Feeds:
Bài viết
Phản hồi

Archive for the ‘ĐỒ SỨ BLEU DE HUE’ Category

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

*Một số đồ Blue de Hue minh họa tiêu biểu

*Đồ sứ Blue de Hue – Bài viết của Jan – Erick  nilsson

*Bài viết của tác giả Nhật Nam về Blue de Hue

*Cổ vật Blue de Hue – Pháp lam Huế ở Châu Âu

*Đồ sứ ‘’tân’’ ký kiểu – Blue de Hue –Cẩn trong khi sưu tầm cổ vật

*Bộ sưu tập gốm sứ của bảo tàng cung đình Huế

*Đồ sứ tân ký kiểu ( tt )

*Hình ảnh hiện vật sưu tầm Blue de Hue đẹp

*Bài viết của một người mang ‘’tâm tư Huế ‘’ về đồ sứ men lam Huế

*Đồ sứ Blue de Hue trong sưu tập Vương Hồng Sển 

Read Full Post »

DANH MỤC TỔNG HỢP

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

1/MỤC LỤC –  ALBUM HÌNH TOÀN TẬP GỐM SỨ CỔ TRUNG QUỐC

2/MỤC LỤC – BIỂU TƯỢNG TRANG TRÍ TRÊN GỐM TRUNG HOA

3/MỤC  LỤC  –  CẢNH ĐỨC TRẤN

4/MỤC LỤC  –  SƠ LƯỢC VỀ NGHỀ GỐM TRUNG HOA  

5/MỤC LỤC – TÀI LIỆU GỐM SỨ CỔ (TỪ CÁC TÀU BUÔN ĐẮM )

6/MỤC LỤC – ĐỒ SỨ BLEU DE HUE

7/MỤC LỤC – ĐỒ SỨ MEN LAM KHANG HY  

8/MỤC LỤC – KIẾN THỨC – TÌM HIỂU

Read Full Post »

ĐỒ SỨ BLEU DE HUE  TRONG SƯU TẬP VƯƠNG HỒNG SỂN

PHÍ NGỌC TUYẾN (*)

Vương Hồng Sển (1902 – 1996) là một nhà nghiên cứu văn hóa đồng thời là nhà sưu tập cổ vật nổi tiếng ở miền Nam. Suốt cuộc đời, ông đã say mê tìm hiểu và sưu tập được hàng trăm món cổ vật qúy giá gồm nhiều chất liệu khác nhau như gốm, đá, gỗ, đồng, sừng, ngà, sơn mài, vải, giấy… Trong đó, số lượng nhiều nhất, có giá trị hơn cả là đồ gốm của Trung quốc, Việt nam, Cam-pu-chia, Thái lan, Nhật, Pháp… Trong sưu tập gốm sứ của ông, chúng ta dễ dàng nhận ra các loại đồ gốm men trắng hoa lam thế kỷ XVIII được sản xuất tại Trung quốc hoặc do các nước đặt hàng Trung quốc làm với những kiểu dáng, hoa văn trang trí khác biệt, trong ấy có nhiều loại hình do các chúaViệt nam đặt hàng.

Trước khi giới thiệu về một số cổ vật gốm sứ men lam thế kỷ XVIII có ghi chữ: “Nội phủ…” và “Khánh xuân …” được làm tại Trung quốc theo Việt Nam đặt hàng trong sưu tập của Vương Hồng sển, chúng tôi xin được phép sơ lược qua vài nét về chủ nhân của nó với tấm lòng kính trọng và ngưỡng mộ về một con người đầy tài hoa, phóng túng.

Vương Hồng Sển sinh năm 1902 tại tỉnh Sóc trăng (miền tây Nam bộ) trong một gia đình làm nghề kim hoàn. Lớn lên, ông theo học tại trường Chsseloup Laubat Saigon (1919 – 1923) nay là trường Trung học phổ thông Lê Qúy Đôn. Sau khi thôi học, Oâng  làm nhiều công việc ở nhiều nơi khác nhau : Thư ký trường máy ; Ký lục – phát lương (Sa đéc) ; Thư ký Sở Điền địa (Sóc trăng) ; Tòa Bố chính (Cần thơ) ; Dinh Thống đốc Nam kỳ (sài Gòn) ; Quản thủ Viện bảo tàng Quốc gia tại Sài gòn (1948 – 1964).

Trong những năm làm việc cho Nhà nước thuộc địa Pháp và chính quyền Sài gòn trước đây, Vương Hồng Sển đã bỏ nhiều công sức, chuyên tâm chăm lo nghiên cứu, sưu tầm cổ vật, nghiên cứu văn hóa, phong tục tập quán của miền Nam, tham gia hướng dẫn và giảng dạy đại học. Khi về hưu, ông tập trung viết sách, hồi ký và nghiên cứu sưu tập cổ vật của mình. Oâng cũng góp phần đáng kể trong việc xác định niên đại của một số chủng loại gốm (đặc biệt các loại gốm do Trung quốc sản xuất) và hướng dẫn kỹ năng ban đầu cho người thích sưu tập cổ vật. Nhờ sự giúp đỡ chỉ bảo tận tình cùng những tác phẩm nghiên cứu của mình, lớp học trò của ông ngày nay có khá nhiều người thành đạt và nổi tiếng trên lĩnh vực sưu tầm và nghiên cứu cổ vật ở trong và ngoài nước. Nhiều công trình nghiên cứu của ông được các nhà chuyên môn đánh giá cao. Oâng đã xuất bản được 15 đầu sách có giá trị như : 50 năm mê hát (1968) ; Thú chơi cổ ngoạn (1971) ; Sài Gòn năm xưa (tái bản lần thứ 4 vào năm 1994) ; Khảo về đồ sứ cổ Trung hoa (1971,1972) ; Khảo về đồ sứ men lam Huế (1993,1994) …. Cuối đời, với lòng mong muốn sưu tập cổ vật của mình được bảo tồn lâu dài, trải qua những năm tháng gian khổ, đấu tranh với chính bản thân mình và gia đình,  với bệnh tật hiểm nghèo và vượt lên tất cả, ôâng đã quyết định lập di chúc hiến tặng toàn bộ cổ vật và nhiều sách qúy hiếm cho Nhà nước.

Sau khi ông qua đời, theo quyết định của Uûy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, toàn bộ 815 trong tổng số 849 cổ vật đã được đưa về bảo quản và nghiên  cứu tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam – Thành phố Hồ Chí Minh. Là một thành viên trong qúa trình tiếp nhận bộ sưu tập cổ vật trên từ gia đình cố học giả Vương Hồng Sển theo di chúc, chúng tôi đã có một số thời gian nhất định để phân loại, sắp xếp, thống kê, đo vẽ, chụp ảnh, đối chiếu với những công trình nghiên cứu và sổ tay ghi chép cổ vật của ông. Suốt qúa trình ấy, những cổ ngoạn trong bộ sưu tập này như có sức hút kỳ lạ chúng tôi. Mỗi chiếc đĩa, tô, chén, bát, chậu, bình, ấm trà… đều là một tác phẩm nghệ thuật, là thời khắc lịch sử…

Trong sưu tập gốm sứ của cố học giả Vương Hồng Sển, có một số hiện vật thuộc loại gốm men trắng hoa lam được sản xuất tại Trung quốc do Việt nam đặt làm vào thế kỷ XVIII. Những sản phẩm này có kiểu dáng, hoa văn trang trí độc đáo và thường ghi một số chữ Hán : “Nội phủ thị trung”, “Nội phủ thị đông”, Nội phủ thị nam”, “Nội phủ thị bắc”, “Nội phủ thị đoài”, “Nội phủ thị hữu” và “Khánh xuân thị tả” (trong bài viết, chúng tôi gọi tắt là:”Nội phủ…” và “Khánh xuân…”). Những hiện vật kể trên cùng với hơn 200 hiện vật khác thuộc sưu tập Vương Hồng Sển đã được trưng bày tại một số nơi như Thành phố Hồ Chí Minh, Huế, Hà nội… thu hút đông đảo công chúng, các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước.

Để người quan tâm đến bộ sưu tập Vương Hồng Sển có những thông tin cụ thể hơn, trong phạm vi bài này, chúng tôi xin giới thiệu về một sưu tập nhỏ trong bộ sưu tập của ông, đó là sưu tập đồ gốm hoa lam “Nội phủ…” và “Khánh xuân…”.

  1. 1. Hiện vật trong sưu tập gốm sứ :

Đồ gốm sứ Việt nam đặt Trung quốc sản xuất ở thế kỷ XVIII (thuộc bộ sưu tập Vương Hồng Sển) lưu tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam – Thành phố Hồ Chí Minh đều có ghi  “Nội phủ…” hoặc “Khánh xuân…”  tất cả có 19 món, phân loại như sau :

Nội phủ thị trung  : 2                                  Nội phủ thị bắc   : 2

Nội phủ thị nam   : 2                                   Nội phủ thị hữu  : 7

Nội phủ thị đông  : 2                                  Khánh Xuân            : 4

Để bạn đọc có một cái nhìn bao quát về loại gốm này, chúng tôi xin giới thiệu một số hiện vật cụ thể :

1.1 Đồ gốm sứ ghi “Nội phủ…”

– Tô “Nội phủ thị trung” (mang ký hiệu BTLS.15124) có đường kính miệng 19cm, cao 7cm. Chiếc tô này ông Vương Hồng Sển mua năm 1962 tại Sài Gòn. Bên trong lòng tô vẽ chữ “Thọ” hình tròn ; ngoài tô vẽ rồng 4 móng một con long mã, trên lưng con long mã có một cuốn thư và thanh bảo kiếm. Các nét vẽ trơn tru, khéo léo, chính xác ; men sáng trong ; xương gốm mỏng. Dưới đáy ghi 4 chữ Hán “ Nội phủ thị trung”.

– Tô “Nội phủ thị trung” (BTLS.15123) có đường kính miệng 17cm, cao 6,5cm, mua năm 1966. Da tô trơn, không rạn ; trong lòng vẽ chữ “Thọ” hình tròn; thành ngoài vẽ rồng 4 móng đạp chân lên đụn mây (tản vân) và một con long mã trên lưng chở cuốn thư  và kiếm, dưới chân có mây. Hai con vật linh chầu nhật. Dưới đáy tô ghi chữ Hán “Nội phủ thị trung”.

– Đĩa “Nội phủ thị trung” (BTLS.15177) có đường kính miệng 11cm, cao 2,7cm. Trong lòng đĩa vẽ đề tài “lưỡng long chầu nhật”, cảnh hai con rồng đang vờn quanh một qủa cầu lửa, cạnh đó là những đám mây. Bên ngoài đĩa cũng vẽ đề tài trên, nhưng hai con rồng uốn khúc quanh co, tạo thành một vòng xung quanh thành ngoài đĩa. Dưới đáy ghi 4 chữ Hán “Nội phủ thị Trung”.

