Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘1000 năm thăng long’

Triển lãm “Bảo vật Hoàng cung”: Tận mắt thấy ấn, kiếm triều Nguyễn

(TT&VH) – Một cơ may đặc biệt với những khán giả đang có mặt tại Hà Nội trong dịp Đại lễ này: sau gần nửa thế kỷ lưu giữ, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam sẽ cho người xem có cơ hội tận mắt chiêm ngưỡng những ấn vàng, kiếm vàng, sách vàng… của vương triều nhà Nguyễn.>> Nhật ký Đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội

Cuộc triển lãm có tên gọi Bảo vật hoàng cung khai mạc tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam từ 9/10/2010. 13 bảo vật trưng bày đều có chất liệu chính bằng vàng khối và ngọc quý, được chọn ra từ hàng trăm bảo vật vương triều Nguyễn đang lưu giữ tại đây.

Kiếm vàng triều Nguyễn đúc vào TK 19, nặng 1,25 kg

Bảo vật triều Nguyễn

Trong số đó, đang chú ý nhất là 3 chiếc kim ấn bảo tỷ – vốn được gọi là bảo vật tượng trưng cho quyền lực tối thượng của vương triều Nguyễn và được chuyển giao qua những triều đại khác nhau. Ngoài chiếc ấn ngọc Đại Nam thụ thiên vĩnh mệnh truyền quốc tỷ, 2 chiếc ấn còn lại đều bằng vàng ròng, được đúc vào tháng 10 năm Minh Mạng 8 (1827). Trong đó, chiếc kim ấn Sắc mệnh chi bảo nặng 8,5 kg, gồm hai cấp, có hình vuông, trên ấn có hình rồng đầu ngẩng, 2 sừng dài, đuôi xòe 9 dải hình ngọn lửa, lưng ấn khắc hai dòng chữ Hán: “Thập tuế hoàng kim nhị bách nhị thập tam lạng lục tiền – Minh Mạng bát niên thập nguyệt cát nhật tạo”. (Vàng 10 tuổi nặng 223 lạng 6 tiền – đúc vào ngày lành tháng 10 năm Minh Mạng thứ 8, 1827).

Ấn vàng Hoàng đế tôn thân chi bảo nặng 8,7 kg

Chiếc kim ấn còn lại – Hoàng đế tôn thân chi bảo – có kích thước to hơn, nặng 8,7 kg, khắc hai dòng chữ: “Thập bát kim, trọng nhị bách tam thập tứ lạng tứ tiền tam phân – Minh Mệnh bát niên thập nguyệt cát nhật tạo” (Nặng 234 lạng 4 tiền 3 phân, khoảng 8,7 kg) đúc vào ngày lành tháng 10 năm Minh Mệnh thứ 8, năm 1827).

10 bảo vật còn lại bao gồm kiếm vàng (2 chiếc), mũ vàng (2 chiếc), sách vàng (1 chiếc), ấm chén vàng (2 bộ)… Trong số đó, chiếc mũ bình thiên bằng vàng khối, chế tác trong thế kỷ 19, có trọng lượng 0,66kg, chiếc kiếm vàng An dân bảo kiếm có trọng lượng 0,58 kg, cuốn sách vàng chế tác năm Gia Long thứ 5 (1806) có trọng lượng 2,1kg… Như nhận xét của các chuyên gia trong ngành, đây là những bảo vật chế tác rất tinh xảo và được các vua Nguyễn sử dụng khá thường xuyên.

Mũ bình thiên đúc trong TK 19, nặng 0, 66 kg

Cơ hội 50 năm mới trở lại

Đây không phải là lần đầu tiên các bảo vật triều Nguyễn được trưng bày tại Hà Nội. Năm 1961, nhân dịp Quốc khánh 2/9, một số ít trong số các bảo vật này cũng đã được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam. Tuy nhiên, khoảng thời gian gần 50 năm từ đó tới nay là quá lâu đối với sự háo hức của người dân Hà Nội. Đa phần, những thế hệ sinh ra sau đó chỉ được biết tới những bảo vật này qua sách vở và những câu chuyện đậm màu sắc kỳ bí.

Sách vàng thời Gia Long đúc năm 1806, nặng 2,1 kg

Được biết, số bảo vật triều Nguyễn được Bộ Tài chính của chính quyền cách mạng tiếp quản vào tháng 8/1945. Tiếp đó, kho bảo vật này được đưa về lưu giữ tại nhà Viễn Đông bác cổ (nay là Bảo tàng Lịch sử VN). Năm 1961, khi trưng bày tại Hà Nội, một chiếc ấn vàng đã bị kẻ gian lấy cắp. Mặc dù đã tìm ra và kịp thu hồi, BTLSVN vẫn chuyển kho bảo vật quốc gia này sang lưu trữ tại Ngân hàng Nhà nước để đảm bảo an toàn. Những năm sau đó, kho bảo vật được đưa đi cất giữ lần lượt tại nhiều địa phương khác nhau, trước khi được Bảo tàng Lịch sử VN tiếp nhận lại.

Theo đại diện Bảo tàng Lịch sử VN, trong thời gian tới, khi Bảo tàng Lịch sử quốc gia hoàn thành, toàn bộ kho bảo vật này sẽ được trưng bày phục vụ công chúng.

Ra mắt cuốn sách Cổ vật Việt Nam

Trong dịp khai mạc triển lãm Bảo vật Hoàng cung, BTLSVN cũng sẽ giới thiệu cuốn sách Cổ vật Việt Nam. Đây là công trình nghiên cứu được thực hiện từ năm 2008 bởi BTLSVN và Bảo tàng Bắc Kinh (Trung Quốc), cung cấp những nghiên cứu và tư liệu về cổ vật tiêu biểu của Việt Nam qua nhiều thời kỳ, bao gồm đồ đá, đồ đồng, đồ gỗ, đồ gốm, đồ kim hoàn… Sách được in bằng hai thứ tiếng Trung – Việt.

