Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘TIN TỨC, THỜI SỰ NGÀNH GỐM’ Category

Bảo tàng Phụ nữ Nam bộ phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu văn hóa Chăm khai mạc triển lãm “Làng nghề truyền thống người Chăm Ninh Thuận”. Từ ngày 23 tháng 07 năm 2014 đến hết ngày 30 tháng 08 năm 2014 .

 

Hình ảnh  : khanhhoathuynga

MỤC LỤC – TIN TỨC THỜI SỰ NGÀNH GỐM

DANH MỤC TỔNG HỢP

 

This slideshow requires JavaScript.

Advertisements

Read Full Post »

Căn cứ Luật di sản văn hóa ngày 29 tháng 6 năm 2001 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa ngày 18 tháng 6 năm 2009;

Căn cứ Nghị định số 98/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 9 năm 2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật di sản văn hóa và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa;

Căn cứ Nghị định số 185/2007/NĐ-CP ngày 25 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch;

Theo đề nghị của Cục trưởng Cục Di sản văn hóa;

Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Thông tư quy định loại di vật, cổ vật không được mang ra nước ngoài.

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

1. Thông tư này quy định loại di vật, cổ vật không được mang từ Việt Nam ra nước ngoài.

2. Loại di vật, cổ vật quy định tại Thông tư này không áp dụng đối với trường hợp di vật, cổ vật được mang ra nước ngoài để trưng bày, triển lãm, nghiên cứu hoặc bảo quản.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Thông tư này áp dụng đối với tổ chức, cá nhân Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài liên quan đến việc mang di vật, cổ vật từ Việt Nam ra nước ngoài.

Điều 3. Loại di vật, cổ vật không được mang ra nước ngoài

1. Cá thể hoặc bộ phận hóa thạch người, động vật, thực vật thuộc thời kỳ Tiền sử Việt Nam;

2. Cổ vật bằng các chất liệu có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học thuộc thời kỳ Tiền sử và Sơ sử Việt Nam;

3. Tài liệu bằng các chất liệu có giá trị đối với việc nghiên cứu lịch sử, văn hóa, chủ quyền quốc gia Việt Nam và anh hùng dân tộc, danh nhân có ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của quốc gia Việt Nam;

4. Di vật, cổ vật bằng các chất liệu có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học thuộc các giai đoạn lịch sử Việt Nam trước tháng 9 năm 1945;

5. Bản thảo tác phẩm văn học, bản gốc tác phẩm tạo hình (hội họa, đồ họa, điêu khắc), tác phẩm nhiếp ảnh có giá trị cao về nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật, có tác dụng và ảnh hưởng lớn trong xã hội được sáng tác từ tháng 9 năm 1945 đến nay;

6. Di vật, cổ vật bằng các chất liệu có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học thuộc di tích lịch sử – văn hóa và danh lam thắng cảnh đã được xếp hạng và kiểm kê;

7. Di vật, cổ vật bằng các chất liệu có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học của các dân tộc thiểu số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam được sản xuất, sáng tạo trước năm 1975;

8. Di vật, cổ vật bằng các chất liệu có giá trị tiêu biểu liên quan đến các sự kiện quan trọng và sự nghiệp của các Nhà hoạt động cách mạng tiêu biểu, Nhà hoạt động chính trị, quân sự xuất sắc trong thời kỳ thành lập Đảng, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, trong các cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước từ tháng 9 năm 1945 đến nay;

9. Cổ vật bằng các chất liệu có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hóa, khoa học có xuất xứ từ nước ngoài (trừ trường hợp tạm nhập khẩu – tái xuất khẩu).

Danh mục cụ thể loại di vật, cổ vật không được mang ra nước ngoài được ban hành kèm theo Thông tư này.

Điều 4. Điều khoản thi hành

1. Thông tư này có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 02 năm 2013.

2. Cục Di sản văn hóa có trách nhiệm tổ chức thực hiện Thông tư này.

3. Trong quá trình thực hiện nếu phát sinh vướng mắc, tổ chức, cá nhân kịp thời phản ánh về Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch để nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung./.

 

BỘ TRƯỞNG

(đã ký)

Hoàng Tuấn Anh

 

* MỤC LỤC – TIN TỨC THỜI SỰ NGÀNH GỐM 

Read Full Post »

Ngày 27 tháng 12 năm 2012 Bảo tàng Lịch sử TPHCM  đã giới thiệu đến  công chúng bộ sưu tập Dương Hà . đây là bộ sưu tập tư nhân lớn nhất tại VN từ trước đến nay .

Sưu tập Dương Hà , từ lâu đã được biết đến như là một bộ sưu tập cổ vật có thời gian xuất hiện lâu năm nhất , thời gian sưu tầm dài nhất , số lượng lớn nhất Việt Nam với gần 3400 hiện vật , vào tháng 03 năm 2011 đã chính thức đượ gia đình trao tặng cho nhân dân và nước Cộng Hòa xã hội chủ nghĩa VN mà Ủy ban nhân dân TP.HCM là người đại diện .

Đó là bộ sưu tập cổ vật thuộc sở hữu của một gia đình nhân sĩ trí thức Nam bộ sinh sống tại Sài Gòn ( nay Là TPHCM ) , được gây dựng cách đây 80 năm : Vào khoảng thời gian nửa cuối những năm 30 của thế kỷ 20 , trong lúc Nam Bộ nước ta còn dưới ách thuộc địa của nước Pháp đế quốc , khi thấy nhiều cổ vật bị đưa ra nước ngoài mà không bị ngăn chặn , giáo sư Collège Chasseloup ( nay là Trường PTTH Lê Quý Đôn – Q1 – TpHCM ) Dương Minh Thới ( 1899 -1976 ) và phu nhân là bà Hà Thị Ngọc ( 1902 – 1979 ) với ý định muốn bảo vệ những cổ vật Việt Nam đã bắt đầu tiến hành sưu tầm , tìm mua những hiện vật đầu tiên – khởi đầu cho bộ  sưu tập sau này mang họ của hai  ông bà . Xuất phát từ lòng yêu quý những gì do tiền nhân để lại , công cuộc sưu tập được tiến hành không ngừng nghỉ trong sự hao tổn rất nhiều tài lực , tâm lực , trí lực mà ông bà Dương Hà sãn sang đánh đổi để có được quyền sở hữu cổ vật . Có thể nói , việc một mình âm thầm hành động bằng cách ‘’ thu gom ‘’ cổ vật chống lại việc ‘’ chảy máu cổ vật ra nước ngoài ‘’ của ông ông bà Dương Hà  bấy giờ là một nghĩa cử mang đậm tính cách Nam bộ .

