Feeds:
Bài viết
Bình luận

Posts Tagged ‘ấm Tầu’

Bộ ấm cũ

Vèo nghe lá rụng đầy sân, ngồi rình những bước đi im ắng của thời gian để nay đốc chứng ôm khư khư mấy cục đất sét nung khô…Cũng chẳng vô tri bất mộ gì quá lắm, chẳng qua nhè cái tuổi lục tuần nhi nhĩ thuận rị mọ làm quen với mấy bộ ấm trà nắp rồng, quai chảo được nặn, véo cáo cạnh mới đâu đây.. Để rồi sáng sáng nhìn nắng lên, lửng lơ cùng tri giao quái ngã sầu đa mộng, trộm vía thấy có cụ lên tận mây xanh tìm sao hôm, sao mai, lại có cụ lóp ngóp bò lên ngồi chễm chệ trên bàn thờ ngóng chờ Phật. Nghĩ cũng hay, vì vậy người viết mới có chuyện chiều chiều ngắm hòang hôn xuống, để lặng lờ nhớ nhà trong điếu thuốc cùng khói huyền bay lên cây với con quay, con vụ của cái buổi ấu thời. Để rồi ăn mày quá khứ bằng vào mới chớm gió heo may cùng những ngày cận tết, được nghe bà láng giềng vén váy chửi mất gà. Tối ba mươi ngồi bên góc bếp canh nồi bánh chưng xem các dì, các cô kết tốt đỏ, tốt đen. Mùng một đi chùa, gặp cái bình vôi đất Thổ Hà nằm lăn lóc dưới gốc cây đa. Chiều về đã thấy các cụ đo giường vật vã với nàng tiên nâu, nhỏm dậy hít vài bi thuốc lào Tiên Lãng.

Rồi chiêu…một tách trà.

Bỗng quan hòai, mang mang cùng những cái thú chơi mấy cái ấm cũ của các cụ ta xưa, thế nên một ngày hòai cố nhân, ngồi gõ mõ với mấy bộ “Thứ nhất Thế Đức gan gà, thứ nhì Lưu Bội, thứ ba Mạnh Thần”. Ngày trời tháng Bụt, gặp lúc trái nắng trở trời với gió nồm, gió hanh, để rồi tự hứa sẽ đặt bút xuống lân la qua chuyện các bà nhà quê chửi nhau có vần có điệu nó ra làm sao. Một thương hai nhớ để chẳng thiếu vắng cái bình vôi, bộ bài tam cúc, cái tẩu thuốc phiện. Rồi đảo qua cái bát điếu làng Bát Tràng, nõ viền bạc, hoa văn cỏ gà cùng những người xưa năm cũ.

Và bụng bảo dạ rằng chẳng sớm thì chầy sẽ có một ngày …

Thế nhưng nay ôm rơm rặm bụng với những chiếc ấm đất lỡ mà láo ngáo đụng tới trà kinh, trà đạo thì cứ như con kiến bò quanh miệng chén, hoặc giả như con kiến mày đậu cành đào, leo phải cành cộc lèo vào leo ra, thế nên chả dại. Vì rằng hí hoáy với Trà Kinh của Lục Vũ như lạc lõng vào rừng trà bao la bát ngát, thoai thoải bên sườn đồi hay cạnh sông Dương Tử mãi tận bên Tầu với cả trăm loại tên khác nhau, như lớ ngớ vào tiệm thuốc bắc, kệ trên ngăn dưới với thục địa, đương quy, trần bì phục linh..v..v..Với mấy ông con trời thì trà cũng có năm, có tuổi, có tướng mạo, có kim, mộc, thủy, hỏa thổ, có mầu sắc, có hương vị và khí phách khác nhau, Chúa ơi! Chẳng khác nào như…rượu vang vậy. Lại chẳng thỏa mái cho mấy với Trà Đạo của Okakura Kakuro, đâu đó cũng chỉ ba cái lễ bộ lăng nhăng như bỏ một nhúm trà vào ấm gọi là ngọc diệp hồi cung, tráng trà là cao sơn trường thủy, pha trà là hạ sơn nhập thủy, nhấc chén trà lên bằng ba ngón tay là tam long giá ngọc, đưa trà lên mũi hít hà thì cũng nên đưa từ phải qua trái, để được tôn vinh là…du sơn lâm thủy.

Chao ôi là nghi thức, là cầu kỳ quá đỗi.