Cúc Đường
Đọc thêm:

PHILIPPE TRUONG – TRẦN ĐỨC ANH SƠN

Sau khi thực dân Pháp tấn công vào Kinh Thành Huế vào tháng 7.1885, kế đến là sự cáo chung của triều Nguyễn do thắng lợi của cuộc Cách mạng tháng Tám năm 1945, nhiều cổ vật quý báu của vương triều này đã bị thất thoát ra nước ngoài vì nhiều lý do và bằng nhiều con đường khác nhau. Trong khi các bảo tàng và các sưu tập tư nhân ở Việt Nam hiếm có cơ hội để lưu giữ, trưng bày các bảo vật của vương triều Nguyễn, nhất là các món vàng bạc châu báu, thì nhiều bảo tàng và các sưu tập tư nhân ở ngoại quốc đang sở hữu những cổ vật này. Những năm gần đây, bảo vật triều Nguyễn được mua bán công khai trong các phiên đấu giá cổ vật ở London, Paris, New York… hay được rao bán trên các trang web thương mại như eBay hay Spin. Đây quả là điều đáng buồn cho những ai quan tâm và yêu quí cổ vật Việt Nam nói chung và bảo vật của triều Nguyễn nói riêng.

Thời Nguyễn (1802 – 1945), kim vật (vật bằng vàng) của các triều vua: Minh Mạng (1820 – 1841), Thiệu Trị (1841 – 1847) và Tự Đức (1848 – 1883) luôn được coi trọng bởi giá trị lịch sử, nghệ thuật, cũng như bởi kích thước và trọng lượng của chúng. Kim vật triều Nguyễn có thể phân thành ba nhóm: vật thờ cúng (nén vàng để thờ, lọ hoa thờ, đồ dâng rượu cúng…); vật biểu thị cho quyền lực của vương triều (kim bảo, kim sách) và đồ ngự dụng (đồ dành cho vua dùng như: khay, mâm, bình rượu, cơi trầu, ống nhổ, chậu rửa mặt…). Kim vật của triều Nguyễn hiện còn rất ít tại Việt Nam do bị mất mát, thất lạc hoặc bị cướp bóc trong các cuộc chiến tranh trước đây.

Sau khi ký hòa ước Nhâm Tuất (1862) với thực dân Pháp, vua Tự Đức phải thu gom gần như toàn bộ vàng thoi, bạc nén trong quốc khố để bồi thường chiến phí cho liên quân Pháp và Tây Ban Nha. Khi số vàng này được chuyển về Pháp, chính phủ Pháp cho chọn mỗi loại một món đưa vào bảo quản trong các bảo tàng quốc gia để làm kỷ vật. Nhờ vậy nên tại các bảo tàng Pháp quốc như Hotel de la Monnaie (Paris) vẫn còn giữ được những nén vàng của triều Nguyễn, trong đó, có một nén vàng nặng 3,8 kg từ đời chúa Nguyễn Phúc Khoát (1738 – 1765).

Do quốc khố không có đủ vàng thoi để bồi thường chiến phí nên vua Tự Đức phải thu hồi một số bảo vật bằng vàng và bằng bạc đang trưng bày trong các cung điện, đúc thành thoi vàng và nén bạc trả để trả cho người Pháp và người Tây Ban Nha. Năm 1869, vua ra lệnh cho các hoàng thân, hoàng tử, công chúa… nộp lại kim ấnkim sách mà triều đình đã ban cho họ trước đây, đúc thành 135 đĩnh vàng để triều đình tiêu dùng. Sau đó, vua Tự Đức đã cải cấp (cấp lại) cho họ những kim ấn và kim sách làm bằng đồng.

Ngày 5.7.1885, quân Pháp đánh chiếm Kinh Thành Huế, vua Hàm Nghi và hoàng gia xuất bôn ra Quảng Trị, rồi ra Hà Tĩnh, đem theo một số vàng bạc, châu báu để tiêu dùng. Trong lúc ấy, quân Pháp tràn vào cướp bóc tất cả đồ đạc quý giá đang trưng bày và thờ tự trong các cung điện ở trong Đại Nội. Theo ghi chép của linh mục Siefert, người đã có mặt tại Huế lúc bấy giờ, khi đối chiếu với bảng kiểm kê tài sản của hoàng gia lập trước ngày 5.7.1885 với những gì đã mất, thì quân Pháp đã cướp “228 viên kim cương, 266 món nữ trang có nạm kim cương, hại trai, hạt ngọc, 271 đồ bằng vàng trong cung của bà Từ Dũ… Tại các tôn miếu thờ các vua: Gia Long, Minh Mạng và Thiệu Trị thì hầu hết các thứ có thể mang đi như mũ miện, đai áo, thảm đệm, triều phục, long sàng và bàn  xoay có chạm trổ, các giá treo vũ khí, hộp đựng trầu để thờ, ống nhổ, chậu quán tẩy bằng vàng; hỏa lò, mùng và màn thêu hoa, đỉnh trầm, ấm trà và khay chén, tăm xỉa răng… đều bị cướp” (J. Chesneaux, Contribution à l’histoire de la nation vietnamienne, Paris, Éditions Sociales, 1955, p. 134). Phần lớn những bảo vật cướp bóc trong đợt này đã được người Pháp chuyển về Paris.

Sau khi Đồng Khánh lên ngôi (tháng 9.1885), người Pháp đã trả lại cho triều đình nhà Nguyễn một số kim bảo, ngọc tỷ và kim sách. Sau đó, triều đình cho chuyển những bảo vật còn lại về thờ tự và cất giữ trong điện Phụng Tiên. Trong số đó có một cuốn kim sách khắc bài Tự chế mạng danh thi của vua Minh Mạng và một nén vàng lớn, gồm hai nửa, nặng gần 2 kg, trên đó có khắc dòng chữ Hán: Thế tổ Đế hậu, Quý Mão bá thiên thời tín vật. Đây là nén vàng mà Nguyễn Ánh đã chặt làm đôi, rồi ông và bà Tống Thị Lan, vợ cả của ông mỗi người giữ một nửa, để làm tín vật, trước khi ông trốn ra đảo Phú Quốc vì bị quân Tây Sơn truy đuổi.

Thời Duy Tân (1907 – 1916), triều đình lại chuyển các bảo vật này về cất giữ trong điện Cần Chánh tọa lạc bên trong Tử Cấm Thành. Ngoài kim bảo, ngọc tỷ, kim sách, ngân sách của vua, hoàng phi, hoàng tử và công chúa, còn có một hổ phù bằng vàng, gồm hai nửa, gọi là Phủ tín. Khi vua xuất cung thường phải mang theo nửa mảnh hổ phù này. Đến lúc trở về, vua phải đưa nửa mảnh hổ phù này cho lính canh để ráp với nửa còn lại, nếu thấy khớp với nhau thì nhà vua mới được nhập cung. Tuy nhiên, trong lần kiểm kê tài sản trong điện Cần Chánh do ông Paul Boudet thực hiện vào năm 1942, thì không thấy kê tên hổ phù bằng vàng này. Có thể nó đã bị thất lạc. Cuộc kiểm kê này còn cho biết: vào lúc bấy giờ trong điện Cần Chánh còn lưu giữ 46 kim ấn và ngọc tỉ, 26 kim sách, trong đó có 3 kim sách khắc các bài Thánh chế mạng danh kim sách và nhiều kim sách khác đề niên hiệu các vua: Gia Long, Thiệu Trị, Tự Đức, Hàm Nghi, Đồng Khánh, Thành Thái, Duy Tân và Khải Định. Ngoài ra, còn có một số sách phong bằng bạc mạ vàng do triều đình tấn phong cho các hoàng thái hậu và thái tử. Tất cả những bảo vật này đã biến mất sau ngày nhà Nguyễn cáo chung.