Tuy tiến hành sưu tầm một cách lặng lẽ , không ồn ào nhưng sưu tập Dương Hà mau chóng được nhiều người biết tiếng , đặc biệt là những nhà nghiên cứu trong và ngoài nước . Như vậy , song song với những hoạt động về sưu tầm , bảo vệ và truyền bá tình yêu đối với cổ vật của học giả Vương Hồng Sển , bộ sưu tập Dương Hà lúc bấy giờ đã góp phần cổ vũ cho phong trào tìm hiểu và sưu tập cổ vật ở miền Nam ta những năm 60 – 70 của thế kỷ trước , trong đó không ít thế hệ các nhà sưu tập được tham quan ‘’ sưu tập Dương Hà ‘’ đều đánh giá cao bộ sưu tập này . Sưu tập Dương Hà cũng góp phần trang bị kiến thức về cổ vật  cho các nhà sưu tập , nhà nghiên cứu nếu không nói rằng đã góp phần ‘’ đào tạo ‘’ nên một số nhà sưu tập , nhà nghiên cứu trong đó nổi tiếng là Philippe Trương  – việt kiều Pháp , ngoại tôn của chủ nhân bộ sưu tập . Mặc dù ý định là được thành lập bảo tàng để bảo vệ cổ vật mạnh mẽ hơn nữa của ông Dương Minh Thới  năm 1948 cuối cùng đã không được nhà nước thuộc địa chấp nhận nhưng ông bà Dương Hà đã có người nối chí .

Từ năm 1966 . Bà Dương Quỳnh Hoa ( 1930 – 2006 ) , người con xuất sắc của ông bà Dương Hà , trong hoạt động cách mạng đã tham gia mặt trận dân tộc giải phóng  miền Nam ( 1960 – 1977 ) và làm nên sự nghiệp lớn ( Thứ trưởng bộ y tế nước CHXHCNVN nhiệm kỳ 1976 – 1981 ) cũng đã kế thừa tấm lòng yêu cổ vật và dù phải tập quan tâm đến việc gìn giữ cổ vật , đã được ông bà Dương Hà  lúc này già yếu , giao cho cùng với người chồng là ông Huỳnh Thanh Nghị toàn quyền quản lý bộ sưu tập . Điều đặc biệt là ông Huỳnh Văn Nghị – nguyên ủy viên thường vụ lien minh các lực lượng dân tộc dân chủ và hòa bình VN ( 1968 – 1977 ) cũng là người vô cùng yêu cổ vật . Thế hệ thứ hai nhà họ Dương với sự chung sức của người bạn đời đã tiếp tục gìn giữ , phát triển bộ sưu tập , đưa số lượng và chất lượng bộ sưu tập lên đến mức độ cao nhất như chúng ta thấy hiện nay .

Khoảng những năm 1996 – 1997 , John Stevenson  và Jon Guy , hai nhà nghiên cứu cổ vật người Anh đã được phép tiếp cận sưu tập Dương Hà , sau đó một số hiện vật trong sưu tập cũng được phép đưa vào giới thiệu trong cuốn sách nổi tiếng in tại Singgapore và xuất bản cùng năm tại Mỹ  ‘’ Vietnamese ceramics : A separate tradition ‘’ ( Gốm Việt Nam : một truyền  thống biệt lập ) góp phần khẳng định trên lĩnh vực khoa học cũng như thị trường toàn cầu một dòng gốm Việt Nam thanh lịch mượt mà trong lịch sử đại gia đình gốm sứ thế giới .

Sauk hi bà Dương Quỳnh Hoa mất , ông Huỳnh Thanh Nghị nhận thấy cơ quan bảo tàng của nhà nước XHCNVN là nơi có thể quản lý , phát huy bộ sưu tập tốt nhất theo đúng với ước nguyện của ông bà Dương Hà và bà Dương Quỳnh Hoa lúc sinh thời nên ông đã đại diện gia đình hiến tặng bộ sưu tập cho TP. HCM

Sưu tập Dương Hà là một bộ sưu tập cổ vật đồ sộ , phong phú và đa dạng , có nhiều tiêu bản lạ lung , quý hiếm gồm nhiều chất liệu , xuất xứ từ nhiều quốc gia Châu Á , Châu Âu , cò niên đại từ thời Tiền – Sơ sử đến TK XX , bộ sưu tập còn phong phú đa dạng trong việc thể hiện các đề tài sinh hoat của cuộc sống con người từ các hiện vật phục vụ tôn giáo tín ngưỡng , đồ trang sức , đồ phục vụ các thú thưởng ngoạn xưa như ăn trầu , uống trà , uống rượu , trò chơi , đầu hồ ( ném que lọt miệng bình ) thời Nguyễn , nhạc cụ , đồ dùng văn phòng , đồ trang trí nội thất , đến đồ dùng ẩm thực trong nhà bếp …. Đáng chú ý là trong sưu tập đồ kỷ niệm , đồ tặng biếu có 1 chén trà Nhật Bản ghi dòng chữ Hoa “ Nhật Bản cộng sản đảng sang lập ngũ thập chu niên ‘’ mà bộ trưởng bộ thương binh và xã hội của chính phủ lâm thời cộng hòa miền Nam VN – Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa được tặng nhân dịp bà sang Nhật dự lễ kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Nhật Bản ( 1922 – 1972 ) … sưu tập Dương Hà còn nổi bật hơn nữa với các sưu tập ngọc – ngà , sưu tập gốm Bát Tràng , gốm Việt Nam , gốm Nhật Bản , sưu tập đồ sứ Trung Quốc với đề tài long ẩn , với những câu răn dạy gia đình trong ‘’ Chu tử trị gia cách ngôn ‘’ ( của Chu Bá Lư thời Minh – Trung Quốc ) , các bài thơ Đường và nhiều đề tài khác …tất cả cung cấp cho người xem những kiến thức lịch sử – văn hóa vừa rộng về địa lý , vừa ẩn sâu trong sâu sắc , vừa sâu sắc về nhân sinh …hấp dẫn và vô cùng sinh động .