Ấy là chẳng đặng đừng phải mầy mò vặn vẹo với chữ nghiã, bạn đọc cũng chẳng nên lắc đầu ngao ngán thở ra với người viết. Vì rằng chỉ một chén trà bé bằng cái hột mít không thôi, các cụ ta xưa đã tốn nhiều giấy mực như cụ Nguyễn Trãi với “Tảo tuyết chỉ trà, hiên trúc hạ”, cụ thưởng trà nào có khác một thiền sư: “Thắp hương trước án bên mai lũy – Quét tuyết đun trà trước trúc hiên” hay trong “Vũ Trung tùy bút” của Phạm Đình Hổ thì “Trà tiên, rượu thánh”, hoac gia trong “Hương Trà” của Đỗ Trọng Huề với trà ướp như trà sen, trà cúc. Riêng cụ Nguyễn Du để lại cho đám hậu sinh với “Trà tầu, tửu quán” để sau này có…quán rượu. Lậm bàn thêm một chút nữa thì trong “Những chiếc ấm đất” của cụ Nguyễn Tuân, lão ăn mày nhấp một ngụm trà thấy có mùi vỏ trấu ở trong bã trà cũng khí hơi bị lọng cọng. Hoặc giả lão phá gần hết cơ nghiệp ông cha để lại vì cái thú uống trà thì cũng có hơi quá đáng chăng. Vì thế cho nên tạp ghi này chỉ bóp méo vo tròn, như gà què ăn quẩn cối xay với cụ Lê Qúy Đôn qua tập “Vân Đài Lọai Ngữ” cùng nhất thủy, nhị trà, tam bôi, tứ bình, ngũ quần anh vậy thôi…

Người viết khốn khổ với một mảng văn chương của cụ chẳng phải là ít, đọc thóang qua “ngũ quần anh” là hoang tưởng ngay đến…“Võ Lâm Ngũ Bá”. Chớp được hai chữ “tam bôi” lại nặng nợ với dòng nhạc đại chúng “quan hà xin cạn chén ly bôi”, đã chén còn…bôi bác làm gì nữa hở giời. Trước đèn đọc sách thấy thưởng trà chẳng ngon sơi, nào quạt than, đun nước, pha trà, than phải là than đá, than quả bàng. Nước nên là nước suối đầu nguồn, sôi sủi đầu tăm, đầu đũa, mắt cua, mắt cá. Trà phải là lục trà, hắc trà. Hắc trà ráng mà hiểu dùm là trà nó đột xuất ra…mầu hồng, khó vậy đấy . Bôi đây là chén, chén đây là chén quân, chén tống. Bình không thể là bình thiếc mà là ấm Nghi Hưng. Còn “ngũ quần anh” chẳng thể thiếu vắng độc ẩm, song ẩm với ngưu ẩm này kia.

Đã chìm đắm với gợn sóng trong chén trà, lại liên tưởng đến chè mạn và có người đã căc cớ hỏi cớ sự gì lại gọi là “chè” để gây ra một cuộc bút chiến dài mệt nghỉ, sư nói sư phải, vãi nói vãi hay. Rồi thì giết ruồi bằng dao mổ trâu, dẫn chứng bao nhiêu điển cố, điển tích, nào là bà chúa chè Đặng thị Huệ với chúa Trịnh Sâm. Hay lá gì bỏ vào nồi nấu được gọi là chè, như chè xanh, chè vối, chè tươi. Nhưng chung cuộc thì giản dị và cũng dễ hiểu thôi, là người miền Trung kêu trà là…chè, rắc rối mô tê chi cho mệt.

Hay là tạm gác lại với những cái tên vô bổ ấy đi, hãy làm hai, ba tuần trà của Tầu và Việt. Nếu có trà dư tửu hậu, thì hãy đến với trà thất của Nhật, thiết nghĩ cũng chẳng muộn màng gì cho lắm. Có đầu có đũa thì tự lâu lắm rồi, trà sử nước ta qua Truyền Kỳ Mạn Lục của Nguyễn Dữ năm 1547, có truyện Gã Trà Đồng nguyên văn như sau:

Dương Đức Công tên Tạc, người phủ Thường Tín, trấn Sơn Nam thượng, đời vua Huệ Tông nhà Lý, ông là phán quan ở Tuyên Quang, xử phạt rất công minh. Năm 50 tuổi vẫn không có con trai nối nghiệp nhà, chợt một hôm ốm nặng rồi mất, một hồi lâu sống lại và kể cho người nhà nghe rằng, vừa mới chết ta được đưa vào gặp Nam Tào, Bắc Đẩu, hai vị này dở sổ và sì sầm bàn bạc với nhau, trần gian hiếm ai có như ông này, chỉ tiếc số không thọ và dòng nam lại không có người nối dõi, việc này ắt phải tâu lên thượng đế. Bèn truyền cho ta nghỉ ở hậu liêu, nửa ngày sau, hai vị ấy trở lại và bảo, thượng đế có lời khen và ban cho ngươi thêm hai kỷ, thêm một thằng con trai. Vậy mau về đi, cố gắng làm điều âm đức cho mai hậu. Bà vợ cũng kể lại vào cuối canh một có ngôi sao nhỏ chui tọt vào bụng, rồi có mang, đầy năm sinh một đứa con dặt tên là Thiên Tích, lớn lên thông minh đĩnh ngộ, học giỏi, lại hay thích…uống trà. Sau mới biết gã là trà đồng, tức kẻ hầu trà cho Ngọc Hòang, nay đầu thai nhà họ Dương.

