Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘ĐỒ SỨ BLEU DE HUE’ Category

Đồ sứ “tân” ký kiểu – Bleu de Hue: Cẩn trọng khi sưu tầm cổ vật

Cuối cùng tôi cũng đến Cảnh Đức Trấn, địa danh thân thuộc khi tôi bắt đầu tìm hiểu một loại hình cổ vật đặc biệt, mà người ta vẫn quen gọi là đồ sứ men lam Huế hay đồ sứ ký kiểu. Đó là những món đồ sứ làm theo các yêu cầu về kiểu dáng, màu sắc, hoa văn trang trí, thơ văn minh hoạ và hiệu đề, do các sứ bộ và thương nhân từ Việt Nam sang Trung Hoa đặt làm.

Việc ký kiểu đồ sứ được khởi xướng bởi vương triều Lê – Trịnh ở Đàng Ngoài từ thế kỷ XVII, được tiếp nối bởi các chúa Nguyễn ở Đàng Trong, qua triều Tây Sơn và trở nên thịnh hành dưới triều Nguyễn. Trong 13 đời vua của nhà Nguyễn, chỉ có 5 đời vua có ký kiểu đồ sứ là: Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức và Khải Định. Trước khi đi ký kiểu đồ sứ, các hoạ sĩ vâng theo thánh ý của vua và nhu cầu của triều đình để thực hiện các bản vẽ mẫu về kiểu dáng, hoạ tiết và thơ văn trên giấy. Sau đó, các bản vẽ này được trình lên để nhà vua xem xét và phê duyệt trước khi giao cho sứ bộ mang sang Trung Quốc đặt làm đồ sứ. Chuyến đi ký kiểu đồ sứ cuối cùng dưới thời Nguyễn là vào năm 1925, nhưng các sứ thần chỉ đi đến Quảng Đông đặt làm các món đồ sứ mang hiệu đề Khải Định Ất Sửu.

Sau hai năm khảo sát, xác định chủng loại, số lượng, kiểu thức của những món đồ sứ, hoạ sĩ còn đo vẽ tất cả các hoạ tiết trang trí trước khi đặt làm hơn 500 món đồ sứ, trong đó có gần 100 chiếc thống lớn. Vậy mà, ông Hào Hải Thịnh, chủ một lò sứ ở Cảnh Đức Trấn, nơi chúng tôi đặt quan hệ để ký kiểu đồ sứ, vẫn đích thân đến Huế để hướng dẫn các hoạ sĩ trong cách thức sao chép các hoa văn trên đồ sứ cổ sang giấy lụa để giúp cho việc phục chế đồ sứ ký kiểu được chân xác hơn.

Cảnh Đức Trấn đúng như những gì tôi đã hình dung qua các trang biên dịch của cố học giả Vương Hồng Sển trong cuốn Cảnh Đức Trấn đào lục: khắp nơi đều có sự hiện diện của gốm sứ, như lời của ông chủ lò gốm Hải Thanh khi đón chúng tôi ở bến xe Cảnh Đức Trấn: “Xứ này, trên là trời, dưới là đồ sứ”.

Sáng hôm sau, Hào Hải Thịnh đưa chúng tôi ra ngoại ô để thăm Trấn Diêu, vốn là quan xưởng của trấn Cảnh Đức, chuyên làm đồ sứ cao cấp phục vụ cho triều đình và hoàng gia các triều: Nguyên, Minh và Thanh, được thành lập vào cuối thời Tống. Gần 10 thế kỷ trôi qua, Trấn Diêu trải bao cơn thăng trầm và đã trở thành di tích. Năm 1990, chính quyền thành phố đã cho mời chủ nhân hai lò sứ danh tiếng nhất trấn vào lập xưởng chế tác đồ sứ ngay trong khuôn viên Trấn Diêu cũ, vừa để giới thiệu kỹ nghệ gốm sứ truyền thống của Cảnh Đức Trấn, vừa tạo ra sản phẩm phỏng cổ (đồ sứ làm theo kiểu mẫu đồ sứ cổ) làm quà lưu niệm bán cho du khách. Lò của Lỗ Quốc Siêu chuyên về dòng đồ tam thái, ngũ thái, đấu thái (sứ màu) toạ lạc ở phía tây. Lò của Hào Hải Thịnh chuyên về dòng đồ thanh hoạ (sứ trắng vẽ lam) toạ lạc ở phía đông. Xuất thân từ một gia đình 5 đời chuyên cung cấp men màu cho phần lớn các lò gốm sứ trong trấn, Hào Hải Thịnh chuyên tâm nghiên cứu và chế tạo men lam Hồi (oxide cobalt) và trở thành một chuyên gia hàng đầu về dòng đồ thanh hoạ ở Cảnh Đức Trấn.