Sau nhiều thập kỷ “im hơi lặng tiếng”, hiện nay nhiều bảo vật triều Nguyễn lại xuất hiện khá nhiều trong các bảo tàng và trong các cuộc bán đấu giá ở châu Âu. Bài viết này giới thiệu một số bảo vật bằng vàng của triều Nguyễn mà chúng tôi đã diện kiến hoặc có được thông tin và hình ảnh từ những hành trình theo dấu cổ vật Việt Nam ở hải ngoại mà chúng tôi đã theo đuổi trong nhiều năm qua:

 

Hiện vật thứ nhất là thanh kiếm, được cho là của vua Gia Long, hiện đang trưng bày tại Bảo tàng Quân đội (Musée de l’Armée) thuộc Điện Quốc gia Phế binh (Hôtel National des Invalides) ở Paris. Thanh kiếm gồm có hai phần: phần lưỡi dài khoảng một thước và phần chuôi ngắn bằng một phần năm lưỡi kiếm. Đầu chuôi kiếm tạo hình một đầu rồng (hay đầu con giao) làm bằng vàng có chạm trổ rất tinh xảo. Đầu rồng này nối với đốc kiếm làm bằng một dãy gồm bảy vòng ngọc thạch giống bảy đốt tre dính liền với nhau, thông qua những gờ nỗi bằng vàng và cuối cùng là một chiếc vòng vàng nằm giữa bốn chuỗi san hô và trân châu. Miệng rồng ngậm một băng mạ vàng, uốn hình vòng cung nối với bốn chuỗi san hô và trân châu ở cuối đốc kiếm, tạo thành cánh của đốc kiếm. Phía cuối cánh đốc kiếm có chạm trổ hình những chiếc lá bằng vàng và nạm những hạt kim cương. Lưỡi kiếm hơi uốn cong, làm bằng thép sáng ngời. Trên lưỡi kiếm, sát với phần đốc kiếm có khảm ba chữ Hán Thái A Kiếm bằng vàng, là tên của thanh kiếm. Theo nhà nghiên cứu Dominique Rolland, đây là thanh kiếm bảo kiếm của vua Gia Long, vốn được trưng bày trong Đại Nội Huế, nhưng đã bị người Pháp cướp đi trong sự kiện Kinh đô thất thủ vào tháng 7.1885. (Dominique Rolland, “Le sabre de l’Empereur Gia Long”, Bulletin de la Nouvelle Association des Amis du Vieux Hué, 9.2005, pp. 3-17).

 

Hiện vật thứ hai là chiếc chậu quán tẩy làm bằng vàng được đưa ra trưng bày trong cuộc triển lãm của nhà buôn bán đồ cổ Roger Keverne (London) vào mùa đông năm 2008. Đây là chậu dùng để cho vua rửa tay trước khi cử hành những đại lễ trong tông miếu triều Nguyễn. Chậu có đường kính 31,7cm. Vành trên miệng chậu có khắc dòng lạc khoản gồm 18 chữ Hán: Bát ngũ tuế kim, tam thập ngũ lượng lục chỉ bát phân, tượng tác tượng tứ phụng tạo, nghĩa là: làm bằng vàng 8,5 tuổi, nặng 35 lượng 6 chỉ 8 phân, do thợ ở đội 4 trong tượng cục vâng mệnh làm ra. Trong lòng khắc hình rồng 5 món cuộn tròn (đoàn long), mặt trời và mây. Vành miệng khắc chìm bốn đồ án long vân xen kẽ các dãi hồi văn hình hoa thị. Đường nét chạm trổ trên chậu rất tinh xảo, diệu nghệ, càng làm tăng giá trị của bảo vật. Theo ghi chép trong catalogue, chậu quán tẩy này có xuất xứ từ Hoàng cung Huế vào năm 1887, trước khi được bán cho ông Ralph Marty vào năm 1926. Theo khảo cứu của chúng tôi, thực ra, chiếc chậu bằng vàng này đã bị quân Pháp cướp khi họ tràn vào Đại Nội trong ngày 5.7.1885. Căn cứ vào ghi chép của linh mục Siefert thì có thể đây là một trong các bảo vật bị người Pháp lấy đi từ miếu nơi thờ các vua nhà Nguyễn trong Đại Nội Huế.

Hiện vật thứ ba là một sách phong bằng bạc mạ vàng, trước đây thuộc sưu tập của ông Hồ Đình Xuân ở Pháp, được đưa ra bán đấu giá ở Paris vào ngày 12.12.1996 với giá 9.500 francs. Đây là sách phong do vua Thiệu Trị tấn phong cho vợ là bà Vũ Thị Viên, từ hạng Lương tần lên hạng Lương phi vào năm Thiệu Trị thứ 6 (1846). Sách gồm 5 tờ 10 trang, kích thước 23cm x 14cm. Theo sách Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ do Nội các triều Nguyễn biên soạn, thì sách phong cho các phi được làm bằng bạc mạ vàng, dài 5 tấc 4 phân (21,60 cm), rộng 3 tấc 2 phân 4 ly (12,96 cm), với hai tờ bìa khắc hình rồng mây, bên trong có 3 tờ sách khắc sách văn. Như thế, sách phong cho Lương phi Vũ Thị Viên có kích thước lớn hơn. Đây là một điều khá