Có thể vì vậy, cái bình trà trong dân gian được gọi nôm là…”cái ấm tích” chăng.

Theo An Nam Chí Lược của sử gia Lê Tắc có ghi “Vào tháng 5 năm thứ 8 niên hiệu Khai Bảo, Định Liễn có tiến cống nhà Tống sừng tê giác, ngà voi và trà…lưỡi chim”. Lần mò sách Địa Dư Chí Lược của cụ Nguyễn Trãi, ấy là trà Tước Thiệt, còn gọi là trà móc câu hay trà mi thuộc Châu Ô, Châu Lý. Ngành khảo cổ đã khai quật tại vùng Nông Giang, Thanh Hóa, đã tìm thấy được nhiều chén trà, đĩa trà, cùng thời với đời Tống. Dựa vào sử Tầu, tục uống trà người Nam ta có từ thời nhà Tiền Lê, sử chép rằng trước sứ thần của thiền triều, Lê Hòan tức vua Lê Đại Hành vừa uống trà vừa múa hát. Cũng theo sử thi, trà Việt phát triển vào đời vua Lý Nhân Tông với Viên Chiếu Thiền Sư, sau này cụ Nguyễn Du, cụ Nguyễn Khuyến đã đẩy đưa phong thái uống trà lên cao như một thú tiêu dao phóng đãng. Và cực thịnh vào thời vua Tự Đức cùng câu thơ thi xà con thuyền Nghệ An, vì rằng ấm trà phải đặt tự bên Tầu và được phong tước hầu như…người vậy. Nước pha trà do cung nữ sáng sáng chèo thuyền hớt sương mai đọng trên lá sen, mà giời ạ, sen cũng phải lấy giống ở bên Tầu cơ đấy !!!

Cứ như truyện…hư cấu, nghe mất sướng..

Trà Tầu, cùng truyền thuyết thì khởi nguyên từ cụ vua Thần Nông rong chơi mạn núi Lĩnh Nam và nghỉ chân dưới một tàng cây nọ, cho người đun nước sôi, bỗng có ít lá khô rơi lả tả vào nồi nước. Đang mỏi mệt, vô tình cụ vua uống vào thấy lâng lâng, trong một lúc sảng khóai, cụ vỗ đùi một cái đét, buột miệng kêu một tiếng…“cha” nên vua cho lấy giống về trồng và được gọi là “cha”. Từ cái tên này, các nhà nho ta cũng chẳng khó khăn gì mấy, xổ tọet cho một nét ngang thành chữ Nôm là…”trà”. Một thuyết khác, trà từ Ấn Độ theo Đạt Ma Bồ Đề Sư Tổ vào Trung Hoa, trong suốt 9 năm tĩnh tâm trong hang đá, Ngài đã ngậm lá trà để chống buồn ngủ trong cơn thiền. Chứ chẳng phải như tích Ngài ngáp ngáp, nhổ lông mi, quẳng bừa xuống đất và mọc lên cây trà như truyện phong thần. Rồi thì trà từ đời Tam Quốc, đời Đường lan rộng qua đời Tống vì nhà Nguyên chiếm ngôi nhà Tống, tạo nên một lớp cuồng sĩ, sinh bất phùng thời cùng thuyết vô vi ẩn dật như ẩn sĩ lúc trong rừng trúc, khi thưởng nguyệt ngắm hoa ở lan đình để …nốc trà và phe phẩy quạt làm thơ.

Theo Nhật sử thế kỷ tứ 6, thiền sư Eichu mang đạo Phật và trà về nước qua ngả Đại Hàn. Thế kỷ thứ 10, nước Nhật bị nhà Tống cô lập, nên một số tu sĩ và doanh thương vào nước ta qua bến cửa biển Vân Đồn, vì vậy một số trà cụ triều Lý, triều Lê đã du nhập vào nước Nhật qua ngả này (thứ phi của vua Lê là một kỳ nữ Nhật) và cực thịnh nhất là thời nhà Mạc ở cảng Cổ Trai (Hải Phòng). Đến thế kỷ thứ 16, thời Mạc Phủ tướng quân (Shômu) cùng các hiệp sĩ đạo (samurai), thiền sư Sen Reikyu đã đưa trà xanh từ chùa vào cung đình cùng nghi thức uống trà (chanoyu) để có trà đạo (théisme) ngày nay, và lãnh chúa Hideyoshi, cũng là người đã dựng lên trà thất ở thời kỳ ấy.

Năm 2005, các nhà khảo cổ trong nước tìm thấy di tích kinh đô nhà Mạc là Dương Kinh vào thế kỷ 15-16, cố đô thứ hai sau Thăng Long tại thôn Cổ Trai, xã Ngũ Đoan, huyện Kiến Thụy. Khác với cung điện Tức Mặc (Nam Định) thời Trần hay Lam Kinh (Thanh Hóa) thời Lê Sơ chỉ là nơi nghỉ nghơi, thờ tự của vua chúa. Dương Kinh ngòai điện Dương Tự, Tường Quang, Phúc Huy, phủ Quốc Hưng, còn có kho lúa, đồn binh và có cả trường Quốc Học như Văn Miếu và họ đà đào sới đưoc những di vật như bia đá, tượng Phật và đồ gốm…v…v..