– Bộ đĩa, chén “Nội phủ thị hữu” (BTLS.15158-15161) là một bộ đĩa chén uống trà có 4 món : đĩa đựng, chén tống, hai chén quân (1) : đĩa đường kính miệng 17,5cm ; chén tống đường kính miệng 7,5cm, cao 4,5cm ; chén quân đường kính miệng  6 cm, cao 3,5cm. Các họa tiết trang trí trong mỗi cái đều vẽ hình rồng và phượng chầu chữ “Thọ” hình tròn. Con rồng được thể hiện 5 móng rất rõ ràng. Nghiên cứu về bộ trà này, Vương Hồng Sển cho rằng, đây là bộ chén trà ngự dụng do Chúa và Tuyên phi sử dụng, về sau những bộ tương tự như vậy nhường lại cho vua Lê và Hoàng hậu. Bộ chén uống trà chỉ có 2 chén quân cho 2 người là đúng nghi lễ theo cách “đối ẩm”, “song ẩm”? (2).

– Tô lớn “Nội phủ thị hữu” (BTLS.15128)  là một chiếc tô khá lớn. Đường kính miệng 29,5cm, cao 8cm. Chiếc tô này ông Vương Hồng Sển mua ngày 1/1/1965 tại Sài Gòn. Tô đã bị rạn, nứt đôi chỗ. Cả hai mặt trong và ngoài vẽ rồng và phượng chầu nhật (mặt trời). Rồng 5 móng đang bay lượn ẩn  hiện trong những cụm mây. Dưới đáy tô ghi chữ Hán “ Nội phủ thị Hữu”. Kích thước của tô khá lớn. Do vậy, nhiều người không đồng ý với tên gọi là “tô”. Ông Vương Hồng Sển gọi nó là “Quán tẩy” (chậu rửa mặt).

– Đĩa “Nội phủ thị đông” (BTLS.15483) có đường kính miệng 19cm, cao 2,4cm mua ngày 30/6/1960. Chiếc đĩa vẽ cả mặt trong và thành ngoài. Đề tài trang trí được thể hiện là hình ảnh của hai con lân đang vờn nhau giữa đám mây sòi. Nét vẽ điêu luyện, giúp người xem cảm tưởng như từng đường gân, bắp thịt của con lân cuộn lên, cảnh sống động, vui tươi. Dưới đáy ghi chữ Hán “Nội phủ thị đông”. Nhiều người nghiên cứu loại hình này, hầu hết cho rằng những đồ dùng ghi “Nội phủ thị đông” được dùng trong Đông cung của phủ Chúa, mà Đông cung là nơi ở của Thái tử, người sẽ thay thế ngôi vị sau này.

– Đĩa “Nội phủ thị đông” (BTLS.15484) có đường kính miệng 10,5cm, cao 2,4cm được vẽ đề tài “Mai – điểu” (chim và hoa mai). Trên gốc mai già hoa nở kín, có con chim đang đậu và nhòm ngó bắt sâu. Hai câu thơ chữ Hán rõ nét, sắc sảo :

“Vị kinh tam bạch hậu

Tiên chiếm bách hoa khôi”

(ý thơ ca ngợi vẻ  đẹp của hoa mai trước trăm hoa)

– Chén “Nội phủ thị bắc” (BTLS.15119) có đường kính 9,5cm, cao 4,2cm. Ông Vương Hồng Sển mua ngày 5/10/1960. Trong lòng chén để men trắng, các đề tài trang trí được thể hiện ở thành ngoài chén : phong cảnh gồm 2 tòa lâu đài, phía trước có 2 cây tùng ;  hai người cưỡi ngựa, theo sau có 2 tiểu đồng, tất cả đều từ phía lâu đài đi ra. Phía trước đoàn người, ngựa có một cây cầu bắc qua sông, bên kia sông xa xa là một dãy núi. Bên bờ sông, cạnh chiếc lều nhỏ, một ông già đang cất vó. Câu thơ chữ Hán ghi :

“Hoa cảng quan ngư

Giang sơn trình tú lệ

Hương thấn mã đề khinh”

(ý thơ ca ngợi vẻ đẹp của non sông đất nước)

– Đĩa “Nội phủ thị nam” (BTLS.15129) có đường kính miệng 12cm, cao 2,8cm. Trong lòng đĩa vẽ 2 con cua, 2 bông sen, 2 lá sen và một nhánh cỏ lau vươn lên cao. Thành ngoài vẽ 1 con cua, 1 lá sen và 2 nhánh cỏ lau vươn cao hơn lá sen. Đáy ghi chữ Hán : “Nội phủ Thị Nam”. Trong lòng đĩa cũng có câu thơ :

“Thanh hương trần bất nhiễm

Hoạt động y vô cùng”

(ý thơ ca ngợi vẻ đẹp và hương thơm của hoa sen)

Những đồ sứ men lam có vẽ cua, sen  và đề hiệu “Nội phủ thị nam”, có phải  là những đồ vật dùng trong Nội phủ mà vị trí của nó là nhà bếp của Chúa?

1.2 Đồ gốm sứ ghi “Khánh Xuân…”

Đồ gốm sứ men trắng vẽ lam có hiệu “Khánh xuân…” đặt làm tại Trung quốc vào thế kỷ XVIII cũng tương đồng về thời gian với các loại hiệu “Nội phủ” nhưng muộn hơn một chút. Sản phẩm gốm hiệu Khánh Xuân xinh xắn hơn bởi dáng, hoa văn, nét vẽ do bàn tay các nghệ sĩ tài ba. Trong sưu tập gốm sứ Vương Hồng Sển đang bảo quản và gìn giữ tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam – Thành phố Hồ Chí Minh có 4 món. Các đề tài trang trí thường là rồng, sư tử, lân, chữ thọ, khánh… Chúng tôi xin giới thiệu 2 hiện vật tiêu biểu sau :

– Đĩa “Khánh Xuân thị tả” (BTLS.15139) có đường kính miệng 26,5cm, cao 3,8cm. Ông Vương Hồng Sển mua ngày 3/6/1959 do một người mang từ Huế vào Sài Gòn bán . Chiếc đĩa này khá lớn, nguyên vẹn. Trong lòng đĩa vẽ hình rồng 5 móng ẩn hiện trong mây và chữ “Thọ” ỡ giữa. Mặt sau của đĩa vẽ đề tài thủy ba rợn sóng. Trên sóng nước cuồn cuộn có một con long mã lớn, đầu có gạc có sừng ; phía sau long mã lớn có hai long mã khác nhỏ hơn đang chạy theo con lớn. Dưới đáy ghi chữ Hán  “Khánh Xuân thị tả”.

Khi nghiên cứu hiện vật này, ông Vương Hồng Sển cho rằng, Trịnh Sâm khi đặt làm những sản phẩm này đều có dụng ý về chính trị, âm mưu thoán quyền Vua Lê. Trịnh Sâm coi mình có quyền thống soái (rồng 5 móng). Hàm ý của đề tài long mã lớn và 2 long mã nhỏ chỉ Chúa Trịnh Sâm và hai con trai, ngầm hiểu ý là Thái sư, Thiếu sư trong triều ? (4).

– Chén tống “Khánh Xuân thị ta”û (BTLS – 15118) có đường kính miệng 7cm, cao 5cm. Dáng của chén thanh thoát, vẽ màu lam hơi đậm. Đề tài trang trí là rồng, sóng nước, mây. Một con rồng lớn có 5 móng đang bay trên không trung có những làn mây. Một con rồng khác nhỏ hơn đang từ dưới biển vạch sóng trồi lên chào đón rồng lớn (không rõ mấy móng vì thân rồng còn ở dưới nước). Dưới đáy chén có chữ Hán “Khánh xuân Thị tả”.

  1. 2. Một vài nhận xét

– Trên đây, chúng tôi đã giới thiệu một số hiện vật gốm sứ hiệu “Nội phủ…” và “Khánh xuân…” trong tổng số 19 món đang lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Việt nam – TP.HCM. So sánh, đối chiếu giữa số lượng hiện vật trên thực tế với số lượng mà ông Vương Hồng Sển đã viết trong sách “Khảo về đồ sứ men lam Huế” (tập thượng), chúng tôi thấy có sự chênh lệch : có 31 món(5). Để tiện theo dõi, chúng tôi lập bảng sau :

TT

HIỆU ĐỀ

SỐ LƯỢNG HIỆN VẬT TRONG SÁCH

SỐ LƯỢNG HIỆN VẬT TẠI BẢO TÀNG

1

2

3

4

5

6

7

Nội phủ thị trung

Nội phủ thị hữu

Nội phủ thị đông

Nội phủ thị đoài

Nội phủ thị bắc

Nội phủ thị nam

Khánh Xuân thị tả

07

07

04

03

03

01

06

31 hiện vật

02

07

02

0

02

02

04

19 hiện vật

 

Sở dĩ có sự chênh lệch về số lượng trên đây, chúng tôi cho rằng, cuốn sách mà ông Vương Hồng Sển đã viết và hoàn thành vào năm 1972 theo lời tựa ghi ở đầu sách thì “…cuốn bản thảo cứ nằm trơ trên bàn”, do đó, qua mấy chục năm, số lượng hiện vật có sự thay đổi : đổi món này, lấy món kia của những người chơi cổ ngoạn ; bán món này, mua món khác thích hơn. Cuối đời, số cổ vật của ông thường bị con trai và con dâu lấy trộm đem bán như trong cuốn sổ tay của ông đã ghi rõ (5). Do vậy, chúng tôi thấy rằng, một số hiện vật có ghi chép, mô tả trong sách nhưng hiện tại không có, hoặc hiện vật có nhưng lại không ghi trong sách.

– Về niên đại của những loại đồ gốm này, Vương Hồng Sển và một số nhà nghiên cứu khác như : Trần Đình Sơn, Phạm Hy Tùng, Trần Đức Anh Sơn… đều cho rằng đã được làm vào thế kỷ XVIII tại Trung quốc. Niên đại này còn được khẳng định thêm bởi Hội đồng Giám định cấp Nhà nước vào đầu năm 1997 do Giáo sư Hà Văn Tấn làm Chủ tịch.

– Việc xác định chủ nhân của những đồ gốm kể trên là một việc làm khó khăn. Theo sử liệu về tình hình xã hội Việt nam thế kỷ XVIII, chúng tôi đồng ý với Vương Hồng Sển và một số nhà nghiên cứu cho rằng đây là những sản phẩm do các chúa Nguyễn đặt làm tại Trung quốc để làm đồ dùng trong phủ chúa. Nhưng nói món này dùng ở chỗ này, món khác dùng ở chỗ kia… cũng cần cân nhắc thấu đáo thêm.