Với sự hiến tặng sưu tập Dương Hà cho nhà nước , nhiều kỷ lục mới đã được lập . Riêng TP.HCM đã lập được kỷ lục về sự tin cậy của người dân chỉ trong vòng 15 năm tính từ năm 1996 đến năm 2011 , đã 2 lần được người dân trao tặng những tài sản văn hóa lớn có giá trị kinh tế cao với tinh thần vô vị lợi . Bảo tàng lịch sử có thêm khối tài sản , tư liệu quý . có thêm cơ hội nghiên cứu , tìm hiểu và phát huy di sản văn hóa của tiền nhân . Bộ sưu tập Dương Hà được bảo tàng giới thiệu cho ra mắt trước công chúng trong và ngoài nước nhằm tim hiểu thêm người xưa , càng thêm trân quý di vật người xưa để lại  , đồng thời hết sức trân trọng công lao một đời của ông bà Dương Hà & bà Dương Quỳnh Hoa , ông Huỳnh Thanh Nghị trong sự nghiệp bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc .

Với tất cả ý nghĩa trên . Hy vọng các bạn sẽ có được những phút giây đáng nhớ về buổi tham quan lý thú bộ sưu tập này .

Bài viết : TS .PHẠM HỮU CÔNG ( PGĐ – BTLS TPHCM )

Hình ảnh : KHANHHOATHUYNGA .

Một số hình ảnh hiện vật trong ngày khai mạc giới thiệu bộ sưu tập Dương Hà

This slideshow requires JavaScript.

*MỤC LỤC – MỘT SỐ BỘ SƯU TẬP GỐM SỨ

* MỤC LỤC – TIN TỨC THỜI SỰ NGÀNH GỐM 

Read Full Post »

Để ngăn chặn nạn mò cổ vật của ngư dân, một  lồng sắt khổng lồ sẽ được thiết kế, hạ thủy và “trùm” ra ngoài tàu cổ Bình Châu (huyện Bình Sơn, Quảng Ngãi).

Thông tin trên được TS Phạm Quốc Quân (Ủy viên Hội đồng Giám định cổ vật Việt Nam) đưa ra trong Hội nghị thường niên Khảo cổ học Việt Nam 2012. Theo đó, ngoài chức năng “phòng trộm”, chiếc lồng sắt trên còn có vai trò bảo vệ cố định con tàu cổ này ở độ sâu 4 mét dưới biển trong thời điểm mùa biển động sắp tới gần.

“Sau khi xác định kích thước tàu, lồng sắt sẽ được đúc, hạ thủy và neo cố định bằng một hệ thống đá tảng buộc kèm. Năm 1999, khi trục vớt tàu cổ tại Cù Lao Chàm, chúng tôi cũng đã dùng biện pháp này” – ông Quân cho biết.

“Niêm phong” chờ khai quật!

Trước đó, từ 8/9, việc phát lộ con tàu chở đồ gốm sứ cổ Trung Hoa cách bờ biển Bình Châu 100 mét đã thu hút sự chú ý cao độ của dư luận cũng như… giới săn lùng cổ vật. Ngay sau đó, một số vò, chậu, lư hương… được vớt trộm từ con tàu đã xuất hiện trên thị trường đồ cổ Hà Nội và TP.HCM với mức giá 100 tới 150 triệu đồng cho mỗi món đồ.

TS Phạm Quốc Quân phân tích những mẫu cổ vật trên tàu Bình Châu

TS Phạm Quốc Quân cho biết: “Tin đồn ngư dân ở đây kiếm tiền tỷ từ con tàu này là có cơ sở. Ít nhất, chúng tôi biết 2 trường hợp người dân vớt  được nguyên vẹn một gánh hàng từ tàu. Mỗi gánh như vậy có 60 chiếc đĩa và lập tức được tiêu thụ với giá “bán buôn” 3 tỉ đồng”.
Hiện, tỉnh Quảng Ngãi đã huy động cả công an và lực lượng biên phòng để phong tỏa tàu cổ 24/24 giờ. Tuy nhiên, trước những thông tin thất thiệt đang lan rộng, mối lo về nạn “hôi của” vẫn ám ảnh những chuyên gia khảo cổ, nhất là khi mà ngư dân trong vùng có tiếng là… lặn giỏi. Bởi thế, việc khảo sát và tiếp đó là “mặc giáp” cho tàu cổ đang được tỉnh Quảng Ngãi chú tâm hơn bao giờ hết. Trước mắt, 500 triệu đồng đã được địa phương này duyệt chi để các chuyên gia thực hiện cuộc khảo sát dưới nước này, dự kiến kéo dài 5 ngày từ hôm nay 28/9.Cũng từ “sức nóng” của kho cổ vật trên tàu Bình Châu, liên tục 18 công ty và tổ chức cá nhân đã liên hệ với địa phương để xin thực hiện vụ khai quật thăm dò này. Kết quả, đơn vị “trúng thầu” là công ty Đoàn Ánh Dương – một công ty có thâm niên 9 năm khảo sát cổ vật biển tại Bình Định, Cà Mau, Bình Thuận, Kiên Giang… Bảo tàng lịch sử Việt Nam được giao chức năng chủ trì cuộc khảo sát.

