Feeds:
Bài viết
Phản hồi

Archive for the ‘KIM TỰ THÁP’ Category

DANH MỤC TỔNG HỢP

*Kim tự tháp Ai Cập

 *Bài 1 : Tín ngưỡng vãng sinh của người Ai Cập cổ đại

*Bài 2 : Các kim tự tháp Ai Cập

*Bài 2 : Các kim tự tháp Ai Cập ( tt )

*Bài 2 : Các Kim tự tháp Ai Cập ( tt * )

*Bài 2 : Các Kim tự tháp Ai Cập  ( tt**)

*Bài 2 : Các kim tự tháp Ai Cập (tt***)

*Bài 2 : Các Kim tự tháp Ai Cập (tt****)

*Bài 3: Các giả thuyết xây dựng KTT

*Bài 3: Các giả thuyết xây dựng KTT (tt )

*Bài 3: Các giả thuyết xây dựng KTT (tt*)

*Bài 3: Các giả thuyết xây dựng KTT(tt**)

*Bài 3: Các giả thuyết xây dựng KTT(tt***)

*Bài 4:Chuyện bên lề Kim tự tháp Ai Cập

*Bài 4 : Chuyện bên lề Kim Tự Tháp Ai Cập (tt)

*Bài 4 : Chuyện bên lề KTT Ai Cập (tt*)

*Bài 5 : Kim tự tháp Trung & Nam Mỹ

Read Full Post »

Kim Tự Tháp Ai Cập

 

Biên khảo: Đức Chính

Bài 5: Kim Tự Tháp Trung và Nam Mỹ

Kim Tự Tháp là một đặc trưng văn hóa cổ Ai Cập, thế nhưng nhiều nơi trên thế giới cũng có những công trình được người ta gọi là Kim Tự Tháp: nổi tiếng nhất là vùng Trung và Nam Mỹ kỳ bí của thổ dân xứ này. Có thực sự nền văn minh Ai Cập đã sớm truyền bá qua Nam Mỹ trước thời Colombo? Những kiến trúc này có nguồn gốc từ đâu? Vấn đề vẫn là câu hỏi lớn thách thức các nhà nghiên cứu.

Ở châu Mỹ Kim Tự Tháp xuất hiện nhiều ở vùng Trung Mỹ và một ít ở Nam Mỹ. Hai dân tộc vùng Trung Mỹ đã xây dựng nhiều Kim Tự Tháp nhất là dân tộc Mayas và dân tộc Artez. Cả hai dân tộc này có nền văn hóa rất phong phú, thiên về tín ngưỡng và thiên văn học. Sơ bộ có thể liệt kê các Kim Tự Tháp vùng Trung Mỹ: Kim Tự Tháp ở Altun Ha (người Mayas), Kim Tự Tháp Caana ở Caracol (người Mayas), Kim Tự Tháp Wooden Lintel ở Caracol (người Mayas), Kim Tự Tháp High Temple ở Lamanai (người Mayas), Kim Tự Tháp Temple of the Jaguar ở Lamanai (người Mayas), Kim Tự Tháp ở Lubaantun (người Mayas), Kim Tự Tháp ở Nim Li Punit (người Mayas), Kim Tự Tháp El Castillo ở Xunantunich (người Mayas), Kim Tự Tháp the Bell ở San Andrés (người Mayas), Kim Tự Tháp ở Tazumal (người Mayas), Kim Tự Tháp ở Aguateca (người Mayas), Kim Tự Tháp LD-49 ở Dos Pilas (người Mayas), Kim Tự Tháp El Duende ở Dos Pilas (người Mayas), Kim Tự Tháp ở Kaminaljuyu (người Mayas), Kim Tự Tháp La Danta ở El Mirador (người Mayas), Kim Tự Tháp El Tigre ở El Mirador (người Mayas), Kim Tự Tháp ở Mixco Viejo (người Mayas), Kim Tự Tháp ở Tikal (người Mayas), Kim Tự Tháp ở Copán (người Mayas), Kim Tự Tháp Temple of the Murals ở Bonampak (người Mayas), Kim Tự Tháp Lớn ở Calakmul (người Mayas), Kim Tự Tháp El Castillo ở Chichen Itza (người Mayas), Kim Tự Tháp Lớn ở Cholula (người Xelhua), Kim Tự Tháp The Nohoch Mul ở Coba (người Mayas), Kim Tự Tháp La Iglesia ở Coba (người Mayas), Kim Tự Tháp Crossroads Temple ở Coba (người Mayas), Kim Tự Tháp Niches ở El Tajín (người Veracruz), Kim Tự Tháp Lớn ở La Venta (người Olmec), Kim Tự Tháp Temple of the Cross ở Palenque (người Mayas), Kim Tự Tháp Temple of the Inscriptions ở Palenque (người Mayas), Kim Tự Tháp ở Santa Cecilia Acatitlan (người Aztec), Kim Tự Tháp ở Tenayuca (người Aztec), Kim Tự Tháp Templo Mayor ở Tenochtitlan (người Aztec), Kim Tự Tháp ở Tenochtitlan (người Aztec), Kim Tự Tháp Mặt trời ở Teotihuacan (người Teotihuacano), Kim Tự Tháp Mặt trăng ở Teotihuacan (người Teotihuacano), Kim Tự Tháp ở El Tepozteco (người Aztec), Kim Tự Tháp ở Tula, Hidalgo (người Toltec), Kim Tự Tháp Magicia ở Uxmal (người Mayas), Kim Tự Tháp Lớn ở Uxmal (người Mayas), …

Về cơ bản có thể thấy Kim Tự Tháp Nam Mỹ có những khác biệt:

– Kim Tự Tháp Ai Cập đa số hình chóp nhọn, còn Kim Tự Tháp Trung và Nam Mỹ phần nhiều là bậc thang;

– Mô típ trang trí trong Kim Tự Tháp Ai Cập thiên về “Tử Thư”, tức mô tả các hình ảnh thế giới của người chết và cách vãng sinh. Kim Tự Tháp Trung và Nam Mỹ sử dụng những mô típ có chủ đề thế giới thần linh và sáng thế.

– Kim Tự Tháp Ai Cập là một lăng mộ của một vị Pharaoh, Kim Tự Tháp Nam Mỹ là nơi tiến hành lễ nghi tôn giáo hay phục vụ mục đích thiên văn. Dù rằng quanh chúng cũng tìm thấy một số mộ táng nhưng không có dấu vết chứng tỏ là lăng tẩm vương hầu[1], ngược lại có dấu hiệu nghi vấn đó là những người bị đem tế thần.

Thoáng nhìn, cả hai loại Kim Tự Tháp gần như giống nhau. Nhưng thực sự chúng có những cốt lõi khá cách biệt nếu nghiên cứu sâu. Một vài ví dụ về sự khác biệt về kiến trúc này. Người Mayas và người Artez có nhiều Kim Tự Tháp, nhưng nổi tiếng lại là Kim Tự Tháp Mặt trời và Kim Tự Tháp Mặt trăng Teotihuacan của người Teotihuacano.

Kim Tự Tháp Mặt trời ở Teotihuacan là Kim Tự Tháp có hai bậc thang lớn nhất vùng Trung Mỹ, cao 71,2 m và chu vi đáy 893,9 m. Nó được xây dựng vào khoảng năm 100 sau Công nguyên dùng để thờ Thần Rắn Lông Vũ (Feathered Serpent), nhưng đã bỏ hoang phế nhiều thế kỷ.

Thần Rắn Lông Vũ được nhiều dân tộc vùng Trung Mỹ tôn thờ. Không rõ người Teotihuacano gọi là gì, còn người Artez gọi là Quetzalcoatl, người Mayas gọi là Kukulcan, người Quiche là Gukumatz, … Nhưng văn hóa tín ngưỡng mỗi dân tộc về vị thần này có khác nhau. Người Teotihuacano coi là thần Mặt trời cai quản Trái đất và cuộc sống; người Artez tin Thần chủ về sự sống, gió và sự mọc lên của tinh tú (thần Mặt trời là Tonatiuh). Người Olmec (không rõ gọi là gì và chủ về việc gì) xếp vào hạng thần thứ 7 xuất hiện trên bức bia chạm ở Kim Tự Tháp La Venta (bên dưới có hình một người được hình dung là phi công vũ trụ); người Mayas cho rằng Thần Sáng tạo dạy họ luật lệ, làm ruộng, săn bắn và đánh cá (thần Mặt trời tên là Kinich Ahau);  …

Kim Tự Tháp Mặt trăng ở Teotihuacan là Kim Tự Tháp lớn hàng thứ 2, sau Kim Tự Tháp Mặt trời và có sau khoảng 200 năm. Nó cũng là Kim Tự Tháp bậc thang, được xây dựng để thờ đại nữ thần Teotihuacan; vị thần chủ về nước, sự phì nhiêu, đất đai và sự sinh sản (nói chung chủ về nông nghiệp).

Kim Tự Tháp Tazumal ở El Salvador, Trung Mỹ, là Kim Tự Tháp cụt ngọn nấc thang nằm ở vùng ngoại ô thành phố Chalchuapa, cách thủ đô San Salvador 78 km. Kim Tự Tháp này còn nhiều bí ẩn và vẫn đang trong giai đoạn nghiên cứu.

 

Kim Tự Tháp Tikal ở Guatemala, Trung Mỹ. Đây cũng là Kim Tự Tháp bậc thang chóp bằng, gồm hai kiến trúc: kiến trúc phía Bắc nằm ở vị trí Mặt trời mọc vào ngày xuân phân, phía Nam ở vị trí của ngày Đông Chí. Phát hiện cho thấy đây là một đài quan sát thiên văn, không loại trừ hoạt động này phục vụ cho một nhu cầu tín ngưỡng.

Kim Tự Tháp Pachacamac ở Peru, Nam Mỹ. Kiến trúc này xây bằng gạch phơi (không nung) của người Ichimay. Nó được xây dựng phục vụ một tôn giáo thần bí của dân tộc này.

*****

Nhiều nhà nghiên cứu cho đó là biến thể của Kim Tự Tháp Ai Cập khi truyền bá qua Nam Mỹ, lập luận của họ cho rằng: khi Kim Tự Tháp truyền bá đi xứ khác, nó không còn là lăng mộ nữa, mà là đền đài tưởng niệm đất tổ. Trên một góc độ nào đó quả Kim Tự Tháp ở ngoài Ai Cập là những đền đài tôn giáo dành cho thứ tín ngưỡng thần bí mật truyền. Hiện tượng này giống như hình thái tín ngưỡng thờ vọng của người Việt.

Thế nhưng giả thuyết này cũng khó đứng vững, chí ít đối với một số Kim Tự Tháp ở Trung Mỹ. Chúng ta biết Kim Tự Tháp ở Nam Mỹ là nơi tổ chức các buổi lễ tôn giáo; nếu là di sản của Ai Cập cổ đại truyền sang thì yếu tố tâm linh và văn hóa phải in đậm trong các di chỉ này, nếu không nói là căn cơ cho tín ngưỡng thổ dân Nam Mỹ.

Như đã khái quát ở trên, các nét đặc thù và cơ bản của Ai Cập cổ đại không hề thấy. Đi sâu hơn, chúng ta khảo sát một vài khía cạnh về văn hóa tín ngưỡng của cả hai vùng.

5-1. – nghiên cứu về các hệ thần giữa Ai cập và các dân tộc bản địa Châu Mỹ

Về góc độ này, nét tổng quan rất giống nhau và cũng giống các nền văn minh cổ đạo khác: thờ đa thần theo tín ngưỡng saman. Người Ai Cập và người Mayas, người Artez đều tin vua của họ do Trời phái xuống. Đây không là điều đặc biệt, có thể nói là tính phổ quát của loài người thời xa xưa, Trung Hoa cổ đại cũng không ngoại lệ.

Một điểm rất chung trong hệ thần của các dân tộc này: cùng thờ thần Mặt trời. Người Ai Cập gọi vị thần này với nhiều tên (tùy theo thời khắc trong ngày) nhưng phổ biến nhất là “Thần Ra” (bán nhân thần mình người đầu chim) cỡi chiếc xe Mặt trời đi qua bầu trời; còn thần Mặt trời của các thổ dân Châu Mỹ có tên như đã trình bày ở trên. Nếu như thần Ra là một vị thần quan trọng theo quan niệm của Ai Cập cổ đại, Thần Mặt trời của thổ dân Châu Mỹ khiêm tốn hơn. Với các thổ dân Châu Mỹ, vị thần tối cao được cho có hình dáng con người và từ bên ngoài Trái đất đi đến. Thần Mặt trời chỉ là một trong những vị thần do Thần Tối Cao sáng tạo ra.

Đặc biệt hình tượng Nhân sư đặc thù của Ai Cập không hề thấy ở Trung và Nam Mỹ. Nếu là kế thừa nền văn minh Ai Cập, yếu tố này không thể thiếu sót. Chẳng hạn như những bức tượng sư tử ở Cam-bốt là thần vật không thể thiếu khi du nhập nền văn minh Nam Ấn; hay trường hợp bò thần Nandi ở người Chăm Bà-la-môn cũng vậy.

Yếu tố quan trọng khác: Nền tảng của các dòng tín ngưỡng luôn lấy sự khai thiên lập địa để xây dựng các vị thần. Chúng ta thấy khái niệm sáng thế của người Ai Cập mang nhiều tính triết lý.

Thuở hồng hoang, đất nước Ai Cập chìm trong tối tăm và phủ đầy nước, toàn bộ những thứ đó gọi là nun.  Từ nun một năng lực thoát ra tạo thành một quả trứng. Quả trứng đó nở ra thần Ra. Thần Ra có quyền lực bao trùm trời đất và hóa thân được thành nhiều thứ và ở mỗi trạng thái đó thần có một tên riêng.