– Trong lịch sử chế độ phong kiến Việt nam suốt hơn hai trăm năm, họ Trịnh đã mượn tiếng phò Lê để dần dần lấn lướt, tiếm quyền. Ban đầu, nhìn bên ngoài, có lẽ các chúa chưa dám đoạt ngôi vua nên đã lập ra “phủ” ; không dám xưng “cung”, xưng “điện” nhưng thực ra, mọi quyền hành hầu như đã thâu tóm hết về tay. Các chúa đã tước hết mọi thực quyền của vua Lê, quy định chế độ bổng lộc của nhà vua…Từ chỗ thành lập 3 phiên (Binh , Hộ, Thủy sư) đến chỗ thành lập 6 phiên ( Lại, Hộ, Lễ, Binh , Hình,  Công) và chịu trách nhiệm cai trị đất nước. Khi mọi quyền lực chính trị, kinh tế, quân sự ở xứ Đàng Ngoài đều tập trung vào phủ chúa, họ Trịnh đã ra sức tác oai, tác quái, sống xa xỉ trên mồ hôi nước mắt của nhân dân. “Ruộng đất rơi hết vào nhà hào phú, còn dân nghèo thì không có một miếng đất cắm dùi”(7). Nội chiến liên miên, thuế khóa nặng nề, quan lại nhũng nhiễu làm cho đời sống nhân dân ngày càng sa sút nghiêm trọng.

Sau 248 năm với 11 đời chúa trị vì, năm 1786 với việc vua Lê Chiêu Thống ra lệnh đốt hoàn toàn phủ chúa đã chấm dứt vai trò của thế lực họ Trịnh ở Đàng Ngoài. Từ đây, phủ chúa đã đi vào dĩ vãng. Ngày nay, tuy không còn biết phủ chúa hình dáng, kiến trúc, vị trí các khu vực trong phủ ra sao… nhưng qua những món đồ sứ ghi bằng chữ Hán và các biểu tượng hoa văn mà các chúa đã đặt làm ở Trung quốc như : “Nội phủ thị trung”, “Nội phủ thị đông”, “Nội phủ thị hữu”, “Nội phủ thị nam”, “Nội phủ thị bắc”, “Nội phủ thị đoài” và “Khánh xuân thị tả”û đã giúp chúng ta hình dung được một phần sơ đồ cùng lối sống xa hoa ở nơi phủ chúa.

Tuy chưa đồng ý với nhau nhiều vấn đề khi nghiên cứu loại gốm này, nhiều tác giả như Vương Hồng Sển, Trần Đình Sơn, Trần Đức Anh Sơn, Phạm Hy Tùng… (8), Phạm Hữu Công (9) đã có những phác họa một sơ đồ đơn giản về Nội phủ theo kiểu đăng đối như sau:

Nội phủ

thị bắc

Nội phủ         Nội phủ             Nội phủ      Khánh xuân                   Nội phủ

thị tây (Đoài)           thị hữu               thị trung           thị tả                thị đông

Nội phủ

thị nam

Theo sơ đồ trên, Vương Hồng Sển ; Trần Đình Sơn… cho rằng, những mô típ, hình thức trang trí, đồ dùng nơi phủ chúa có những nét riêng nhất định:

Nội phủ thị trung (tập trung chính điện) là nơi sinh hoạt của chúa, đề án trang trí là rồng 5 móng và mây.

Nội phủ thị hữu (điện bên phải) là nơi dành cho Chánh phi, các đề án trang trí thường là rồng và phượng.

Nội phủ thị đông (điện phía đông) là nơi ở của các Hoàng tử, các đề án trang trí thường là lân, chim, hoa, mây.

Nội phủ thị nam (điện phía Nam) là nơi trù viện (bếp), thường được trang trí các đề án có hoa sen, cua, vịt…

Nội phủ thị đoài (điện phía Tây) dùng để trang trí phong cảnh.

Nội phủ thị bắc (điện phía Bắc) là nơi ở của các phi tần, trang trí bằng các đề án hoa cúc.

Khánh xuân thị tả (điện mừng xuân) thường dùng các đề án trang trí như rồng và 2 con lân…

Việc đoán định và đặt vị trí cho từng loại kể trên, tôi cho là có cơ sở. Nhưng trên thực tế, trong một vài sưu tập tư nhân có những món đồ gốm với đặc diểm về dáng, men ,đề tài trang trí, nét vẽ… thuộc về những loại kể trên, nhưng chỉ ghi hai chữ “Nội phủ” hoặc không ghi chữ nào?

– Những sản phẩm gốm sứ mang hiệu “Nội phủ…” và “Khánh xuân…” được làm vào thế kỷ XVIII, lúc đó là những đồ dùng cao cấp xa xỉ nơi phủ chúa. Những vật dụng này đã được các chúa Đàng Ngoài đặt làm vào đúng thời kỳ thịnh đạt huy hoàng của các lò gốm sứ Trung quốc.  Mỗi sản phẩm là sự kết hợp tài tình của các nghệ nhân bởi những bộ óc sáng tạo và bàn tay khéo léo. Gần ba trăm năm qua đi, những sản phẩm độc đáo ấy hiện nay còn quá ít (kể cả trong hai bảo tàng lớn của Việt Nam là Bảo tàng Lịch sử Việt Nam (Hà nội) và Bảo tàng Lịch sử Việt Nam – Thành phố Hồ Chí Minh. Một phần (có lẽ không nhỏ), những cổ vật quý giá này hiện vẫn nằm rải rác trong dân và một số nhà sưu tập tư nhân ở trong và ngoài nước. Những cổ vật mà chúng tôi giới thiệu trong bài này cũng là một phần rất nhỏ (cả về số lượng và loại hình), nhưng đã góp phần quan trọng cho việc vẽ ra một mảng màu cho bức tranh gốm Việt Nam trong lịch sử.

– Cái đẹp của gốm “Nội phủ…” và “Khánh xuân…” trong sưu tập này, trước hết phải nói về dáng. Việc tạo dáng cho gốm loại này có xu hướng nhỏ, gọn, xinh xắn. 19 cổ vật kể trên không có cái nào to lớn, cồng kềnh. Hơn nữa, dáng của gốm không có những chi tiết phụ hay đắp nổi cầu kỳ, rườm rà. Gốm được tạo dáng đơn giản, các góc không gãy đột ngột mà mở rộng và lượn vòng, cung độ lớn. Nhìn phong cách tạo dáng của gốm sứ  trong sưu tập của Vương Hồng Sển, thoạt nhìn ta thấy cảm giác gần gũi với gốm hoa lam thời Lê. Tuy nhiên, có thể nói, gốm loại này về kiểu dáng có chứa đựng những nét tinh tế của dáng gốm Trung hoa và Việt : hài hòa, giản đơn…

– Sau yếu tố tạo dáng phải kể đến các hoạ tiết trang trí trên gốm “Nội phủ…” và “Khánh xuân…”. Các đề tài trang trí thường là rồng, phượng, lân, vịt, chim, mây, sóng nước, hoa mai, hoa sen… Đặc biệt, hình tượng rồng, phượng, lân… có nhiều trong các cổ vật trên đây. Con rồng có thân hình mềm mại, ẩn hiện trong mây trời. Hình dáng, râu tóc, mặt mũi, nanh vuốt và đuôi rồng rất giống với rồng trang trí ở triều Nguyễn sau này, khác hẳn với rồng Trung quốc. Rồng trong sưu tập gốm sứ này có 2 loại 4 móng và 5 móng – biểu tượng của vương quyền.

– Nghệ thuật trang trí được sử dụng bằng cách vẽ trực tiếp trên xương gốm. Đây là cách vẽ rất khó về bố cục, đường nét. Một nét vẽ xuống là vĩnh viễn không bao giờ thu lại được. Do vậy, đòi hỏi nghệ nhân phải có tay nghề cao, điêu luyện và tất nhiên sản phẩm ra đời không cái nào giống cái nào. Đó mới là điều độc đáo, có giá trị cao trong nghệ thuật. Các nét vẽ sau khi nung chảy, chỗ thì mờ nhạt, chỗ thì đậm nét… làm cho gốm cứ lung linh, huyền ảo.

– Sản phẩm gốm “Nội phủ…”û và “Khánh xuân…” trong sưu tập Vương Hồng Sển tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam – Thành phố Hồ Chí Minh cũng như ở các bảo tàng khác và các nhà sưu tập đều thuộc những cổ vật qúy giá bởi giá trị lịch sử,  văn hoá  và nghệ thuật của nó. Những sản phẩm này có lẽ chỉ được đặt hàng vài lần và có số lượng không nhiều, kể cả trong các sách nghiên cứu gốm của Trung quốc cũng không thấy đề cập đến gốm “Nội phủ…”û và “Khánh xuân…”(9)ï. Và có lẽ cũng vì thế mà các loại đồ gốm nói trên đến nay đã trở nên rất hiếm hoi. Trước thực tế đó, việc sưu tầm, giữ gìn, bảo quản các hiện vật thuộc loại gốm “Nội phủ…” và “Khánh Xuân…” lại càng cần thiết. Có được sưu tập hiếm hoi đồ gốm thuộc loại trên đang lưu giữ tại Bảo tàng Lịch sử Việt nam – TP.HCM, chúng ta thêm trân trọng cố học giả Vương Hồng Sển – người đã dành nhiều thời gian và công sức cho việc bảo tồn và phát huy di sản văn hoá dân tộc.

Chú thích:

(1) : Khi uống trà, trà được rót từ bình trà vào chén tống, sau đó từ chén tống lại rót vào các chén quân – chén quân nhỏ hơn chén tống.

(2) : Vương Hồng Sển – Khảo về đồ sứ men lam Huế – Quyển thượng – NXB TP. Hồ Chí Minh – TP. Hồ Chí Minh, 1993, trang  134.

(3) : Vương Hồng Sển – Đã dẫn, trang 142.

(4) : Vương Hồng Sển – Đã dẫn, trang 144,145.

(5) : Gồm có 14 cuốn sổ ghi chép cổ vật, hiện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam – TP. Hồ Chí Minh đang lưu.

(6) : Đại cương Lịch sử Việt Nam, tập I. NXB Giáo dục. H. 2000. Trang 395.

(7) Trong cuốn : “Đồ sứ men lam Huế” , những trao đổi học thuật, NXB Thuận hóa, Huế, 1997, tr. 181,182 ; 202,203 ; 232,233 ; 254,258.

(8) : Phạm Hữu Công – Thông báo khoa học số 2 – Bảo tàng Lịch sử Việt Nam – Thành phố Hồ Chí Minh, 2000, tr.137.