Treo đầu dê bán thịt chó, người viết muốn khơi lại một thời hòang kim cùng nền cũ lâu đài bóng tịch dương với Dương Kinh là kinh đô kinh tế, kinh đô cảng sầm uất xuất hiện đầu tiên trong lịch sử nước nhà, sau đấy mới có phố Hiến và Hội An. Dương Kinh trở thành đô thị ven biển xứ Đông, nhà Mạc còn cho xây một số thương cảng trên bến với những phố phường như phố Lỗ Minh Thị, phố An Quý, phố Do Nha…Cũng từ bến cảng này, đồ gốm cổ truyền nươc ta đã trải dọc theo ven biển phía nam, nay đã có mặt ở trong các bảo tàng viện của Negara-Mã Lai, Adam Malik-Nam Dương, Ryukyus-Brunei và từ Ai Cập đến Trung Cận Đông như Cairo-Ai Cập, Tehran-I Rắck….

Trà Việt, ấm Tầu cùng nhà nho phương Nam, chạy trời không khỏi nắng, vẫn không thoát ra ngoài vòng cương tỏa của thanh đàm phương Bắc với gió thoảng mây trôi, nhưng không phải lúc nào cũng uống trà liên tử, ngâm nôm Thúy Kiều mà thỉnh thoảng cũng vương vương chút sầu vạn cổ, đắng chát trong men trà như: “Thượng đế trên cao, chiều độc ẩm – Mạt lộ, ta ngồi chốn hạ phiên”. Hai câu thơ hơi hướng Đường thi ấy, chẳng phải của Tô Hiệu, Vương Bột, mà xin thưa là của kẻ sĩ An Nam Nguyên Sa Trần Bích Lan, nằm tận cùng ở cuối thế kỷ thứ hai mươi ở miền đất ấm tình nồng.

Tự thuở khai thiên lập địa, trời tháng bẩy mưa ngâu âm u ảm đạm, thượng đế trên cao ngồi độc ẩm nên khí buồn da diết, ngài bèn vác cục đất sét nhồi, nặn ra…”Thằng người” để có bạn song ẩm. Ngài cũng lúi húi bỏ vào trong lò nung với nướng, nhưng lửa qúa già, móc ra để chết giấc với tác phẩm đầu tay là “Thằng da đen”, qủa thật là ngất ngư quá đỗi. Ngài lại mó máy nắn với véo, lại quẳng vào lò, lần này lửa hơi non, lôi ra thì hỡi ơi, đích thị là “Thằng da trắng”. Quá bất tam, ngài ngồi chồm hổm thổi phì phò, củi lửa âm ỉ bẩy ngày bẩy đêm, nghệ thuật vị nhân sinh, cuối cùng ngài có một tuyệt phẩm cho hậu thế: Ấy là “Thằng da vàng”.

Không biết ngài có quần ẩm với ba tên này hay chăng, nhưng sử liệu có ghi rằng: Sau này “Thằng da vàng” gốc Tầu có mặt trên trái đất từ thời kỳ đồ đá qua thời kỳ đồ đồng, ăn không rồi đến thời kỳ…đồ gốm, theo nghiệp tổ với cái bàn quay, cũng bóp với nắn, vẽ vời với ba loại ấm bằng đất sét đỏ không tráng men, để cũng biết đến, ấy là “Thứ nhất Thế Đức gan gà, thứ nhì Lưu Bội, thứ ba Mạnh Thần”. Tất cả do ba lò chế tạo danh tiếng ở tỉnh Nghi Hưng thuộc Giang Châu, vùng này với lọai đất sét có chất sắt, tùy theo lượng sắt nhiều hay ít để có mầu sắc khác nhau, gọi chung là “ấm tử sa”. Lò Thế Đức nặng về ấm gan gà mầu nâu đậm đỏ, lò Lưu Bội với ấm gan heo, trư can chi sắc, mầu đen nhạt và lò Mạnh Thần nghiêng về loại ấm da chu mầu da nai.

Gần đây người viết được nhòm thấy hình ảnh mấy cái của nợ này trên báo bổ thì thấy như mấy cục đất ráo hỏanh và khô không khốc. Thế nên chẳng lẽ mồ cha không khóc, đi khóc mấy cái tổ mối, thôi thì hãy trở về dăm làng gốm quê nhà với những cái nồi nung hay ấm đất. Tích rằng từ đời Triệu Đà 207 có ông Tầu tên Hoàng Quảng Hưng dậy dân làm chum vại ở làng Đậu Khê, tỉnh Hải Dương, truyền nhân của ông là Trương Trung Ái, sau này được lập đền thờ là tổ sư của nghề đồ gốm. Năm 1075, Lý Thường Kiệt và Tôn Đản đem quân vây hãm Châu Khiêm, Châu Liêm, bắt được về một số tù binh và phát lưu vào Thanh Hóa, từ đó có đồ gốm Đông Thanh.