Khi chúng tôi đến lò của Hào Hải Thịnh, có khoảng 20 thợ gốm đang làm việc, ở nhiều công đoạn khác nhau: nhào trộn cao lanh trong bể ngâm; tạo cốt; trang trí hoạ tiết; vào màu; tả tự (viết chữ), nung đốt sản phẩm… Ông Hào giải thích: “Công việc ở đây rất chuyên biệt. Có người chuyên làm cốt, có người chuyên vẽ rồng, có người chuyên vẽ hoa thụ, phong cảnh, người khác chuyên trách việc nung đốt”.

Sau khi nhận được các thông số về kích thước và hình dáng sản phẩm từ Việt Nam, thợ trong lò bắt tay làm đất và tạo cốt trước, với tỷ lệ khoảng 120% so với thành phẩm, để sau khi nung sản phẩm co rút lại là vừa. Các hoạ tiết trang trí can trên giấy nến, sẽ được copy với tỷ lệ 120%, đồ lại bằng mực đỏ trên giấy lụa rồi đem in lên cốt đất còn ướt để lấy mẫu. Sau đó hoạ sĩ của lò mới vẽ lại bằng màu lam, đóng dấu hiệu đề, phủ men trong, rồi mới đem nung.

Trong những ngày làm việc ở lò sứ của Hào Hải Thịnh, tranh thủ những lúc rảnh rỗi, chúng tôi đi thăm khu lò cổ của hai triều Minh, Thanh. Trấn Diêu xưa, nay đã trở thành một khu bảo tàng sống, giới thiệu lịch sử hình thành và phát triển nghề gốm ở Cảnh Đức Trấn. Tất cả mọi thứ dường như y nguyên, chỉ khác ở chỗ thay vì nung bằng củi sài như trước thì người ta nung bằng lò ga mà thôi. Tuy nhiên, người ta vẫn bày nhiều đống củi sài trước khu lò cũ, cùng nhiều dụng cụ làm gốm sứ xưa và các mô hình diễn giải cho du khách về kỹ nghệ gốm sứ truyền thống của Cảnh Đức Trấn.

Một ngày trước khi chúng tôi về nước, Hào Hải Thịnh đưa chúng tôi đi thăm trung tâm mua bán đồ sứ của Cảnh Đức Trấn. Đó là một khu vừa phố vừa lò, nằm trên bãi đất rộng ven sông Lệ Giang và là nơi mua bán đồ sứ nhộn nhịp nhất Cảnh Đức Trấn. Đồ sứ bày la liệt, từ trong chân lò ra đến cửa hiệu, tràn cả hè phố và ngập kín các bãi đất trống sát chân cầu. Có rất nhiều lò chuyên làm đồ gốm sứ phỏng cổ, từ đồ đời Hán đến đồ Trung Hoa dân quốc, họ đều làm tất. Khách hàng chỉ cần đưa yêu cầu kèm các thông tin chi tiết của món đồ mẫu rồi về. Tuỳ theo kích thước và tính chất của món đồ đặt làm, hai hoặc ba tháng sau, khách hàng sẽ nhận được món đồ như ý muốn.

Có rất nhiều người bày bán những mảnh gốm sứ vỡ trên những tấm ni lông trải ở vệ đường. Ông Hào giải thích với tôi: “Đó là những tiêu bản gốm cổ do người dân đào được ở các phế tích lò xưa trên địa bàn Cảnh Đức Trấn. Người ta mua những mảnh vỡ này về để phân tích thành phần men màu, kỹ thuật nung, rồi bắt chước mà làm các đồ sứ phỏng cổ”. Tôi sục sạo trong nhiều đống mảnh sứ đang bày bán, tìm thấy nhiều mảnh có hiệu đề: Vạn Lịch, Tuyên Đức, Khang Hy, Ung Chính, Càn Long… nhưng không hề thấy mảnh nào mang hiệu đề của các vua Việt Nam.

Giữa tháng 11.2005, lô đồ sứ tân ký kiểu từ Cảnh Đức Trấn về đến Hữu Nghị Quan. Hào Hải Thịnh xuất hiện bên kia cửa khẩu, tươi cười chào chúng tôi. Thủ tục thông quan được tiến hành nhanh chóng. 500 món đồ sứ ký kiểu vượt biên giới về đến Huế an toàn, kết thúc tân hành trình ký kiểu đồ sứ.