(9) Trong bài viết, cúng tôi có sử dụng “Đề cương trưng bày” và “Tóm tắt thuyết minh sưu tập Vương Hồng Sển” của Bảo tàng LSVN – TP. HCM.


(*) Nghiên cứu sinh, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh.

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

Read Full Post »

Bài viết của một người mang “tâm tư Huế” về Đồ sứ men lam Huế

sumenlamhue

Cách đây 15 năm, đã có những cuộc tranh luận khá sôi nổi về một loại hình cổ vật được gọi là “Les Bleus de Hué – Đồ sứ men lam Huế”. Cuộc tranh luận tự phát trên các tạp chí Sông Hương, Huế Xưa Và Nay… tuy đã không đem lại một kết luận thống nhất nào, nhưng hệ quả của nó đã cho ra đời một quyển sách rất hay là “Đồ sứ men lam Huế, những trao đổi học thuật” (Nhà xuất bản Thuận Hóa, 1997), tuyển tập tất cả các bài viết liên quan đến cuộc tranh luận này…

Năm năm trở lại đây, các nhà nghiên cứu đã từng tham gia cuộc tranh luận trên, với phương hướng cá nhân, lần lượt cho ra đời những công trình riêng như tác giả Trần Đình Sơn thì có sách “Tản mạn Phú Xuân”, “Những nét đan thanh” “Thưởng ngoạn đồ sứ kí kiểu thời Nguyễn (1802-1945)” (Nhà xuất bản Văn nghệ); tác giả Phạm Hy Tùng thì có sách “Cổ vật gốm sứ Việt Nam đặt làm tại Trung Hoa” (Nhà xuất bản Văn hóa Sài Gòn, 2006); còn tác giả Trần Đức Anh Sơn thì cho ra sách “Đồ sứ ký kiểu thời Nguyễn” (Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2008) trên cơ sở luận án tiến sĩ sử học của mình… Ngoài ra, cũng còn rất nhiều nhà nghiên cứu khác trên thế giới với nhiều bài viết công bố rải rác…

Tuy vậy, đọc các sách chuyên khảo riêng của từng nhà nghiên cứu, độc giả vẫn không thỏa mãn, thích thú, hài lòng, mà người ta vẫn thích những bài trong tuyển tập các cuộc tranh luận ngày nào… Bởi gạt bỏ các thành kiến về sự căng thẳng gay gắt đôi lúc nẩy lửa trong tranh luận, thì các bài này đã cung cấp cho độc giả một khối lượng lớn kiến thức sâu để bảo vệ quan điểm của mình; chứ không phải là lối viết thuần một chiều, ít biện giải đa chiều để đi đến những nhận định mang tính lý luận như các công trình sách sau này…

Tôi là người ngoại đạo, nhưng đã từng tham gia cuộc tranh luận ấy, vì không có điều kiện tìm hiểu sâu hơn, nay nhân Festival Huế – 2009 (12-14/6/2009) trưng bày chuyên đề gốm sứ, xin có mấy lời thưa lại như sau:

1. Về vấn đề thuật ngữ:

Cho đến nay, chủng loại sứ đặc biệt này được giới nghiên cứu dùng nhiều thuật ngữ khác nhau, chưa có ai thống nhất, mỗi người gọi một kiểu, nhưng ta có thể điểm một số thuật ngữ chính…

1.1. Về cách gọi “Les Bleus de Hué – Đồ sứ men lam Huế”:

– Trong bài “Bleus de Hué, trả lại tên cho em” (trong tuyển tập tranh luận đã kể), tôi đã chứng minh thuật ngữ này được ông Dumoutier dùng để chỉ các đồ sứ men trắng của châu Âu được đem sang Việt Nam và vẽ thêm hoa văn xanh thời Minh Mạng. Trong khi thuật ngữ “Đồ sứ men lam Huế” lại chỉ dòng đồ sứ đặc chế ngự dụng, quan dụng của các triều đình Việt Nam đặt làm tại Trung Quốc thì khác hẳn: người Việt Nam chỉ thảo mẫu theo ý thích, còn công nghệ sản xuất thì lại của Trung Quốc.

– Rõ ràng hai dòng sứ “Les Bleus de Hué” và “Đồ sứ men lam Huế” là 2 chủng loại khác nhau, không thể đánh đồng được. Tiến sĩ khảo cổ Đặng Văn Thắng (Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh), trong một bài viết về đồ sứ, cũng đã tán đồng quan điểm này.

1.2. Về cách gọi “Đồ sứ ký kiểu”:

– Thuật ngữ này, đầu tiên được cố học giả Vương Hồng Sển dùng chính thức trong công trình “Khảo về đồ sứ men lam Huế” của mình xuất bản năm 1993, sau này được nhà nghiên cứu Trần Đức Anh Sơn phân tích và sử dụng trong luận án tiến sĩ của mình; và cũng được nhiều người quen dùng với nghĩa là “đồ sứ đặt làm”…

– Trong bài viết “Cách hiểu các thuật ngữ của một chủng loại sứ đặc biệt” cũng được tuyển tập trong tập sách đã nói, tôi cũng đã phân tích ngay từ thời Pháp mà cố học giả Vương Hồng Sển đã nói trong sách của mình, người ta cũng đã hiểu hai chữ “ký kiểu” cũng còn có nghĩa là đồ giả. Bởi cả hàng thế kỷ trước đó, giới buôn cổ vật vẫn “đặt làm” những đồ sứ giả nhái lại các chủng đồ sứ quý hiếm thời trước, cho nên những đồ giả này vẫn được gọi chung là “ký kiểu”, vấn đề này, tôi sẽ nói thêm ở phần dưới…

– Cho nên, dùng thuật ngữ “Đồ sứ ký kiểu” vẫn hay, nhưng để có sự chính xác của khái niệm thì khi sử dùng cần thêm yếu tố nội hàm chính xác để loại trừ ý nghĩa “đồ giả”. Ví dụ, khi ta nói “Đồ sứ ký kiểu thời Nguyễn” thì ngoại diên bao hàm đồ ngự dụng, quan dụng, dân dụng (mà trong đồ dân dụng thì vẫn bao hàm luôn cả đồ giả do các thương gia đặt làm); vậy nên chăng, đổi là “Đồ sứ ký kiểu của triều Nguyễn” thì chỉ còn là đồ ngự dụng và quan dụng, như vậy, hai chữ “ký kiểu” mới thể hiện vai trò “triều đình đặt làm” của mình !

1.3. Về cách gọi “Đồ sứ đặc chế”:

– Như trên đã nói, thuật ngữ nào cũng có chỗ hở để có thể hiểu một khái niệm nhưng lại có nhiều đối tượng liên quan, do vậy, các thuật ngữ cũng cần minh bạch bằng sự chú giải ! Cho nên, nhà nghiên cứu Phạm Hy Tùng mới dùng tiếng Việt trong sáng là “gốm sứ Việt Nam đặt làm tại Trung Hoa”. Nhưng nói cho cùng thì thuật ngữ này vẫn “rộng” quá, dễ hiểu hơn thì có thể nên thêm nội hàm là “ngự dụng, quan dụng…” để ngoại diên hẹp lại, sẽ dễ hiểu hơn.

– Song làm như vậy tất nhiên cũng đã chú giải. Cho nên tôi vẫn thường nghe và thích và đã đề nghị dùng thuật ngữ “đồ sứ đặc chế”, tức là đồ sứ được chế tạo đặc biệt; và tất nhiên thế nào là “đặc chế” (?) thì phải chú giải thêm là đồ ngự dụng, quan dụng của triều đình Việt Nam đặt Trung Hoa làm. Thế mà vẫn có tác giả có ý kiến rằng “ông Huy viết sai chính tả”: đáng lẽ phải viết là “đặt chế”, nhưng ông Huy viết là “đặc chế” !, nhưng qua đó cho thấy vẫn có người thích dùng thuật ngữ này ! Bởi các nhà nghiên cứu dùng thuật ngữ “ký kiểu” thì hiểu theo lối “đặc chế”; nhưng phần lớn các nhà sưu tập, khi giới thiệu đồ sưu tập thì để tránh hiểu nhầm về “ký kiểu” là “đồ giả”, người ta thường nhấn mạnh chữ “đồ đặc chế” để biểu thị “chất lượng” của món đồ…

2. Về vấn đề nghiên cứu: rất cần đi sâu vào lý luận:

2.1. Hai dòng đồ sứ khác nhau:

– Như trên đã nói, “Les Bleus de Hué” và “Đồ sứ men lam Huế” là hai dòng sứ hoàn toàn khác nhau, thế nhưng ngày nay các nhà nghiên cứu hầu như tập trung vào đối tượng đồ sứ đặt làm tại Trung Hoa, chứ hầu như chưa đặt vấn đề về đồ sứ châu Âu vẽ lại thời Minh Mạng.

– Những đồ “Les Bleus de Hué” châu Âu này, ngày nay thỉnh thoảng vẫn còn hấy nhiều cái chén dưới đáy ghi “Minh Mạng niên chế”, vẽ rồng đơn sơ chứ không chi tiết như rồng vẽ tại Trung Hoa trên các tô Thiệu Trị niên chế, và có nước men trắng đục khác hẳn đồ làm tại Trung Hoa…

2.2. Về sự việc đặt làm đồ sứ tại Trung Quốc:

– Mặc dù các nhà sưu tập, nghiên cứu đã tìm thấy có sự tương ứng năm ghi trên đồ sứ với năm có phái đoàn đi sứ nhưng nhận định này không phải hoàn toàn đúng 100%.

– Sự ghi chép của sử liệu Việt Nam các đoàn đi sứ cho biết có “mua” đồ sứ, nhưng các nhà nghiên cứu cũng cho biết chưa tìm thấy văn bản nào cho biết rõ việc đặt làm đồ sứ tại Trung Quốc như thế nào (?), nên theo thiển kiến, chúng ta nên tìm sự việc này trong sử Trung Quốc như Đại Thanh thực lục chẳng hạn thì may ra có thể biết rõ hơn.

2.3. Phân loại, ý nghĩa các hoa văn…

– Người ta thường xì xào về các sưu tập có đồ giả, mà ngay cả đôi lúc “hội đồng thẩm định chuyên môn” đồ sứ phải ngậm đắng nuốt cay vì bị con buôn lừa một vố đậm đà khó quên bán cho đồ giả. Do vậy, về phương pháp nghiên cứu, rất cần đưa ra các tiêu chí để phân biệt đồ giả và đồ thật…

– Để làm được tiêu chí này, rất cần nghiên cứu so sánh quá trình làm đồ thật (đã xảy ra trong lịch sử trên cơ sở hiện vật thật) với quá trình làm đồ giả hiện tại, từ đó, tìm được tính đặc trưng của từng thời đại… thì mới xây dựng được tiêu chí để phân biệt. Đây thường là những kinh nghiệm cá nhân từng trãi đôi khi đã phải trả giá đắt mới có được, thành ra người ta thường “giấu nghề”; nhưng với nhà khoa học chân chính thì những kinh nghiệm này rất cần được “khoa học hóa”, và tôi đã được đọc một bài loại này của nhà nghiên cứu cổ vật Phạm Hy Tùng.