đặc biệt. Nội dung sách văn tạm dịch như sau: “Thiệu Trị năm thứ 6, Bính ngọ, tháng Giêng, vượt qua ngày mồng Một,  Đinh tị, được 20 ngày (tức là ngày Bính tí). Thừa thiên hưng vận, Hoàng đế ban rằng: Trẫm nghĩ: Vương gia giáo hóa ưu tiên lấy biểu nghi làm chuẩn mực. Khánh lễ quốc gia, theo phép ra ân lớn tự bên trong. Chọn được ngày lành. Ban ra ân chiếu. Đoái nghĩ Lương tần họ Vũ: Con nhà danh giá, công lao. Tư cách đằm thắm thận trọng. Đoan trang tốt đẹp hết sức trợ giúp cung cấm, dạy bảo thuận hòa. Cung kính nết hạnh, dốc lòng phụng thờ bề trên, dịu dàng khuôn phép. Vui vẻ chiều ý đức Từ (tức bà Thuận Thiên Cao hoàng hậu). Khéo khôn nhận đầy sủng mệnh. Đúng dịp Trẫm mới lên tuổi sơ thọ (Lúc này vua Thiệu Trị đúng 40 tuổi, nên mới dùng sơ thọ), nên ân ban khắp chốn đất trời. Nay đang cậy đức lớn đức Từ, cần lớn lao để thêm long trọng. Dựa theo phép tắc. Để ngợi khen riêng. Nay đặc biệt tấn phong ngươi là Lương phi. Phi hãy: Cung nhận tiếng khen. Kính tuân giáo huấn. Thuận kính đúng theo khuôn mẫu, không có điều lầm lẫn, Phúc lành mới được nương nhờ, còn mãi chở che. Kính thay(Vĩnh Cao dịch). Theo sách Nguyễn Phúc tộc thế phả, Lương phi Vũ Thị Viên là vợ thứ của vua Thiệu Trị và con gái của Phó vệ úy Vũ Hữu Lĩnh, người huyện Hương Trà (tỉnh Thừa Thiên). Bà sinh ra 4 hoàng tử: Nguyễn Phúc Hồng Hưu (Gia Hưng vương), Nguyễn Phúc Hồng Kiện (An Phúc quận vương), Nguyễn Phúc Hồng Bàng, Nguyễn Phúc Hồng Thụ, và 2 hoàng nữ: Nguyễn Phúc Ý Phương (Đồng Phú công chúa), Nguyễn Phúc Minh Tư. Cho đến nay, sách phong Lương phi Vũ Thị Viên là sách phong duy nhất bằng bạc mạ vàng vẫn còn tồn tại, vì ở Việt Nam và hải ngoại, người ta chỉ còn trông thấy một số đồng sáchthể sách (sách lụa) mà thôi, chủ yếu mang niên hiệu từ đời Tự Đức trở về sau.

 

Hiện vật thứ tư là trấn phong kích thước 20cm x 19cm, trước đây thuộc sưu tập của hoàng thái tử Bảo Long, được đưa ra bán đấu giá ở London vào năm 2008. Trấn phong làm bằng vàng, nặng 11,9 lượng. Phần trên trấn phong chạm lộng đồ án lưỡng long triều nhật (hai rồng chầu mặt trời); phần dưới chạm lộng đồ án long hàm thọ (rồng ngậm chữ Thọ); còn hai trụ ở hai bên trấn phong thì chạm hình rồng đoanh, đặt trên thân hai con kỳ lân làm bằng bạc, nặng 2,2 lượng. Thân của trấn phong khắc dòng chữ Hán: Vạn thọ tứ tuần đại khánh tiết, nổi trên nền hồi văn chữ Vạn liên hoàn. Trấn phong này là món quà của dân chúng An Nam mừng thọ vua Khải Định nhân dịp sinh nhật lần thứ 40 của vua (1924).

Hiện vật thứ năm cũng là một tấm trấn phong, nhưng gồm 4 tấm vàng liên kết với nhau, có tổng chiều dài là 57,50 cm, cân nặng 1,66 kg. Mặt trước trấn phong chạm nổi hình bản đồ Việt Nam (tấm thứ 1), cảnh chùa Thiên Mụ (tấm thứ 2), cảnh Phu Văn Lâu và Kỳ Đài Huế (tấm thứ 3); đồ án rồng mây và văn thủy ba (tấm thứ 4). Mặt sau trấn phong khắc những dòng chữ Hán, cho biết, đây là quà tặng của dân chúng An Nam cho hoàng thái tử Vĩnh Thụy vào năm 1923. Nội dung văn tự trên mặt sau trấn phong tạm dịch như sau: “Kính mong Hoàng thái tử sức khoẻ dồi dào, học hành thành đạt ở nơi trời Tây, sau này về nước kế vị vua cha, cai trị đất nước, xây dựng một đất nước Việt Nam tự do, thống nhất từ Bắc đến Nam, có sức mạnh và bình đẳng với các quốc gia khác trên thế giới. Đồng thời dân chúng cũng cầu chúc Hoàng đế Khải Định, Hoàng thái tử Vĩnh Thụy trường thọ, chúc triều Nguyễn trường tồn”.Trấn phong này thuộc bộ sưu tập của Cựu hoàng Bảo Đại, nhưng vừa được đưa ra bán đấu giá ở London vào năm 2008.

Cuối cùng là những chiếc kim bàikim khánh vừa được eBay rao bán đấu giá trên mạng internet cách nay vài tháng. Kim bài của vua Khải Định, làm bằng vàng, chính giữa khắc 4 chữ Hán Đại bang duy bình, xung quanh có gắn 10 viên hồng ngọc và các đường viền chạm hình lưỡng long. Kim khánh cũng làm bằng vàng, hai mặt đều chạm hình lưỡng long triều nhật, bao quanh các chữ Hán Khải Định ân tứ (mặt trước) và Báo nghĩa thù huân (mặt sau). Phía dưới kim khánh là hình vân khánh nối với những dãi tua, tất cả đều được kết bằng những hạt cườm ngũ sắc.

 

Kim khánh này được đặt trong một chiếc hộp bằng bạc, có khắc hoa văn lưỡng long triều nhật bao quanh một ô hình trái xoan ở giữa, có khắc bốn chữ Hán Khải Định niên tạo kèm theo chữ ký của nghệ nhân ở phía dưới, bên trái. Cuối cùng là một chiếc kim khánh hạng hai, cũng làm bằng vàng, có khắc ba chữ Hán An Tĩnh công. Cách nay một tháng, kim khánh An Tĩnh công này đã được bán với giá 1919 euro. Tất cả những kim khánh và ngọc khánh này đều thuộc quyền sở hữu của nhà sưu tập Andrè Hüsken ở Hamburg (Đức). Ngoài ra, trong sưu tập huy chương của đại sứ Ý Antonio Benedetto Spada, hiện đang trưng bày tại bảo tàng Légion d’Honneur (Paris), cũng có trưng bày 8 kim bài, 6 ngân bài cùng nhiều kim khánh, ngân khánh, kim bội và kim tiền. Các kim bài, kim khánh, ngọc khánh… này vốn là những vật tùy thân, cũng là các món trang sức của các bậc đế vương và thành viên trong hoàng gia. Đồng thời đó cũng là những vật thể hiện địa vị và đẳng cấp của người sở hữu chúng. Ngoài ra, các vua triều Nguyễn còn dùng kim bài, kim khánh, ngọc khánh làm vật phong tặng, quà kỷ niệm hay để ân thưởng cho quý tộc và quan lại cao cấp trong những dịp đặc biệt. Tất cả đều là bảo vật truyền gia của vương triều Nguyễn, nhưng nay đang lưu lạc nơi đất khách quê người. Thật là đáng tiếc lắm thay.