Nguồn: Báo Tuổi trẻ  điện tử

 

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

 

Advertisements

Read Full Post »

Bleu de Hue, pháp lam Huế ở Châu Âu

Bình dâng rượu bằng pháp lam Huế nhưng được ghi là pháp lam Trung Quốc. Sưu tập của Bảo tàng DTM Muenchen

Bình dâng rượu bằng pháp lam Huế nhưng được ghi là pháp lam Trung Quốc. Sưu tập của Bảo tàng DTM Muenchen

Hơn 3 tháng trời “sục sạo” trong hàng chục bảo tàng và các sưu tập tư nhân ở 3 nước Đức, Bỉ và Pháp, tôi đã “mục kích” hàng trăm món đồ cổ quý hiếm của Việt Nam, trong đó có rất nhiều cổ vật đến từ xứ Huế của tôi. Bài viết này giới thiệu những cổ vật có gốc gác từ cố đô Huế mà tôi đã “phát hiện” trong hành trình Theo dấu cổ vật Việt Nam vừa qua.

Bình rượu bằng pháp lam Huế. Sưu tập của Phillipe Truong

Bình rượu bằng pháp lam Huế. Sưu tập của Phillipe Truong

Từ những năm đầu thế kỷ XX, nhiều nhà sưu tập châu Âu đã sưu tầm và đưa về chính quốc nhiều món cổ vật Việt Nam, trong đó có cổ vật Huế. Tiếp theo, những người lính viễn chinh quân đội Pháp, và sau đó là quân đội Hoa Kỳ, cũng đã “nhặt nhạnh” nhiều cổ vật mang về nước để làm vật kỷ niệm một thời chinh chiến ở Việt Nam. Sau năm 1954 và đặc biệt là sau năm 1975, nhiều người Việt Nam, khi ra định cư ở nước ngoài, đã mang theo nhiều cổ vật gia bảo để làm “của” nơi xứ người. Thế rồi, vì một lý do nào đó, họ (hoặc thân nhân của họ) lại mang những món gia bảo ấy rao bán trong các cuộc đấu giá đồ cổ ở Paris, London, Frankfurt, Berlin… như sưu tập Cổ Trung Ngươn (bán năm 1988), sưu tập Bảo Đại (bán năm 1994), sưu tập Bảo Long (bán năm 1995), sưu tập Hồ Đình (bán năm 1996), sưu tập Nam Phương (bán năm 1996), sưu tập Hà Thúc Cần (bán năm 1996)…

Những bảo tàng và sưu tập tư nhân ở châu Âu đã sở đắc nhiều cổ vật Việt Nam từ những phiên bán đấu giá này, và dĩ nhiên, cả từ nguồn cổ vật xuất khẩu trái phép từ Việt Nam, được bày bán công khai trong các cửa hàng bán đồ cổ ở nước ngoài.   Xứ Huế có hai nhóm cổ vật nổi danh khắp hoàn cầu là đồ sứ ký kiểu (còn gọi là bleus de Huế) và pháp lam Huế. Vì thế nhiều bảo tàng và các sưu tập tư nhân ở nước ngoài đã tìm mọi cách để có được những cổ vật thuộc hai nhóm ấy. Về đồ sứ ký kiểu (ĐSKK), hầu như các bảo tàng mà tôi có dịp viếng thăm ở Đức, Bỉ, Pháp đều sở hữu nhiều món ĐSKK quý giá. Đáng chú ý là các sưu tập ĐSKK thuộc: Bảo tàng Linden Stuttgart (Đức), Bảo tàng Lịch sử và Nghệ thuật Hoàng gia (Bỉ), Bảo tàng Hoàng gia Mariemont (Bỉ), Bảo tàng Guimet (Pháp), Bảo tàng Mỹ thuật Rennes (Pháp)… Những bảo tàng này đã cử người theo sát các phiên bán đấu giá cổ vật Việt Nam ở Pháp, Đức, Anh trong những năm 1980 và đã mua được những món bleus de Hue tuyệt đẹp. Trong kho của Bảo tàng Linden Stuttgart đang cất giữ những chiếc bát sứ và đĩa sứ vẽ rồng hoàn hảo niên hiệu Thiệu Trị và Tự Đức. Bảo tàng Lịch sử và Nghệ thuật Hoàng gia (Bỉ) thì sở hữu những chiếc tô và tìm sứ ký kiểu thuộc các triều vua Minh Mạng và Thiệu Trị mà họ mua được từ cuộc bán đấu giá của cựu hoàng tử Bảo Long, trong khi, Bảo tàng Hoàng gia Mariemont lại sở đắc nhiều món cổ vật quý, đặc biệt là chiếc ống nhổ trang trí long phụng, hiệu đề Nội phủ thị trung, thuộc dòng ĐSKK thời Lê – Trịnh (cũng được giới cổ ngoạn xếp vào dòng bleus de Hue), một trong bốn chiếc tương tự được biết đến trên toàn thế giới. Riêng sưu tập ĐSKK của Bảo tàng Guimet (Pháp), gồm toàn những đồ ngự dụng thuộc các triều từ Minh Mạng đến Khải Định, thì vẫn đang được bảo quản trong kho, chưa bao giờ được đưa ra trưng bày. Tuy nhiên, người có sưu tập ĐSKK quý giá nhất là TS. Jochen May ở Neustadt (Đức). Ông bắt đầu sưu tầm đồ gốm Việt Nam từ hơn 20 năm nay và đã sưu tầm được hơn 300 món, trong đó có khoảng 150 món ĐSKK cực kỳ quý hiếm. Khi đến thăm sưu tập ĐSKK của ông, tôi vô cùng kinh ngạc vì ông có nhiều ĐSKK quý giá và phong phú như thế. Riêng nhóm ĐSKK thời Lê – Trịnh, ông sưu tầm đủ các hiệu đề: từ Nội phủ thị trung-hữu-nam-bắc-đông-đoài đến Khánh xuân và Khánh xuân thị tả. Đối với nhóm ĐSKK thời Nguyễn, TS. Jochen May cũng sưu tầm đủ các niên hiệu, từ Gia Long đến Khải Định. Jochen May cho hay ông đã tham dự hầu hết các cuộc bán đấu giá đồ gốm sứ Việt Nam tổ chức ở Paris, London và New York, đặc biệt là những phiên rao bán các ĐSKK của cựu hoàng Bảo Đại và của cựu hoàng tử Bảo Long. Nhờ vậy mà ông đã mua được những món đồ toàn bích, chất lượng cao để hợp thành một sưu tập ĐSKK hoàn hảo và ấn tượng.