“Kích thước tàu và số lượng cổ vật hiện vẫn chưa thể xác định. Trước đây, chúng tôi cũng phải mất trọn 2 năm để khai quật và lấy về 15 vạn cổ vật trong con tàu dưới Cù Lao Chàm” – ông Quân nói về thời gian khai quật dự kiến. Theo lý thuyết, việc khai quật này rất khó thực hiện trong mùa biển động 3 tháng cuối năm, do đó gần như chắc chắn tàu cổ Bình Châu sẽ được tạm “niêm phong” sau đợt khảo sát thăm dò sắp tới.

Di vật của “con đường tơ lụa biển Đông”?

Thống kê từ các cổ vật đã… rò rỉ cho thấy đồ gốm sứ trên tàu cổ Bình Châu đều là đồ sứ Trung Hoa có niên đại Minh – Thanh (thế kỷ XIV, XV). Đặc biệt, toàn bộ số tiền cổ được vớt từ tàu lại mang niên đại thời Nam Tống  thuộc thế kỷ XII, XIII. (Trên lý thuyết, một số đồng tiền đúc từ thời Tống vẫn được sử dụng trong các thời đại tiếp sau). Bởi vậy, các chuyên gia khảo cổ cho rằng đây là con tàu cổ có giá trị văn hóa – lịch sử và…. kinh tế cao nhất từ trước tới giờ.

Cũng theo TS Phạm Quốc Quân, rất nhiều cổ vật trục vớt từ tàu mang vết cháy ở nhiệt độ cao, một số xâu tiền kim loại bị nung chảy và dính vào nhau khá chặt. Bởi vậy, giả thiết con tàu cổ này bị hỏa hoạn hoặc gặp hải tặc là có cơ sở.

Ông Quân cho rằng: “Thư tịch cổ đã nhắc tới giả thiết vùng biển Sa Kỳ (Quảng Ngãi) thuộc Chiêm Thành cổ từng là một nơi trú chân và tham gia trao đổi hàng hóa của những tàu buôn Trung Hoa. Nếu nghiên cứu kỹ, hi vọng chúng ta sẽ tìm thêm được những thông tin về dấu vết của “con đường tơ lụa biển Đông” – tuyến hải trình được tàu buôn Trung Hoa thực hiện có đi qua vùng biển từ Hội An tới Bình Định ngày nay”.

Được biết, một số đơn vị đã liên hệ với nhóm khai quật và đặt vấn đề được mua lại vỏ tàu cổ trong trường hợp còn tương đối nguyên vẹn. Về việc này, TS Tống Trung Tín, Viện trưởng Viện khảo cổ học, cho rằng: “Nếu một đơn vị Nhà nước làm việc này thì quá tốt. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng kinh phí cho việc phục chế và bảo quản con tàu sau khi vớt lên từ nước mặn là đắt vô cùng. Trước đây, chúng tôi đã từng có kế hoạch tương tự với một con tàu nhỏ có kích thước 12 x 3 mét được vớt từ đáy sông của Hà Nội. Số tiền mà các công ty nước ngoài đưa ra cho việc này là… gần một triệu USD”.

Nguồn thethaovanhoa.vn

Read Full Post »

Trong nhiều ngày, từ 10/9-19/9 nhiều báo đài TW và địa phương đã liên tiếp đưa ra những thông tin ban đầu về chiếc tàu cổ. Trong đó có nhiều thông tin chưa chính xác, thậm chí có những báo in và điện tử còn đưa cả những bức ảnh hiện vật gốm sứ vốn có nguồn gốc khai quật từ tàu cổ Cù Lao Chàm. Đây là những thông tin sai lạc khiến cho nhiều người đọc hiểu lầm về nguồn gốc và niên đại con tàu. Để giúp độc giả có thêm những thông tin chính thức, chúng tôi xin đăng tải bài viết của hai chuyên gia: TS. Nguyễn Đình Chiến và TS. Phạm Quốc Quân, Hội đồng Giám định Cổ vật Bộ VH, TT & DL.

Theo tin vnexpress.net ngày 12/9/2012, ngay từ sáng sớm ngày 08/9/2012 hàng trăm ngư dân đã đưa tàu thuyền, ghe thúng về thôn Châu Thuận Biển, xã Bình Châu, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi để trục vớt cổ vật từ con tàu chìm dưới đáy biển. Ngay sau khi nhận được thông tin, Công an huyện Bình Sơn và bộ đội biên phòng 288 đã đến hiện trường lập biên bản thu giữ được 2 chiếc bát men ngọc, 2 chiếc chậu men nâu da lươn và 1 đồng tiền cổ có nguồn gốc từ chiếc tàu chìm. Ngày 11/9/2012 UBND tỉnh Quảng Ngãi đã có báo cáo số 149/BC-UBND gửi Bộ VH, TT và Du lịch đề nghị Bộ cử đoàn công tác về kiểm tra tàu cổ tại vùng biển Bình Châu – Quảng Ngãi Ngày 12/9/2012 Cục Di sản văn hóa đã có quyết định số 47/QĐ-DSVH cử đoàn cán bộ gồm các thành viên: 1. Ths. Nông Quốc Thành, Trưởng Phòng Quản lý di tích; 2. TS. Nguyễn Đình Chiến, Phó Giám đốc Bảo tàng Lịch sử quốc gia, Ủy viên Hội đồng Giám định cổ vật; 3. TS. Phạm Quốc Quân nguyên Giám đốc Bảo tàng Lịch sử ViệtNam, Ủy viên Hội đồng Giám định cổ vật. Ngày 13/9/2012 Đoàn công tác đã có mặt tại Quảng Ngãi và tham gia đoàn khảo sát do TS. Nguyễn Đăng Vũ, Giám đốc  Sở VH, TT và Du lịch Quảng Ngãi tổ chức. Một số thông tin ban đầu: 1. Địa điểm tàu đắm thuộc vùng biển Vũng Tàu, thôn Châu Thuận Biển, xã Bình Châu, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, tọa độ 15o25’N, 108o15’55E, cách bờ khoảng 100m. 2. Hiện vật do ngư dân trục vớt được cơ quan biên phòng và công an thu giữ bao gồm các loại hình: bát, đĩa, lư hương men ngọc; đĩa men trắng xanh; chậu men nâu da lươn nhiều cỡ. – Bát men ngọc màu xanh da táo hay vàng ôliu, có miệng loe thành cao, đáy màu xám hay đỏ gạch. Đường kính miệng: 18,5-19,5 cm; Chiều cao từ 7,5-8cm.