Đầu tiên hóa thân ra gió, gọi là thần Shu; sau hóa thân ra mưa (thần Tefnut), ra đất đai (thần Geb),  ra bầu trời (thần Nut), ra sông ngòi (thần Hapi), … cuối cùng mới hóa thân ra con người, tạo ra nam và nữ để sinh sôi, và thần là Pharaih đầu tiên.

Truyền thuyết này khiến ta nhớ đến vũ trụ quan của Lão Tử trong Đạo Đức Kinh: thưở ban đầu là một mớ hỗn độ, ở đó sinh ra “đạo”, đạo sinh âm dương, âm dương sinh ra vạn vật trong đó có con người.

Truyền thuyết sáng thế của các dân tộc bản địa Châu Mỹ thì giống Kinh Thánh của Cơ Đốc giáo một cách kỳ lạ.

Người Mayas: truyền thuyết sáng thế Popol Vuh của người Mayas cho rằng các vị thần từ cõi khác bên ngoài Trái đất đến xứ sở này để gieo mầm sống. Con người do các vị thần đó tạo ra theo hình hài của chư thần, được ban cho các năng lực của chư thần và cùng chung sống với chư thần một thời gian dài. Sau vì sợ con người chống lại, chư thần tiêu diệt đi và tái tạo lại với đẳng cấp thấp hơn.

Người Artez: thưở ban đầu chỉ có hai vị thần: thần ánh sáng Quetzalcoatl và thần bóng tối Tezcatlipoca cùng sống trên trời và bên dưới hai thần chỉ toàn là nước. Ở vùng nước đó có nữ thần khổng lồ rất nhiều miệng, ăn tất cả những gì nữ thần bắt gặp. Hai thần liền hóa thành con rắn hau đầu đi xuống nơi đó. Một thần nắm lấy tay, một thần nắm lấy chân, bẻ đôi nữ thần đó. Phần đầu và vai nữ thần hóa thành Trái đất, phần còn lại hóa thành bầu trời. Liền sau đó hai thần tạo ra sông ngòi, cây cỏ, chim thú và con người.

Thần thoại sáng thế của thổ dân Châu Mỹ chỉ có thần thoại của dân tộc Incas hơi giống với người Ai Cập về mặt có một vị thần tự sinh ra; nhưng có nhiều chi tiết giống với các dân tộc bản địa khác.

Người Incas: truyền thuyết kể tại hồ Collasuyu (nay gọi là hồ Titicaca), xuất hiện vị thần tên lả Con Tiqui Viracocha, đã sáng tạo ra con người giống như hình dáng của thần từ khối đá và tạo ra phụ nữ để sinh sản. Sau đó thần Con Tiqui mới tạo ra Mặt trời (Inti), Mặt trăng và các tinh tú để soi sáng thế gian; lại ban cho con người quyền năng như thần và muôn vật để sinh sống. Về sau người Inca quên công ơn của thần và nổi loạn. Thần Con Tiqui làm cho hạn hán, dân chúng điêu linh. Thương loài người thần hóa thân thành thần Pachacamac cứu giúp nhưng tước hết quyền phép khi xưa.

5-2.- Sự khác biệt về lịch pháp

Sự chuyển dịch văn minh qua khu vực khác có một đặc điểm rất thú vị: hệ lịch pháp thường được giữ nguyên, nếu có thay đổi thay đổi rất ít. Điều này có nhiều chứng cứ cụ thể: lịch Trung Hoa truyền sang Việt Nam gần như không có thay đổi dù vị trí quan sát đường hoàng đạo có khác. Tương tự, dân tộc Chăm  tiếp nhận nền văn minh Ấn Độ cùng với hệ lịch của đất nước này. Bởi vậy, nếu nền văn minh Ai cập cổ truyền bá qua Nam Mỹ bằng con đường nào đó, hệ lịch của người Ai Cập ít nhất phải là nền cho hệ lịch pháp các dân tộc bản địa ở Trung và Nam Mỹ.

Thực tế hệ lịch pháp của Ai Cập và Trung Mỹ khác biệt nhau rất lớn. Tuy cùng theo hệ Mặt trời để tính lịch nhưng các hệ lịch này lấy sao chuẩn, cách chia tháng, … đều khác nhau. Đặc biệt lịch của các dân tộc bản địa Châu Mỹ đậm nét thiên văn học, còn của Ai Cập nặng về thời tiết lưu vực sông Nil. Lịch pháp Ai Cập tuy có dựa vào các thiên thể, nhưng đối chiếu và lấy thời vụ làm chuẩn; còn hệ lịch thổ dân Châu Mỹ dựa vào các chu kỳ xoay vần cỉa các thiên thể mà tính toán. Chính vì thế mà chúng ta sẽ chứng kiến một bộ lịch Dài của người Mayas.

5-2-1.- Lịch pháp Ai Cập cổ đại

Người Ai Cập cổ đại dùng hệ lịch theo Mặt trời (Dương lịch), lấy chuẩn là sao Thiên lang (sirius) để tính toán. Ngày bắt đầu một năm là ngày sao này mọc lên ở phương Tây lúc Mặt trời mọc sau nhiều tháng lặn mất. Vào thời Vương triều thứ 1 (3000 trước Công nguyên), người Ai Cập sử dụng âm dương lịch: dùng Mặt trăng xác định số ngày trong tháng tháng và lấy sự luân chuyển của sao Thiên lang (sirus) để tính số ngày trong năm. Tương tự như hệ âm lịch của Việt Nam, một thời gian sau lịch và mùa tiết bị chênh lệch, họ bổ sung vào tháng nhuận để cân bằng lại[1]. Đồng thời, cơn lũ hàng năm của sông Nil trùng hợp với sự xuất hiện của sao Sirius, nên mùa đầu năm được chọn là mùa akhet (lụt lội). Sự chênh lệch giữa lịch và thời tiết sẽ theo đó điều chỉnh mà thêm vào tháng nhuận.

Về sau họ chuyển qua hệ dương lịch[2]. Họ chia mỗi năm ra làm 12 tháng, mỗi tháng có 30 ngày và 5 ngày lẻ vào cuối năm (như vậy thiếu ¼ ngày theo lịch tự nhiên). Mỗi tháng lại chia làm 3 tuần, mỗi tuần có 10 ngày. Đến triều đại Ptolemy (vào năm 238 trước Công nguyên) mới có chỉ dụ đến năm thứ 4 cộng thêm 1 ngày (366 ngày). Và hệ lịch này truyền qua Phương Tây, thông qua Hy Lạp, cải biến dần thành hệ dương lịch ngày nay.

Dựa theo mùa tiết, mỗi năm chia làm ba mùa: akhet (lụt lội), peret (trồng tỉa) và shemu (thu hoạch); tức có 4 tháng mùa akhet (lụt lội), 4 tháng mùa peret (trồng tỉa) và 4 tháng mùa shemu (thu hoạch). Theo đó có tên gọi tháng giêng là tháng thứ nhất mùa akhet, … tháng 5 là tháng thứ nhất mùa peret, … tháng 9 là tháng thứ nhất mùa shemu.

5-2-2.- Lịch pháp của người Mayas và Incas

Người Mayas có ba hệ lịch pháp: Haab’, Tzolk’in và hệ Lịch Dài. Hệ lịch pháp Dài có chu kỳ lịch rất dài, chu kỳ hiện tại đến ngày 21 tháng 12 năm 2012 mới kết thúc. Hệ lịch Dài dùng theo nhị thập phân (cơ số 20), các nhà nghiên cứu dựa vào đó tính toán thì ngày khởi đầu của chu kỳ hệ lịch này là ngày 11 tháng 8 năm 3114 trước Công nguyên (dài khủng khiếp)[3]. Hai chu kỳ còn lại chia mỗi “vòng lịch” dài 52 năm.

Lịch pháp Tzolk’in (có nghĩa là “đếm ngày”) được người Mayas dùng phổ biến nhất, nên có thể coi là hệ lịch cơ bản của dân tộc này. Tzolk’in có hai chu kỳ lịch: chu kỳ lịch thường và chu kỳ lịch tôn giáo. Chu kỳ lịch thường  dùng trong đời sống xã hội; còn chu kỳ lịch tôn giáo dành cho các tu sĩ thực hiện các lễ nghi tôn giáo. Chu kỳ lịch thường có 365 ngày, lịch tôn giáo có 260 ngày. Chính vì hai chu kỳ lịch có sai số ngày như thế nên cứ 52 năm trùng lặp với nhau 1 lần, tạo thành một vòng lịch (tạm gọi là “thế kỷ”).

Mỗi năm có 20 tháng, mỗi tháng có 18 ngày và 5 ngày lẻ không tính vào tháng nào cả. Các tháng có tên như sau:

 

Bộ lịch này có liên quan mật thiết với cuốn Kinh Thư Dresden của người Mayas. Cuốn kinh thư này ngoài giá trị văn hóa tín ngưỡng, còn là một thư tịch cổ về thiên văn đáng kinh ngạc. Dựa vào kiến thức trong cuốn sách này các tu sĩ người Mayas đã tiên đoán được lần nhật thực ngày 11 tháng 7 năm 1991 từ năm 755 sau Công nguyên rồi.

Lịch của người Incas cũng tương tự với “vòng lịch” 52 năm. Nhưng lịch của người Incas dựa trên sự quan sát Mặt trời và Mặt trăng cùng với những tương quan các vì tinh tú khác chia mỗi năm thành 12 tháng. Do thiếu ¼ ngày mỗi năm, lịch của người Incas thêm vào một tháng trăng vào năm thứ 3 (tức có 13 tháng trăng thay vì 12 tháng như bình thường) giống như hệ lịch của Việt Nam (nhưng cách tính tháng nhuận của Việt Nam có khác: dựa vào trung khí).

5-2-3.- Lịch pháp của người Aztec

Di chỉ quan trọng nhất dung để nghiện cứu hệ lịch pháp của người Aztec là Khối đá Mặt trời (Sun Stone) hiện đang bảo tồn ở Viện Bảo tàng Nhân chùng học và Lịch sử (National Museum of Anthropology and History), tại Công viên Chapultepec, thành phố Mexico. Nó được phát hiện trong cuộc khai quật “Zocalo”, thành phố Mexico, vào ngày 17 tháng 12 năm 1790, do công của Hầu tước Tây Ban Nha Cruillas.

Theo nghiên cứu khối đá này gọi là “Cuauhxicalli”, có nghĩa là “cái chén chim ưng”, do vị quân vương Artez thứ 6 tạo tác vào khoảng năm 1479 để kính thờ thần Mặt trời. Nó nặng 25 tấn, đường kính 12 feet và dày 3 feet, vừa mang ý nghĩa tín ngưỡng vừa có ý nghĩa thiên văn.

Tương tự như của người Mayas, hệ lịch pháp này có hai chu kỳ: chu kỳ lịch thường 365 ngày và chu kỳ lịch tôn giáo 260 ngày. Chu kỳ lịch thường, gọi là “Xiuhmolpilli”,  dùng trong đời sống xã hội; còn chu kỳ lịch tôn giáo gọi là “Tonalpohualli”, dành cho các tu sĩ thực hiện các lễ nghi tôn giáo.

Cả hai chu kỳ này hợp thành một “vòng lịch”, đơn giản tạm gọi là “thế kỷ”, với 52 năm. Năm bắt đầu vào ngày chòm sao Bắc đầu (Pleiades) xuất hiện ở hướng Đông trước khi trời rạng sáng. Mỗi năm có 18 tháng, mỗi tháng có một tên gọi riêng và 5 ngày lẻ không nằm trong tháng nào.

Số

 Tên tháng

Thần bảo hộ và nghi lễ

  I.  Atlacacauallo (cạn nước)   Thần: Tlaloc, ChachihutlicueTrẻ em cúng Thần nước
 II.  Tlacaxipehualiztli (lột da)  Thần: Xipe-TotecLễ đấu sĩ; các thầy phù thủy đội da đầu người nhảy múa.
 III.  Tozoztontli (lễ vọng nhỏ)  Thần: Coatlicue, TlalocTrẻ em khoác da lột làm lễ
 IV.  Hueytozoztli (Lễ vọng lớn)  Thần: Centeotl, ChicomecacoatlThiếu nữ làm lễ cầu mùa màng bội thu
 V.  Toxcatl (Khô hạn)  Thần: Tezcatlipoca, HuitzilopochtliNgười đóng vai thần làm lễ
 VI.  Etzalcualiztli (món bắp đậu)  Thần: TlaloquesNgười đóng vai thần Nước làm lễ; nghi lễ tắm và nhảy múa
 VII.  Tecuilhuitontli (bữa tiệc nhỏ của Thượng đế)  Thần: Huixtocihuatl, XochipilliNgười đóng vai thần làm lễ; theo nghi thức người làm ruộng muối
 VIII.  Hueytecuihutli (bữa tiệc lớn của Thượng đế)  Thần: XilonenTiệc cho nữ thần bắp, thần mang tài vật cho mọi người
 IX.  Tlaxochimaco (ra hoa)  Thần: HuizilopochtliDâng các vòng hoa cho chư thần; ăn mừng với bánh bắp và gà tây
 X.  Xocotlhuetzin (rụng quả)Hueymiccaihuitl (tiệc lớn cho người chết: cúng cô hồn)  Thần: XiuhtecuhtliCeremonial pole climbing competition

Cúng thần lửa bằng cách thiêu sống một người

 XI.  Ochpaniztli (quét dọn)  Thần: TlazolteotlQuét nhà quét đường; đánh trận giả
 XII.  Teoleco (rước thần)  Thần: TezcatlipocaLễ mừng chu thần xuống trái đất; uống rượu và đốt lửa cúng
 XIII.  Tepeihuitl (tiệc núi rừng)  Thần: TlalocLễ thần mưa trên núi; đàn ông làm lễ và ăn thịt người
 XIV.  Quecholli (mùa săn)  Thần: Mixcoatl-CamaxtliDiễn nghi thức đi săn; làm lễ săn bắn và mở tiệc
 XV.  Panquetzaliztli (dựng cờ)  Thần: HuitzilopochtliDán giấy vào người và cây ăn quả; thi rước lễ; cúng tế lớn
 XVI.  Atemoztli (mưa xuống)  Thần: TlalocHội mừng thần Nước; hy tế trẻ con và nô lệ
 XVII.  Tititl (đảo vũ)  Thần: LlamatecuhtliLàm phù thuật cầu mưa xuống; phụ nữ bị đánh bằng những chiếc túi nhồi đầy rơm cho đến khi bật khóc
 XVIII.  Izcalli (resuscitation)  Thần: XiuhtecuhtliHình tượng thần làm bằng bột nhão cây dền; mở tiệc bánh ngô tamal nhồi rau củ
 Nemontemi (ngày xấu)  Có 5 ngày xấu không tính vào tháng nào, không có nghi lễ tín ngưỡng vào những ngày này.