Về cổ vật pháp lam, đáng chú ý là những món pháp lam Huế ở Bảo tàng Dân tộc học Berlin. Trước nay, các nhà nghiên cứu châu Âu gần như không có thông tin về nghề làm pháp lam ở Huế dưới thời Nguyễn. Vì thế, khi sưu tầm được những cổ vật pháp lam Huế, họ thường xếp chúng vào sưu tập pháp lam Trung Hoa. Trong kho của Bảo tàng Dân tộc học Berlin có 3 món pháp lam Huế để lẫn trong sưu tập pháp lam do lò Quảng Đông (Trung Quốc) chế tác. Khi tôi nói với TS. Siegmar Nahser, phó giám đốc Bảo tàng Dân tộc học Berlin, rằng những món pháp lam này do Pháp lam tượng cục ở Huế chế tác vào thời Thiệu Trị, thì ông ấy rất ngạc nhiên và cho biết thêm: “Những cổ vật này đến từ Bảo tàng Nghệ thuật Đông Á của Đông Đức trước đây. Sau ngày nước Đức thống nhất, các bảo tàng ở Đông Berlin và Tây Berlin sáp nhập với nhau, nên có nhiều hiện vật chưa được thống kê và kiểm định trở lại. Chúng tôi cứ nghĩ những cổ vật này là pháp lam Trung Hoa nên để chung trong sưu tập Trung Hoa. Cám ơn anh đã giúp chúng tôi hiểu rõ xuất xứ của những cổ vật này”.

DMCKXE025822

DMCKXE025822

DMCKXE025822Các bộ uống trà bằng pháp lam Huế. Sưu tập của Bảo tàng Mỹ thuật Rennes

Sưu tập pháp lam Huế thú vị nhất mà tôi “tìm được” trong chuyến khảo cứu này thuộc về Bảo tàng Mỹ thuật Rennes (Pháp). Khi được TS. Françoise Coulon, quản thủ bảo tàng, hướng dẫn tôi đi thăm hệ thống kho cổ vật của Bảo tàng Mỹ thuật Rennes, tình cờ tôi nhìn thấy mấy món pháp lam để lẫn với mấy món đồ đồng và đồ ngà cũ kỹ trong một góc kệ. Tôi ngỏ ý muốn được xem kỹ những món đồ này thì TS. Françoise Coulon cho biết: “Cách đây hơn 15 năm, bảo tàng chúng tôi nhận được một

nhóm cổ vật do những người lính lê dương quê ở vùng Bretagne, từng tham chiến ở Đông Dương, hiến tặng. Trong đó có những món đồ này. Tôi không nghiên cứu về nghệ thuật châu Á nên không có nhiều thông tin về nhóm hiện vật này. Vì thế, đành tạm xếp chúng vào nhóm hiện vật chờ giám định. Nếu anh có thông tin gì về nhóm hiện vật này, xin vui lòng cung cấp chúng tôi”. Khi những hiện vật này được đưa đến phòng giám định, tôi thật sự mừng rỡ khi nhận ra chúng là những cổ vật pháp lam thuộc hai triều Minh Mạng và Thiệu Trị. Đó là những quả hộp, chậu kiểng và các bộ đồ uống trà trong hoàng cung Huế trước đây. Trên những món pháp lam này còn dán những chiếc tem nhỏ ghi rõ xuất xứ từ Annam (tức xứ Trung Kỳ, theo cách phân chia thời Pháp thuộc. Hai xứ kia là Tonkin, tức Bắc Kỳ và Cochinchine, tức Nam Kỳ, cũng xuất hiện trên những chiếc tem dán lên một số hiện vật khác).