Bát Men Ngọc

Bát Men Ngọc

Đa số bát men ngọc không trang trí, nhưng có trường hợp giữa lòng in hình 2 người đấu vật hay in chìm cành hoa lá.

Đĩa Men Ngọc

Đĩa Men Ngọc

– Đĩa men ngọc dáng chậu, gờ miệng uốn, thành trong in chìm cánh hoa cúc, giữa lòng in chìm cành hoa lá, đáy có dấu khoanh tròn màu đỏ nâu. Đường kính miệng: 34 cm; Chiều cao: 7,5 cm.

LƯ HƯƠNG

LƯ HƯƠNG

– Lư hương men ngọc dáng hình trụ, xung quanh thân chia 3 ngấn nổi, chân đế nhỏ có gắn 3 chân nổi, men phủ phía ngoài, lòng để mộc. Đường kính: 9 cm; Chiều cao: 5cm.

Đĩa men trắng xanh

Đĩa men trắng xanh

Chi tiết lòng bát men ngọc

Chi tiết lòng bát men ngọc

– Đĩa men trắng xanh, chân đế thấp, gờ miệng để mộc trong lòng in nổi 2 hình cá ngược chiều nhau. Đường kính miệng: 14,3 cm; Chiều cao: 3,4 cm.

Chậu men nâu da lươn

Chậu men nâu da lươn

– Chậu men nâu da lươn, dáng hình nón cụt, đế bằng để mộc, men phủ trong lòng, thành ngoài men không đều. Đường kính miệng: 21,5-24 cm; Chiều cao: 5-6,7cm.

Đặc biệt trong số những hiện vật trên có 1 chồng dính gồm 11 chiếc chậu men nâu da lươn, có dấu tích than tro và những đồng tiền cổ bị cháy. Từ chứng cứ này chúng tôi cho rằng đây là dấu hiệu con tàu đã bị cháy trước khi chìm, tương tự như nguyên nhân bị chìm của tàu Hòn Cau và Cà Mau đã khai quật trước đây.

Quan sát tất cả những hiện vật bị vỡ chúng tôi đều thấy rõ những vết mới vỡ, phản ánh hậu quả việc trục vớt tự do của ngư dân. Đây là trường hợp đáng tiếc đã xảy ra tương tự với các con tàu cổ đã biết ở Việt Nam.

Trên cơ sở xem xét các loại hình, hoa văn trang trí, so sánh với các tài liệu đã biết, đặc biệt là con tàu Sinan bị đắm ở biển Nam Triều Tiên chở hàng gốm sứ thời Nguyên, chúng tôi cho rằng niên đại của những hiện vật trong tàu cổ Bình Châu thuộc thế kỉ 14, thời Nguyên (Trung Quốc).

Để thực hiện việc khai quật khẩn cấp tàu cổ Bình Châu, Sở VH, TT và Du lịch Quảng Ngãi đã có văn bản trình UBND tỉnh xem xét cấp phép và phê duyệt phương án khai quật khẩn cấp. Đồng thời Sở VH, TT và Du lịch Quảng Ngãi cũng có công văn số 1002/SVHTTDL-VP ngày 12/9/2012 gửi Bảo tàng Lịch sử quốc gia đề nghị cử cán bộ tham gia chủ trì khai quật.

Ngày 14/9/2012 UBND tỉnh Quảng Ngãi có quyết định số 1349/QĐ-UBND về việc thành lập Hội đồng xét chọn các tổ chức và cá nhân có đủ điều kiện thăm dò, khai quật, trục vớt di sản văn hóa dưới nước tại vùng biển thôn Châu Thuận Biển, xã Bình Châu, huyện Bình Sơn, Quảng Ngãi. Hội đồng gồm 9 thành viên do TS. Nguyễn Đăng Vũ, Giám đốc Sở VH, TT và Du lịch làm Chủ tịch Hội đồng. Hội đồng đã trao đổi thống nhất 6 tiêu chí đánh giá tổng quát về hồ sơ đăng kí của các tổ chức và cá nhân được ban hành kèm theo quyết định số 1349 của UBND tỉnh Quảng Ngãi.

Sau cuộc họp xét chọn ngày 19/9/2012 tại Văn phòng Sở VH, TT và Du lịch Quảng Ngãi, Hội đồng đã lựa chọn Công ty TNHH Đoàn Ánh Dương – một công ty đã hoạt động trong lĩnh vực này 9 năm (2003-2012), đã được các UBND tỉnh Quảng Nam, Cà Mau, Bình Định, Bình Thuận, Kiên Giang và Bộ VH, TT và Du lịch cấp phép khảo sát khai quật tàu cổ tại nhiều địa phương trong vùng biển Việt Nam để xây dựng Bảo tàng Cổ vật Biển Việt Nam. Hiện nay, Sở VH, TT và Du lịch tỉnh Quảng Ngãi đang chỉ đạo các công việc tiếp theo để tiến hành khảo sát và khai quật tàu cổ Bình Châu theo Quy chế thăm dò, khai quật khảo cổ học dưới nước do Bộ VH, TT & DL ban hành ngày  30/12/2008.