P.T. – T.Đ.A.S.

Chú thích ảnh:

Bảo vật 01: Thái A kiếm của vua Gia Long đang trưng bày ở Bảo tàng Quân đội (Paris)Bảo vật 02: Chậu quán tẩy làm bằng vàng.

Bảo vật 03: Sách phong Lương phi Vũ Thị Viên bằng bạc mạ vàng.

Bảo vật 04: Trấn phong bằng vàng, tặng vật nhân dịp Tứ tuần đại khánh của vua Khải Định vào năm 1924.

Bảo vật 05: Trấn phong bằng vàng, tặng vật của dân chúng An Nam cho hoàng thái tử Vĩnh Thụy vào năm 1923.

Bảo vật 06: Kim khánh của vua Khải Định, mặt trước khắc dòng chữ Khải Định ân tứ, do nhà sưu tập Andrè Hüsken rao bán trên eBay.

Bảo vật 07: Kim bài khắc dòng chữ Đại bang duy bình của vua Khải Định, do nhà sưu tập Andrè Hüsken rao bán trên eBay.Bảo vật 07b: Kim khánh của vua Khải Định, mặt sau khắc dòng chữ Báo nghĩa thù huân, do nhà sưu tập Andrè Hüsken rao bán trên eBay.

Bảo vật 08: Kim khánh khắc hai chữ Sắc tứ bằng vàng nạm ngọc trai, trong sưu tập của đại sứ Ý Antonio Benedetto Spada, hiện đang trưng bày tại bảo tàng Légion d’Honneur (Paris).

 

 

MỤC LỤC – KIẾN THỨC MỸ THUẬT VN KỶ NIỆM THĂNG LONG 1000 NĂM

Advertisements

Read Full Post »

HỘI THẢO KHOA HỌC HOÀNG THÀNH THĂNG LONG . BÀI 1

HỘI THẢO KHOA HỌC HOÀNG THÀNH THĂNG LONG . BÀI 2

Read Full Post »

HÌNH ẢNH FESTIVAL GỐM SỨ BÌNH DƯƠNG VIỆT NAM – BÌNH DƯƠNG  2010

đã khai mạc Triển lãm trưng bày gốm cổ với chủ đề “Tinh hoa Gốm việt”. Triển lãm trưng bày gần 720 hiện vật gốm cổ qua các thời kỳ như gốm sứ Đông Sơn, thời Đinh – Tiền Lê, thời Lý – Trần, gốm sứ Óc eo, Champa… của Bảo tàng lịch sử Việt Nam và một số tỉnh thành. Đây được xem là cuộc trưng bày lớn nhất về gốm cổ Việt từ trước cho đến nay với các cổ vật được quy tụ từ các bảo tàng trong cả nước như: Bảo tàng lịch sử Việt Nam, Bảo tàng các tỉnh: Thừa Thiên – Huế, Quảng Nam, Bình Định, Phú Yên, Đồng Nai… và cổ vật của các nhà sưu tập trong và ngoài tỉnh. Các hiện vật thuộc các chất liệu như: đất nung, sành, gốm với các dòng men như gốm men độc sắc gồm: men trắng, men ngọc, men nâu, gốm hoa nâu, gốm hoa lam, men lam xám, gốm men rạn… thể hiện sự đa dạng và phong phú của gốm Việt. Triển lãm trưng bày gốm cổ diễn ra từ ngày 03/9 đến 08/9/2010 tại Bảo tàng tỉnh. Ngoài  ra tại sân vận động tỉnh cũng  tổ chức Hội chợ triển lãm “Gốm sứ – Thế giới sắc màu”. Hội chợ triển lãm với hơn 600 gian hàng trưng bày gốm sứ trong và ngoài nước như gốm sứ Minh Long, Cường Phát, Bát Tràng, gốm sứ Trung Quốc…Tại Triển lãm, ngoài việc giới thiệu sản phẩm gốm sứ đây còn là cơ hội để các công ty đẩy mạnh xúc tiến thương mại, giao dịch, ký kết hợp đồng sản xuất, mua bán…

Ngoài ra, một số sản phẩm tham gia cuộc thi “Gốm đề cử kỷ lục Việt Nam” cũng được trưng bày cho công chúng tham quan như Gốm mây, Đất nước, Lu Thiên địa, Thăng Long hoài cổ…Bên cạnh đó, còn trưng bày một số sản phẩm cao cấp được trang trí hết sức sinh động dưới bàn tay của những nghệ nhân gốm sứ. Đây là một trong những hoạt động nhằm chào mừng Quốc khánh 2/9, hướng tới kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội và nằm trong chuỗi hoạt động của Festival gốm sứ Việt Nam- Bình Dương

Dưới đây là hình ảnh trong cuộc triển lãm :

“Tinh hoa gốm việt”

This slideshow requires JavaScript.

“Gốm sứ – thế giới sắc màu”

This slideshow requires JavaScript.



Hình ảnh của bản tin: KhanhHoaThuyNga

* MỤC LỤC – TIN TỨC THỜI SỰ NGÀNH GỐM 


Read Full Post »

NGHỆ THUẬT KIẾN TRÚC

Kiến trúc phát triển mạnh dưới thời nhà Lý và chịu ảnh hưởng của Phật Giáo rất sâu đậm .cung điện , lâu đài ,thành quách và chùa tháp được xây dựng với quy mô lớn . Thành Thăng Long là một công trình xây dựng lớn trong các triều đại phong kiến .Thành gồm hai vòng dài khoảng 25km .Trong hoàng thành có những cung điện cao đến bốn tầng

