Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘ống nhổ’

Bình vôi, ống nhổ


hotanphan
(Xuân MTTN 2008) – Theo nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới, Việt Nam không phải là nước độc nhất, cũng không phải là nước đầu tiên có tập quán ăn cau trầu. Tuy nhiên có thể khẳng định, tục ăn cau trầu ở nước ta cũng đã có từ rất lâu đời.

Hồ Tấn Phan – Xuân Miền Trung Tây Nguyên 2008

Theo Truyện trầu cau trong  Lĩnh Nam chích quái, tục ăn cau trầu ở nước ta đã có từ thời Hùng Vương. Nhưng phổ biến thì phải đến thời tiền Lê. Tác giả Mã Đoan Lâm viết trong Văn hiến thông khảo: Năm Thuần Hóa thứ nhất (900), vua Tống sai sứ sang truyền phong cho Lê Hoàn chức đặc tiến, khi về sứ thần là Tống Cảo thuật lại rằng: “….Lê Hoàn cầm cương ngựa, cùng sứ giả cùng đi, rồi lấy trầu mời trên lưng ngựa, đấy là phong tục mời khách quý…”.

Người Tây phương vào cuối thế kỷ trước, khi đến nước ta đã rất ngạc nhiên khi thấy tục lệ này. Cristophoro Borri -Giáo sĩ Dòng Tên người Ý đã viết trong cuốn Xứ Đàng Trong năm 1621: “Ở xứ Đàng Trong còn một trái khác đặc biệt của xứ này người Bồ gọi là “areca” (cau). Cây nó mọc thẳng như cây dừa, rỗng ở trong và chỉ đâm lá ở chóp đỉnh, lá tựa lá dừa; ở giữa các tàu lá, nảy các ngành nhỏ có trái. Trái có hình thù và kích thước của trái hồ đào, sắc xanh cũng như vỏ hồ đào, còn ruột thì trắng và cứng như trái dẻ, chẳng có mùi vị gì hết. Trái này không ăn một mình, nhưng ăn với lá trầu không, thứ cây rất thông dụng ở khắp Ấn Độ, lá như lá thường xuân ở châu Âu và thân bám vào cây chống như giống cây thường xuân. Người ta hái lá cắt thành từng miếng nhỏ và trong mỗi miếng để một miếng cau, như vậy mỗi trái có thể làm thành bốn hay năm miếng.

Người ta còn thêm vôi với cau. Vôi ở xứ này không làm bằng đá như vôi châu Âu, nhưng bằng vỏ sò hến. Vì trong nhà có những người chuyên lo việc bếp núc, chợ búa và các việc khác, nên ở Đàng Trong mỗi nhà đều có một người không có việc gì khác hơn là việc têm trầu, những người dùng vào việc này thường là đàn bà, nên gọi là các bà têm trầu. Những miếng trầu đã têm sẵn thì để vào trong hộp và suốt ngày người ta nhai trầu, không những khi ở trong nhà mà cả khi đi lại trong phố chợ, cả lúc nói, ở mọi nơi, mọi lúc. Và sau khi đã nhai trầu lâu và nghiền trong miệng, người ta không nuốt mà nhả ra, chỉ giữ hương vị và phẩm chất tăng thêm sức mạnh cho dạ dày một cách kỳ lạ.

Trái này được têm thành miếng rất thông dụng đến nỗi khi tới thăm ai, người ta đem theo một túi đầy trầu và mời người mình tới thăm, người chủ nhà lấy một miếng cho ngay vào miệng. Trước khi người khách từ biệt ra về, chủ nhà sai người têm trầu của nhà mình đem ra một túi để mời người khách đến thăm mình, như để đáp lại sự lịch thiệp mình đã nhận được. Do đó, vì cần phải có sẵn cơi trầu cau, và có liên tục, nên cau cũng là một nguồn lợi lớn ở xứ này, có vườn cau thì cũng như ở xứ chúng ta có ruộng nho và ruộng ô liu. Họ cũng hút thuốc lá, nhưng thuốc lá không thông dụng bằng trầu cau”.