Hội đồng xét chọn theo quyết định số 1349 của UBND tỉnh Quảng Ngãi

Nguyễn Đình Chiến – Phạm Quốc Quân

Nguồn tin:baotanglichsuquocgia

* MỤC LỤC – TIN TỨC THỜI SỰ NGÀNH GỐM 

 

 

 

Read Full Post »

Tháng 11/2005, Không gian Văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đã được công nhận là “Kiệt tác truyền khẩu và di sản phi vật thể của nhân loại”.

Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trải rộng suốt 5 tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đăk Lăk, Đăk Nông, Lâm Đồng và chủ nhân của loại hình văn hóa đặc sắc này là cư dân các dân tộc Tây Nguyên: Bana, Xêđăng, Mnông, Cơho, Rơmăm, Êđê,Jrai… Cồng chiêng gắn bó mật thiết với cuộc sống của người Tây Nguyên, là tiếng nói của tâm linh, tâm hồn con người, để diễn tả niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống, trong lao động và sinh hoạt hàng ngày của họ.

Cồng chiêng Tây Nguyên có nguồn gốc từ truyền thống văn hóa và lịch sử rất lâu đời. Về cội nguồn, có nhà nghiên cứu cho rằng, cồng chiêng là “hậu duệ” của đàn đá. trước khi có văn hóa đồng, người xưa đã tìm đến loại khí cụ đá: cồng đá, chiêng đá… tre, rồi tới thời đại đồ đồng, mới có chiêng đồng… Từ thuở sơ khai, cồng chiêng được đánh lên để mừng lúa mới, xuống đồng; biểu hiện của tín ngưỡng – là phương tiện giao tiếp với siêu nhiên… âm thanh khi ngân nga sâu lắng, khi thôi thúc trầm hùng, hòa quyện với tiếng suối, tiếng gió và với tiếng lòng người, sống mãi cùng với đất trời và con người Tây Nguyên. Tất cả các lễ hội trong năm, từ lễ thổi tai cho trẻ sơ sinh đến lễ bỏ mả, lễ cúng máng nước, lễ mừng cơm mới, lễ đóng cửa kho, lễ đâm trâu.. . hay trong một buổi nghe khan… đều phải có tiếng cồng. Tiếng chiêng dài hơn đời người, tiếng chiêng nối liền, kết dính những thế hệ.

Theo quan niệm của người Tây Nguyên, đằng sau mỗi chiếc cồng, chiêng đều ẩn chứa một vị thần. Cồng chiêng càng cổ thì quyền lực của vị thần càng cao. Cồng chiêng còn là tài sản quý giá, biểu tượng cho quyền lực và sự giàu có. Đã có thời một chiếc chiêng giá trị bằng hai con voi hoặc 20 con trâu. Vào những ngày hội, hình ảnh những vòng người nhảy múa quanh ngọn lửa thiêng, bên những vò rượu cần trong tiếng cồng chiêng vang vọng núi rừng, tạo cho Tây Nguyên một không gian lãng mạn và huyền ảo. Cồng chiêng do vậy góp phần tạo nên những sử thi, những áng thơ ca đậm chất văn hóa Tây Nguyên vừa lãng mạn, vừa hùng tráng.

Để chào mừng kỷ niệm 67 năm cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9; nhân ngày truyền thống của Ngành Văn hoá, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch; Uỷ ban nhân dân các tỉnh Tây Nguyên phối hợp với các cơ quan trung ương và Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội chỉ đạo tổ chức “Những ngày văn hoá Tây Nguyên” tại Hà Nội.

Đây là lần thứ hai, chương trình được tổ chức với quy mô lớn về văn hoá – con người – sự kiện của một vùng đất cao nguyên phía tây nam Tổ quốc với mục đích: giới thiệu với nhân dân thủ đô và nhân dân cả nước, bạn bè quốc tế những giá trị văn hoá và sức sống mãnh liệt, sự trường tồn của bản sắc Tây Nguyên trong nền văn hoá dân tộc Việt Nam , tôn vinh các giá trị văn hoá vật thể, phi vật thể của nhân dân các dân tộc Tây Nguyên , khai thác và phát triển kinh tế, du lịch trên nền tảng văn hoá truyền thống.

Với Sự tham gia của 05 tỉnh khu vực Tây Nguyên: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng với các thành phần dân tộc Jarai, Bahnar, Ê đê, Xêđăng, Mơnông, Cơho, Mạ, Churu, Giẻtriêng, Brâu, Rơmăm… Các đơn vị thuộc Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch ,  các đơn vị thuộc UBND Thành phố Hà Nội.  Binh đoàn 15 – Bộ Quốc phòng ,  Uỷ ban Dân tộc  , Hội đồng Dân tộc Quốc hội , Ban Tuyên giáo Trung ương , Làng Văn hoá các dân tộc Việt Nam, Viện Nghiên cứu văn hoá, Hội Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam  . Các Hội chuyên ngành, các nhà nghiên cứu về văn hoá và lịch sử; các văn nghệ sĩ, nghệ nhân. Các nhà quản lý, các chuyên gia về văn hoá folklore cùng các cơ quan, đơn vị có liên quan. Cùng nhau phối hợp và thực hiện ngày hội văn hóa Tây  Nguyên tại hà Nôi lần II – 2012 với chủ đề chung của chương trình  : TÂY NGUYÊN  – TRUYỀN THỐNG VÀ PHÁT TRIỂN  .

Được trưng bày thành hai khu vực với nội dung :

-Tây Nguyên – Bản sắc văn hoá truyền thống

-Tây Nguyên – Hội nhập và Phát triển

Tại không gian trưng bày của các  tỉnh Tây Nguyên , đồng bào các dân tộc còn mô phỏng lễ hội đâm trâu , mừng lúa mới kể sử thi hát khan; trình diễn cồng chiêng…Cùng với triển lãm, hội chợ sẽ giới thiệu, bày bán đặc sản, nông sản, hàng thủ công mỹ nghệ, sản phẩm du lịch đậm chất Tây Nguyên phục vụ công chúng.