Lý Công Uẩn lên ngôi vua , sáng lập vương triều Lý(1009-1225) tại kinh đô Hoa Lư (Ninh Bình) ngày 2-11 Kỷ Dậu(21-11-1009) .Tháng 7 mùa thu năm 1010, nhà vua dời đô từ Hoa Lư về thành Đại La đổi tên là Thăng Long. Ngay trong mùa thu năm đó , nhà Lý đã khẩn trương xây dựng một số cung điện làm nơi ở và làm việc của vua , triều đình và hoàng gia .Trung tâm là điện Càn nguyên , nơi thiết triều của nhà vua, hai bên là điện Tập Hiền và Giảng Võ , phía sau là điện Long An , long Thụy làm nơi vua nghỉ . Đến cuối năm 1010 , 8 điện 3 cung đã hoàn thành .Những năm sau , một số cung điện và chùa tháp được xây dựng thêm . Một vòng thành được bao quanh các cung điện cũng xây đắp trong năm đầu , gọi là Long Thành hay Phượng Thành .Đó chính là Hoàng Thành theo cách gọi phổ biến về sau này . Thành đắp bằng đất , phía ngoài có hào , mở 4 cửa : Tường Phù ở phía đông , Quảng Phúc ở phía tây , Đại hưng ở phía nam , Diệu Đức ở phía bắc .Trong Long Thành có một khu vực được đặc biệt bảo vệ gọi là Cấm Thành là nơi ở và nghỉ ngơi của vua và hoàng gia . Trong đời Lý , các kiến trúc trong Hoàng Thành còn qua nhiều lần tu sửa và xây dựng thêm .Long Thành và Cấm Thành là trung tâm chính trị của kinh thành .Phía ngoài cùng với một số cung điện và chùa tháp là khu vực cư trú , buôn bán , làm ăn của dân chúng gốm các bến chợ , phố phường và thôn trại nông nghiệp . Một vòng thành bao bọc toàn bộ khu vực này bắt đầu được xây đắp từ năm 1014, gọi là thành Đại la hay La Thành . Trong những biến loan cuối thời Lý , Hoàng Thành bị tàn phá nặng nề . sau khi thành lập , nhà Trần phải đắp lại thành , xây lại các cung điện , nhưng vị trí qui mô của Hoàng Thành , thường gọi là Long Phượng Thành không thay đổi .

Thời Lê sơ,Hoàng Thành nhiều lần được tu bổ và mở rộng thêm mà trung tâm điểm là điện Kính Thiên dựng năm 1428 xây dựng lại năm 1465 với lan can bằng đá chạm rồng năm 1467 nay vẫn còn trong thành Hà Nội . Năm Hồng Đức thứ 21 (1490) , vua Lê Thánh Tông định bản đồ cả nước gồm 13 thừa tuyên Và phủ Trung Đô tức thành Đông Kinh thời Lê sơ. Tập bản đồ thời Hồng Đức thứ 21 (1490), vua Lê Thánh Tông định bản đồ Hống Đức còn lại đến nay đã qua nhiều lấn sao chép lại về sau ,nhưng vẫn là tập bản đồ xưa nhất của nước Đại Việt sang thời Nguyễn , thành Hà Nội do vua Gia Long xây năm 1805 theo kiểu Vauban không những hạ thấp độ cao mà còn thu nhỏ qui mô so với Hoàng Thành của Thăng Long xưa . Tuy nhiên trục trung tâm Đoan Môn Kính Thiên của Hoàng Thành Thăng Long thời Lê vẫn không thay đổi và trên trục này thêm cột cờ, Cửa bắc thời Nguyễn


Kiến trúc thời Lý phục vụ Phật Giáo , rất nhiều Quốc Tự được xây dựng .Phong cách thống soái là hoành tráng , đồ sộ.Chùa một cột ( Chùa Diên Hựu)được xây dựng ở Thăng Long với quy mô lớn hơn ngôi chùa đã có trước đó ở Hoa Lư và với sự cách điệu tuyệt diệu . Việc xây dựng các chùa tháp rất được coi trọng . Năm 1031 Lý Thái Tông cho xây dựng 950 ngôi chùa .Năm 1056 Lý Thánh Tông lập chùa Sùng Khánh ở phường Báo Thiên, phải dùng 11 ngàn cân đồng để đúc chuông chùa , năm sau lại dựng Tư Thiên Bảo Tháp trước chùa Báo Thiên ,cao vài chục trượng (khoảng 50-60 m)và có 30 tầng . Ngoài ra còn có nhiều chùa tháp khác cũng đồ sộ và huy hoàng không kém .

Chùa Báo Ân và tháp Báo Thiên cao khoảng 70m .Chùa Phật Tích- Bắc Ninh , chùa Long Đọi –Hà nam , Chùa Bà Tấm – hà Nội ,chùa Quảng Giáo –Quảng Ninh đều là những chùa lớn .

Kiến trúc chùa tháp thời Lý đều to lớn , cao . Các chùa thường nằm trên đỉnh núi cao .cấu trúc và bố cục chùa tháp đơn giản , chỉ gồm một ngôi chùa chính và một ngọn tháp lớn có đáy vuông .Điều này phản ánh tư tưởng giản dị , phóng khoáng của người thời Lý .Trang trí tháp chịu ảnh hưởng của nghệ thuật Chăm , với các hình chim thần ( Garuda ), nữ thần đầu người mình chim , có lẽ do việc bắt những tù binh Chăm sau cuộc nam chinh của Lý Thánh Tông. Vì thế ấn tượng của ngọi chùa Lý rất độc đáo : Vùa tôn nghiêm , hùng vĩ , đường bệ bởi không gian và đường sống kiến trúc , vùa phóng khoáng lãng mạn bởi gần thiên nhiên, vừa sinh động , lý thú với các trng trí mang hơi hướng Chăm .

Chùa Một Cột hay chùa Mật ( gọi theo Hán Việt là Nhất Trụ Tháp ) còn có tên khác là Diên Hựu hoặc Liên Hoa Đài ( Đài hoa sen ) , là môt ngôi chùa nằm giữa lòng thủ đô Hà Nội .Đây là ngôi chùa có kiến trúc độc đáo nhất Việt Nam .

Chùa được khởi công xây dựng vào mùa đông tháng mười âm lịch năm 1049 .Chùa chỉ có một gian nằm trên một cột đá ở giữa Hồ Linh Chiểu nhỏ có trồng hoa sen . Truyền thuyết kể lại rằng, chùa được xây dựng theo giấc mơ của vua Lý thái Tông (1028-1054)và theo gợi ý của nhà sư Thiền Tuệ .vào năm 1049 vua đã mơ thấy được Phật Bà Quan Âm ngồi trên tòa sen dắt vua lên tòa . Khi tỉnh dậy,nhà vua kể chuyện đó lại cho bày tôi và được nhà sư Thiền Tuệ khuyên dựng chùa , dựng cột đá như trong chiêm bao , làm tòa sen của Phật Bà Quan Âm đặt trên cột như đã thấy trong mộng và cho các nhà sư đi vòng xung quanh tụng kinh cầu kéo dài sự phù hộ , vì thế chùa mang tên Diên Hựu .