Mỗi tháng có 20 ngày được đánh số theo thứ tự và có từng tên riêng.

 

Ngày thứ 1 gọi là “Coatl” (con rắn), thứ 2 gọi là “Cuetzpallin” (thằn lằn), thứ 3 gọi là “Calli” (căn nhà), thứ 4 gọi là “Ehecatl” (gió), thứ 5 gọi là “Cipactli” (cá sấu), thứ 6 gọi là “Xochitl” (hoa), thứ 7 gọi là “Quiahuitl” (mưa), thứ 8 gọi là “Tecpatl” (đá lửa), thứ 9 gọi là “Ollin” (chuyển động), thứ 10 gọi là “Cozcacuauhtli” (kên kên), thứ 11 gọi là “Cuauhtle” (chim ó), thứ 12 gọi là “Ocelotl” (báo đốm), thứ 13 gọi là “Acatl” (dây mây), thứ 14 gọi là “Malinalli” (cỏ), thứ 15 gọi là “Ozomatli” (con khỉ), thứ 16 gọi là “Itzquintli” (chó trụi lông), thứ 17 gọi là “Atl” (nước), thứ 18 gọi là “Tochtli” (thỏ rừng), thứ 19 gọi là “Mazatl” (hươu nai), và thứ 20 gọi là “Miquiztli” (đầu lâu),

5-3.- Vấn đề ướp xác và các yếu tố văn hóa khác

Kim Tự Tháp Ai Cập gắn liền với nghệ thuật ướp xác của họ. Nếu như Kim Tự Tháp ở Trung và Nam Mỹ kế thừa từ nền văn minh Ai Cập cổ đại, kỹ thuật ướp xác phải có mang tính “đại đồng tiểu dị” (cơ bản giống nhau, chỉ khác ở chi tiết nhỏ). Thế nhưng vấn đề ướp xác của hai vùng đất này rất khác xa nhau.

Người Ai Cập cổ đại rất ưa ướp xác. Ngoài những xác ướp con người, họ còn ướp xác cả thú vật như mèo, cá sấu, …

Trườc tiên, người Ai Cập mổ banh bụng lấy hết ngũ tạng ra, não cũng lấy ra khỏi đầu. Sau đó họ ướp tẩm thi hài với một vài loại muối natri và diêm tiêu (natron). Rồi dùng vải liệm quấn vào thi hài đem hong khô cho tới khi chất dịch thoát ra bám vào vải liệm. Lớp vải đó được tháo ra, rửa sạch thi hàu và phét vào đó một vài loại nhựa cây như nhựa thông chẳng hạn. Các hố bụng được nhét thêm vải xé xơ để bảo vệ hình dạng, rồi quấn vải lại, phết thêm bên ngoài một vài loại nhựa thơm chiết từ cây cỏ.

Các dân tộc bản địa vùng trung Mỹ không phổ biến ướp xác như người Ai Cập cổ đại và các Kim Tự Tháp của họ không có dấu vết chứng tỏ từng là nơi yên nghỉ của xác ướp. Tuy thế, người ta cũng tìm thấy một số xác ướp vùng này, nổi tiếng là xác ướp Chinchorro.

Xác ướp Chinchorro được cắt lìa tay chân và đầu khỏi thân mình, cũng moi hết nội tạng ra và nhồi vào đó là các xơ thực vật hay lông thú. Sau cùng mới ráp lại thành xác ướp. Bên ngoài không quấn vải như xác ướp Ai Cập, mà tùy theo trường hợp họ phủ lên một chất bảo vệ rồi hong khô. Có hai trường hợp: xác ướp đen và xác ướp đỏ. Xác ướp đen là xác ướp sau khi xử lý sẽ được phết một lớp bột tro nhão, còn xác ướp đỏ được phết bằng đất hoàng thổ đỏ. Sau đó là quá trình hong khô để xác ướp không bị phân hủy.

Theo National Geographic, ngày 16 tháng 4 năm 2010, người ta tìm thấy một xác ướp ở vùng sa mạc phía bắc của Chi-lê theo hình dưới đây:

Xác ướp này thuộc nền văn hóa Chinchorro, được đánh giá cách nay 5000-3000 năm trước Công nguyên (theo phương pháp carbon phóng xạ).

*****

Ngoài chuyện này, thổ dân Châu Mỹ còn có tục lệ săn và thờ đầu người (sọ thật hay được chế tác bằng vật liệu) hoàn toàn xa lạ với nền văn minh Ai Cập cổ đại. Tập tục này không những mang yếu tố tính ngưỡng mà còn hàm chứa một bí thuật hết sức kỳ lạ,

Thứ nhất là chuyện những chiếc sọ dài của người Inca.

Thông tin về những chiếc sọ dài không nhiều. Có điều về mặt nhân chủng học cho thấy không thuộc giống người hay vượn người nào cả; có giả thuyết đặt ra là do tác động cố ý của con người làm biến dạng. Nhưng với kỹ thuật “kéo dài vòm sọ” nào thì hiện chưa có câu trả lời. Câu hỏi thứ hai: chiếc sọ có vai trò thế nào đối với người Inca thời xưa cũng còn là một bí ẩn.

Chuyện thứ hai là những chiếc sọ tinh thể. Đây không phải là chiếc sọ thật, mà là chiếc sọ do người Mayas chế tác từ tinh thể thạch anh. Kích thước của chúng cũng không đều nhau: có chiếc chỉ đường kính non 1 tấc, nhưng có những chiếc to như thật hay to hơn. Các nghiên cứu cho thấy chúng có liên quan đến bộ Lịch Dài của dân tộc này.

Họ sắp xếp các chiếc sọ này theo “nguyên tắc 12 quanh 1” (12 chiếc sọ trên một vòng tròn và ở giữa có một chiếc sọ khác). Chiếc sọ chính giữa tượng trưng cho Trái đất và 12 chiếc sọ xung quanh cho 12 vị trí thời tiết. Có điểm lạ là người Mayas chia năm làm 18 tháng nhưng cách bố trí này có hình tượng như 12 tháng.

 

Vị trí 12 chiếc sọ ở vòng ngoài này nằm trên đường Hoàng đạo và biểu trưng cho 12 tiết khí trong năm; trong đó có 4 tiết khí chính: xuân phân, thu phân, hạ chí, và đông chí. Việc này hoàn toàn đáng tin cậy vì một số Kim Tự Tháp của người Mayas được bố trí để quan sát và xác định ngày của 4 tiết khí này. Trong thiên văn học của Au Cập cổ đại út quan tâm đến điều này, vì thế họ mới chia năm ra làm 3 mùa.

*****

Cả hai vùng (Ai Cập và Trung Mỹ) đều có tạo tác ra mặt nạ tín ngưỡng. Với người Ai Cập đó là thứ bùa hộ mạng cho người chết đi về cõi vĩnh hằng (đeo cho xác ướp, chủ yếu dành cho các Pharaoh), thì với thổ dân Châu Mỹ là thần vật giúp giao tiếp thần linh (họ dùng khi có lễ tế thần, và chỉ vị phù thủy mới đeo).

Loại mặt nạ thần vật của người bản địa Châu Mỹ còn được phát triển thành các trụ Totem dựng ở các nơi nhằm bảo hộ cho họ trước các thế lực huyền bí đen tối. Các trụ này hay chon ở ven làng hay những nơi họ cảm giác sợ hãi vì tin có ma quỷ.

Những yếu tố trên chưa đủ để khẳng định hoàn toàn thuyết phục bản chất phi Ai Cập của Kim Tự Tháp ở Trung và Nam Mỹ. Tuy nhiên, trong chừng mực nào đó cũng thấy có nhiều điểm không tương đồng mang tính nền tảng. Tôi không dám kết luận vấn đề, chỉ nêu lên một thiển kiến: Kim Tự Tháp Trung và Nam Mỹ là những đền miếu mang dáng dấp Kim Tự Tháp chứ không phải là phoe6n bản đúng nghĩa như của Kim Tự Tháp Ai Cập.

(Hết)

*****************************************************************************

[1] Trừ một số ít vua Mayas thời kỳ đầu chôn dưới Kim Tự Tháp (chứ không ướp xac. Nhưng về sau người Mayas theo tục hỏa táng. Chứng tỏ Kim Tự Tháp lăng mộ không là tín ngưỡng của họ.

[1] Với lịch sử trước Công nguyên 3000, có thể liên tưởng lịch cổ của người Trung Hoa kế thừa từ nền văn minh Ai Cập.

[2] . Các nhà nghiên cứu cho rằng hệ lịch pháp này có thể có từ trước năm 2400 trước Công nguyên.

[3] Dựa vào điều này nhiều tin đồn cho rằng vào ngày này sẽ tận thế vì hết lịch. Thực ra đó là sự kết thúc một chu kỳ lịch và nối tiếp chu kỳ lịch mới theo tính toân của người Mayas.

 

 

MỤC LỤC – KIM TỰ THÁP

Read Full Post »

Bài 4: Chuyện bên lề Kim Tự Tháp Ai Cập

Biên khảo : Đức Chính

3.- Kim Tự Tháp là công trình của người ngoài Trái đất?

Phần trước chúng ta có nêu một số giả thuyết cho rằng Kim Tự Tháp do người ngoài Trái đất dựng nên. Đó không phải là ý kiến lẻ loi đơn độc, mà có thời từng là một trào lưu gây chấn động nhiều bạn đọc.

Vào thập niên 60-70 thế kỷ trước, đi cùng với phong trào “dĩa bay” hay “vật thể bay không xác định” (UFO: unidentified flying object) là phong trào gán cho các kỳ quan yếu tố ngoài không gian. Nhiều cuốn sách về đề tài này được viết ra và thu hút một lượng lớn độc giả hiếu kỳ. Cuốn ăn khách nhất thời đó là “Chariots of the Gods” (Xe Của Các Vị Thần)[1] của tác giả người Đức Erich Von Daniken; trong đó dành hẳn một chương nhan đề “Ancient Marvels or Space Travel Centres?” (Các Kỳ quan Cổ đại hay Trung tâm Du hành Vũ trụ?) để nêu những mối tương quan kỳ lạ giữa các di chỉ khảo cổ với thuyết người ngoài Trái đất từng viếng thăm loài người trong quá khứ xa xăm.

Trong chương này tác giả nêu luận điểm Kim Tự Tháp là một cột mốc để các nhà du hành vũ trụ ngoài Trái đất theo đó mà cất/hạ cánh. L‎ý do Ai Cập được chọn là vì đây là trung tâm của Trái đất; tác giả đưa hình minh họa theo “phép chiếu phương vị cách đều” (azimuthal equidistant projection) dưới đây.

Nhưng thay vì chứng minh bằng sự kiện, tác giả phản chứng bằng cách nêu ra những điểm khoa học chưa giải thích được để biện luận cho giả thuyết của mình. Hầu có một cái nhìn chính xác về quan điểm của tác giả, xin mạn phép trích dịch đầy đủ một đoạn (dài nhiều trang) duy nhất trong sách nói riêng về Kim Tự Tháp.

“Có nhiều vấn đề gắn liền với công nghệ của những người xây dựng Kim Tự Tháp và không là giải pháp thiên tài nào cả.

“Người Ai Cập khoét vào đá làm lăng mộ như thế nào? Họ có trong tay nguồn lực gì mà có thể bố trí phòng ốc và các hành lang như mê cung? Những bức tường phẳng lì trang trí các bức họa phù điêu. Độ nghiêng trục chính cắm sâu vào nền đá; họ có những bước xây dựng theo truyền thống tinh xảo tuyệt vời, thứ truyền thống đưa phòng mai táng âm sâu xuống đất. Hàng đoàn du khách ngạc nhiên trầm trồ trước chúng, nhưng chẳng ai giảu thích nổi họ dùng thứ kỹ thuật huyền diệu gì mà đào được như thế. Vâng, phải khẳng định người Ai Cập là bậc thầy trong nghề khoan hầm từ thời nguyên sơ, các lăng mộ ăn sâu vào đá được thi công chính xác không thua kém gì thời nay. Giữa lăng mộ của vua Tety hồi triều đại thứ 6 và lăng mộ của Rameses I thời Vương Quốc Mới cách xa nhau chí ít 1.000 năm chẳng có gì khác biệt nhau về kỹ thuật xây dựng. Rõ ràng người Ai Cập chẳng học được thêm điều gì mới để bổ sung cho kỹ thuật xưa cũ. Thực ra mà nói các dinh thự càng gần thời đại chúng ta càng nhiều sự sao chép nghèo nàn từ mô thức thời xa xưa.