– Quan trọng bậc nhất là vấn đề niên đại của đồ sứ, ngoại trừ được giám định qua chất liệu nước men, nhưng các tiêu chí về hoa văn cũng rất quan trọng, do vậy rất cần có sự đối chiếu và quy nạp…

– Các đồ sứ mang niên hiệu thời Minh như “Thành Hóa niên chế” đã được một số nhà nghiên cứu gom vào “Đồ sứ men lam Huế” tức đã được gọi là đồ sứ “ký kiểu”; tất nhiên những đồ mang niên hiệu Minh này không phải là niên đại Minh mà là đời sau giả lại thời trước, thì hóa ra chữ “ký kiểu” vẫn hàm nghĩa đồ giả như người ta từng hiểu ?! Vậy những đồ sứ mang niên hiệu Minh này có phải là “Đồ sứ men lam Huế” không ?

2.4. Góp phần tái tạo lịch sử:

Đọc phần lớn các sách viết về đồ sứ đặc chế, chúng ta thấy phần lớn là các sách giới thiệu hiện vật sưu tập, thậm chí có sách in toàn là hình cho đẹp mắt chứ xem không thu nạp được kiến thức nào cả ! Mà nhu cầu của nhà nghiên cứu, người đọc sách… chủ yếu là muốn có kiến thức mới, do vậy, việc giải mã các hoa văn, minh văn trên đồ sứ là vấn đề quan trọng…

– Như trong cuộc tranh luận từ năm 1994 đã nói, việc giải thích hiệu đề “Nội phủ” trên đồ sứ là điện của vua Lê hay phủ của chúa Trịnh (?) đã trở thành một vấn đề nhiêu khê “Đường vô nội phủ loanh quanh”… Thế nhưng, phần lớn các nhà khảo cổ rất thích bài “Vóc dáng phủ Trịnh vương qua đồ sứ cổ” của nhà nghiên cứu Phạm Hy Tùng, vì bài này đã tái kiến trúc phủ chúa Trịnh đã bị xóa sổ nay không còn dấu vết gì thực tế ngoại trừ những hình vẽ còn sót lại trên đồ sứ. Đây là những “thông tin” quý báu góp vào việc dựng lại kinh đô Thăng Long nghìn năm văn hiến…

– Cũng như phủ chúa Nguyễn ở Kim Long, nay không còn dấu vết gì ngoài một vài bức họa đồ của hải quân châu Âu…, do vậy, người ta vẫn ước mong có được một bài khảo cứu tựa tựa “Vóc dáng phủ chúa Nguyễn qua đồ sứ cổ” để từ đó có cơ sở dựng lại phủ chúa Nguyễn ! Không biết có thể có chuyên khảo này không ?

– Giới sử học rất thích bài “Tư liệu mới về vua Gia Long qua chiếc ấm trà cổ” của nhà nghiên cứu Phạm Hy Tùng. Bài này cho một hệ quả, từ việc tìm hiểu hình dáng một chiếc âm, đã nói lên được nội tâm của nhân vật lịch sử Gia Long. Băn khoăn nhiều năm trời, khi giải mã được ý nghĩa hai chữ “Thái Bình” trên lưng đồng tiền “Gia Long thông bảo”, tôi mới hiểu được “cái sướng” của nhà nghiên cứu Phạm Hy Tùng khi giải mã được chiến ấm nói trên… Và rất nhiều di vật vô tri vô giác như đồ sứ, đồng tiền… hội tụ để góp phần nhận định sự “ghê gớm” trong thâm tâm Nguyễn Phúc Ánh…

– Hoặc Phạm Hy Tùng cũng có một bài viết giải mã một cái đĩa thời Tự Đức vẽ cảnh hái thuốc. Tác giả cho rằng vua Tự Đức không phải là “vô cảm” trước cảnh nước mất nhà tan, mà ông vẫn đi tìm “vị thuốc” để chữa bệnh nan y (mất nước). Những cách lý giải này, tuy chúng ta không hiểu sự thật của lịch sử ra sao (?), nhưng dù sao đó cũng là những tiếng nói có cơ sở để đánh giá nhân vật lịch sử…

– Hoặc hai câu thơ Nôm “Nghêu ngao vui thú yên hà, Mai là bạn cũ, hạc là người xưa” trên đồ sứ Mai Hạc, thường được cho là thơ của Nguyễn Du đầu thế kỷ XIX, nhưng nhà nghiên cứu Phạm Hy Tùng lại công bố cái đĩa điển tích trên có niên đại thế kỷ XVIII. Điều này đặt lại vấn đề tác giả của hai câu thơ Nôm trên có phải là Nguyễn Du không (?)…

Trên đây chỉ là một vài ví dụ, tôi tuy chưa được đào tạo qua chuyên ngành, nhưng cho rằng dựa vào những di vật vô tri để đưa ra những nhận định sử học, thì đây mới chính là mục tiêu của khảo cổ học !

3. Về vấn đề bảo tồn:

3.1. Ngày nay, việc sưu tập, sưu tầm đồ sứ đặc chế này hầu như khắp năm châu. Ở trong nước, do nạn săn lùng nên loại đồ sứ này trở nên quá đắt đỏ. Lại thêm mong manh dễ vỡ nên ngày càng hiếm hoi…

– Các bảo tàng cũng có lưu trữ một số loại này, nhưng về sự phong phú đôi khi không thể bằng các sưu tập tư nhân. Do vậy, để có được sưu tập đa dạng, các bảo tàng rất cần có cơ chế mở để dễ mua lại từ các nhà sưu tập tư nhân. Và Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế nên lấy đây làm mũi nhọn, ưu tiên cho sưu tập đồ sứ men lam Huế.

– Cần xây dựng thư mục, hình ảnh tất cả các sưu tập có thể có về đồ sứ này. Việc này, tiến sĩ Trần Đức Anh Sơn đã bước đầu xây dựng thư mục giới thiệu trên Nghiên Cứu Huế, và rất cần cập nhật…

– Và cũng rất cần làm một bảo tàng số hóa các hình ảnh về đồ sứ này để phục vụ nghiên cứu, sưu tập, cũng như phục vụ công tác phục chế…

3.2. Về vấn đề phục chế:

– Do nhu cầu trang trí di tích, ngày nay Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế cũng có dự án phục chế dòng đồ sứ này. Nhưng theo thiển kiến, các hiện vật phục chế rất cần nên có ký hiệu riêng hoặc đóng dấu phục chế để tránh những lẫn lộn về sau…

– Và như trên đã nói, phải nghiên cứu sâu chủng loại sứ đặc biệt này mới tìm ra được các tiêu chí, đặc điểm… thì trên cơ sở đó sự phục chế mới có hiệu quả cao…

3.3. Về vấn đề thành lập Hội cổ vật Huế:

– Hiện tại Huế đã có nhiều nhà sưu tập tham gia làm hội viên Liên Hiệp hội UNESCO Việt Nam và đã có nhiều đóng góp tích cực cho công tác trưng bày, triển lãm…trên bình diện cả toàn quốc. Nhưng oái ăm thay, các tỉnh bạn đều có Hội Cổ vật hoạt động mạnh mẽ thì đất Cố đô lại không có một hội cổ vật nào để các nhà sưu tập có được một diễn đàn quy tụ… Sự việc thành lập hội này, nhiều nhà sưu tập tâm huyết đã lên tiếng cả hơn chục năm qua, nhưng chẳng có lãnh đạo nào của tỉnh quan tâm, cho nên các nhà sưu tập tư nhân vẫn bơ vơ và khó có thể phát huy vai trò của mình được. Do vậy, nhân đây, tôi cũng xin đề nghĩ lãnh đạo tỉnh quan tâm đến công tác bảo tồn của các nhà sưu tập mà xúc tiến thành lập Hội Cổ vật Huế trên cơ sở các hội viên Liên Hiệp hội UNESCO.

– Và trụ sở sinh hoạt của Hội Cổ vật Huế này nên đặt tại Bảo tàng Lịch sử và Cách mạng tỉnh Thừa Thiên – Huế, là nơi có nhiều điều kiện tự nhiên khách quan để Hội có thể phát huy vai trò của mình…

Vài ý nghĩ thô thiển, rất mong được đóng góp.

Huế, chào mừng Festival 2009

BS NGUYỄN ANH HUY

220, Chi Lăng- Huế

# Bài này được đăng trên Khoa Học@Đời Sống  với tựa là “MẤY Ý NGHĨ VỀ VIỆC BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY ĐỒ SỨ MEN LAM HUẾ” ngày 11 tháng 06 năm 2009.

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

 

Read Full Post »

Hình ảnh hiện vật sưu tầm Bleu de Hue đẹp

Dưới đây là hình ảnh đồ sứ  Bleu de Hue được giới cổ ngoạn đánh giá đẹp không phải của một mà là của ba nhà sưu tập cổ vật tại Việt Nam.

Click trên hình để phóng lớn:

 

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

 

Read Full Post »

NHỮNG MÓN ĐỒ SỨ TÂN KÝ KIỂU

TRẦN ĐỨC ANH SƠN

1. Tôi đến với đồ sứ ký kiểu từ cuối năm 1988, khi thực hiện luận văn tốt nghiệp đại học về dòng đồ “cha Việt, mẹ Hoa” này. Sau khi ra trường, tôi được Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế nhận vào làm việc và đến năm 1995 thì được bổ nhiệm làm phó giám đốc Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế, nơi lưu giữ hơn 2000 món đồ sứ ký kiểu của triều Nguyễn. Dạo ấy dòng đồ này còn khá nhiều trên thị trường cổ vật trong nước nên ít ai nghĩ đến chuyện có đồ sứ ký kiểu giả. Một hôm, có người mang đến bảo tàng mấy món đồ sứ hiệu đề Nội phủ thị trungNội phủ thị hữu, bảo đó là đồ sứ ký kiểu thời Lê – Trịnh và nhờ tôi giám định. Vì chỉ chuyên về dòng đồ sứ do triều Nguyễn ký kiểu, chưa tiếp xúc nhiều với đồ thời Lê – Trịnh nên tôi phải “cầu cứu” các đồng nghiệp ở Sài Gòn và ở Pháp, bằng cách gửi hình ảnh kèm theo khảo tả chi tiết cho họ. Ít lâu sau tôi nhận được câu trả lời từ Sài Gòn: “Đó là đồ mới, do một người buôn bán đồ cổ ở phố Lê Công Kiều đặt làm tại lò Cảnh Đức Trấn bên Trung Quốc theo đúng cách thức ký kiểu thời xưa. Nhiều người không rành tưởng là đồ Lê – Trịnh thật”. Nhận được thông tin, rồi xem xét kỹ các món đồ sứ mà người ta đang nhờ tôi giám định, tôi chỉ có thể nói được hai chữ: “Bái phục”.