Đặc biệt trong không gian trưng bày triển lãm lần này đã giới thiệu đến công chúng một bộ sách ‘’ KHO TÀNG SỬ THI TÂY NGUYÊN ‘’ mà trước đây chúng ta thường gọi  Trường Ca , Anh Hùng Ca , một thể loại tự sự dân gian truyền miệng , cho đến nay vẫn được Lưu giữ trong trí nhớ của người dân và thường được diễn xướng trong các dịp sinh hoạt cộng đồng . Việc phát hiện , sưu tầm và công bố các tác phẩm sử thi là cố gắng của nhiều thế hệ  các nhà sưu tầm và nghiên cứu văn hóa dân gian gần một thế kỷ qua .

Năm 2001 chính phủ giao cho viện khoa xã hội VN chủ trì phối hợp với các tỉnh Tây Nguyên và phụ cận thực hiện dự án điều tra , sưu tầm , bảo quản , biên dịch và xuất bản kho tàng sử thi Tây Nguyên một cách quy mô , bài bản và đồng bộ . Dự án này cho thấy Tây Nguyên và các vùng phụ cận là vùng đất đã tồn tại và đang lưu giữ  một kho tàng sử thi vào loại phong phú , đồ sộ vào loại hiếm có trên thế giới .

Trong khuôn khổ của ngày hội với chủ đề TÂY NGUYÊN – BẢN SẮC VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG  . Bảo tàng Văn hoá các dân tộc Việt Nam  với hơn 400 tài liệu hiện vật  , hình ảnh triển lãm giới thiệu về bản sắc văn hóa truyền thống mang tính đặc trưng của vùng  : địa vực cư trú , đời sống sinh hoạt , nghề thủ công , văn hóa cồng chiêng , nhạc cụ , lễ hội , tín ngưỡng tộc người … nhằm góp phần giới thiệu  tôn vinh giữ gìn , phát huy giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của các tộc người ở Tây Nguyên trong cộng đồng các dân tộc VN . Cùng với những hình ảnh triển lãm vì màu xanh Tây Nguyên của Binh đoàn 15  đã cho thấy được một Tây Nguyên HỘI NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN  .

Bảo Tàng Mỹ thuật Việt Nam là một trong những bảo tàng được đánh giá có vị trí quan trọng nhất trong việc lưu giữ

và phát huy kho tàng di sản văn hóa nghệ thuật của cộng đồng các dân tộc Việt Nam . Trong khuôn khổ những ngày văn hóa Tây Nguyên lần II – 2012 tại Hà Nội . Bảo Tàng Mỹ Thuật VN giới thiệu với công chúng hơn 60 tác phẩm hội họa và điêu khắc của gần 30 họa sĩ , nhà điêu khắc . Trong đó có nhiều họa sĩ nổi tiếng là người dân tộc Tây Nguyên . Với các chất liệu được sử dụng phong phú : phấn , bột màu , màu dàu , nàu nước , lụa , sơn mài …được các họa sĩ  Xu man , Nguyễn Vĩnh Nguyên , Hoàng Kiệt , Hà Xuân Phong , Sều Y Lun , Y Nhi , Kso  , Dinh Rú , Hồ Uông …. thể hiện qua các tác phẩm về đề tài Tây Nguyên .

Cùng Những hình ảnh Tây Nguyên Sắc màu Bazan được thể hiện qua những tác phẩm ảnh nghệ thuật thật sống động và mãnh liệt  của Hội Văn Học Nghệ Thuật Các Dân Tộc Thiểu Số .  Những tác phẩm trên  chứa đựng những cảm xúc chân thành với vùng đất và con người Tây Nguyên trong chiến tranh và trong công cuộc xây dựng cuộc sống mới của các tộc người Tây Nguyên  .

Trung tâm  Unesco nghiên cứu , bảo tồn cổ vật VN  với không gian  CỔ VẬT TÂY NGUYÊN tập trung giới thiệu bản sắc văn hóa truyền thống mang tính đặc trưng của các cộng đồng dân tộc Tây Nguyên thông qua các hiện vật , hình ảnh công cụ lao động sản xuất , sinh hoạt ,  ….những nét văn hóa độc đáo giàu bản sắc văn hóa của vùng đất Tây Nguyên .

NST Khánh Hòa Thúy Nga – Tp Hồ Chí Minh triển lãm bộ sưu tập ‘’ NÉT VĂN HÓA TÂY NGUYÊN ‘’ Đây là những hiện vật được sưu tầm từ vùng đất Tây Nguyên  , là những hiện vật đặc trưng sinh hoạt thường ngày và văn hóa của các dân tộc bằng các chất liệu da , đồng , gốm , đá  , gỗ …. những vật dụng này gắn bó với đời sống thường nhật nhưng mang những giá trị tinh thần tâm linh và tính thẩm mỹ của con người vùng đất Tây Nguyên .

Hiện vật được sắp xếp thành các chủ đề bộ săn bắn trên cạn ( nỏ , cung tên , lao ) bộ dụng cụ sản xuất và đồ dùng thường ngày của các dân tộc . Bộ dệt với những đường nét hoa văn tinh tế và màu sắc hấp dẫn , bộ nhạc cụ ( trống , goong tốc lốc , đàn gió … ) đặc biệt là chiêng , một đặc trưng văn hóa của đồng bào Tây Nguyên  , là một loại nhạc cụ ‘’ thiêng ‘’có vị trí rất quan trọng đến đời sống tinh thần , tâm linh của các dân tộc ở Tây Nguyên …. hy vọng bộ sưu tập hiện vật ‘’ NÉT VĂN HÓA TÂY NGUYÊN sẽ phần nào cung cấp cho công chúng những hiểu biết sâu sắc về nền văn hóa và lịch sử của các dân tộc Tây Nguyên .