“Khách du lịch rong duỗi trên lưng lạc đà có tên Wellington hay Napoleon tùy theo quốc tịch của ông ta, đến Kim Tự Tháp Cheop, đến phía tây thành phố Cairo, sẽ có cảm giác kỳ lạ trong lòng khi thấy những di vật huyền bí của thời quá khứ cứ hiện ra. Hướng dẫn viên nói với ông ta: Một vị Pharaoh được an táng nơi đây. Và với mớ kiến thức được hâm nóng lại đó, ông ta chụp nhiều bức ảnh ấn tượng rồi cỡi lạc đà quay trở về. Đặc biệt Kim Tự Tháp Cheops đã gợi hứng hàng trăm thuyết điên rồ và khó đứng vững. Trong cuốn sách dài 600 trang nhan đề Our Inheritance in the Great Pyramid (Di sản của chúng ta trong Kim Tự Tháp Lớn) do Charles Piazzi Smith xuất bản năm 1864, chúng ta có thể đọc thấy nhiều mối liên hệ dựng tóc gáy giữa Kim Tự Tháp với quả Địa cầu của chúng ta.

“Vâng, sau chuyến khảo sát đầy tính phê phán như thế, vẫn chứa đựng nhiều sự việc kích thích chúng tôi phải suy tư. 

“Không thể chối cãi người Ai Cập thời xưa thờ thần Mặt trời. Thần Mặt trời của họ gọi là thần Ra, đi xuyên bầu trời trên một con thuyền. Kim Tự Tháp thư thời Vương Quốc Cổ còn mô tả vị vua chu du trên bầu trời, hẳn nhiên điều đó phải có sự giúp đỡ của các vụ thần và các con tàu của thần linh. Vậy thì các vị thần và các vì vua cùng nhắc đến chuyện bay đi …   

“Phải chăng chiều cao của Kim Tự Tháp Cheops nhân cho 1.000 gần bằng khoảng cách từ Trái đất đến Mặt trời chỉ là sự trùng hợp ư? Khoảng cách đó là 93 triệu dặm. Phải chăng kinh tuyến đi ngang qua Kim Tự Tháp chia đôi cách lục địa và đại dương làm hai phần bằng nhau cũng chỉ là sự trùng hợp? Phải chăng diện tích đáy Kim Tự Tháp chia cho hai lần chiều cao cho ra số (Pi) = 3.14159 do Ludolf khám phá ra lại là một sự trùng hợp nữa? Các phép toán tính trọng lượng Trái đất được tìm ra và sự chính xác và chu toàn sức chịu của nền đá cho công trình Kim Tự Tháp đơn thuần là trùng hợp ư?

“Không hề có chút manh mối nào cho thấy vì sao vị Pharaoh Khufu đứng ra xây dựng Kim Tự Tháp Cheop lại chọn địa điểm trên vùng đá giữa sa mạc làm nơi an nghỉ của mình. Có thể giểi ở đây sẳn một khe nứt tư nhiên ăn vào nền đá và ông tận dụng để xây dinh thụ đồ sộ của mình; cũng có lối giải thích khác: nơi đây cách cung điện mùa hè của ông ta không xa nên ông dễ dàng theo dõi tiến độ của công việc. Cả hai l‎ý do này đều trái với lẽ thường. Trường hợp thứ nhất không hợp lý vì địa điểm như thế ở xa mỏ đá và lẽ thường vị trí xây dựng cần gần mỏ đá để thu ngắn khoảng cách vận chuyển; trường hợp thứ hai khó hình dung nổi vị Pharaoh lại muốn những năm cuối đời của luôn bị xáo trộn hết năm này qua năm khác, cả ngày lẫn đêm, bởi tiếng ầm ỉ của công việc xây cất.    

“Từ đó quá đủ để nói ngược lại những lời giải thích trong sách về việc chọn địa điểm xây dựng, thứ nhất khá hợp l‎ý khi hỏi có phải ‘các vị thần’ không nói gì với họ cả; thứ hai không nói cả với giới giáo sĩ. Thế nhưng nếu lời giải thích đó được chấp nhận, lý thuyết của tôi về quá khứ Không tưởng của loài người lại một lần nữa có thêm chứng cứ quan trọng. Kim Tự Tháp không chỉ phân chia các lục địa và đại dương làm hai phần bằng nhau, mà nó còn là trọng tâm của các lục địa nữa. Nếu các sự kiện ghi nhận ở đây không phải là điều trùng hợp – và dường như khó tin là như vậy – thì địa điểm xây dựng bởi nhân vật có khả năng hiểu rõ tất cả các hình thể ngoại vi của Trái đất cùng với sự phân bố của các lục địa và đại dương.

“Với sức mạnh nào, với “máy móc” nào, với nguồn kỹ thuật nào mà cả nền đá được đội lên? Các nhà xây dựng bậc thầy này làm thế nào đào các đường hầm sâu xuống đất? Ở đây không có những lăng mộ ăn sâu vào đá cũng không có nguồn cảm hứng hay thứ gì khác tương tự. Ở đây không có vách hay trần đen thui, thậm chí chẳng có dấu vết nhỏ nhoi mnào về điều đó. Vậy các khối đá được cắt như thế nào và với phương tiện gì ở các hầm mỏ đá? Với cạnh sắc bén và mặt nhẵn à? Làm thế nào họ vận chuyển và ghép nối chúng với nhau chính xác đến phần ngàn inch?Có biết bao lời giải thích để tha hồ lựa chọn: mặt nghiêng, và các vết ăn dọc các khối đá khi bị đẩy đi, giàn giáo và giàn trượt. Và dĩ nhiên có cả công sức lao động của hàng trăm ngàn nô lệ Ai cập nữa: nông dân, thợ xây, nghệ nhân.    

“Không có lời giải thích nào đứng vững trước sự khảo sát đầy phê phán. Kim Tự Tháp Lớn (và những di tích?) thể hiện một chúc thư kỹ thuật, thứ kỹ thuật không được lưu truyền đến ngày nay. Ngày nay, ở thế kỷ 20, không nhà kiến trúc nào có thể tái tạo được bản sao của Kim Tự Tháp Cheops, thậm chí cả khi mọi nguồn lực từ khắp các lục địa sẳn sàng cho ông ta sử dụng. 

“2.600.000 khối đá khổng lồ được cắt ở các mỏ đá, lấy ra và chuyển tải, rồi gắn khớp vào nhau nơi công trường xây dựng với độ chính xác phần ngàn inch. Và phía trong sâu, nơi các hành lang, các bức vách được vẽ bằng màu.

“Công trình Kim Tự Tháp là thú chơi ngông của Pharaoh?

“Kích thước kinh điển vô song của Kim Tự Tháp tình cờ đến với nhà xây dựng bậc thầy ư.

“Hàng trăm ngàn thợ thầy đẩy và kéo những khối trọng lượng nặng 12 tấn lên theo giàn trượt có (hay không có) dây và có (hay không có) trục lăn.

“Chủ nhân các người thợ ăn (hay không ăn) ngũ cốc để sống.

“Họ ngủ có (hay không có) lều qua đêm dựng bên cạnh cung điện mùa hè của Pharaoh.

“Có chăng chuyện người thợ nỗ lực làm việc theo tiếng ‘hò dô ta’ thôi thúc qua (hay không có) thiết bị tăng âm và cứ thế các khối nặng 12 tấn đấy ngược lên trời.

“Nếu những người thợ chuyên cần hoàn tất công việc diệu kỳ đặt những khối đá chồng lên nhau với tốc độ 10 khối mỗi ngày, muốn lắp rắp hai triệu rưỡi khối đá để tạo nên một Kim Tự Tháp kỳ vĩ họ phải mất khoảng 250.000 ngày = 664 năm. Vâng, và xin chớ quên rằng toàn bộ sự việc đã hoàn thành theo đúng thú ngông của vị vua quái gỡ, nhưng ngài chẳng kịp thấy sự hoàn tất dinh thự của riêng mình.

“Dĩ nhiên thuyết này không đủ thuyết phục, nghiêm túc mà nói còn lố bịch nữa là khác. Vậy ai có thể ngây thơ đến mức tin rằng Kim Tự Tháp được dựng lên không có mục đích nào khác ngoài việc làm ngôi mộ cho vua chúa. Từ nay ai có thể xem việc truyền các tín hiệu thiên văn và toán học chỉ là chuyện tình cờ?

“Ngày nay chẳng ai dám tranh cãi việc Pharaoh Khufu có phải là người có cảm hứng và là người xây dựng Kim Tự Tháp lớn hay không. Vì sao? Vì tất cả các thư tịch và bi ký‎ đều cho thấy đó là Khufu. Đối với riêng tôi, dường như Kim Tự Tháp không thể xây xong trong một kiếp người. Tôi cho rằng dường như Kim Tự Tháp không thể được dựng dựng xong trong khoảng một đời người. Thế thì sao Khufu lại cố dựng lên những bia k‎ và kinh văn nêu danh tiếng của mình? Chẳng qua đó là một thủ tục thời cổ xưa, nhiều công trình còn in dấu những chứng cứ như vậy. Bất cứ khi nào một lãnh tụ độc tài muốn vang danh mình lên, ông ta cứ việc ra lệnh và chuyện này phải diễn ra. Nếu quả là như vậy thì Kim Tự Tháp đã có trước Pharaoh rất lâu rồi, sau đó ông ta mới ghé đến tham quan.

“Trong thư viện Bodleian Library ở Oxford có tập bản thảo viết bằng chữ Copic, tác giả Mas-Udi khẳng định chính vua Ai Cập Surid đã xây dựng Kim Tự Tháp Lớn. Thật kỳ quặc, Surid là vị Pharaoh trị vì Ai Cập trước thời Đại Hồng Thủy. Vị minh quân Surid đã ra lệnh cho các tu sĩ của ông ta hạ bút viết về sự khôn ngoan của ông và niêm bản văn lại cất trong Kim Tự Tháp. Vậy theo truyền thuyết Copic, Kim Tự Tháp phải xây dựng lên trước thời Đại Hồng Thủy.

“Trong tập 2 cuốn History (Lịch sử), Herodotus có xác định một giả thuyết. Các giáo sĩ vùng Thebes có cho ông xem 341 pho tượng khổng lồ, mỗi tượng tượng trưng cho một đời Đại giáo sĩ vào thời đại cách nay 11.340. Hiện nay chúng ta biết rõ mỗi đời đại giáo sĩ đều có tạc tượng cho mình, và Herodotus cũng cho chúng ta biết rằng trong thời gian ông ta ở Thebes hết giáo sĩ này đến giáo sĩ khác cho ông ta xem bức tượng của mình coi như là bằng chứng giáo sĩ đó luôn theo đúng con đường của tổ sư. Và các giáo sĩ cam đoan với Herodotus chuyện này hoàn toàn chính xác, vì họ đã ghi chép lại mọi chuyện suốt nhiều thế hệ rồi họ giải thích mỗi bức tượng tượng trưng cho một thế hệ và trước 341 thế hệ này từng có những vị thần chung sống với loài người, nhưng sau đó các vị thần không còn trở lại thăm dưới dạng hình hài của loài người nữa.

“Thời kỳ lịch sử của Ai Cập thường được ước tính khoảng 6.500 năm. Vậy sao các tu sĩ không biết hổ thẹn khi nói dối với Herodotus đến khoảng 11.340 năm? Và tại sao họ dám nhấn mạnh các vị thần không còn ở với họ suốt 341 thế hệ? Các chi tiết cụ thể này hoàn toàn vô nghĩa nếu như ‘các vị thần’ không từng chung sống với họ thời quá khứ xa xôi.

“Rồi tiếp nữa chúng ta chẳng biết gì về chuyện làm thế nào, tại sao và khi nào Kim Tự Tháp được xây dựng. Đó là một ngọn núi nhân tạo, cao 490 bộ (feets), nặng 31.200.000 tấn, đứng sừng sửng nơi ấy như một thành tựu khó tin nổi và đền đài đó không dùng cho mục đích nào khác hơn là nơi an táng một vị vua gàn rỡ! Ai cũng có thề tin đó là lời giải thích đúng đắn …   

“Xác ướp của quá khứ xa xôi hiện hiện trước mắt chúng ta như là một bí mật thần bí chất chứa trong đó, cũng là chuyện khó hiểu và chưa có lời giải thích thuyết phục, Nhiều dân tọc khác nhau biết kỹ thuật ướp xác, và các phát kiến khảo cổ cho thấy rõ giả thuyết thời tiền sử con người tin có chuyện quay trở về sống một cuộc đời thứ hai, nghĩa là linh hồn quay trở về với thân xác. Kiến giải này có thể được chấp nhận nếu có chứng cứ trong quá khứ xa xôi nhất cho thấy có thứ triết học tín ngưỡng thời thượng cổ về đức tin có sự quay về lại với thân xác! Nếu tổ tiên thời ăn lông ở lỗ của chúng ta chỉ tin vào sự quay lại của linh hồn, họ sẽ chẳng hoảng sợ đối với cái chết. Thế nhưng các phát hiện trong những lăng mộ Ai Cập hết ví dụ này đến ví dụ khác về chuyện ướp xác để chuẩn bị cho sự quay về với thân xác.