Đời nhà Lý 1127, ba vị quan đi sứ Bắc Tống là ông Đào Trí Tiến, Hứa Vĩnh Cảo và Lưu Phương Tú, trên đường về nước qua Quảng Đông học được nghề làm đồ gốm chân truyền, khi về nước đi khắp nơi để truyền bá. Ông Cảo truyền cho làng Thổ Khối nước men trắng. Ông Tiến truyền cho là Thổ Hà Bắc Ninh nước men sắc đỏ. Ông Tú truyền cho làng Phù Lãng Hà Nam nước men vàng thẫm. Mỗi vùng, mỗi làng chuyên biệt về một ngành khác nhau, như làng kẻ Trần chuyên làm những bộ ấm tích với hoa văn thôn dã như tàu lá chuối, nhánh rong, chim chích chòe, con cá bống.

Sau có hai anh em người Việt gốc Tống tên Nguyễn Ninh Tràng bỏ lò gốm trường Vĩnh Ninh thuộc tổng Bạch Bát, huyện Yên Mô, phủ Trường Yên, Thanh Hóa tới làng Thổ Khối hợp với con cháu nhà Tống lánh nạn giặc Nguyên qua đây và lập nên lò gốm. Theo Đại Việt Sử Ký Tòan Thư chép rằng: “Năm 1376, trong cuộc Nam chinh đòan chiến thuyền của vua Trần Duệ Tông xuất phát từ Thăng Long xuôi theo sông Nhị đi qua “bến sông xã Bát”. Vì vậy tên Bát Tràng khởi nguyên từ hai chữ ghép của thổ ngơi tổng Bạch “Bát” của anh em ông Nguyễn Ninh “Tràng” mà có. Sách Địa Dư Chí Lược của cụ Nguyễn Trãi chép rằng: “làng Bát Tràng làm đồ bát chén” và viết thêm: “Làng ấy cung cấp cho Trung Quốc 70 bộ bát đĩa…”.

Nhất bộ nhất bái, bàn dân thiên hạ chỉ biết đồ gốm Bát Tràng không thôi. Ấy mà chuyện đồ gốm người mình với cái bàn xoay, như truyện cổ tích ăn khế trả vàng, hoặc giả như tái ông mất mã vậy.

Chuyện rằng:

Vào năm 1983, ông đại sứ Nhật Makato Anabuki ở Hà Nội bầy vẽ cho các quan chức chốn cung đình rằng chính mắt ông nhìn thấy ở viện bảo tàng Topkapi Saray tại thủ đô Istanbul nưoc Thổ Nhĩ Kỳ cái bình với dấu ấn “Thái Hòa bát niên, Nam Sách châu, tượng nhân Bùi thị hý bút”. Dịch nôm là ở năm Thái Hòa thứ 8, bà họ Bùi phóng bút vẽ chơi cảnh đất Nam Sách. Các quan chức lăng Ba Đình ngâm cứu sách vở tam sao thất bản mới ngã ngửa ra rằng năm Thái Hòa thứ 8 là năm 1450 đời vua Lê Nhân Tông và phủ Nam Sách là tên cổ của Hải Dương, đất của nhà Mạc cũ.

Từ đó các nhà khảo cổ ”điên dã” ùa về làng Chu Đâu và đào dưới vườn nhà bác nông dân tên Vạn và họ đã tìm thấy những di tích đồ gốm đã có mặt vào thế kỷ 13, 14. Ngòai làng Chu Đậu, họ còn tìm thấy những đồ gốm không men như chum, vại, bát nhang trong các ngôi mộ cổ, đình chùa, nhà từ đường tại các làng Ngói, làng Gốm…của các họ Đặng, họ Đỗ…Và đặc biệt nhất là làng Cậy, chuyên làm ấm chén có…quai vòng cong vì đồ gốm đời Trần, đời Lý trở về trước đào được ở cổ thành Thăng Long, vì ảnh hưởng của vương quyền và Phật giáo nên những ấm trà quai là những con rồng, con rùa hay những cánh sen, cọng rau muống. Nhờ có đất sét chu sa ở vùng này, họ làm ấm trà dân diêu không thua gì những bộ ấm của các lò Cổ Nguyệt Liêm hay Cảnh Đức Trấn và được đặt tên rất hương đồng cỏ nội như ấm quả sung, quả vả, quả bương, quả na. Còn chén được gọi là chén hạt mít, chén mắt trâu, chén khẩu mía, chén chuông.