Hiện tại, Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế đang sở hữu hơn 100 hiện vật pháp lam, nhưng không có bộ đồ uống trà nào, trong khi một bảo tàng xa lạ nơi đất khách quê người này lại sở đắc đến 3 bộ đồ trà bằng pháp lam Huế. Thật là một bất ngờ thú vị. Sau này, khi giới thiệu ảnh những món pháp lam Huế tôi chụp ở Rennes với Philippe Truong, nhà nghiên cứu gốm sứ cổ ở Paris, thì anh cho hay: “Người châu Âu không hề biết rằng Việt Nam từng làm ra những món pháp lam tuyệt hảo. Vì thế, họ cứ nghĩ đó là đồ Tàu. Đôi lúc, tôi cũng mua được từ người Pháp những món pháp lam Huế với giá rất rẻ do họ không hiểu giá trị của chúng”. Rồi anh cho tôi xem những món pháp lam anh mua được ở các phiên chợ trời cuối tuần ở Paris với giá tương đương 3 ổ mì Tây.

DMCKXE025822
Chiếc ống nhổ sứ ký kiểu hiệu đề Nội phủ thị trung ở Bảo tàng Hoàng gia Mariemont
DMCKXE025822
Hộp trầu bằng pháp lam Huế, đời Minh mạng. Sưu tập của Bảo tàng Mỹ thuật Rennes
DMCKXE025822

DMCKXE025822

DMCKXE025822

DMCKXE025822Các bộ đồ uống trà bằng pháp lam Huế, đời Minh Mạng. Sưu tập của Philippe Truong

Còn nhiều cổ vật độc đáo và lạ lùng của xứ Huế mà tôi đã tình cờ bắt gặp trong những ngày lang thang ở châu Âu như bộ sanh tiền hình rồng, sơn son thếp vàng, dùng trong dàn nhạc lễ tế Nam Giao, hiện đang trưng bày ở Bảo tàng nhạc cụ Brussels (Bỉ). Hay bức trướng thêu 12 thắng cảnh xứ Huế dựa theo tập thơ ngự chế Thần kinh nhị thập cảnh của vua Thiệu Trị, hiện là vật gia bảo trong tư gia của bà Thái Kim Lan, một giáo sư Việt kiều ở thành phố Muenchen (Đức)…

Đi một ngày đàng, thấy một sàng… cổ vật, vừa vui lại vừa buồn. Vui vì ở nơi xa quê hương, cổ vật Việt Nam được trân trọng như những trân phẩm văn hóa đặc sắc, giúp bạn bè hiểu thêm về lịch sử, văn hóa và mỹ thuật Việt Nam. Buồn vì những di sản văn hóa quý giá của dân tộc sao cứ… lẳng lặng ra đi, lẳng lặng thuộc về người khác, trong khi chúng ta, những chủ nhân thực sự, lại có quá ít cơ hội để giữ lại cho Huế, cho Việt Nam những trân bảo ấy.

T.Đ.A.S

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN

Read Full Post »

Đồ sứ Việt Nam đặt làm tại Trung Hoa:

Nội phủ thị trung

Đó là một trong số các hiệu đề bằng chữ Hán trên đồ sứ do vua chúa Việt Nam đặt làm từ Trung Quốc dưới thời Lê Trung Hưng (1533 – 1788). Kiểu dáng cùng hình thức trang trí trên dòng đồ này khá phong phú. Nhưng chúng có một điểm chung dễ nhận ra là sự thuần khiết của một gam xanh biến ảo trên nền sứ trắng.

Trong khoảng 200 năm tồn tại của thời kỳ Vua Lê – Chúa Trịnh – đặc biệt kể từ khi Bình An Vương Trịnh Tùng nối nghiệp cha là Trịnh Kiểm hoàn thành cuộc Trung Hưng – đánh bại sự tiếm ngôi của nhà Mạc – đưa vua Lê Thế Tông trở lại kinh thành Thăng Long vào năm 1595 và lập “Phủ liêu” điều hành chính sự – việc đặt làm và nhập khẩu đồ sứ Trung Quốc cung ứng cho nhu cầu sử dụng của Phủ Chúa đã diễn ra như một tất yếu và liên tục. Trong phạm vi bài viết này tác giả chỉ đề cập tới “Nội Phủ Thị Trung” – một hiệu đề thuộc loại sứ đặt làm phục vụ cho nhu cầu của Phủ Chúa. Có mối bang giao gốm sứ Việt – Trung này ngoài nguyên do thời đó, gốm Đại Việt dù đã nổi tiếng song vẫn sút kém sứ Trung Quốc về độ bóng đẹp cũng như về độ bền chắc; còn bởi lẽ với việc đặt làm đồ sứ, các Chúa Trịnh cũng như vương triều Lê Trung Hưng qua đó khẳng định chủ quyền đất nước với người bạn láng giềng phương Bắc là Trung Quốc. Theo sử sách, nhà Minh niên hiệu Vạn Lịch đã cử sứ sang chúc mừng nhà Lê khi cuộc Trung Hưng vừa thành công.