“Vết tích đó nói lên điều gì, bằng chứng đó nói lên điều gì, phải đâu chúng chỉ là những điều phi lý! Các bức họa và các truyền thuyết dân gian vạch ra rằng ‘các vị thần’ sẽ từ các vì tinh tú quay trở lại để đánh thức các thân xác được bảo quản tốt, sẽ sống một cuộc đời mới. Đó là l‎ý do vì sao phải ướp xác và đặt trong phòng quàn như là một dạng nghi thức. Mặt khác, tiền bạc, vàng vòng và những đồ yêu thích tùy táng theo gồm những gì? Có chôn theo những người hầu, hẳn nhiên là chôn sống, như là sự chuẩn bị để tiếp nối cuộc đời cũ qua cuộc đời mới? Các lăng mộ hết sức bền chắc, như là hầm trú bom nguyên tử; có thể tránh được sự tàn phá của thời gian. Đồ qu‎ý giá mang theo họ, tức vàng và ngọc, là những thứ không thể phá hủy ảo. Ở đây tôi không quan tâm tranh luận về việc lạm dụng ướp xác.

“Tôi chỉ quan tâm đến câu hỏi: ai đã đưa ý niệm hồi sinh thân xác vào trong đầu các pharaoh? Và do đâu ý tưởng ban đầu cho rằng các tế bào trong cơ thể phải được bảo quản ở một nơi chắc chắn, sao cho thân xác được đánh thức dậy mấy ngàn năm sau đó và tiếp nới một kiếp sống mới?

“Quan điểm tín ngưỡng về một sự đánh thức huyền bí là như vậy. Liệu khi biết chắc bản chất và thói quan của ‘thần linh’ hơn cả chính mình, các pharaoh có còn bị coi là có ‎ý tưởng điên rồ nữa hay không khi nói: ‘Ta phải được an táng ở một nơi của riêng ta, nơi không bị phá hủy suốt hàng ngàn năm và các vị thần sẽ trở lại và đánh thức ta dậy (hay một thầy thuốc trong tương lai sẽ khám phá ra cách làm ta sống lại)’.”

Cách đặt vấn đề của tác giả nghe qua hữu l‎ý, dễ được những tâm hồn thích chuyện ly kỳ tán thưởng. Nhưng xét cho kỹ có nhiều điểm cần suy nghĩ lại, xin dẫn một vài ví dụ:

Thứ nhất, khi đang nói về Kim Tự Tháp, tác giả quay qua lăng mộ: “Giữa lăng mộ của vua Tety hồi triều đại thứ 6 và lăng mộ của Rameses I thời Vương Quốc Mới cách xa nhau chí ít 1.000 năm chẳng có gì khác biệt nhau về kỹ thuật xây dựng. Rõ ràng người Ai Cập chẳng học được thêm điều gì mới để bổ sung cho kỹ thuật xưa cũ. Thực ra mà nói các dinh thự càng gần thời đại chúng ta càng nhiều sự sao chép nghèo nàn từ mô thức thời xa xưa[1]. Tác giả bỏ qua khoảng giữa là thời kỳ Kim Tự Tháp, nghĩa là thủ tiêu giai đoạn tiến hóa từ lăng mộ đất phơi qua Kim Tự Tháp tháp đá, rồi từ Kim Tự Tháp đá thoái lùi về hang mộ khoét trong núi đá do sự bất ổn xã hội và sự suy yếu của triều đình Pharaoh. Chưa kể Kim Tự Tháp có sự tiến hóa từ Kim Tự Tháp nấc thang qua Kim Tự Tháp mặt cong rồi mới đến Kim Tự Tháp đúng nghĩa hình chóp;

Thứ hai: Các khối đá tác giả đưa vào tính toán nặng tới 12 tấn, trong khi thực tế bình quân chỉ 4-5 tấn và càng lên cao khối đá càng giảm trọng lượng đi. Ngoài trọng lượng sai lệch trên, để chứng minh nếu không có sự trợ giúp của người ngoài Trái đất, ông cho rằng một đời người của Pharaoh Khufu không thể hoàn tất công trình này. Ông viết: “Nếu

những người thợ chuyên cần hoàn tất công việc diệu kỳ đặt những khối đá chồng lên nhau với tốc độ 10 khối mỗi ngày, muốn lắp rắp hai triệu rưỡi khối đá để tạo nên một Kim Tự Tháp kỳ vĩ họ phải mất khoảng 250.000 ngày = 664 năm.[1] Vâng, tính toán này sẽ đúng nếu đội thợ thực hiện Kim Tự Tháp chỉ khoảng trăm người. Tác giả cố tình bỏ qua khả năng có thể huy động nhân lực của các Pharaoh và quên xét đến di chỉ nghĩa trang của các công nhân xây dựng Kim Tự Tháp còn lưu lại quanh Kim Tự Tháp Cheop. Đặc biệt mâu thuẫn với một câu tác giả đã viết: “Hàng trăm ngàn thợ thầy đẩy và kéo những khối trọng lượng nặng 12 tấn lên theo giàn trượt có (hay không có) dây và có (hay không có) trục lăn [2]. Có lý đâu hàng trăm ngàn người mỗi ngày chỉ hoàn thành 10 khối đá, để kéo dài công trình 664 năm.

Thứ ba, tác giả dẫn các thư tịch cổ, truyền thuyết dân gian, như là bằng chứng “không thể chối cãi”. Thật ra, ngoài những sai lạc do tư tưởng thần bí thời xưa, các bản văn cổ luôn có cú pháp mập mờ có thể giải thích theo nhiều chiều hướng khác nhau. Thường khi sử dụng thư tịch cổ phải so sánh và đối chiếu chúng với nhau rất nhiều lần mới có thể tạm xác tín điều gì đó. Kỹ thuật viết của tác giả chỉ trích dẫn tủn mũn một vài đoạn thích hợp với điều tác giả muốn. Ví dụ việc ướp xác như đã trình bày xuất phát từ tín ngưỡng có sự phán xét ở dưới âm phủ, và cuộc sống thứ hai chính là cuộc sống trên thiên đường như đã nói ở phần đầu. Vì tin cuộc sống thứ 2 ở trên trời nên các Kim Tự Tháp đều có trục Bắc-Nam. Điều này được tác giả giải thích sẽ có người ngoài Trái đất đến làm sống lại.

Cách chứng minh như thế này là kiểu chứng minh “cho phù hợp với mục đích mình cần thuyết phục”. Tất nhiên như vậy thiếu tính khách quan cần thiết, vì sự “cắt khúc” và “bỏ sót” làm vấn đề nhiều khi quay ngược 1800. Đặc biệt kỹ thuật viết theo thể tài này được tác giả khai thác rất tốt: lối văn nửa hoài nghi nửa châm biếm, pha chút ‘khoa học’ có tính huyền hoặc. Nó có tác dụng lôi cuốn người đọc đi theo dòng lập luận của tác giả và cách nêu luận cứ có tính rời rạc nhưng rối nùi đến khó hiểu làm cho người đọc mất đi sức phán đoán. Tất cả cộng hưởng trở thành “rất thuyết phục”.

Hẳn tác giả cũng không nêu được hình ảnh nào khả dĩ thuyết phục cho thấy có người ngoài Trái đất tham gia xây dựng Kim Tự Tháp, nhưng tác giả viện dẫn ngoại suy hình ảnh nơi khác để liên tưởng có những cuộc đổ bộ xuống trái đất thời kỳ nhân loại còn mông muội. Nơi khác có hình ảnh của người ngoài Trái đất ghé thăm thì Ai Cập có lý‎ đâu là ngoại lệ với một công trình vĩ đại Kim Tự Tháp vào thời kỳ con người còn sơ khai. Phương pháp ngoại suy của tác giả trưng ra một số bằng cớ.

a.- Bức chạm trong ngôi đền Kim Tự Tháp của người Mayas ở Palenque, Mê-hi-cô

Tác giả chú: “Bức vẽ này thể hiện trong ngôi đền. Có thể nào trí tưởng tượng của người thời nguyên thủy thể hiện lại hình ảnh giống một cách kỳ lạ người phi hành gia đang ở trong con tàu sắp phóng? Ở cuối hình vẽ lại ngọn lửa và khí phụt ra từ động cơ đẩy. ” Và so sánh bới hình dưới đây kèm lời chú:

Phi hành gia Mỹ ngày nay cũng có tư thế giống hệt, tay điều khiển thiết bị còn mắt theo dõi kiểm tra.”

b.- Bức hình tìm thấy ở Ý

Tác giả chú: “Bức hình này xuất xứ từ Val Camonica, miền Bắc nước Ý, thể hiện hình ảnh người thời tiền sử lại có vành bánh răng đội trên đầu một cách dị thường.

c.- Hình vẽ ở sa mạc Sahara: hình này khá giống phi hành gia mặc đầy đủ trang phục khi ra khỏi phi thuyền:

Và ông đi đến kết luận đó chỉ có thể là người ngoài Trái đất đã từng đến viếng thăm Trái đất thời xa xưa.

*****

Trở ngược lại áp dụng phương pháp phản chứng hỏi tác giả: “Những nơi khác còn lưu lại dấu vết người ngoài Trái đất, có l‎ý đâu suốt mấy ngàn năm xây dựng Kim Tự Tháp, lại là Trung tâm Du hành, mà người AI CẬP không lưu lại vết tích gì của người khách đến từ không gian?” Rõ là Erich Von Daniken khó trả lời xuôi?

Dù sao nhiều câu hỏi của tác giả đã nêu nhiều bí ẩn về Kim Tự Tháp mà các nhà khoa học còn phải làm việc nhiều mới giải đáp nổi. Câu chuyện về Kim Tự Tháp vẫn còn dài. Thú thật vấn đề này vượt ngoài tầm hiểu biết của tôi, xin chờ bậc cao minh chỉ giáo.

**************************************************

[1] Cuốn sách này xuất bản bằng tiếng Đức năm 1968 và dịch qua tiếng Anh năm 1969. Vào đầu thập niên 1970 một số tạp chí ở Sài Gòn có trích dịch lại.

[2] There is no difference between the tomb of Tety from the sixth dynasty and the tomb of Rameses I from the New Kingdom, although there is a minimum of 1,000 years between the building of the two tombs. Obviously the Egyptians had not learnt anything new to add to their old technique. In fact the more recent edifices tend increasingly to be poor copies of their ancient models.

[3] If the industrious workers had achieved the extraordinary daily piece rate of ten blocks piled on top of each other, they would have assembled the two and a half million stone blocks into the magnificent stone pyramid in about 250,000 days = 664 years.

[4] Several hundred thousand workers pushed and pulled blocks weighing 12 tons up a ramp with (non-existent) ropes on (non-existent) rollers.

Còn tiếp

Xin vui lòng liên hệ với tác giả Đức Chính :

<ducchinhfriends@yahoo.com.vn>

trước khi sao chép các tư liệu trên .

 

MỤC LỤC – KIM TỰ THÁP

Read Full Post »

Bài 4: Chuyện bên lề Kim Tự Tháp Ai Cập

Biên khảo: Đức Chính

2.- Lời nguyền Pharaoh

Lời nguyền Pharaoh (còn gọi là Lời nguyền của xác ướp hay Lời nguyền của vua Tut) là một huyền thoại thời hiện đại, xuất hiên vào đầu thế kỷ 20. Chẳng ai biết nó đi ra từ miệng người nào, nhưng có một thời các cơ quan thông tin trên thế giới đua nhau đưa tin và bàn luận. Càng bàn luận sự việc càng phủ lên một màu sắc thần bí, bên cạnh có một xu hướng chứng minh phản bác sự thần bí đó.

Dù không biết bắt đầu từ ai, nhưng chắc hẳn từ đoàn thám hiểm ngôi mộ vua Tut (viết đầy đủ là Tutankhamun[1]), hay chí ít cũng từ những người có liên quan. Quả chuyến thám hiểm lăng mộ vị Pharaoh này có nhiều biến cố khá ly kỳ và bi thảm. Những biến cố đó xảy ra tương đối khá dồn dập trong thời gian ngắn cùng với câu chữ khắc ở lăng mộ vị đế

vương này: “Kẻ nào khuấy động sự bình yên của Pharaoh sẽ phải chết[1]. Câu này trở thành chất men khá mạnh tạo ra những lời đồn đoán về “Lời nguyền Pharaoh”.

