai – điểu, liễu – phụng .  Hai bên cột cái và cột quân treo hai cặp câu đối. Nội thất trong nhà được trang trí theo mô thức thống nhất, gồm bộ trường kỷ gỗ đen ở gian giữa phía trước bàn thờ, hai gian nhà hai bên bày hai bộ ván ngựa.  Phía trước hiên nhà bố trí hòn non bộ và vài chậu cây cảnh tạo nên không gian tươi xanh. Anh Hồng cho biết : căn nhà này được ông sơ của anh- vốn là Đại hương cổ cả đình làng, một người có học thức và có uy tín trong làng, xây cất từ năm 1922. Để tạo dựng được căn nhà này, ông sơ của anh phải mời cánh thợ khéo tay nhất của miền Trung vào nuôi ăn, nuôi ở để làm nhà  suốt hơn một năm ròng.

Nhà chữ Đinh và nhà chữ Nhất là những ngôi nhà có tuổi khá xưa, phần lớn được xây dựng từ cuối thế kỷ XIX, chủ nhân thường là người giàu có. Tuy đã trải qua trùng tu nhiều lần nhưng nhờ xây dựng bằng các loại gỗ quý, thợ dựng khéo léo và kỹ lưỡng, con cháu  có sự lưu tâm giữ gìn nên đến nay vẫn còn khá nguyên vẹn.

Nhà cổ tại Bà Rịa Vũng Tàu không phải chỉ được thi công xây dựng và trang trí chạm trổ bởi các nhóm thợ mộc nổi tiếng khéo tay từ miền Trung vào như thợ Quảng Nam, Quảng Ngãi, Thừa Thiên, Bình Định mà còn có một số căn được  nhóm mộc của “trường phái thợ Thủ” (ở Thủ Dầu Một – Bình Dương) với tay nghề giỏi nức tiếng  đảm trách vai trò chính yếu trong xây cất nhà và trang trí nội thất. Điển hình như căn nhà anh Phạm Văn Võ, ở ấp An Trung- Xã An Nhất- Long Điền . Năm Nhâm Tý 1902, ông nội của anh đã  khởi công xây cất và rước nhóm “thợ Thủ” về xây nhà và nuôi nhóm thợ trong nhà để họ chạm khắc trang trí cho ngôi nhà. Không thua gì thợ mộc xứ Ngũ Quãng, những nghệ nhân “thợ Thủ” khéo léo tài hoa đã chạm khắc, chạm trổ kỳ công trên những thân cột, rường, kèo, mái nhà những hình long lân quy phụng, song long chầu nguyệt hay những câu chuyện về nhân -lễ- nghĩa- trí -tín …mang những ý tưởng về một cuộc sống thanh bình, nhàn hạ, đậm đà tình quê hương, nghĩa đồng bào.

Nhà cổ ở Bà Rịa Vũng Tàu gắn liền với giai đọan lịch sử quan trọng, nơi dừng chân đầu tiên của cha ông ta đến khai phá mảnh đất này. Nó còn là nhân chứng trong suốt quá trình con người  đấu tranh với những biến cố thiên nhiên và lịch sử để tồn tại . Người Việt xưa vốn coi ngôi nhà là tổ ấm tâm linh nên nhà cổ cũng mang đậm nét văn hóa đặc thù của nhiều thế hệ, gắn liền với truyền thống uống nước nhớ nguồn, tôn ti trật tự, mối quan hệ gắn bó trong gia đình, họ hàng, dòng tộc. Tuy nhiên, hiện nay nhiều ngôi nhà cổ đang có nguy cơ biến mất . Nhiều gia đình do kinh tế khó khăn, thiếu thốn chưa có điều kiện để trùng tu, nên xuống cấp trầm trọng hoặc chủ nhà sửa chữa theo ý muốn của họ, nên đã làm biến dạng. Vì vậy “cái cổ” trong một ngôi nhà cổ đã mất đi sự đồng bộ.

Ông Phạm Chí Thân- giám đốc bảo tàng tổng hợp tỉnh cho biết: Nhà cổ là nét duyên xưa,nét đẹp văn hóa mà người xưa để lại cho bao đời sau – thông qua việc tạo nên những ngôi nhà cổ vô giá.Giữ gìn, bảo tồn và phục dựng đúng cách những ngôi nhà cổ cũng là một nét đẹp – một sự kế thừa truyền thống văn hóa của cha ông để lại.

theo BRT

* MỤC LỤC –  TÀI LIỆU VỀ DI SẢN NHÀ – KIẾN TRÚC CỔ 

Read Full Post »

Older Posts »