Đèo bòng với điển tích thì vào thế kỷ 14, nhà Nguyên mang quân xâm lăng Nhật Bản, chiến thuyền bị đắm giữa đường nhưng cả hai nước vẫn có những tỵ hiềm. Người Nhật mượn bến Vân Đồn và Cổ Trai làm ngõ thông thương qua đất Đại Việt và Xiêm La để mang về tơ lụa và đồ gốm. Thời ấy, nghệ thuật uống trà chưa lên cao, nên nghề làm đồ gốm của họ vẫn còn thô sơ. Trà cụ đầu tiên do thiền sư Raku Zengoro, người phò lãnh chúa Ashikara mang về cho thiền viện Kasuga có dáng bát trà đời Lý, đời Trần được gọi là An Nam Yaki của làng Chu Đậu, vì rằng người Việt uống chè xanh, chè vối bằng bát nên ảnh hưởng đến chén tống temmonlu của họ sau này. Thương nhân Ozawa Shrouemon thời lãnh chúa Togugawa từ Hội An mang về một số đồ gốm làng Thanh Hà được gọi là Kochi Yaki. Kochi phiên âm từ chữ Giao Chỉ mà ra để phân biệt đồ gốm Đằng Trong hiện còn đang được trưng bày ở bảo tàng viện Tokyo.

Ngu ngơ thế nào lại lạc vào đất Nhật để thấy họ cũng..khó khăn không kém và bằng một cách khác, họ đi tìm cái vô ưu qua tách trà, những giây phút lắng đọng của tâm thức qua nét thanh tịnh của cỏ cây để nâng nghệ thuật uống trà như một nghi thức, từ đó có trà đạo và vườn cảnh. Như trong vườn dựng cái “chòi”, mà họ gói là sukiya tức trà thất. Nước pha trà là nước mưa hứng giữa trời, bằng cách họ lấy miếng vải căng bốn góc với bốn khúc tre, tương tự như căng vó và dưới là cái vại (chozubachi). “Hồng trần bất đáo” trước khi nhập thất, ngay cửa ra vào, họ đặt một hòn đá khóet rỗng như cái thố lớn để hứng nước mưa qua những đốt tre gộc (kakeiki) và một cái gáo. Trước khi đốt lò, chủ nhân cúi đầu sát đất để chào một cây quạt ở ngay cửa, cánh quạt này tượng trưng cho những kiếm sĩ xa xưa. Sau đó, tất cả đều ngồi thế tĩnh tọa và đắm chìm qua làn khói trà nhẹ tênh, tan loãng.

Theo điển tích thì tất cả những bộ ấm trà của các cụ từ thời Trịnh Nguyễn được gọi chung là đồ “ký kiểu”, hiểu theo nghĩa là vẽ kiểu trước và ký là dấu ấn hay một bài thơ ngắn. Khởi đầu từ chúa Trịnh Sâm, người được coi là trà sư của nghệ thuật uống trà, tự nhận mình là “trà nô”, với chén bạch định hay bạch trản ký hiệu “Nội Phủ”. Sau đó, cụ Nguyễn Du mang về cho vua Gia Long bộ ấm “Giáp Tý 1804”, riêng cụ có bộ Mai Hạc với hai câu thơ “Nghêu ngao vui thú yên hà, mai là bạn cũ hạc là người quen”. Tiếp đến vua Minh Mạng có bộ “Chữ Nhất”, vua Thiệu Trị với bộ “Mãn Hoa Tùng Đình” và vua Tự Đức cùng bộ “Ngọan Hảo”. Các bộ ấm đặt làm cho các quan, với “chữ đề” gọi là “chấm”. Quan võ thích chấm “Tam Cố thảo lư”, hoặc “Tây Sương ký”. Quan văn ưa “Trúc lâm thất hiền” hay “Đạp tuyết tầm mai” này nọ…

Từ các bộ ấm của các quan, sau rơi rớt lại trong dân gian qua cụ Tú, cụ Cử, cụ Nghè…Các cụ xem bộ ấm trà như vật gia bảo để đi vào giai thoại: Như cụ cử Lưu làng Nguyệt Ánh, tỉnh Hà Đông, cụ có bộ ấm trà “Bạch định” để không thì trắng cả trong lẫn ngoài, nhưng nếu rót trà vào ấm thì hiện lên một bức họa “Thanh sơn bạch vân” thêm bốn câu thơ nhỏ li ty, mỗi câu ở mỗi chén. Năm 1922, cụ cử Nguyễn Kỳ tri huyện Thanh Trì, muốn xem bộ ấm chén đó phải nhờ cụ đồ Thục tiến dẫn và được hương hào, lý trưởng làng Nguyệt Ánh xuất tuần phu, trống rong cờ mở, hương án bái vọng như thiên tử tuần du. Tháng sau, cụ cử Lưu lại khăn gói qủa mướp như trẩy hội qua làng Hoàng Mai để đáp lễ và cũng để thưởng ngoạn bộ chén trà văn kỳ thanh, bất tướng kỳ hình có cái tên “Kim tiên kỳ ngoạn” còn được gọi là bộ “Long linh” từ đời Minh Vĩnh Lạc, khi soi dưới ánh sáng mặt trời thấy “lưỡng long tranh châu”, nét như sợi chỉ và phủ ngoài một lớp men nên nhìn sơ qua chỉ thấy mầu trắng không. Khi nào rót trà, nhìn vào lòng chén, sẽ thấy hai con rồng cử động và ngo ngoe như thật.