Các sự kiện biên niên như sau:

  • Ngày 4 tháng 11 năm 1922: phát hiện ra lăng mộ chưa bị xâm phạm của vua Tutankhamon;
  • Ngày 26 tháng 11 năm 1922, Carter cùng Bá tước Carnarvon xâm nhập vào trong lăng mộ;
  • Ngày 18 tháng 12 năm 1922, Burton, Hauser và Hall đến Breasted để bắt tay vào việc;
  • Ngày 17 tháng 2 năm 1923, mười bảy người tham gia khai mở lăng mộ.
  • Ngày 5 tháng 4 năm 1923, Bá tước Carnarvon qua đời ở tuổi 57 do bị muỗi độc đốt[2], tức 4 tháng 7 ngày sau ngày khai mở lăng mộ;
  • Tháng 5 năm 1923, giáo sư La Fleur, nhà khảo cổ học người Canada, bạn thân của Carter, qua đời;
  • Ngày 26 tháng 9 năm 1923, sáu tháng sau ngày Bá tước Carnarvon chết, đại tá Aubrey Herbert, anh em dị bào với Carnarvon, qua đời ;
  • Năm 1924, giáo sư Hugh Evelyn-White, cộng sự của Carter và là người đầu tiên đặt chân vào bên trong lăng mộ, qua đời vì chứng suy nhược thần kinh;
  • Cùng năm, Archibald Douglas Reed, chuyên viên X-quang của chính phủ Ai cập, người có nhiệm vụ chụp X-quang xác ướp vua Tutankhamun, qua đời;
  • Năm 1926, nữ y tá chăm sóc cho ông Carnarvon, qua đời;
  • Năm 1928, nhà học giả khảo cổ người Anh Arthur C. Mace, người phụ giúp Carter hạ bức tường của phòng quàn xác ướp xuống, chết không rõ nguyên nhân;
  • Năm 1929, Quý‎ bà Almina, vợ quá của Bá tước Carnarvon, qua đời;
  • Năm 1929, thư k‎ý riêng của Carter, Richard Bathell, 35 tuổi, được phát hiện chết trên giường, rõ ràng có triệu chứng tai biến mạch máu;
  • Ngày 2 tháng 3 năm 1939, Howard Carter qua đời ở tuổi 64;
  • Năm 1967, Mohammed Mehri, Giám đốc Phòng Cổ vật Ai Cập ở Viện Bảo Tàng Cairo, đột tử vì xuất huyết não sau khi k‎ý thỏa thuận mang kho báu của vua Tut sang trưng bày ở Petit Palais, Paris;
  • Tháng 2 năm 1972, Gamal Mehrez, người kế nhiệm Mohammed Mehri, cũng qua đời do xuất huyết não ngay sau khi k‎ý kết cho trưng bày ở Luân Đôn;
  • Năm 1980, quý bà Evelyn Herbert qua đời.

Bên lề dòng sự kiện trên còn có những việc có thể coi là trùng hợp cũng có thể coi là điềm báo trước, chẳng ai dám bảo quan điểm nào là sai. Sau khi có quá nhiều cái chết bí hiểm, người ta mới lần hồi nhớ lại những sự kiện: trên đường tới lăng mộ, chiếc xe chở đoàn nghiên cứu sém chút nữa thì đâm phải một em bé; rồi bất thần cơn bão dữ dội ập đến; chiếc máy x-quang vốn luôn hoạt động tốt bổng trở chứng; Howard Carter bị rắn hổ trong lăng mộ cắn; …

Thế là báo chí rầm rộ đưa tin về “Lời nguyền của Pharaoh”. Arthur Conan Doyle là người đi đầu trong việc thâu thập tin tức liên quan đến cái chết của bá tước Carnarvon đưa lên báo. Lúc đó, nguyên nhân cái chết và những vấn đề liên quan chưa được nghiên cứu sâu, nên luồng dư luận càng ngày càng dâng cao. Họ cũng liệt kê trong vòng 12 năm có đến 27 người liên quan trực tiếp lẫn gián tiếp chết vì lời nguyền. Đến mức có thời điểm trở thành một huyền thại thời hiện kim.

Giới khoa học bắt tay vào nghiên cứu giải thích. Hiện có lời giải thích như sau:

Trong số các nạn nhân trong vụ này, tỷ lệ số người chết do ngạt vì sưng phổi cao. Bác sĩ Geoffrey Dean ở bệnh viện Port Elizabeth, Nam Phi, cho rằng những người chết là một loại virus nằm ẩn trong lăng mộ ngót 3.000 năm. Nhưng lý giải này sớm bị bác bỏ vì virus gây bệnh trên người chỉ có thể tồn tại trên cơ thể sống chứ không thể trên xác chết. Bác sĩ Caroline Stenger-Philipp đưa ra lời giải thích dễ chấp nhận hơn: theo những dấu hiệu ông ta có, thủ phạm thực sự là những chất hữu cơ mai táng theo cùng vị Pharaoh này theo tục lệ của người Ai Cập cổ đại. Qua nhiều thế kỷ, những chất hữu cơ này bị phân hủy và sản sinh ra loại nấm mốc cũng như những hạt bụi hữu cơ có tính dị ứng nguyên rất mạnh. Những thứ này khiến nạn nhân có cái chết bí hiểm.

Bằng chứng là vào năm 1985 khi sửa sang xác ướp vua Ramses II, các phân tích cho thấy trên xác ướp có nhiều loại nấm mốc[1]. Khu mộ của vua Tut theo mô tả của Carter có đủ độ ẩm để các loại nấm mốc này cư trú. Thêm nữa, không khí trong phòng quàn xác ướp ngột ngạt, có mùi hôi từ xác ướp bốc ra và họ hít vào phổi khá nhiều bụi mịn. Các loại nấm mốc phát hiện trên xác ướp vua Ramses II rất nguy hiểm đối với con người, phù hợp với triệu chứng “viêm phổi có ngưng kết tố, xung đột miễn dịch – dị ứng do hít phải các hạt có nguồn gốc động thực vật mang tính dị ứng nguyên” của các nhà khảo cổ. Đó bệnh do loại nấm có tên khoa học Histoplasma capsulatum gây ra, biểu hiện triệu chứng viêm phổi cấp.

Tuy có vẻ hợp l‎ý nhưng giả thuyết này cũng bị phản bác: nếu nguyên nhân là do nấm mốc vương vải khắp trong lăng mộ, vậy tại sao suốt nhiều tuần sau khi khai mở rất nhiều nhà khảo cổ, nhà Ai Cập học, phóng viên khác, … và cả Nữ Hoàng Bỉ[1] đến tham quan chẳng ai bị việc gì? Người ta lại viện dẫn khi mới khai mở trong lăng mộ có nhiều loại khí độc[2], sau đó vài tiếng không khí ở ngoài tan đi. Sự viện dẫn này không thuyết phục sự kiện: ông Carter (người phát hiện lăng mộ và là một trong những người đầu tiên vào bên trong lăng mộ sau khi khai mở) và qu‎ý bà Evelyn Herbert (con gái bá tước Carnarvon, cũng là một trong những người bước vào trước tiên) đều có mặt bên trong lăng mộ rất lâu sao lại không bị nấm mốc và khí độc gây bệnh. Cả hai sống rất nhiều năm sau đó: Howard Carter mất năm 1939, thọ 64 tuổi và Evelyn Herbert mất năm 1980[3]. Khí độc không hề cho ai “miễn nhiễm” và chẳng đợi cả năm sau mới phác tác. Hơn nữa các triệu chứng viêm phổi của những nạn nhân không thể giải thích bằng khí độc.

Những người bảo vệ thuyết “Lời nguyền của Pharaoh” lại nêu trường hợp hai cái chết giống nhau, trong một hoàn cảnh giống nhau của hai vị giám đốc viện Bảo Tàng Cairo: Mohammed Mehri (1967) và Gamal Mehrez (1972). Phải chăng chỉ đơn thuần là một sự trùng hợp? Có điều năm 2005 kho báu vua Tut được đưa qua Hoa Kỳ mà không gây cái chết theo “Lời nguyền” nào. Lời nguyền cũng có ngoại lệ ư?

Như đã nói từ đầu, vấn đề vượt quá tầm hiểu biết của tôi, xin để bậc cao minh luận giải.



[1] Vua tut lên ngôi năm 13 tuổi, băng hà năm 18 tuổi. Tuy thời gian trị vì ngắn ngủi và còn nhỏ tuổi nhưng vương triều của ông là một trong những vương triều thịch trị nhất của AI Cập cổ đại. Cương thổ thời ấy mở rất rộng, hoàng thất sống vương giả với nhiều vàng bạc châu báu chiến lợi phẩm. Đó là nhờ dưới triều này có nhiều anh tài phò tá, đặc biệt võ tướng Djehuty.

[2] Câu này có ghi ở nhiều lăng mộ khác nhưng không thấy ứng lời nguyền như ở lăng mộ vua Tut. Luận cứ này nhằm phản bác truyền thuyết “Lời nguyền Pharaoh”.

[3] Bệnh án ghi do côn trùng trong lăng mộ Pharaoh đốt gây nhiễm trùng huyết và sưng phổi, rồi chết.

[4] Hai loại nấm độc nhất là Aspergillus nigerAspergillus flavus. Các nhà khoa học còn nói đến hai loại vi khuẩn nguy hiển khác là StaphylococcusPseudomonas.

[5] Theo lý thuyết xác suất điều này không thể xảy ra nếu như nấm mốc và vi khuẩn là thủ phạm gây chết cái chết của những người trong cuộc. Không thể tất cả những người tham quan đều có sức miễn cao hết và các nhà khai quật đều yếu về miễn nhiễm. Cũng không thể nói trong mấy tuần sau đó nấm mốc đã biến mất vì thực tế cho thấy chúng tồn tại rất lâu trong môi trường như thế.

[6] Các khí độc đó là amoniac, H2S… thường sinh ra do phân hủy chất hữu cơ ở nơi ít không khí.

[7] Luận điểm này bị phản bác ngược lại: nếu lời nguyền linh ứng thì Carter phải là người phải hứng trước tiên. Thế sao ông ta sống thọ vậy.

Còn tiếp .
Xin vui lòng liên hệ với tác giả Đức Chính :

<ducchinhfriends@yahoo.com.vn>

trước khi sao chép các tư liệu trên .



Read Full Post »

Bài 4: Chuyện bên lề Kim Tự Tháp Ai Cập

Biên Khảo : Đức Chính

Kim Tự Tháp Ai Cập vừa kỳ vĩ vừa huyền bí, nên chẳng lạ gì khi xung quanh nó nhiều chuyện bên lề. Những câu chuyện này vừa minh họa thêm nét tinh hoa của nền văn minh Ai Cập Cổ đại, vừa làm thỏa mãn lòng hiếu kỳ của con người.

Chúng ta sẽ lần lượt nhìn qua từ câu chuyện hết sức khoa học đến câu chuyện mang tính huyền bí hoang đường.

1.- Khám phá chữ viết Ai Cập cổ

Rõ ràng nhiều bí mật của Kim Tự Tháp sẽ không có lời giải đáp nếu không giải mã được ngôn ngữ chạm khắc trên vách, trong vách và trên các bia k‎ý khai quật được. Tuy vậy, đến nay tuy đã giải mã được khá hoàn hảo nhưng bí ẩn Kim Tự Tháp vẫn còn bao trùm. Hiểu ngôn ngữ Ai Cập cổ chỉ mới là một trong nhiều công cụ phục vụ khám phá bí ẩn quanh nó mà thôi. Trước hết chúng ta bắt đầu từ biến cố ngẫu nhiên đến công trình giải mã nó và cuối cùng là khái niệm chữ Ai Cập cổ.

a.- Bia đá Rosetta

Tuy nhiên chữ cổ Ai Cập quả là bí hiểm. Thuở ban đầu không ai hiểu nổi những bức chạm khắc ngoằn ngoèo xen kẻ các hình chạm chân phương trên vách Kim Tự Tháp cả. Thậm chí có người còn cho đó là hình vẽ mô tả cuộc sống thời đó chứ không phải là chữ. Thế rồi tình cờ một tia sáng giải mã đầu tiên lóe lên. Thú vị nó lại xuất phát từ một tấm bia đá mang tên Rosetta. Bia đá này được tìm thấy ở khu di chỉ Sais thuộc vùng Rosetta vào tháng 7 năm 1799. Nó được Bouchard phát hiện không phải trong cuộc khai quật, mà ở pháo đài Julien theo cách gọi của quân Pháp thời bấy giờ. Lúc ấy nó được dùng làm đồ dằn khi tàu thuyền cặp bến cảng này.

Một lần tình cờ Bouchard nhìn thấy bia đá này, nhưng điều làm ông sửng sốt là trên bia đá đó có khắc loại chữ cổ Ai Cập xem lẫn chữ Hy Lạp cổ. Dưới ánh mắt nhà khoa học, một ‎ý niệm nảy lên: “Có hai loại chữ tức là có khả năng so sánh để giải mã chữ cổ Ai Cập.” Sau đó, theo Hiệp ước Alexandria công của người khám phá bị phủ nhận, nó trở thành tài sản của nước Anh và được đưa về Viện Bảo Tàng Luân Đôn, mang mã số EA 24 (khu cổ vật Ai Cập). Tuy nhiên, nó được in rập thành nhiều bản, mang tên văn bản Akerblad và đã trao đến tay rất nhiều nhà nghiên cứu.

Bia đá Rosetta sau khi được giải mã mới biết đó là bản khắc một “sắc luật”, gọi là sắc luật Memphis. Khi vua Ptolemy V[1] đăng quang, ông cho dựng bia sắc luật này tuyên cáo dưới sự trị vì của ông toàn dân phải “tôn thờ thần linh”. Ngày tháng ghi trên bia đó là ngày “4 tháng Xandicus” theo lịch của người Macedonian, tức ngày “18 tháng Meshir” theo lịch Ai Cập; phiên ra theo lịch ngày nay là ngày 27 tháng 3 năm 196 trước Công Nguyên[2]. Trong bia có thuật lại trong 9 năm cầm quyền của vua, nước sông Nil dâng lũ lên rất lớn, mùa màng bị hư hại nhiều. Vì thế, các tu sĩ ở Memphis (vì thế có tên này) cầu xin vua tổ chức cúng tế các vị thần Ai Cập để họ phù hộ. Vua nghe theo, ban sắc luật này và lệnh cho dựng bản sao ở các đền miếu; trong đó chạm “chữ của thần linh” (tức chữ cổ Ai Cập) và “chữ của thường tục” (tức chữ Hy Lạp) đang được triều đình dùng.

b.- Giải mã chữ Ai Cập cổ đại

Người đầu tiên lao vào việc giải mã này là bá tước người Pháp Antoine Isaac Sylvestre de Sacy. Thất bại, nó được chuyển qua tay nhà nghiên cứu Thụy Điển Johan David nhưng không đi đến thành tựu gì, chỉ phỏng đoán chữ cổ Ai Cập cấu tạo bởi các mẫu chữ cái. Đến năm 1814, nhà bác gọc người Anh tên Thomas Young đi vào nghiên cứu lại ra kết luận phản bác Johan David: chữ Ai Cập không là chữ ghép bởi các chữ cái, nó là thứ chữ tượng hình. Cùng nhiều học giả khác theo đuổi, có người làm việc độc lập có người cộng tác với nhau, công cuộc giải mã không hoàn toàn thành tựu: các bia ký‎ vẫn chưa đọc được và giải thích thỏa đáng.