Cũng từ đó, tôi chú tâm tìm kiếm thông tin về nhân vật đang đi âm thầm đi “ký kiểu” đồ sứ này. Đến năm 2001, một hôm giám đốc Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế gọi điện bảo tôi sang phòng ông bàn chút việc. Đến nơi, giám đốc giới thiệu với tôi một vị khách: “Đây là anh Trần Quốc Thái, người chuyên phục chế đồ sứ cổ. Trung tâm muốn hợp tác với anh Thái phục chế đồ sứ để đưa vào trưng bày trong Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế, thay thế cho những hiện vật gốc, mà vì nhiều lý do nên không thể đưa ra trưng bày được. Anh là người chuyên nghiên cứu đồ sứ nên tôi mời anh sang bàn cách thức hợp tác với anh Thái để làm dự án này”. Tôi phản ứng tức thời: “Theo nguyên tắc, bảo tàng không trưng bày đồ giả, huống chi mình còn hơn 2000 món đồ sứ ký kiểu chưa mang ra trưng bày vì không có chỗ. Sao lại phải làm đồ giả cổ làm gì?”. Tôi vừa dứt lời thì vị khách lên tiếng: “Tôi đồng ý với anh là trong bảo tàng không nên bày đồ giả. Tuy nhiên, trong các cung điện, lăng tẩm ở Huế hiện đang trưng bày và thờ tự nhiều món đồ gốm Bát Tràng và đồ sứ rẻ tiền của Trung Quốc đấy thôi. Dự án mà tôi muốn hợp tác với các anh là nhằm tạo ra một dòng đồ sứ, phỏng theo đồ sứ ký kiểu thời Nguyễn, từ kiểu dáng, màu men đến hoa văn, họa tiết, để trưng bày trong các lăng tẩm và cung điện, cả nội thất lẫn ngoại thất, thay thế cho những cổ vật đã bị mất mát, hư hỏng hoặc vì lý do nào đó mà các anh không thể đưa hiện vật gốc ra trưng bày và thờ tự được. Đồng thời loại bỏ hoàn toàn những món đồ gốm rẻ tiền đang làm nhếch nhác cảnh quan di tích”. Nghe đến đây thì tôi chợt thấy mình hơi cạn nghĩ, nên kéo ghế ngồi xuống và bắt đầu bàn phương án hợp tác phỏng chế đồ sứ ký kiểu với vị khách nọ, cũng là bắt đầu mối giao hảo với anh Trần Quốc Thái.

2. Trần Quốc Thái có một cửa hàng đồ cổ ở phố Lê Công Kiều (Quận 1, TP Hồ Chí Minh). Cửa hàng của anh bán đủ thứ: đồ gốm sứ, đồ đồng, đồ đá…; cả đồ ta lẫn đồ Tàu, đồ Tây. Song món chủ lực của anh vẫn là dòng đồ sứ xanh trắng do vua chúa các triều Lê – Trịnh (ở Thăng Long) và triều Nguyễn (ở Huế) đặt làm ở Trung Hoa trong các thế kỷ XVII – XIX. Việc buôn bán trở nên khó khăn do cổ vật ngày càng khó kiếm, trong khi, những món đồ sứ ký kiểu quý hiếm thì cứ theo nhau ra nước ngoài. Tiếc vì không đủ tài lực để giữ lại cho mình những món đồ tâm đắc, Trần Quốc Thái chợt nghĩ ra một chiêu thức: phỏng chế đồ sứ theo đúng phương thức mà các sứ thần triều Lê – Trịnh và triều Nguyễn đã đi ký kiểu ở bên Tàu thuở trước, nhằm giữ lại cho mình những món đồ ưng ý.

Năm 1994, gom được một số tiền, lận theo mấy chiếc dĩa Nội phủ – Khánh xuân và mấy món đồ lam Huế, Trần Quốc Thái ra Móng Cái, rồi sang Đông Hưng, nhờ một người Hoa dắt đi Cảnh Đức Trấn để “ký kiểu” đồ sứ. Đó là một hành trình vô cùng gian nan và tiềm ẩn nhiều bất trắc. Ba tuần lang thang ở Cảnh Đức Trấn, thủ đô gốm sứ của Trung Quốc, Trần Quốc Thái tiếp xúc với hàng chục chủ lò nhưng không ai dám nhận lời phỏng chế đồ sứ theo yêu cầu của anh, chỉ vì một lý do: “Khó quá”. Đúng lúc thất vọng nhất thì Trần Quốc Thái gặp được Sào Hải Thanh, một “ông trùm” về dòng đồ thanh hoa (men trắng vẽ lam) của Cảnh Đức Trấn. Sau khi nghe yêu cầu của Trần Quốc Thái và ngắm nghía những món đồ mẫu mang từ Việt Nam sang, ông Sào cho hay phải mất hai tuần để phỏng chế những chiếc đĩa này và cam đoan sẽ làm giống đến 90%. Vậy là Trần Quốc Thái leo lên Lư Sơn ngắm cảnh suốt hai tuần để đợi kết quả. Hơn chục ngày sau, anh trở về Cảnh Đức Trấn, sung sướng đón nhận những món đồ phỏng chế do Sào nghệ nhân thực hiện.

Chuyến đi “phá băng” của anh đã mở ra cho anh một cơ hội kinh doanh dòng đồ sứ tân ký kiểu. Anh liên tục sang Cảnh Đức Trấn, hợp tác với Sào Hải Thanh phỏng chế  dòng đồ Nội phủ – Khánh xuân thời Lê – Trịnh đưa về bày bán trong cửa hàng của mình. Không chỉ đặt làm như nguyên mẫu, Trần Quốc Thái còn lựa chọn những hoa văn, họa tiết đẹp nhất và đặc trưng nhất của đồ sứ ký kiểu thời Lê – Trịnh, vẽ lên những tấm sứ kích thước lớn, dùng để làm mặt bàn hay lưng ghế tựa. Anh cũng đặt làm nhiều bức tranh sứ, vẽ các motif rồng phụng thời Lê – Trịnh và thời Nguyễn. Những tác phẩm phỏng chế của anh được đưa ra trưng bày tại Đại Nội nhân dịp Festival Huế tổ chức lần đầu tiên vào năm 2000. Và đó chính là cơ duyên đưa anh đến với dự án hợp tác phục chế đồ sứ ký kiểu thời Nguyễn để trưng bày trong các lăng tẩm, cung điện, đền miếu của vương triều Nguyễn ở Huế.

3. Dự án phục chế đồ sứ ký kiểu thời Nguyễn tiến hành trong các năm 2004 – 2006. Tôi được giao nhiệm vụ nghiên cứu hiện vật gốc đang bảo quản trong kho của Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế và đang trưng bày, thờ tự trong các cung điện, lăng tẩm ở Huế, rồi “ra đề bài” cho Trần Quốc Thái tiến hành phục chế. Không yên tâm với những bản vẽ do họa sĩ của bảo tàng sao chép từ hiện vật gốc, Trần Quốc Thái mời nghệ nhân Sào Hải Thanh từ Cảnh Đức Trấn đến Huế, tự tay can họa lại tất cả các hoa văn trang trí và đo đạc kích thước, sao vẽ kiểu dáng, mang về Trung Quốc để thợ gốm tuân thủ phỏng chế. Trần Quốc Thái cũng mời tôi và các chuyên gia của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế sang tận Cảnh Đức Trấn để giám sát quy trình phục chế đồ sứ ký kiểu: từ khâu làm đất, tạo cốt đến khâu trang trí, viết chữ và nung đốt sản phẩm. Đến tháng 5.2006, hơn 700 món đồ sứ tân ký kiểu từ Cảnh Đức Trấn đã về đến Huế và được đưa vào bài trí trong hầu khắp các cung điện, lăng tẩm, đền miếu của triều Nguyễn ở Huế, góp phần đẩy lui không gian hoang phế trong các khu di tích và phục vụ đắc lực cho Festival Huế 2006.

Kết thúc dự án phục chế đồ sứ ký kiểu thời Nguyễn, Trần Quốc Thái vẫn tiếp tục gắn bó với niềm đam mê đồ sứ tân ký kiểu của mình. Anh tham khảo những kiểu thức và trang trí của hai dòng đồ sứ ký kiểu thời Lê – Trịnh và thời Nguyễn, lựa chọn những dáng kiểu đẹp nhất và những họa tiết đặc sắc nhất, đặt cho Sào nghệ nhân chế tác thành những món đồ sứ tân ký kiểu, không thuần Lê – Trịnh, cũng chẳng là đồ Huế, mà tôi vẫn thích gọi là đồ Thái blue.

Anh mua một ngôi nhà cổ từ ngoài Bắc đưa về Sài Gòn dựng lại, rồi trưng bày hàng trăm món đồ Thái blue, vừa để chơi, vừa để kinh doanh. Anh tâm sự: “Nhiều người nói tôi đặt làm đồ giả cổ để kiếm lợi. Nhưng làm đồ giả cổ thì phải làm giống 100% hoa văn, họa tiết và kích thước; sản phẩm làm xong còn phải dùng các thủ pháp làm cho lạc tinh để cho giống với đồ xưa. Nhưng đồ tôi làm thì kết hợp tất cả hoa văn của các đời, từ Lê – Trịnh cho đến Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức… Kích thước thì lớn hơn và kiểu dáng cũng phong phú hơn rất nhiều. Vì thế, không thể nói đó là đồ giả cổ, mà phải gọi là đồ sứ tân ký kiểu mới chính xác”.

Miệng lưỡi thế gian khó ai ngăn cấm. Với riêng tôi, những món đồ sứ tân ký kiểu của Thái blue là những tác phẩm nghệ thuật thực sự. Ở đó chứa đựng những tinh hoa của đồ sứ ký kiểu thời Lê – Trịnh và thời Nguyễn. Đó cũng là nơi Trần Quốc Thái gửi gắm niềm đam mê của mình với dòng đồ xanh trắng. Đó cũng là những trang nhật ký bất thành văn ghi lại tân hành trình ký kiểu đồ sứ đầy gian truân của anh, mà tôi đã từng là một chứng nhân.