Cristophoro Borri mô tả tỷ mỷ, nhưng vẫn còn thiếu nhiều, kể cả những cái cơ bản như bình vôi, ống nhổ. Cau, trầu, vôi vẫn còn đó, nhưng là cau, trầu, vôi hậu sinh. Cau, trầu, vôi mà Cristophoro Borri thấy đã đi vào thế giới sắc không.

Theo bước chân công chúa Huyền Trân, 700 năm trước, một đợt lưu dân Việt đi vào hai châu Ô, Lý đổi thành châu Thuận, châu Hóa, rồi phủ Thuận Hóa. Trong hành trang của những người rời quê cũ vào miền đất mới có cả văn hóa cau trầu đã tồn tại hàng ngàn năm rồi, không những nó trở thành một tập quán, mà tinh thần của nó đã ăn sâu vào tâm thức của con người.

Khi vào đây, nền văn hóa cau trầu Việt gặp nền văn hóa cau trầu Chăm. Có nhà nghiên cứu cho rằng, có thể người Chăm đã biết ăn cau trầu trước người Việt. Theo truyền thuyết dân tộc Chăm, có hai bộ tộc: bộ tộc dừa ở phía bắc  (trong đó có TT-Huế ngày nay) và bộ tộc cau ở phía nam. Trong cuốn Lịch sử vương quốc Chăm, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội xuất bản năm 2004, tác giả Lương Ninh cho biết: Khi còn vương quốc Chăm, mỗi lần nhà vua xuất hành, theo nghi thức của triều đình, có 50 thị vệ và 10 thị nữ bưng những mâm vàng đựng cau trầu theo hầu.

Tục ăn cau trầu của người Chăm đã còn lưu lại trên nhiều dấu vết, và ngày nay người ta vẫn còn gặp những đồ dùng như hộp đựng trầu và bình vôi bằng đồi mồi khảm vàng bạc, dao bửa cau, buồng cau, lá trầu bằng vàng… Thế nhưng, liên quan đến tục ăn cau trầu được khắc lên bia đá thì chỉ có ở làng Lai Trung (thuộc xã Quảng Vinh, huyện Quảng Điền, tỉnh TT-Huế). Tấm bia này nói đến việc một vị quan “hầu trầu” (danay pinang) xây dựng đền tháp tôn thờ thần Civa.

Cho đến nay, chúng ta khó mà biết được một cách tường tận việc ăn cau trầu của các tiền nhân từ 700 năm trước, lúc họ vừa mới bước chân đến Huế. Nhưng đến thế kỷ 19, chúng ta có thể biết được toàn cảnh của một xã hội cau trầu, từ cung đình cho đến cùng đinh. Vào lúc đó, tục ăn cau trầu ở Huế có những nét đặc biệt mà nơi khác không có. Cau trầu liên quan đến quan hôn tang tế, sinh lão bệnh tử thì ở đâu cũng có, nhưng ở Huế còn có ăn cau trầu trong cung đình.

Về ăn cau trầu trong cung đình, trước hết phải nói việc ăn cau trầu của vua. Hàng năm, bộ Hộ thường tiến vào Đại Cung một số tiền để lo việc mua cau trầu cho vua ngự dụng. Ví dụ như Minh Mạng năm đầu tiên (1820) là 40 quan, đến năm Minh Mạng thứ 5 là 80 quan, và qua các thời có gia, giảm chút ít. Đó là một số tiền rất lớn nếu so với lương lính lúc đó, mỗi tháng mỗi người nhận khoảng 1 quan.

Đồ dùng trong việc ăn cau trầu của vua giao cho phủ Nội vụ chế tạo. Bình vôi, ống nhổ, cơi trầu, hộp trầu được làm bằng vàng, bạc hoặc đồng, chạm trổ công phu. Khay, hộp được chế tạo bằng đồi mồi hay gỗ quý. Đặc biệt có một số đồ dùng như bình vôi, ống nhổ được đặt làm từ bên Tàu, bên Tây.