Phải đến nhà ngôn ngữ học thiên tài trẻ tuổi người Pháp, Jean-France Champollion (học trò của Sylvestre de Sacy), bức màn bí mật mới được vén lên tương đối sau 14 năm nghiên cứu. Champillion là một nhà cổ ngôn ngữ học uyên bác, từ thời thiếu niên ông đã am tường chữ hữ Copic (thứ chữ Á Rập cổ)[3]; Ai Cập mới, và chữ cổ Do Thái (hebreux); sau này nghề nghiệp còn dẫn ông đến ngôn ngữ Syria, Chaldae, Hán, Phạn, Zend, Pahlavi, Parsee, … và một số thứ tiếng khác. Vốn liếng này hỗ trợ ông khá nhiều trong công cuộc giải mã chữ Ai Cập Cổ vì một số tính chất chung trong cấu tạo ngôn ngữ của những vùng địa l‎ý tương đối không xa nhau lắm này. Kiến thức về các cấu trúc ngôn ngữ khác nhau cũng giúp ông lần mò giải đáp những nghi hoặc về chữ cổ Ai Cập. Đầu tiên, Jean-François Champollion, đã chứng minh được từ “Kleopatra” (tên nữ hoàng clê-ô-pát) viết bằng chữ cổ Ai Cập như thế nào. Sau đó vận dụng kiến thức về ngôn ngữ Copic ông đã phỏng định một số biểu tượng trong chữ cổ Ai cập có thể phát âm giống như trong chữ Copic.

Cũng như Thomas Young, ông kết luận chữ cổ Ai Cập là một thứ chữ tượng hình, nhưng có điểm khác không hoàn toàn là thứ chữ tượng hình: đó là thứ chữ vừa tượng hình vừa biểu ý. Một chữ tượng hình ngoài nghĩa thông thường nó cần biểu hiện, còn mang một ý nghĩa trừu tượng theo quan niệm xã hội thời đó về đối tượng đượng tượng hình. Nhiều ý niệm trừu tượng khác được thể hiện bằng hai hay nhiều chữ tượng hình ghép lại. Tính cách biểu ý như thế dĩ nhiên không có quy tắc cụ thể, nó thay đổi và có sự khác biệt vào từng vương triều dù ít nhiều vẫn có nét chung. Chính vì vậy không thể hoàn toàn giải mã toàn bộ cùng một lúc các từ cổ của chữ Ai Cập, và công viêc giải mã đến nay vẫn còn tiếp tục thực hiện.

Ngày nay, các công trình nghiên cứu của những người kế tục còn cho thấy thông qua chữ Ả Rập (có nguồn gốc từ chữ Copic) đã ảnh hưởng và tồn tại trong ngôn ngữ nền văn minh phương tây. Ví dụ từ “Perilune” (tiếng Pháp: périlune), có nghĩa là điểm trên quỹ đạo xoay quanh Mặt trăng và nằm gần Mặt trăng nhất (điểm cận nguyệt); từ này gốc tiếng Á rập Pirâmâh, gồm pirâ- (nằm gần bên) + mâh (Mặt trăng). Nền thiên văn học Á Rập chẳng qua là phiên bản từ thiên văn học Ả Rập cổ đại, hai thành tố từ trên được trại ra từ tiếng Copic, hay nói khác đi là từ tiếng Ai Cập cổ đại biến thể. Rất nhiều từ khoa học của phương Tây có nguồn gốc Á Rập, truy nguyên sẽ thấy có cội nguồn từ tiếng Ai Cập cổ đại

Chính nhờ sớm thừa kế nền văn minh Ai Cập cổ đại (người La Mã không thụ lãnh được nhiều để mang về Phương Tây) mà nền khoa học Hồi Giáo á Rập có một thời sáng chói, vượt xa nền văn minh Công giáo Phương Tây. Đến khi có sự tiếp cận thư viện Alexandria sau những cuộc chiến Thập Tự Chinh, Phương Tây mới biết đến những kiến thức khoa học đã giúp dân Á Rập hùng mạnh và bắt chước theo.

Công trình của ông được phác thảo lần đầu tiên trong cuốn Précis du Système Hiéroglytique[1] (tạm dịch: Khái Luận Hệ Chữ Cổ Hy Lạp). Sau đó ông trình bày cụ thể hơn trong bản thảo cuốn Grammaire (Ngữ Pháp) khoảng vào năm 1836-1841và Dictionnaire (Từ Điển – 1841-1844) chuyên về loại chữ này. Các tác phẩm sau chỉ được xuất bản khi ông đã qua đời.

c.- Chữ Ai Cập cổ đại

Chữ cổ Ai Cập có cấu tạo bao gồm nhiều hình ảnh và biểu tượng, được dùng ròng rã gần 3500 năm (từ năm 3300 trước Công nguyên đến hết thế kỷ thứ 4 sau Công nguyên). Ngoài những bia đá và bức chạm trên vách, quách và quan tài trong Kim Tự Tháp mang tính chất tín ngưỡng, thứ chữ cổ này còn được dùng trong các văn bản chính thức của các vương triều. Bản văn chữ cổ Ai cập hiện được coi là có niên đại cuối cùng được xác định vào năm 394 sau Công nguyên.


[1] Nhiều tác giả dịch Hiéroglytique là “chữ tượng hình”, cách dịch này không bao hàm hết ‎ý nghĩa của vấn đề vì thứ chữ này không đơn thuần là hình vẽ mô tả một nghĩa muốn trình bày. Tôi tạm dùng một cách khiên cưỡng “chữ Ai Cập cổ”, mong bạn đọc thông cảm.

Trong chữ cổ Ai Cập, một số biểu tượng mang nghĩa độc lập, bên cạnh có những biểu tượng dùng để phụ hội nghĩa. Ngoài ra, một số từ Ai Cập cổ chỉ có công dụng để phát âm giống như kiểu bộ mẫu tự La Mã. Thêm nữa, một số từ lại mang rất nhiều nghĩa như từ “cái chân” còn có nghĩa là “đi”, “chạy”, “lui tới”, …  Ngữ nghĩa của chữ Ai Cập cổ mang tính biểu ‎ý như thế rất nhiều, thậm chí còn biểu ‎ý theo tâm l‎ý xã hội riêng của thời đó: ví dụ, người Ai Cập cổ đại tin rằng “con ngỗng mái có lòng thương con cao nhất trong số các loài vật”, nên từ “ngỗng mái” biểu ‎ý cho “tình mẫu tử”. Lối biểu ý[1]‎ này khá phổ biến trong Hán ngữ, nên sự hiểu biết ngôn ngữ Trung Hoa góp phần không nhỏ trong việc giải mã tiếng Ai Cập cổ đại. Đặc biệt tên các vị pharaoh và tên các vị thần thường nằm trong nột vòng khuyên, gọi là “vòng tên”. Cũng chính vì tính phức tạp đó, cho đến tận ngày nay tuy đã giải mã được khá nhiều, nhưng vẫn còn không ít từ chưa thể vượt qua.

 

Bộ mẫu tự phát âm tiếng Ai cập cổ


Biểu tượng

Ý nghĩa

Âm theo tiếng Anh

Kên kên Âm A ngắn, ví dụ chữ “cat
Cánh tay Âm A dài, ví dụ chữ “table
Chân Âm B nặng, ví dụ chữ “big
Cái giõ Âm C (K) nặng, ví dụ chữ “call
Sợi dây Âm CH, ví dụ chữ “children
Bàn tay Âm D nặng, ví dụ chữ “dog
Hai lá sậy Âm E dài, ví dụ chữ “lead
Kên kên Âm E ngắn, ví dụ chữ “met
Rắn lục sừng Âm F, ví dụ chữ “flower
Giá lọ Âm G nặng, ví dụ chữ “gap
Rắn hổ Âm G nhẹ, ví dụ chữ “generous
Chỗ trú, Dây Âm H, ví dụ chữ “he, who
Lá sậy Âm I ngắn & dài, ví dụ chữ “him, I’m
Rắn hổ Âm J, ví dụ chữ “jelly
Giõ, Sườn đồi Âm C hay K nặng, ví dụ chữ “kind, Christmas, lack
Miệng Âm L, ví dụ chữ “lisp, linger
Chim cú Âm M, ví dụ chữ “milk, dumb
Nước Âm N, ví dụ chữ “none
Cút con Âm O dài, ví dụ chữ “lose, moon
Kên kên Âm O ngắn, ví dụ chữ “brought, got
Dụng cụ Âm P, ví dụ chữ “pretty
Rắn lục sừng Âm PH, ví dụ chữ “pharaoh
+ Giõ + Cút Âm Q, ví dụ chữ “queen
Miệng Âm R, ví dụ chữ “red
Vải gấp Âm S, (C nhẹ), ví dụ chữ “silly, peace
Hồ nước Âm SH, ví dụ chữ “shilling
Ổ bánh mì Âm T, ví dụ chữ “talk
Bụng bò Âm TH nhẹ, ví dụ chữ “moth
(chưa biết) Âm TH nặng, ví dụ chữ “there
Cút con Âm U ngắn, ví dụ chữ “lull
+ Sây + Cút Âm U dài, ví dụ chữ “rule
Rắn lục sừng Âm V, ví dụ chữ “villain
Cút con Âm W, ví dụ chữ “will, where, when
+ Giõ + Vải Âm X, ví dụ chữ “fox
Lá sậy Âm Y ngắn, ví dụ chữ “yes
Hai lá sậy Âm Y dài, ví dụ chữ “tarry
Then cửa Âm Z mạnh, ví dụ chữ “xylophone, zany

Cú pháp của chữ Ai Cập cổ lại viết theo ba kiểu: một cách viết từ trên xuống dưới, một cách viết từ phải qua trái và một cách từ trái qua phải. Vậy làm sao biết được một văn bản viết theo cú pháp dọc hay ngang; nhất là khi nào viết từ phải qua trái và khi nào viết từ trái qua phải?

Có một quy tắc mà ngay người không biết chữ Ai Cập cổ vẫn xác định được chỗ bắt đầu và nơi kết thúc một câu, dĩ nhiên không thể hiểu được câu đó nói gì.

Nguyên tắc đó là ở mỗi đầu câu đều bắt đầu một hình vẽ. Ví dụ trên một bảng văn có hình người đàn ông ngồi hướng mặt về bên phải, câu đó đọc từ trái qua phải. Hai trường hợp kia cũng tương tự.

Chính sự phức tạp này mà nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ cổ chào thua. Nhưng dù sao cũng đã giải mã được khá nhiều, qua đó tên các vị pharaoh chủ nhân các Kim Tự Tháp được xác định. Cùng chính vì đọc được chử cổ Ai Cập mà phát sinh truyền thuyết “Lời nguyền Pharoh” sắp nói tới đây.

(còn tiếp)



[1] Lúc này Ai Cập bị đế quốc La Hy cai trị. Vua Ptolemy V là một người Hy Lạp. Chính vì vậy nó được khắc ba ngôn ngữ để mọi thần dân đều đọc được và cũng chính vì thế mới giải mã được chữ cổ Ai Cập.

[2] Năm đó là năm thứ 9 theo niên hiệu vua này.

[3] Hồi giáo Á rập tiếp thu rất nhiều nền văn minh Ai Cập và Hy Lạp thời cổ đại, trong có ảnh hưởng chữ viết không nhỏ. Do vậy, chữ Copic là một nền tảng quan trọng để giải mã.

[4] Nhiều tác giả dịch Hiéroglytique là “chữ tượng hình”, cách dịch này không bao hàm hết ‎ý nghĩa của vấn đề vì thứ chữ này không đơn thuần là hình vẽ mô tả một nghĩa muốn trình bày. Tôi tạm dùng một cách khiên cưỡng “chữ Ai Cập cổ”, mong bạn đọc thông cảm.

[5] Trong ngôn ngữ học còn dùng từ “tượng ý” để thay cho “biểu ý”, tức hình tượng ra ý.

 

 

MỤC LỤC – KIM TỰ THÁP

Read Full Post »

Bài 3: Các giả thuyết xây dựng Kim Tự Tháp (tiếp theo)

Biên Khảo : Đức Chính

3.- Một vài hình ảnh nghệ thuật trong Kim Tự Tháp:

Kim Tự Tháp không chỉ vĩ đại và hào nhoáng ở kiến trúc bên ngoài, bên trong nó chứa đựng một nền văn hóa hồn hậu khiến người ta phải nghiêng mình thán phục khi biết những vật thể này có cách nay không dưới 3.000 năm. Những nét nghệ thuật trên tranh tượng trong Kim Tự Tháp khiến người ta phải nghi ngờ quan niệm Kim Tự Tháp do các nô lệ của các pharaoh tạo nên. Vì trong mỗi Kim Tự Tháp có vô số các hình tượng nghệ thuật nhưng khó tìm thấy nét sơ cứng của tư duy người nô lệ hiện lên trên chúng. Hình như các nghệ phẩm đều toát lên một nét thành kính trong tạo tác, như là một hoạt động tín ngưỡng tâm linh rất thiêng liêng khi người nghệ sĩ thực hiện.