Đến năm 1105 , vua Lý Nhân Tông cho sửa ngôi chùa và cho dựng trước sân hai tháp lợp sứ trắng . Năm 1108 Nguyên Phi Ỷ lan sai bày tôi đúc một cái chuông rát to ,nặng đến môt vạn hai nghìn cân , đặt tên là Giác Thế Chung ( quả chuông thức tỉnh người đời ).Đây được xem là một trong tứ đại khí- bốn công trình lớn của Việt nam thời đól là : Tháp Báo Thiên ,chuông Qui Điền , vạc Phổ Minh và tượng Quỳnh Lâm . Giác Thế Chung đúc xong nặng quá không treo lên được , để dưới mặt đất thì đánh không kêu .Người ta đành bỏ chuông xuống một thửa ruộng sâu bên chùa Nhất Trụ , ruộng này có nhiều rùa , do đó có tên là La Quy Điền chuông (chuông ruộng rùa ).

Đến thế kỷ 15 , giặc Minh xâm lược , chiếm thành Đông Quan ( Hà Nội ).Năm 1426 Lê Lợi đem nghĩa quân lam Sơn ra đánh ,vây thành rất gấp .quân Minh thiếu thốn vũ khí đạn dược, tướng Minh là Vương Thông bèn sai người đem phá chuông Quy Điền lấy đồng .Quân Minh thua trận , nhưng chuông Quy Điền thì không còn nữa .

Đến thời nhà Trần , chùa đã không phải là ngôi chùa nhà Lý nữa vì sách cũ đã ghi : Năm 1249 :”…mùa xuân , tháng giêng , sửa lại chùa Diên Hưu ,xuống chiếu vẫn làm ở nền cũ…” chùa đã qua nhiều đợt tu sửa .Đợt tu sửa chữa lớn vào năm Thiên Ứng Chính Bình 18 ( 1249 ) gần như phải làm lại toàn bộ. Thời Lê ,triều đình nhiều lần cho tu sửa , thu nhỏ kích thước đài sen và cột đá . Năm 1838, tổng đốc Hà Ninh Đặng Văn Hòa tổ chức quyên góp thập phương sửa chữa điện đường , hành lang tả hữu ,gác chuông và cửa tam quan . Năm 1852, bố chính Tôn Thất Giáo xin đúc chuông mới . Năm 1864 , tổng đốc Tôn Thất Hàm hưng công trùng tu , làm sàn gỗ hình bát giác để đỡ tòa sen , chạm trổ thêm công phu tráng lệ . năm 1954 ,trước khi rút khỏi Hà Nội , quân Pháp đã đặt mìn phá đổ chùa . Sau ngày tiếp quản thủ đô , Bộ văn hóa đã cho tu sửa chùa một cột theo đúng kiểu mẫu cũ để lại từ thời Nguyễn .

Cạnh chùa Một Cột ngày nay còn có một ngôi chùa có cổng tam quan , với ba chữ “:Diên Hựu Tự “ , là một ngôi chùa mới được xây dựng phụ vào với chùa Một Cột , xây khoảng đầu thế kỷ 18 .


 

Chùa Phật Tích ( Phật Tích Tự ) còn gọi là chùa Vạn Phúc ( Vạn Phúc Tự ) là một ngôi chùa nằm ở sườn phía nam núi Phật Tích ( còn gọi núi Lạn Kha , non tiên ), xã Phật Tích , huyện Tiên Du , tỉnh Bắc Ninh . Trong chùa có tượng Đức Phật bằng đá thời nhà Lý lớn nhất Việt Nam. Chùa Phật Tích được công nhận là di tích Lịch sử văn hóa đặc biệt quan trọng của quốc gia .

Theo tài liệu cổ thì chùa Phật Tích được khởi dựng vào năm Thái Bình thứ tư ( 1057 ) với nhiều tòa ngang dãy dọc . Chùa được xây dựng vào thời nhà Lý . Ngôi chùa vào thời nhà Lý hiện nay không còn nữa .

Năm 1066 , vua Lý Thánh Tông lại cho xây dựng một ngôi tháo cao . sau khi tháp đổ mới lộ ra ở trong đó có bức tượng Phật A Di Đà bằng đá xanh nguyên khối được dát ngoài bằng vàng . để ghi nhận sự xuát hiện kỳ diệu của bức tượng này , xóm Hỏa Kê ( cạnh chùa ) đổi tên thành thôn Phật Tích .

Văn bia Vạn Phúc Đại Thiền Tự Bi năm Chính Hòa thứ bảy ( 1686 )ca ngợi vẻ đẹp của cạnh chùa :” Đoái trông danh thắng đất Tiên Du , danh sơn Phật Tích , ứng thế ở Càn Phương( hướng Nam ) có núi Phượng Lĩnh bao bọc , phía tả Thanh Long nước chảy vòng quanh . Phía Hữu Bạch Hổ núi ôm , trên đỉnh nhà khai bàn đá …”

Năm 1071 , vua Lý Thánh Tông đi du ngoạn khắp vùng Phật Tích và viết chữ “Phật” dài tới 5m , sai khắc vào đá đặt trên sườn núi . Bà Nguyên Phi Ỷ lan có đóng góp quan trọng trong bưởi đầu xây dựng chùa Phật Tích .

Vào thời nhà Lê , năm Chính Hòa thứ bảy đời vua Lê Hy Tông , năm 1686 , chùa được xây dựng lại với quy mô rất lớn , có giá trị nghệ thuật cao và đổi tên là Vạn Phúc Tự .

Nhưng rồi vẻ huy hoàng và sự thịnh vượng của chùa Phật Tích cũng chỉ tồn tại su đó được gần 300 năm .kháng chiến thực dân Pháp bùng nổ và Chùa bị tàn phá nhiều . Chùa đã bị quân đội Pháp đốt cháy hoàn toàn vào năm 1947 .

Khi hòa bình lập lại (1954)đến nay , Chùa Phật Tích được khôi phục dần . năm 1959 , bộ văn hóa cho tái tạo lại 3 gian chùa nhỏ làm nơi đặt pho tượng A Di Đà bằng đá quý giá .Tháng 4 năm 1962 , nhà nước công nhận chùa Phật tích là Di tích Lịch Sủ văn hóa .