Trào lưu “chơi nhà cổ” đang thịnh hành khắp cả nước. Nhiều người bỏ tiền phục dựng những khu nhà rường tinh xảo và lộng lẫy ở Sài Gòn, Bình Dương, Hà Nội, Huế… Tuy nhiên, điều làm nên cái hồn của nhà rường xưa chính là những thứ bày biện trong ngôi nhà đó: hoành phi, đối liễn, bàn ghế, sập gụ, cổ vật, gốm sứ… Thị trường cổ vật trong nước ngày một khan hiếm, lấy đâu ra những bình, chóe, hũ, lọ… thời xưa để bài trí trong những ngôi nhà thênh thang ấy. Vì thế, đồ sứ tân ký kiểu của Thái blue có lẽ là một lựa chọn hợp lý mà chủ nhân các ngôi nhà rường tân tạo này nên nghĩ đến.

Click trên hình để xem phóng lớn.

T.Đ.A.S. (covathue)

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

 

`
 

 

Read Full Post »

Bộ sưu tập gốm sứ của Bảo Tàng Mỹ Thuật Cung Đình Huế

Với hơn 3700 hiện vật, bộ sưu tập gốm sứ của Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế (BTMTCĐ Huế) tương đối phong phú về thể loại và đóng vai trò quan trọng trong toàn bộ đồ gốm sứ còn được bảo tồn tại Việt Nam. Sưu tập gốm sứ tại Bảo tàng này rất đa dạng, bao gồm các loại gốm mộc, gốm men ngọc và gốm hoa nâu thời Lý-Trần (thế kỷ XI- XIV), gốm hoa lam thời Lê (thế kỷ XVI-XVII), gốm thời Mạc (thế kỷ XVI), gốm trang trí thời Nguyễn (thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX), gốm sứ Trung Hoa thời Minh – Thanh ( thế kỷ XIV – đầu thế kỷ XX ) và gốm sứ Pháp. Sự phong phú còn được thể hiện trên phương diện kiểu dáng và loại hình trong một tiến trình lịch sử gần 10 thế kỷ. Đặc biệt BTMTCĐ Huế có một sưu tập đồ sứ Trung Quốc đồ sộ, chủ yếu là đồ sứ men trắng vẽ lam thời Minh – Thanh (cuối thế kỷ XIV – đầu XX), mà người Trung Hoa vẫn gọi là Thanh Hoa . Nguồn cổ vật này phần lớn được sản xuất từ các địa phương Giang Tây, Quảng Đông và Phúc Kiến (Trung Quốc). Sự hiện diện của chúng trong Bảo tàng này có lẽ từ con đường ngoại giao (vật ban tặng, ký kiểu) và thương mại (do vua chúa Việt Nam và quan lại trong nước mua về từ Trung Quốc để phục vụ cho các nhu cầu của cung đình).

Cặp lồng sứ men lam

Cặp lồng sứ men lam

Trước hết, đối với nhóm hiện vật gốm, BTMTCĐ Huế lưu giữ khoảng 700 hiện vật gồm các loại gốm mộc, gốm tráng men… từ thời Lý đến thời Nguyễn. Đối với gốm thời Lý-Trần, ở đây còn giữ được những chiếc ấm tích men ngọc, những chiếc vò bằng gốm nâu, đáng kể nhất là những chiếc dĩa men ngọc trang trí hoa lá theo lối vẽ ám họa, đế để mộc. Đặc biệt, trong sưu tập này còn có một chiếc thố hoa nâu trang trí hoa lá xen kẽ với các họa tiết tô màu nâu giới hạn trong các nét khắc chìm, một phong cách trang trí điển hình của thời Trần. Về gốm thời Mạc, Bảo tàng còn giữ được khoảng 10 hiện vật, trong đó loại hình chân đèn chiếm đa số. Đó là những chân đèn hình con tiện làm bằng gốm trắng có lớp men phủ màu trắng xám hay trắng ngà. Hoa văn được thể hiện theo hai phong cách : vẽ trực tiếp trên xương đất với lối vẽ phóng bút hoặc đắp nổi trên thân hiện vật những đồ án rồng mây, lá đề. Sự góp mặt của đồ sành trắng hoa lam thời Lê trong sưu tập này là không đáng kể, chủ yếu là một vài chiếc dĩa ăn và hai chiếc kandy, trang trí hoa lá cúc cách điệu trong những ô hình đầu cánh hoa.

Dĩa sứ

Dĩa sứ

Dưới thời Nguyễn, nền kỹ nghệ gốm sứ bị sa sút mặc dù các vua chúa nhà Nguyễn rất chú trọng phát triển nghề này. Từ thời chúa Nguyễn Phúc Tần triều đình đã thiết lập chế độ tượng cục ( các công xưởng của nhà nước ) mà lúc đông nhất đã lên tới 70 tượng cục ( thời chúa Nguyễn Phúc Chu trị vì ), chiêu tập thợ thủ công vào làm việc với tư cách là những người lính thợ. Một trong những tượng cục rất phát triển thời ấy là Nề ngõa tượng cục còn duy trì cho đến thời vua Đồng Khánh. Nề ngõa tượng cục đã sản xuất nhiều loại gạch ngói xây dựng, gạch ngói trang trí phục vụ cho công cuôc kiến thiết thủ phủ Phú Xuân và kinh đô Huế sau này. Những sản phẩm này vẫn được lưu giữ trong BTMTCĐ Huế. Dưới thời Gia Long ( 1802-1820) nhà vua cho lập một xưởng chế tác đồ gốm tại LongThọ ( phía tây nam kinh đô Huế ) do nhà nước trực tiếp quản lý. Triều đình cho mời một người thợ Trung Quốc, tên là Hà Đạt quê ở Giang Tây và 3 người thợ khác từ Quảng Đông đến Long Thọ dạy nghề cho các lính thợ người Việt với kỳ vọng nâng cao kỹ nghệ gốm sứ ở Việt Nam lúc bấy giờ. Đất sét phục vụ cho công xưởng này lúc đầu được khai thác trực tiếp dưới chân đồi Long Thọ nhưng về sau do chất lượng không tốt nên phải lấy đất ở những vùng xa hơn như Triều Sơn, Vân Cù ( cách Huế 15-20km về phía Bắc ) Tuy nhiên, do điều kiện của lò nung, nguyên vật liệu, và trình độ kỹ thuật nên đồ gốm ở Long Thọ chỉ đạt đến trình độ gốm tráng men cao cấp mà thôi. Những sản phẩm này được sử dụng trong kiến trúc và trang trí cung điện thời Nguyễn trên đất Huế. Ngoài những đồ án trang trí thông thường còn có những đồ án tứ linh, hổ phù, những bức phù điêu với các đề tài dân dã trang trí ở các đầu đao, cổ diềm, lá mái, mà điện Ngưng Hy trong lăng Đồng Khánh là một điển hình. Về sau, nhờ sự sưu tập của Hội Đô Thành Hiếu Cổ ( Association des Amis du Vieux Hué) – cơ quan tiền thân của Museé Khải Định ( tức BTMTCĐ Huế sau này), những sản phẩm của lò gốm Long Thọ đã có mặt trong sưu tập này.

Đặc biệt, nơi đây còn giữ được nhiều tượng gốm như tượng chư vị đức Phật, tượng Hộ pháp, tượng Kim Cang, tượng Quan Công…từ các ngôi chùa ở Huế và phụ cận. Đáng chú ý là bộ tượng Thập điện Minh Vương sưu tập từ Khương Ninh Các – một di tích tôn giáo độc đáo tọa lạc bên trong Hoàng Thành Huế – là bộ tượng hoàn chỉnh nhất và đạt đến trình độ nghệ thuật cao nhất trong kỹ nghệ chế tác gốm sứ cũng như nghệ thuật điêu khắc thời Nguyễn.

Phần quan trọng trong bài viết này, chúng tôi muốn đề cập những đồ sứ men trắng vẽ lam do các triều vua chúa Việt Nam thời Lê Trịnh và thời Nguyễn đặt mua từ các lò sứ Trung Quốc, mà chúng tôi sử dụng thuật ngữ Đồ sứ ký kiểu để định danh, thay cho thuật ngữ Đồ sứ men lam Huế (Bleus de Hué) vẫn được giới chuyên môn và những nhà sưu tập sử dụng, hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng này.

Tô sứ

Tô sứ

Những cuộc tranh luận về đồ sứ ký kiểu trong vài năm gần đây của các nhà khảo cứu đã cho biết nguồn cổ vật đặc biệt này được các vua chúa Việt Nam thời Lê-Trịnh, Tây Sơn, thời tiền Nguyễn (tức thời các chúa Nguyễn thống lĩnh Đàng Trong) và thời Nguyễn đặt làm từ các lò sứ Ngự chế và Quan chế dưới triều Thanh (Trung Quốc) (1), và đã tạo ra những dòng đồ sứ ký kiểu nổi danh như đồ Nội Phủ – Khánh Xuân (thời Lê-Trịnh), đồ Tây Sơn, đồ chữ Nhật () (thời Nguyễn)… trừ đồ sứ ký kiểu thời Tây Sơn là hoàn toàn vắng mặt trong BTMTCĐH, những dòng đố sứ khác thuộc hệ Thanh Hoa Từ của hai triều: Lê – Trịnh và Nguyễn đều góp mặt nơi đây.