Từ các lò gốm của người Trung Hoa như đã kể lể ở trên, các quan ta đi sứ đặt làm đồ ngự dụng và quan dụng cho triều đình và bạn bè để các cụ ta có cái thú chơi ấm trà. Một bộ ấm đầy đủ lễ bộ gồm “dầm, bàn, tống, quân”: Dầm là một lọai đĩa nhỏ đựng một cái chén tống, bàn là đĩa lớn chứa nhiều chén quân. Có người cho rằng chén tống từ đời Tống mà ra. Chén tống còn gọi là thố hào trản và trản là chén và cũng theo cụ Vương Hồng Sển, trước để uống trà, sau để uống rượu. Đến đời Khang Hy vì tửu lạc vong bần nên bị cấm chỉ, thế nên chén được làm nhỏ hơn để uống trà. Vì “quân” là cái bàn xoay đất sét, nên thợ đồ gốm họ đặt cho cái này. Nếu có một chút nào đầy đặn là ở cái ấm, chọn được cái ấm vừa ý, các cụ nười mình tẩn mẩn úp hẳn ấm xuống mặt bàn, cho ấm ngửa trôn lên, cứ xem miệng vòi, quai và gờ miệng ấm đều cắn sát mặt bằng thì đích thị là…”ấm Tầu”. Về nhà, nếu ngại là đồ mã thì các cụ cứ thả vào chậu nước, nổi như lông vịt, không lềnh bềnh chao đảo. Rồi thì nồi nào vung nấy, các cụ cứ lẩn mẩn xoay xoay cái nắp quanh miệng ấm, thấy khít khao, nghe không rồn rột mà lại thanh thanh thì chăc như đinh đóng cột là …ấm Tầu.

Với cái ấm Tầu đã tránh “Nhất thủy, nhì…” thì vỏ dưa gặp vỏ dừa, ngược lên phương bắc lại gặp Lục Tào Xán, để nín thở qua sông với “Tục Trà kinh”. Nào là nước pha trà phải là “Sơn thủy thượng, giang thủy chung, tĩnh thủy hạ”, tức là nước đầu nguồn, giữa dòng sông hay giếng sâu. Với Lục Vũ cũng cá mè một lứa với “Nước là trà hữu, lửa là trà sư”, hữu ráng mà bóp chán hiểu là…“bằng hữu”, thế nên nước sủi tăm đâu đó như ngư nhãn, giải nhãn. Khiếp đảm hơn nữa là cái tục rót trà phải theo vòng tròn (Quan Công tuần thành), mỗi chén một chút như chó đái giắt, rồi rót vòng ngược lại để trà không đậm nhạt giữa chén đầu chén cuối. Hoặc giả chuyên từ chén tống qua chén quân (Hàn Tín điểm binh) cho đều nước. Ôi thôi là nhiêu khê với phiền hà, trong khi quay về với đất lề quê thói cùng các cụ ta xưa, mò mẫm bên rặng cau ngòai vườn cùng hương đồng cỏ nội, chém chết thể nào cũng có cái chum hứng nước mưa qua tầu lá chuối để pha trà cho quanh năm suốt tháng, bình dị và mộc mạc. Cái lu nước và cái gáo ở nhà quê, cái bể nước mưa với cái gầu ngòai thành phố. Cả hai như gắn liền với các cụ cùng bộ ấm trà trong những những ngày tà tà bóng ngả về tây…

****************************************************************

Những ngày ở phố hàng Đường, căn nhà hình ống mái âm dương dài hun hút, âm u và ẩm ướt, khỏang trống có ánh sáng ngăn cách giữ nhà trên và cái bếp là cái sân nhỏ lát gạch tầu vuông vức với cái bể nước mưa xây bằng gạch doc theo bờ tường loang lổ. Mờ suơng dậy đà thấy ông bà ngọai đối ẩm ở cái bếp chỉ to bằng hai manh chiếu, hai cụ ngồi ở đấy vừa gù gù châu đầu vào nhau, thì thầm nói chuyện. Với động tác quen thuộc hàng ngày, bà bê cái khay trà gỗ, mở miếng khăn màn, chậm rãi lau nhè nhẹ ấm và chén từ trong ra ngòai. Lớn lên người viết mới biết bộ ấm này là bộ ấm qúy mà ông ngọai vớ được với giá hời ngòai chợ Đồng Xuân…Nhưng nhắm chừng cũng lâu lắm rồi, vì nhìn kỹ mới thấy cái vòi hơi sứt một miếng nhỏ.