Tây Nguyên là đề tài vô tận trong các loại hình nghệ thuật , trong đó có nhiếp ảnh . Đất và con người Tây Nguyên đẹp đến nỗi  tưởng chừng như ở góc máy nào cũng tìm thấy những bức ảnh đẹp khiến ta rung động . Không phải là một nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp , cũng không phải là một nhà nghiên cứu . Tác giả  Lâm Tứ Khoa  ở Đà Nẵng chỉ có may mắn được nhiều lần đến vùng đất Tây Nguyên  đem theo một chút đam mê và tình cảm  . Rồi khi bắt gặp được những hình ảnh sinh động , anh đã ghi lại những khoảnh khắc ấy đem về sắp xếp lại theo một trình tự  , từ đó dựng lên một không gian TÂY NGUYÊN TỰ TÌNH để chúng ta cùng nhau ngắm nhìn và cùng nhau cảm nhận .

Đến từ vùng đất Gia Lai Họa sĩ Hồ Thị  Xuân Thu   đã đem đến cho ngày hội văn hóa Tây Nguyên một ‘’ SẮC MÀU TÂY NGUYÊN ‘’ thật đậm nét , với hơn 30 tác phẩm sơn mài về hình ảnh người phụ nữ Tây Nguyên trong hầu  hết các sinh hoạt trong cuộc sống từ lao đông bình thường đến các lễ hội và tâm tư tình cảm , bằng đường nét dân gian , người xem sẽ thực sự xúc động trước một Tây Nguyên kỳ diệu , bí ẩn hoang sơ và mộc mạc .

Như vậy , sau mười năm Những Ngày văn Hóa Tây Nguyên lần II – 2012  lại được tổ chức tại Hà Nội  . Đây là chương trình được tổ chức với quy mô lớn , giới thiệu văn hóa – con người  – sự kiện và những giá trị văn hóa , sức sống mãnh liệt cũng như sự trường tồn của bản sắc Tây Nguyên trong nền văn hóa các dân tộc Việt Nam, tôn vinh các giá trị  văn hóa vật thể, phi vật thể của vùng đất đỏ cao nguyên, nổi bật là Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới.

Khanhhoathuynga

Hình ảnh : Khanhhoathuynga

This slideshow requires JavaScript.

* MỤC LỤC – TIN TỨC THỜI SỰ NGÀNH GỐM 

Read Full Post »

Để chào mừng kỷ niệm 67 năm cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9; Nhân ngày truyền thống của Ngành Văn hóa, Bộ VHTTDL và Ủy ban nhân dân các tỉnh Tây Nguyên phối hợp với các cơ quan Trung ương và Ủy ban nhân dân Thủ Đô tổ chức “Những ngày Văn hóa Tây Nguyên” tại Hà Nội.

Theo đó, Những ngày văn hoá Tây Nguyên bao gồm các hoạt động: Triển lãm giới thiệu về Tây Nguyên; Hội chợ giới thiệu ẩm thực Tây Nguyên; Hoạt động văn hóa nghệ thuật truyền thống; Hoạt động giao lưu, hội thảo và tham quan.

Đây sẽ là chương trình được tổ chức với quy mô lớn về Văn hóa – Con người – Sự kiện của vùng đất Tây Nguyên với mục đích giới thiệu với nhân dân Thủ đô, nhân dân cả nước và bạn bè quốc tế những giá trị văn hóa và sức sống mãnh liệt, sự trường tồn của bản sắc Tây Nguyên trong nền văn hóa dân tộc Việt Nam.

Lễ hội còn là dịp tôn vinh các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của các dân tộc Tây Nguyên, khai thác và phát triển kinh tế, du lịch trên nền tảng văn hóa truyền thống. Động viên, khích lệ nhân dân các dân tộc Tây nguyên trong phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, phát triển kinh tế, xã hội; xứng đáng với vị trí chiến lược đặc biết quan trọng của Tây Nguyên trong lịch sử cũng như trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Tây Nguyên – gồm 5 tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng – không chỉ là địa bàn chiến lược về kinh tế, chính trị, an ninh quốc phòng mà còn là vùng văn hoá dân gian đa dạng và đặc sắc của Việt Nam. Các tỉnh Tây Nguyên đang từng bước phục hồi lễ hội cồng chiêng và các lễ hội truyền thống của các dân tộc thiểu số như lễ đâm trâu, mừng lúa mới, cúng bến nước, bỏ mả, mừng sức khỏe và cầu mưa, đồng thời tiến hành bảo tồn, sưu tầm, lưu giữ và phổ biến những tư liệu khảo cứu và các hiện vật đặc thù của văn hóa Tây Nguyên. Những lễ hội đua voi, lễ hội cồng chiêng, lễ hội văn hóa Trường Sơn-Tây Nguyên đã trở thành lễ hội truyền thống thường niên của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên.

Đêm khai mạc Những ngày văn hóa Tây Nguyên 28/8/2012 sẽ được truyền hình trực tiếp trên sóng VTV và Truyền hình Hà Nội./.

Nhận lời mởi từ Trung tâm triển lãm văn hóa nghệ thuật VN  ( Bộ Văn Hóa Thể Thao & Du Lịch )  mừng ngày hội Văn Hóa Tây Nguyên  Khanhhoathuynga tham gia  trưng bày một số  hiện vật đặc trưng sinh hoạt thường ngày và văn hóa của các tộc người Tây Nguyên bằng các chất liệu gốm , da , đồng , gỗ , đá . Những vật dụng này gắn bó với đời sống thường nhật nhưng mang những giá trị tinh thần tâm linh và tính thẩm mỹ của con người vùng đất Tây Nguyên được thể hiện qua các nhóm sản phẩm tiêu biểu như công cụ lao động , săn bắt, nhạc cụ , đồ đựng thực phẩm , đồ trang sức …. Được KhánhHòaThúy Nga sưu tầm tại vùng đất Tây Nguyên .

Chúng tôi sẽ cập nhật hình ảnh của ngày lễ hội sau :

 

* MỤC LỤC – TIN TỨC THỜI SỰ NGÀNH GỐM 

Read Full Post »

Older Posts »