Việc chầu hầu vua ăn cau trầu cũng là quan, binh, nhưng khác với phong tục của người Chăm. Ở triều nhà Nguyễn, những quan, binh này chẳng qua cũng chỉ là những thị thần, không có vai trò gì quan trọng trong triều đình. Thường chuyên trách công việc này có Viện Thượng trà được tuyển chọn kỹ từ từ 60 -100 người, được xếp vào biền binh chính ngạch. Thời thường các viên chức Viện Thượng trà phải chầu hầu bên vua, kể cả những dịp gặp ngày tự, hưởng, khánh hạ, triều hội, hoặc khi vua ngự trên điện. Khi vua giá hạnh các địa phương xa, các viên chức Viện Thượng trà cũng phải chỉnh tề trang phục xa giá để kịp thời dâng tiến các vật hạng ngự dụng.

Trong cung đình, cau trầu cũng có liên quan đến quan hôn tang tế. Ví như mỗi lần có một công chúa hạ giá, của hồi môn do phủ Nội vụ chu biện có: Bình vôi bằng sứ 1 cái, Hộp trầu thuốc bằng vàng (nặng 20 lạng) 1 bộ, Hộp trầu thuốc bằng bạc (nặng 16 lạng) 1 bộ, Hộp trầu thuốc bằng đồi mồi khảm vàng (vàng 7 tuổi rưỡi, nặng 2 đồng 5 phân) và khay bạc (3 lạng 7 đồng 2 phân), Hộp trầu bằng bạc hạng nhỏ có cơi một cái, Hộp trầu bằng bạc hạng nhỏ (bạng 20 lạng 2 đồng 5 phân, giá 162 quan) 1 cái, Hộp trầu khảm xà cừ 2 cái, Hộp trầu bằng đồi mồi 1 bộ, Hộp trầu bằng thau 2 bộ, Khay trầu bằng ngà bốn góc bịt vàng (vàng 7 tuổi rưởi 1 lạng và các vật liệu giá 100 quan) 1 cái, Ôậng nhổ bạc khảm vàng (vàng 4 lạng, bạc 20 lạng) 1 cái, Ôậng nhổ bạc khảm vàng (vàng 7 tuổi rưởi 6 đồng, bạc 4 lạng 8 đồng 5 phân, giá 92 quan 9 tiền 26 đồng) 1 cái, Ôậng nhổ bằng thau khảm vàng 1 cái, Ôậng nhổ bằng thau 6 cái, Âu đựng trầu bằng vàng (nặng 36 lạng 7 đồng cân) 1 cái, Chậu đựng trầu bằng thau 1 cái.

Trong dân gian thì hầu như mọi người đều ăn cau trầu. Tất cả làm nên một văn hóa cau trầu rất phong phú. Tục ăn cau trầu cũng đã ghi một ấn tượng đến tình yêu trong xã hội: tình yêu giữa ông bà và con cháu, giữa cha mẹ với con cái; tình yêu nam nữ, tình yêu vợ chồng… Những tình yêu đậm đà đó được thể hiện bằng những cái hôn đằm thắm, da diết… Và xin nói rõ, đây là hôn hít bằng mũi. Mùi vị của những người mình yêu thật sâu lắng, không thể nào quên…

Thời gian cứ trôi qua, trôi qua…, cuộc sống rồi cũng thay đổi, tục ăn cau trầu gần như lùi vào dĩ vãng, chỉ còn lại một ít hình ảnh lễ nghi, hoặc hình ảnh của một thế hệ gần đất xa trời, hay một ít vật dụng như những “ông” bình vôi nằm dưới gốc cổ thụ phảng phất chút khói hương…

Thế nhưng, thật ngạc nhiên và xúc động, như một phép lạ, nhiều năm trở lại đây, dưới dòng sông Hương và các dòng sông khác của Huế ồ ạt “xuất hiện” không biết cơ màn nào là bình vôi và ống nhổ, đủ chủng loại, đủ đẳng cấp. Mỗi cái có một “linh hồn”, thực thực, hư hư, và tất cả gần như còn giữ nguyên hơi thở của cuộc sống. Quá khứ xa xăm hàng ngàn năm trước đã thức dậy,  và chúng đã nói với chúng ta không biết bao nhiêu điều tưởng chừng như ảo mộng…

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN


Advertisements

Read Full Post »