Ngay sau đó, vào niên hiệu Sùng Trinh, nhà Minh đã công nhận vua Lê Thần Tông(1619 – 1643) là Quốc vương của Đại Việt và Chúa Trịnh Tráng lúc đó – được vua Lê trao quyền điều hành chính sự – là Phó quốc vương.

Định chế “song trùng quyền lực” này tồn tại trong suốt thời kỳ Lê – Trịnh đã cắt nghĩa tính không đồng nhất trong đồ sứ đặt làm trong thời kỳ này. Sự pha trộn giữa chuẩn mực của phong cách sứ Hoàng thất với tính phóng khoáng trong lối vẽ thiên về dân gian đã tạo nên sự tìm hiểu thú vị đối với dòng sứ này trong nhiều năm qua.

Chiếc bát “Nội Phủ Thị Trung” này (trong ảnh số trước) thể hiện rồng và long mã coi rất cổ kính; niên đại được xác định vào khoảng đầu thế kỷ thứ XVIII. Con rồng bốn móng – theo các định chế xưa thì chỉ có vua mới được dùng đồ vẽ rồng năm móng – như đang ẩn hiện trong những đám mây hướng về con long mã trên lưng chở sách và kiếm (còn gọi là Long mã đeo thư) đang đạp mây bước tới ở chiều ngược lại. Trong lòng bát vẽ một chữ “Thọ” lớn theo thể triện tròn. Tính thẩm mỹ cao tạo nên giá trị nghệ thuật của một cổ vật hội đủ ở loại bát “Nội Phủ Thị Trung” này. Hình tượng rồng ở dòng hiệu đề này như chiếc bát chẳng hạn, thể hiện rồng bốn móng; trong khi đó, ở một vài hiện vật khác cùng hiệu đề, con rồng lại chỉ thấy vẽ có ba thậm chí đôi khi chỉ có hai móng. Đây chính là đặc điểm vượt ra ngoài tính chính tắc, niêm luật mà các lò sứ chuyên sản xuất đồ dùng cho Hoàng thất của Trung Quốc không bao giờ mắc phải, trừ khi họ nhận được “thượng dụ” được phép chế tác các sản phẩm như thế.

Tương tự như vậy, cách thể hiện mây, rồng, long mã trên cùng một loại nậm rượu hiệu “Nội Phủ Thị Trung” (trong ảnh) đã cho thấy những nét khác biệt; đôi khi làm thay đổi cả bố cục trang trí. Điều này không bao giờ thấy xuất hiện trên những đồ “ngự dụng” luôn phải tuân theo tính quy phạm nghiêm ngặt. Một đặc điểm dễ nhận thấy là tuy “Nội Phủ Thị Trung” có những điểm khác biệt trong hình thức thể hiện nhưng bố cục chung – cho dù trong hình tròn như đĩa hoặc theo chiều đứng như trên các nậm rượu, ống bút và theo dải như trên các loại bát… – đều có xu hướng kéo dãn các hình thể. Đây là đặc điểm dễ nhận ra trong các bức tiểu họa trên sứ của các nghệ nhân dân gian Trung Quốc suốt thời Minh mạt Thanh sơ vào nửa cuối thế kỷ thứ XVII. Tính thiếu đồng nhất trong bố cục cùng những chi tiết quan trọng thể hiện chung một đề tài cho thấy dòng đồ này muốn khẳng định tính quan dụng, đôi khi là dân dụng nhiều hơn là “ngự dụng” – của nhà vua – thường mang tính đồng nhất, chính tắc cao.