Chùa được kiến trúc theo kiểu “nội công ngoại quốc“ , sân chùa là cả một vườn hoa mẫu Đơn rực rỡ . Bên phải Chùa là miếu thờ Đức Chúa tức bà Trần Thị Ngọc Am là đệ nhất cung tần của chúa Trịnh Tráng tu ở chùa này .

Cho tới nay , Chùa Phật Tích có 7 gian tiền đường để dùng vào việc đón tiếp khách , 5 gian bảo thờ Phật , Đức A Di Đà cùng các vị Tam Thế Phật , 8 gian nhà tổ , và 7 gian nhà thồ Thánh Mẫu .

Ngôi Chùa có kiến trúc của thời Lý , thể hiện qua ba bậc nền bạt vào sườn núi .các nền hình chữ nhật dài khoảng 60m rộng khoảng 33m , mặt ngoài bố trí các tảng đá hình khối hộp chữ nhật .


 

 

Chùa Dạm căn cứ vào các thư tịch cổ , Chùa Dạm được Vua Lý Nhân Tông (1072-1127 ) cho xây dựng vào năm Quang Hựu thứ hai ( 1086 ).Để tiện vận chuyển nguyên vật liệu phục vụ công trình , vua cho đào ngòi Con Tên từ chân núi Lãm Sơn chạy thẳng ra sôngĐuống .Năm 1087 , “Vua ngự đến chùa Lãm Sơn , đến đêm ban yến cho các quan .Vua làm 2 bài Lãm Sơn dạ yến” công trình làm trong 9 năm mới xong .Vua ban tên Chùa là Cảnh Long Đồng Khánh, lại thân đề biển bằng chữ triện .

Năm long phù nguyên hóa thứ 5 (1105) , Vua Lý Nhân Tông cho xây thêm ba tháp đá nữa .Chùa làm xong(1094), vua ban 300mẫu ruộng tự điền để nhà chùa có hoa lợi hương khói và 7 gia đình ở mé dưới núi được giao việc chuyên đóng mở cửa chùa.

Chùa đặt ở sườn núi phía nam của dãy Lãm Sơn , chính giữa ngọn cao nhất .Núi Rùa làm tiền án , ngòi Con Tên làm Minh Đường bên tả có thanh Long ,bên hữu có Bạch Hổ chầu về .Chùa Dạm hội tụ đủ huyết mạch linh thông theo thuyết phong thủy . Chùa dựa hẳn vào sườn núi và 4 lớp nền đá trườn theo sườn núi vừa tôn tầm cao công trình vừa tạo dáng vẻ uy nghi êm hài hòa với cảnh quan thiên nhiên chung quanh . hơn nữa tránh được nạn lụt lội ở vùng “rốn nước “ Quế Võ lắm đồng sâu ruộng trũng . chiều dài của lớp nền 120m , chiều rộng 70m ( Chùa Phật Tích là 100m và 60m ).Tổng cộng diện tích gần 8000m vuông ,Bốn lớp nền được bó ghép bằng đá tảng (mỗi viên có kích thước 50×60 cm) các lớp đá được cấu tạo choãi chân đế ,chếch khoảng 70 độ ,và có độ cao 5-6m .


 

Chùa Long Đọi Sơn còn có tên chữ là Diên Linh Tự do Vua lý Thánh Tông và Vương Phi Ỷ Lan chủ trì xây dựng từ năm 1054 .Đến đời Lý Nhân Tông nhà vua này tiếp tục xây dựng phát triển và xây tháp Sùng Thiện Diên Linh từ năm 1118 đến năm 1121.

Sau ba trăm đứng vững thì đến đầu thế kỷ XV , khi giặc Minh xâm lược nước ta , chùa và tháp bị phá hủy hoàn toàn .Riên bia thì không phá nổi , chúng đả lật đổ xuống bên cạnh núi , ngôi chùa đã trở nên hoang phế hoàn toàn . Mãi đến năm Tự Đức thứ 13 ( 1860 ) nghĩa là 170 năm sau khi giặc Minh tàn phá nhân dân trong vùng mới cho sửa sang lại Thượng Điện , Tiền Điện , gác chuông , nhà tổ …đến năm 1864 , chùa lại tiếp tục sửa hành lang , đúc tượng Di Lặc , đúc khánh đồng và đúc khánh đá do sư tổ đời thứ 5 là Thích Chiếu Trường chủ trì xây dựng hoàn chỉnh 125 gian , từ đó trở thành trường Bắc Kỳ Phật Giáo .Ngôi chùa này được xây dựng theo kiểu nội công ngoại quốc . Tại tiền đường, thượng điện tượng Phật rất nhiều .hai bên Chùa là 18 gian hành lang thờ Thập bát La Hán .


Chùa Bà Tấm ( Dương Xá – Gia Lâm –Hà Nội )

 

Cụm di tích đền – Chùa Bà Tấm thuộc địa phận xã Dương Xá huyện Gia Lâm , ngoại thành Hà Nội . Di tích nằm ở phía đông và cách khu vực nội thành Hà Nội gần 20km .Từ trung tâm thành phố , qua cầu Chương Dương , theo quốc lộ 5 đi Hải Phòng khoảng 8km thì đến địa phận xã Dương Xá .Di tích nằm bên trái , liền kề đường quốc lộ . Theo sử sách và truyền thuyết dân gian , cụm di tích đền – chùa Bà tấm được xây dựng từ thời Lý , sự ra đời của di tích gắn liền với Nguyên Phi , Hoàng Thái Hậu Ỷ Lan – một nhân vật kiệt xuất của vương triều nhà Lý .Sử cũ cho biết Nguyên Phi Ỷ lan giỏi việc trị nước ( hai lần nhiếp chính ), khiến nhân tâm hòa hợp , đất nước thanh bình , dân gian sùng phật , tôn bà là Phật Bà Quan Âm .

Cụm di tích chùa – đền Bà Tấm vốn được xây dựng trên một gò đất cao, rộng, nằm bên hữu ngạn dòng sông Thiên Đức nổi tiếng(phía bên tả ngạn là chùa Báo Ân thời Trần ,gắn liền với cuộc đời tu hành của vua Trần Nhân Tông ) . Trải qua quá trình tồn tại , mặt bằng di tích có nhiều thay đổi , hiện nay còn có chùa , đền và nhà thờ Mẫu cùng một số đơn nguyên kiến trúc kề cận .

Còn tiếp

MỤC LỤC – KIẾN THỨC MỸ THUẬT VN KỶ NIỆM THĂNG LONG 1000 NĂM


 

 

Read Full Post »