Về đồ sứ Nội Phủ-Khánh Xuân của triều Lê-Trịnh, gốc gác của chúng vốn ở Đàng Ngoài và được ký kiểu chủ yếu trong giai đoạn 1767 – 1786, tức là chủ yếu từ thời chúa Trịnh Sâm trở đi. Tại sao chúng có mặt tại Bảo tàng này?. Theo thiển ý có hai giả thuyết đáng lưu tâm: thứ nhất, sau khi tiến quân ra Bắc Hà lần thứ nhất vào mùa thu năm 1786, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ đã thâu tóm một phần quan trọng của cải của vua Lê, chúa Trịnh đem về Phú Xuân rồi sau đó lại bị đoạt lấy bởi triều đại nhà Nguyễn. Các đoạn trích dưới đây có thể minh chứng cho điều ấy:..Về Cống Chỉnh, tôi cho là một người điển hình đi trước thời cuộc, một Tào Tháo cận kim thời đại, biết hết nơi nào có của báu xứ Bắc nhường cho vua Quang Trung lựa đồ sứ và báu vật lấy về (TĐAS), còn bao nhiêu vàng bạc, Chỉnh đều tóm thâu…(2). Suốt ngày 17/8 Bính Ngọ (1786) Huệ cố giữ Chỉnh trong dinh nói chuyện lan man. Đến canh ba đêm đó, một ám hiệu truyền ra, quân Tây Sơn nai nịt sẵn, cả thủy lục lặng lẽ kéo đi, bao nhiêu của cải trong kho đụn Bắc Hà đem đi theo cả (VHS) (3). Sau khi ở Bắc về, Nhạc về thẳng quốc thành (tức Quy Nhơn – TĐAS) Huệ đến Phú Xuân đóng binh lại, không tiến nữa, sửa đắp thành lũy, thân nghiêm hiệu lệnh, giữ lấy hết cả những quân khí và của báu mà khi bắc chinh chưa lấy được. Nhạc sai sứ đem ấn sắc phong Huệ làm Bắc Bình Vương và hỏi các hóa bảo lấy được ở phủ Trịnh. Bắc Bình Vương chống mệnh không chịu dâng (4). Với những dẫn chứng trên đây, việc cho rằng số đồ sứ ký kiểu thời Lê-Trịnh hiện có mặt tại BTMTCĐH là do nhà Nguyễn đoạt lại từ tay vương triều Tây Sơn không phải là không có căn cứ. Giả thuyết thứ hai cho rằng đồ sứ ký kiểu thời Lê-Trịnh có trong BTMTCĐ Huế là do công lao sưu tập của các thành viên A.A.V.H. (Association des Amis du Viuex Hué) trong giai đọan tiền thân của Musée Khải Định. Điều này xem ra có vẻ có lý hơn bởi các thành viên của A.A.V.H. đã làm thật tốt công việc sưu tập đó với nhiều loại hình cổ vật có trên dải đất Thuận Hóa và các vùng phụ cận, nhất là đối với các tượng Chàm. Chính điều này đã tạo tiền đề cho sự ra đời của Musée Khải Định vào năm 1923.

Tiềm chân cao (Thiệu Trị)

Tiềm chân cao (Thiệu Trị)

Đồ sứ ký kiểu thời Lê – Trịnh có ở BTMTCĐ Huế tuy không nhiều nhưng cũng góp mặt khá đầy đủ các hiệu đề: Nội phủ thị trung, Nội phủ thị hữu, Nội phủ thị nam, Nội phủ thị đông, Nội phủ thị đoài, Nội phủ thị bắc, Khánh Xuân và Khánh Xuân thị tả. Riêng đồ sứ có hiệu đề Khánh Xuân, hiện BTMTCĐ Huế chỉ có một hiện vật duy nhất. Đó là một cái dĩa vẽ rồng. Những hiệu đề khác, hiện vật tương đối phong phú, bao gồm các loại chậu hoa, ống phóng, đĩa, bát và khay trà. Phần lớn hiện vật đều nguyên vẹn.

Về đồ sứ ký kiểu thời Nguyễn, BTMTCĐ Huế hiện là nơi đứng đầu Việt Nam về số lượng hiện vật tàng trữ. Dưới triều Nguyễn, theo Đại Nam thực lục cho biết đã có 26 sứ đoàn (5) đi sứ Trung Quốc. Những sứ bộ này, ngoài nhiệm vụ chính làm cầu nối bang giao giữa hai triều Nguyễn-Thanh, còn đặt nhiều đồ sứ mang về nước. Những đồ sứ này có ghi niên hiệu các vua nhà Nguyễn hoặc các năm đi sứ lên đáy hiện vật, cũng như có lấy một số phong cảnh và địa danh Việt Nam làm đề tài trang trí. Theo sự tìm hiểu bước đầu của chúng tôi, dòng đồ sứ ký kiểu dưới triều Nguyễn trong khoảng thời gian từ 1804 – 1824, có tất cả là 46 loại hiệu đề (6), thì số hiện vật sứ ký kiểu tại BTMTCĐ Huế có đến 29 loại hiệu đề. Nhận diện toàn bộ hiện vật sứ ký kiểu ở đây, chúng tôi có mấy nhận xét:

– Thứ nhất, đồ sứ ký kiểu dưới triều Nguyễn rất phong phú về số lượng và loại hình. những hiện vật này được ký kiểu trải dài theo tiến trình ký kiểu dưới triều Nguyễn, từ lần ký kiểu đầu tiên với hiệu đề Giáp tý niên chế đến lần ký kiểu cuối cùng với loài đồ sứ có hiệu đề Khải Định giáp tý niên tạo và rải đều dưới tất cả các triều vua có ký kiểu đồ sứ chứ không tập trung vào một triều đại nào.

Tiềm quý giáp (Thiệu Trị)

Tiềm quý giáp (Thiệu Trị)

– Thứ hai, đồ sứ ký kiểu thời Nguyễn ở Bảo tàng này đa dạng về tất cả các loại hình: đồ trang trí, đồ sinh hoạt; đồ nghi lễ; tế tự; cũng như phong phú đối tượng sử dụng: ngự dụng, quan dụng, dân dụng. Đặc biệt nhóm đồ sứ trang trí có rất nhiều hiện vật thuộc loại lớn như đôn, chậu, thống…vốn là vật trang trí ở các sân chầu, cung điện. Trong khi đó lại hiếm vắng tranh tượng trang trí. Đối với nhóm đồ sứ sinh họat, hiện vật trong BTMTCĐ Huế chủ yếu là đồ dùng cho nhu cầu ăn uống, rất hiếm đồ trà. Đây là điều trái ngược hoàn toàn với các sưu tập tư nhân và các bảo tàng khác trong nước. Các nhà sưu tập khi bắt đầu chơi cổ ngoạn thường sưu tầm các món đồ nhỏ, rẻ tiền rồi sau đó mới tiến tới sưu tầm các cổ vật lớn, quý hiếm và đắt tiền. Trong khi đó, nguồn đồ sứ ký kiểu tại BTMTCĐ Huế có nguồn gốc trực tiếp từ cung đình Huế, đặt biệt là do di chuyển, tiếp nhận từ các lăng tẩm, cung điện nên phong phú về chủng loại, nhất là các hiện vật có kích thước lớn. Trong lịch sử tồn tại của mình, một số cổ vật của BTMTCĐ Huế đã thất thoát do chiến tranh và mất cắp, cũng như do những nhân vật có thế lực trong chính quyền cũ lấy đi vào các thời điểm éo le của lịch sử như 1947, 1968, 1972… Họ đã chọn những cổ vật nhỏ nhưng quý hiếm để mang đi cho thuận tiện. Kết quả là nguồn cổ vật nhỏ ở đây không nhiều và quý bằng nguồn cổ vật có kích thước lớn. Đó cũng là cái may trong cái rủi của BTMTCĐ Huế vậy !

– Thứ ba, ngoài nguồn đồ sứ có gốc gác từ cung đình Huế với các món đồ ngự dụng đề rõ niên hiệu các vua Nguyễn như Minh Mạng niên chế, Thiệu Trị niên tạo,Thiệu Trị niên chế, Tự Đức niên tạo…với các mô típ trang trí đặc trưng cho sự quyền quý, cho ngôi vị đế vương như tứ linh, bát bửu, được sưu tập và tàng trữ một cách tất yếu, nơi đây còn có những đồ sứ quan dụng, vốn chỉ có ở các quan phủ, vương phủ, không hiểu sao lại góp mặt trong Bảo tàng này. Đó là các hiện vật có hiệu đề: Đặng Huy công từ, Tự Đức mậu thìn trung thu Đặng Qúy từ đường…hay các hiện vật vẽ tích Mai hạc với hai câu thơ chữ Nôm tương truyền là do thi hào Nguyễn Du ứng tác: Nghêu ngao vui thú yên hà. Mai là bạn cũ, hạc là người quen. Chính điều này đã khiến cho sưu tập đồ sứ ký kiểu nơi đây thêm đa dạng và hấp dẫn.

Chóe sứ thời Khang Hy , quà tặng của triều đình Thanh.

Chóe sứ thời Khang Hy , quà tặng của triều đình Thanh.

– Thứ tư, do có số lượng lớn nên sưu tập đồ sứ ở BTMTCĐ Huế có rất nhiều hiện vật độc đáo và qúy hiếm. Ở đây lưu giữ được hai hiện vật có hiệu đề Giáp tý niên chế – một chiếc tô do ông Hy Bách ở thành phố Hồ chí Minh hiến tặng và một chiếc đĩa có gốc gác từ thuở Bảo tàng mới khai sinh. Loại hiện vật ký kiểu có hiệu đề này, hiện nay giới sưu tập và giưới chuyên môn chỉ biết không quá đầu ngón tay. Ở đây còn có những hiện vật sứ được coi là độc nhất vô nhị, vô tiền khoáng hậu như chiếc đầu hồ bằng sứ vẽ rồng năm móng mang những đặc trưng rất Huế và rất Nguyễn, hay bộ đĩa ba cái trang trí các đồ án phượng hoàng, ngư tảo có hiệu đề: Tự Đức mậu thìn trung thu Đặng Qúy từ đường… do Đặng Huy Trứ mang về năm 1868. Đặc biệt, có những hiện vật như loại tô vẽ phong cảnh ngã ba Bằng Lãng (trước lăng Minh Mạng) có đề bài thơ chữ Nôm Một thức nước in trời…, đáy có chữ Nhật vốn được coi là quý hiếm, các bảo tàng khác và các sưu tập tư nhân chỉ có một chiếc thì đã lấy làm vinh hạnh. Vậy nhưng, loại tô này ở BTMTCĐ Huế lại có đến 282 chiếc (!).

Trên đây là những ý kiến cá nhân chúng tôi về sưu tập đồ gốm sứ trong BTMTCĐ Huế. Ngoài nguồn gốm sứ có nguồn gốc bản địa và Trung Quốc, BTMTCĐ Huế còn có hàng trăm hiện vật gốm sứ Nhật Bản và Pháp. Đó cũng là nguồn cổ vật quý rất đáng khảo cứu và trưng bày. Tiếc rằng do những khó khăn về điều kiện trưng bày nơi đây bởi diện tích trưng bày hạn chế, hệ thống tủ kệ và chiếu sáng chưa đáp ứng, nên phần lớn nguồn cổ vật này vẫn đóng kín trong kho, chỉ có một số rất ít được mang ra phục vụ du khách. Hy vọng rằng trong một tương lai không xa, khi BTMTCĐ Huế xây dựng được phòng trưng bày chuyên đề thì sưu tập gốm sứ nơi đây, trong đó có đồ sứ ký kiểu, sẽ trở thành một chuyên đề chính với đầy đủ chủng loại, dáng kiểu, niên đại và loại hình, sẽ được ưu tiên tuyển chọn và trưng bày để giới thiệu với du khách trong và ngoài nước.

TS. Trần Đức Anh Sơn

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

MỤC LỤC – MỘT SỐ BỘ SƯU TẬP GỐM SỨ

Read Full Post »

Older Posts »