Dẫu vậy, dòng sứ này đến nay đã được giới sưu tập thừa nhận là “thượng phẩm” bởi tính trội về giá trị nghệ thuật cũng như lịch sử của chúng so với các loại sứ “nhập khẩu” do nhu cầu dân dụng cùng thời.  Bằng vào sự thuần nhất của cốt sứ, sắc lam vẽ trên món đồ cùng lớp men phủ cũng như kỹ thuật cắt gọt công phu, các sản phẩm mang hiệu đề này tự khẳng định chúng được một trong số các xưởng Hoàng Thất ở Cảnh Đức Trấn, tỉnh Giang Tây – Trung Quốc chế tạo. Cũng cần nêu thêm rằng, cùng thời với buổi đầu Trung Hưng của triều Lê ở Việt Nam, các phủ đệ nổi tiếng bên Trung Quốc dưới triều Minh như: Trường Phủ, Chu Phủ (niên hiệu Gia Tĩnh), Tấn phủ (niên hiệu Long Khánh), Thẩm Phủ (niên hiệu Vạn Lịch)… và đầu triều Thanh có Cư Phủ (niên hiệu Khang Hy)… đều đặt đồ sứ riêng và  đề hiệu theo tên phủ của họ như: Trường Phủ, Tấn Phủ, Cư Phủ… để dùng.

Như vậy, các chúa Trịnh với việc hoàn thành cuộc Trung hưng, lập ra “Phủ liêu” để điều hành chính sự đã cho đặt làm đồ sứ “Nội Phủ Thị Trung” bên Trung Quốc, một mặt nhằm đáp ứng cho nhu cầu sử dụng nơi phủ Chúa; mặt khác xem ra quan trọng hơn là qua “ngoại giao gốm sứ”, các chúa Trịnh muốn khẳng định mối bang giao chính thống giữa Đại Việt với nước láng giềng lớn ở phương Bắc. Hiển nhiên đường lối đối ngoại này đã góp phần tạo thế hơn hẳn của các chúa Trịnh ở Đàng Ngoài so với các chúa Nguyễn ở Đàng Trong vào thời điểm đó.

Tuy nhiên không rõ nguyên cớ, hiệu đề này vẫn còn được đặt làm cho đến tận cuối triều Nguyễn. Ngày nay “Nội Phủ Thị Trung” giả xuất hiện khá nhiều. Không ít các “sưu tập gia” ở cả trong nước và nước ngoài chỉ qua sách vở đã mua nhầm phải đồ giả hay còn gọi là đồ “phỏng” cổ chủ yếu là bát, đĩa. Do đó khi gặp “Nội Phủ Thị Trung” vẽ rồng năm móng hoặc nhân vật phải hết sức cẩn trọng.

Nhật Nam

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

 

Read Full Post »

Đồ sứ Bleu de Hue – Bài viết của Jan-Erik Nilsson

Bleu de Hue là tên gọi của đồ sứ men lam của TQ xuất khẩu cho thị trường VN. ‘Bleu de Hue’ tốt nhất được các sứ bộ ngoại giao triều đình Huế đặt hàng khi tới TQ. Đa phần chúng được sản xuất tại Cảnh Đức trấn theo các thiết kế và triện hiệu đặc biệt. Trang trí có tính cách riêng và có phần hơi giống hàng Nhật, một số món đồ còn được đề thơ. Hiệu triện hai Hoa tự được đọc là NeiFu, có nghĩa là ‘nội phủ’ . Đồ sứ Bleu de Hue được người Hoa sản xuất cho triều đình Huế suốt hai thế kỷ 18 và 19 cho đến mãi sau cuộc cách mạng lãnh đạo bởi Tôn dật Tiên. Vào cuối thế kỷ 19, để bảo vệ cho rìa miệng của sản phẩm khỏi bị vỡ, các viền kim loại thường được thêm vào một cách phổ biến.

Dường như phần lớn thiết kế trang trí là do các họa sĩ VN thực hiện trên các đồ sứ Bleu de Hue và giao cho các lò gốm tại Cảnh Đức trấn thực hiện. Nhưng vào giữa thế kỷ 19, khi tầng lớp trung lưu gia tăng về mặt số lượng và có khả năng tài chính dồi dào hơn,thì các nhà sản xuất TQ không chỉ ở các lò gốm tại Cảnh Đức trấn mà các lò khác tại Giang Tây cũng ý thức được tiềm năng của thị trường này, và tham gia vào SX sứ Bleu de Hue một cách độc lập ( người Trung Hoa cũng mua để sử dụng).

Những phiên bản địa phương Bleu de Hue cũng được SX tại Việt Nam dưới thời Ming Mạng (1820-1841) và Thiệu Trị (1841-1847) nhưng không phổ biến lắm.

Khi người ta nghĩrằng họ có thể đọc được tiếng Hoa thì việc hiểu được triện hiệu trên Bleu de Hue lạicàng trở nên đánh đố. Đôi khi chúng dường như dễ dàng đọc và hiểu được, nhưng đó chỉ là bạn đang tự dối gạt mình vì ý nghĩa của nó bắt nguồn từ những cách Việt hóa chữ viết tiếng Hoa do học giả Nguyễn Thuyên khởi xướng từ thế kỷ 13. Đôi khi văn tự được dùng theo ý nghĩa tiếng Hoa, và đôi khi chúng được dùng để mô tả cách phát âm hay câu chữ tiếng Việt.