Ông lui cui bắc cái siêu đồng lên cái đầu rau đặt ngay mép bàn và âm thầm cân đo cái mồi lửa tí tách qua mấy cục than chỉ to bằng quả trứng gà, lặng lè ngắm nhìn cái vòi siêu đồng, đợi khói lên….Khói đã vẩn vơ bốc cong queo ngoằn ngòeo, ông nhấc cái siêu nước, rồi dùng nắp cái ấm để cân trà, ông châm nước ngang nửa bình, đợi một lát đổ đi và châm nước mới. Ông nhẹ ôm cả cái ấm trà trong lòng bàn tay, thăm chừng độ ấm và trà vừa đủ ngấm…Ông rót qua chén tống, chuyên qua hai chén quân cho bà cho ông, như đong đưa vơi đầy, gạn nhặt những chiếc bã trà còn vương vấn. Ông ngồi thẳng, hai tay trang trọng bưng cái chén ngang miệng và nhấp từng ngụm nhỏ. Một ngày như mọi ngày, hai ông bà lại rù rì chuyện trò, hết một tuần trà, bà lại lặng lẽ lau bộ ấm từ ngòai vào trong và phủ cái khăn màn lên.…

Sau gần 30 năm trở lại quê nhà, lang thang ở dẫy phố bán đồ cổ Trương Công Kiều sau bến xe búyt chợ Bến Thành, thấy bộ ấm Nhật bằng sứ với cánh đào cong queo nhưng rất quen thuộc từ ngày di cư mà tết nhất nhà vẫn bầy biện cạnh điã hạt sen, điã hạt dưa. Nhưng cũng chỉ ơ hờ cùng một nhớ hai quên, nói cho ngay, buổi ấy người viết chưa biết nhất thủy, nhị trà, tam bôi, tứ bình, ngũ quần anh là gì cùng gan gà, gan lợn. Đảo về quê nội, thăm cái nhà tranh vách đất ba gian hai chái của ông cậu, ụ rơm vẫn còn ở góc sân bên vườn, nhin cái ấm tích ít nhất cũng hai đời đã lên nước và cũng chẳng quan hòai gì mấy, vì làng gốm cổ xưa chỉ thóang qua sách vở.

Ngược về Hà Nội, tìm lại căn nhà hình ống cũ, qua hàng Đào thấy có một tiệm đồ cổ, chợt bắt gặp cái ấm quả bứa mốc meo với bốn cái chén hạt mít đã lên men vàng ố nằm chơ vơ sau cánh tủ. “Nhật mộ hương quan hà xứ thi – Yên ba giang thượng cổ nhân sầu” , lại vẩn vơ bồi hồi đến các cụ ta xưa của một thời hoang vắng đã hiu hắt cưỡi hạc về trời, nay chỉ còn ẩn hiện lại qua lớp cát bụi chân ai của bộ ấm trà đã lạc tinh. Hàng Đào, hàng Đường cùng một con phố ngắn, chỉ cách nhau hai, ba con ngõ nhỏ, đứng bên cạnh cái cột đèn sơn hắc in từ thời 54…Chợt quan hòai đến ông bà ngọai gần đây, ngày nào năm ấy trong căn bếp ắng lặng, để bâng khuâng chẳng biết cái bình sứt vòi năm xưa bây giờ lưi lạc ở phương nao, về phương trời nào…

Trích dẫn: Bài viết được dựa vào tác phẩm và tác giả:

Khảo Về Gốm Cổ, Sành Xưa – Vương Hồng Sển

Thuật Uống Trà – Nguyễn Kỳ Hưng

Đồ Gốm Cổ Truyền – Bùi Ngọc Tuấn

Thư Tịch Gốm Cổ VN – Trần Anh Tuấn

Gốm Trà Việt Nam – Phan Quốc Sơn

Làng Gốm Cổ Truyền VN – Khuyết Danh

Gốm Bát Tràng – Nguyễn Đình Chiến

– Thời nhà Lê, làng được gọi là Bát với một chữ không thôi, làng thuộc huyện Gia Lâm trấn Kinh Bắc. Thời nhà Nguyễn 1822, trấn Kinh Bắc đổi thành Bắc Ninh và làng được gọi là làng Bát Tràng (tháng 11 năm 1949, huyện Gia Lâm thuộc tỉnh Hưng Yên, sau thuộc ngọai thành Hà Nội…). Ngòai ra có sách khác viết tên làng Bạch Thổ vì vùng này có đất sét trắng. Theo một cụ cao niên, người làng Bát Tràng, trươc cũng có làm đồ gốm thuật lại cho biết làng Bát Tràng từ chữ Nôm, bát chỉ đồ gốm và chữ Hán, tràng (hay trường) là đất hay vùng dành cho làng nghề. Làng không làm…gạch, tất cả chỉ là sự ngẫu nhiên, để nung bát, đĩa, dân làng làm gạch để kê, sau mới có gạch Bát Tràng.

Phí Ngọc Hùng

*MỤC LỤC – TRÀ ĐẠO & TRÀ CỤ GỐM SỨ

 


Advertisements

Read Full Post »