Tại Việt Nam, hiệu ký Neifu ( nội phủ) được bắt đầu sử dụng vào khoảng thế kỷ 18 từ thời vua Lê – chúa Trịnh trên các đồ sứ chất lượng rất cao đặt hàng từ TQ để dùng trong triều đình.

·Nội phủ thị Trung ( chính điện), chỉ dành cho vua sử dụng. Trang trí trên những đồ sứ này chủ yếu là rồng.

·Nội phủ thị Hữu (hữu cung) , dành cho hoàng hậu. Motif trang trí thường là rồng và phượng.

·Nội phủ thị Đông ( đông cung), dành cho các hoàng tử. Motif trang trí thường là kỳ lân, các loại chim và hoa.

·Nội phủ thị Nam (nam cung), một số người nói dành cho sinh hoạt của cung phi, cung tần nhưng theo tác giả thì dành cho ngự trù (bếp). motif trang trí thường là hoa sen, tôm cua và vịt.

·Nội phủ thị Đoài ( tây cung), dường như dành cho cung phi. Motif trang trí thường là phong cảnh.

·Nội phủ thị Bắc ( bắc cung), theo ý kiến tác giả là dành cho các công chúa.

Trong suốt triều Nguyễn (1802 – 1883), chúng cũng thường có những hiệu triện khác nhau như Minh Mng niên chế (Made during the Minh Mang period), Thiệu Tr niên chế, TĐức niên chế, Minh (nhật), Shou (thọ). Motif trang trí cũng tương tự như trước kia. Một vài nhóm đồ sứ dường như đã được đặt hàng riêng cho các hoàng tử, công chúa và cho các phẩm trật khác thấp hơn nhưng vẫn sống trong cung điện với các hiệu ký như Ngc (Jade), Ngọan Ngoc (Jade trinket), Trân ngọan (Precious trinket), v.v.,với chất lượng khác hơn.

Hiệu triện « nội phủ » dường như bắt đầu có từ năm 1841 -1883. Sau năm 1883 triều đình không còn đặt hàng từ TQ cho đến mãi sau 1900. Tuy nhiên đồ sứ với hiệu ký này vẩn được tiếp tục sản xuất và xuất khẩu trực tiếp vào Việt nam. Những đồ sứ Neifu trước đây vẫn không được phép sử dụng ngoài cung điện.

Việc sản xuất đồ sứ loại này tại Trung Hoa đã vẫn duy trì cho đến ít nhất là năm 1940. Một vài loại đồ sứ với hiệu ký Neifu là hàng Nhật bản, đặc biệt là nhóm đồ sx năm 1935- 1945 là đồ với kỹ thuật trang trí in truyền ( dán decan).

KH – ThuyNga dịch

Hình minh họa: ( click trên hình để xem bigger size)

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

 


Read Full Post »

Một số Bleu de Hue minh họa tiêu biểu

Dĩa trà Mai Hạc – thơ lục bát chữ Nôm :

”Nghêu ngao vui thú yên hà

Mai là bạn cũ, Hạc là người quen”

Hiệu Ngoạn Ngọc.

Dĩa trà Mai Hạc – thơ ngũ ngôn chữ Hán

”Hàn mai xuân tín tảo

Tiên hạc đáo chi đầu”.

Dĩa trà vẽ mai hạc – không phải kiểu Huế

Theo kiểu Huế nột bộ trà gồm 5 món.

1 dĩa bàn, 3 chén quân(nhỏ), 1 chén tống(lớn) úp lên trên 1 chén quân

(hình lấy trên internet).

Dĩa và chén trà kiểu ”mắt trâu”

vẽ tích Tam Hữu (Tùng- Trúc-Mai).

Tích Gia Long tẩu quốc

Dĩa trà hiệu Ngoạn Ngọc

”Ngư gia độ hoàng gia

Âm tinh ngộ đế tinh”.

Dĩa trà hiệu Nhã Ngọc và chén hiệu Ngoạn Ngọc

”Bình kiều nhân hoán độ

Xanh xuất tiểu châu lai”.

Dĩa trà Phi Minh Túc Thực

Hiệu Chính Ngọc.

Tô chữ Nhật – đồ ngự dụng

vẽ tích Bá Nha-Tử Kỳ, đề bài thơ Nôm:

”Hai gã bạn tri âm

Vui thay một khúc cầm

Non cao cùng nước biếc

Rằng để ít ai ngâm”.

db_57121

Bát điếu Bleu de Hue

5 hình bên dưới mô tả chi tiết bát điếu này

 

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

 

Read Full Post »

« Newer Posts