Tuy chưa ai đặt giả thuyết về diễn biến của nền văn hóa này, nhưng khó phủ nhận đó là một đề tài còn tiếp tục làm các nhà Ai Cập học đau đầu. Chúng chứa đựng nhiều mặt văn hóa, ở đây chỉ nêu vài khía cạnh về mặt mỹ thuật.

a.- Điêu khắc:

Nghệ thuật điêu khắc Ai Cập cổ đại chủ yếu thể hiện hình ảnh các vị thần, các pharaoh và hoàng hậu. Khi nhân loại vẫn còn mơ màng trong thời kỳ mông muội tiền sử và thể chế bộ lạc, các bức tượng này đã có nét tả thực và trình độ tạo tác rất cao. Chừng mực nào đó chúng chẳng thua kém nghệ thuật tạo hình hiện đại.

Rõ ràng chân dung Pharaoh Djoser được thể hiện rất chi tiết, dù có bị hư hại khá nhiều.

Tượng hoàng hậu Nefertiti đường nét rất tinh tế và cân đối về cơ thể học rất chuẩn mực so với những bức tượng minh họa mang tính tượng trưng của các nền văn minh khác cùng thời hay sau nó hàng ngàn năm. Nó còn bộc lộ cả tính cách nhân vật trên cơ mặt và đôi môi. Rõ ràng nghệ sĩ tạo bức tượng này hẳn phải có trình độ mỹ học và giải phẫu học tuyệt vời mới biểu cảm nhân vật sâu sắc đến như thế.

Nhìn chung đặc điểm các tượng đàn ông trong Kim Tự Tháp thường sậm màu hơn tượng dành cho nữ giới. Ở các tượng ngồi tay thường được bố trí đặt trên đùi.

Ở bức tượng Pharaoh và Hoàng hậu này những cấu trúc cơ thể học vẫn tuân thủ rất nghiêm túc. Tuy rằng sự thể hiện nét uy nghiêm có phần thô cứng nhưng dù sao cũng phải thừa nhận trình độ tạo hình của nó không hề thấp kém, nhất là khi chất liệu tạo hình bằng đá chứ không phải đất sét hay thạch cao.

Các phù điêu cũng vậy, chúng đều toát lên một văn hóa mỹ cảm hết sức tinh tế mà ngày nay cũng phải nghiêng mình thán phục.

Có lẽ nền văn hóa ấy không chỉ ở cung đình mà đã mở rộng ra tận các nghệ nhân dân gian. Chúng ta thấy nó thể hiện ở bức bích họa bên ngoài Kim Tự Tháp dưới đây.

Nét sinh động của bức chạm này thật tuyệt vời, nhất là sự đa dạng tư thế của con vật. Vẫn mềm mại trên môi trường khó thể hiện là vách đá. Để làm được điều này tác giả phải thật sự cảm xúc với đề tài chứ không đơn thuần “thực hiện công việc” như một người thợ.

Khi nói đến điêu khắc trong Kim Tự Tháp không thể không nói đến các vật dụng dùng trong mai táng. Ấn tượng đầu tiên về các tác phẩm thuộc loại này là chiếc quách của các pharaoh. Quách đã được nói qua trong các phần trước nên không bàn đến. Riêng phần nghệ thuật tạo tác đá còn có một yếu tố đáng chú ý: trần các phòng quàn xác ướp pharaoh. Các trần này cũng biểu hiện một nghệ thuật tạo hình bằng đá ở trình độ cao.

Ở Kim Tự Tháp Khufu và nhiều kim tự tháp khác vòm trần hình chữ V, nhưng ở Kim Tự Tháp Sesostrix hình bát úp.

Với kiến trúc này không đơn thuần là nghệ thuật xây dựng, mà nó còn hàm ‎ vừa mỹ thuật vừa tâm linh trong gian phòng này. Ý nghĩa của nó vẫn còn là câu hỏi.

b.- Hội họa và nghệ thuật viết chữ

Hội họa càng tuyệt vời hơn, các yếu tố tả chân, mềm mạu, sinh động, biểu cảm được bộc lộ hẳn ra. Thêm nữa chủ đề rất phong phú, hội họa khắc họa được nhiều mặt đời sống văn hóa và xã hội của Ai Cập cổ đại.

Tuy nhiên, trong Kim Tự Tháp ngành hội họa chủ yếu dùng trang trí các quan tài của pharaoh và hoàng hậu. Theo tục lệ cổ đại, hình bên ngoài chiếc quan tài phải khắc họa được chân dung người nằm trong đó. Chính nhờ vậy hội họa Ai Cập cổ đại trở thành một thành phần sử liệu để nghiên cứu thời kỳ này.

Yếu tố tả chân tuy vẫn còn nhưng nét mềm mại biến mất, đồng thời tính chất cách điệu đã chen vào. Nguyên nhân chủ yếu là lý‎ do tôn giáo: các pharaoh và hoàng hậu là những vị thần, khômng thể thể hiện những đường nét uyển chuyển phàm tục và cần cách điệu để thể hiện tính thiêng liêng của nhân vật. Điều này không lạ, nhiều nền văn minh sau này vẫn áp dụng cách thể hiện này để tôn vinh nét thần bí của nhân vật lên.

Bên cạnh hội họa, nghệ thuật viết và khắc chạm chữ cũng là một nguồn tư liệu rất qu‎í về văn hóa xã hội thời Ai Cập cổ đại. Trong các Kim Tự Tháp đầy rẫy những kinh văn tín ngưỡng giúp chúng ta tìm hiểu về đời sống tâm linh của họ. Cũng không loại trừ trong những kinh văn đó có chứa đựng những yếu tố lịch sử giúp hiểu thêm về các biến chuyển hưng vong xảy ra suốt chiều dài lịch sử những triều đại Ai Cập thời cổ.

Chữ viết được thể hiện bằng nhiều cách, như chạm trên đá hay khắc trên gốm, nhưng bản chất chữ viết Ai Cập cổ mang tính chất hội họa cao nên đưa vào mục này. Nhiều nhất là các bức chạm chữ viết trên vách hành lang, trên quách và quan tài, … Chữ Ai Cập cổ mang tính tượng hình đầy bí hiểm, sẽ được trình bày rộng hơn ở bài sau.

Gần như luôn luôn các bản văn đều kèm theo các hình vẽ nửa có tính trang trí nửa có tính minh họa. Các hình vẽ (hình trên) miêu tả một buổi lễ mai táng theo nội dung kinh văn, nhưng cách thể hiện cho cảm giác như là các họa tiết trang trí ở đầu trang sách.

Ngay chữ viết cũng là một bức tranh được giản lược bớt: chữ Ai Cập cổ vốn là chữ vừa tượng hình vừa tượng ý‎, nhưng tính chất tượng hình của nó tả chân hơn chữ của người Trung Hoa nhiều.

c.- Gốm sứ:

Mỹ thuật Ai Cập cổ đại thiên về đá nhiều hơn, nhưng không phải không có dấu vết gốm sứ dù khá hiếm hoi. Các nghệ nhân Ai Cập cổ đã tìm ra men gốm sứ và cải biến chúng để tráng men cả đồ đá nhỏ. Chất liệu men đó là starite mà phương Tây sau này gọi là “đá xà phòng” (soapstone).

Hình trên mô tả một lối sinh hoạt thời đó, nhưng đa số các đồ gốm trong Kim Tự Tháp lấy đề tài thần linh. Thường nhất gốm sứ là vật ghi lại kinh văn.

Chất liệu gốm hẳn còn thô sơ so với kỹ thuật chế tác tinh xảo. Vì sao nghệ thuật gốm không phát triển so với đá là một đề tài lớn cần nghiên cứu.

(còn tiếp)

 

MỤC LỤC – KIM TỰ THÁP

Read Full Post »

Bài 3: Các giả thuyết xây dựng Kim Tự Tháp (tiếp theo)

Biên Khảo : Đức Chính

2.- Phương pháp dùng giàn trượt:

Là lý thuyết được đề ra khá sớm. Nó dựa vào các dấu vết còn sót lại được tìm thấy ở các Kim Tự Tháp Meïdoum, Sekhemkhet và Khufu, cũng như cả ở Assouan và Sinki.

Tuy nhiên nó không đủ cơ sơ thuyết phục về mặt kỹ thuật nên chưa thể cắt đứt các tranh cãi về phương pháp xây dựng Kim Tự Tháp. Các tính toán cho thấy mô hình giàn trượt chính diện như dấu vết tìm thấy ở Assouan không thể nào hoàn thành công trình Kim Tự Tháp Khufu được.

Nhưng không ít nhà khoa học vẫn dựa vào phương pháp này đề ra nhiều giải pháp kỹ thuật để chứng minh. Tựu trung có các giải pháp: giàn trượt chính diện, giàn trược xoắn ốc, giàn trượt bên hông giàn trượt bên trong. Thậm chí có tác giả như Jean-Pierre Houdin đưa ra giải pháp kết hợp vừa dùng giàn trượt chính diện vừa dùng giàn trượt bên trong; hay kết hợp với các công cụ đơn giản phù hợp với trình độ kỹ thuật thời đó như các tác giả Auguste Choisy, Hermann Strub-Roessler, Louis Croon, …

a) Giàn trượt chính diện bằng gạch thô: lý thuyết này do nhà Ai Cập học người Đức Ludwig Borchardt đưa ra nhằm giải thích dấu vết giàn trượt ở Kim Tự Tháp Meïdoum.

Giàn trượt này đặt thẳng góc với mặt Kim Tự Tháp với độ dốc không đổi dù có lên cao đến mấy. Dĩ nhiên độ dốc giàn trượt lài hơn độ dốc Kim Tự Tháp nên tránh được hạn chế gia tốc trọng trường của phương pháp Franz Löhner. Nhưng cũng vì vậy giàn trượt phải càng ngày càng dài ra tương ứng với số tầng Kim Tự Tháp được xây lên.

Các khối đá sẽ đặt lên trên bàn trượt và dùng sức người kéo lên dọc theo giàn trượt này. Phương pháp kéo có thể áp dụng kiểu kéo ngược dốc của Franz Löhner và dưới bàn trượt có thể dùng dầu làm chất bôi trơn.

Nhược điểm chính của phương pháp này là giàn trượt phải kéo dài ra mãi, đến khi đạt độ cao của Kim Tự Tháp Khufu thì giàn trượt trở thành một công trình đồ sộ không kém. Khắc phục điều này Jean-Philippe Lauer đưa ra một giải pháp cải tiến: khi còn thấp thì có độ dốc không đổi, đến khi lên cao mới áp dụng độ dốc không đổi.


Cả hai đề xuất này đều vướng vào mấy điều kiện kỹ thuật và xây dựng sau :

– Một là giàn trượt có độ dốc nhỏ và dài. Trường hợp này khối lượng vật tư xây giàn trượt rất lớn tương ứng với quy mô của từng Kim Tự Tháp; rồi khi hoàn thành phải tốn rất nhiều công sức để dẹp nó đi;

– Hai là có độ dốc tăng dần theo độ cao xây dựng. Như vậy càng lên cao lực nâng các khối đá gia tăng.

Tuy nhiên trở ngại lớn nhất của cả hai là đòi hỏi nhiều vật tư và khoảng trống xây công trình thi công giàn trượt. Nó là điểm khó thuyết phục các học giả khác.

b) Giàn trượt zic-zắc bằng gạch thô: rõ ràng khoảng trống quá lớn để làm giàn trượt chính diện là điểm khó thực tế ở môi trường xây dựng Kim Tự Tháp Khufu. Lý thuyết giàn trượt zíc-zắc được đề xuất và nhận nhiều tán đồng.

Các giàn trượt được dựng song song với các mặt của Kim Tự Tháp và cho kéo các khối đá từ tầng này lên tầng khác: không cần kéo thẳng một lần lên các tầng cao. Mặt bằng cho giàn trượt gần như không đáng kể so với mặt bằng công trình. Nhờ vậy các khối đá được nâng lên xây lõi từ dưới lên cao và từ trên cao làm phẳng bề mặt Kim Tự Tháp trở xuống. Khi đặt chóp Kim Tự Tháp, giàn trượt sẽ tháo dần theo tiến độ làm phẳng bốn mặt của các tầng bên dưới.

Tuy nhiên thuyết này cũng gặp phản bác: loại giàn này không phù hợp với điều kiện địa kỹ thuật của vật liệu được dùng (gạch thô) và nó đòi hỏi một nguồn nhân lực khổng lồ. Lại nữa, nhân công dùng kéo khối đá theo giàn trượt này rất đông, với số đông như vậy làm sao đủ diện tích để họ làm việc ở những khúc quanh. Có nghĩa là nó không có giá trị khi xét về mặt cơ học hợp lực kéo.

c) Giàn trượt bên bằng gạch thô: lý thuyết này do nhà Ai Cập học người Đức Uvo Hölscher đề xuất. Giàn gồm nhiều giàn trượt nhỏ bên hông từng bậc Kim Tự Tháp ghép với nhau theo hình xoắn ốc nên còn gọi là giàn trượt xoắn ốc.

Trở ngại chính của đề xuất này là độ dốc lớn do giới hạn chiều dài của từng tầng Kim Tự Tháp. Vì thế nó chỉ có hiệu quả trong việc xây dựng Kim Tự Tháp bậc thang nhỏ với khối đá chuyển tải lên nặng dưới 350 kg.

Khắc phục điều này, nhà Ai Cập người Đức Rainer Stadelmann thiết kế loại giàn trượt bên mở rộng ra phía trước Kim Tự Tháp để giảm độ dốc.

3.- Các phương pháp kết hợp:

Năm 2000, kiến trúc sư người Pháp Jean-Pierre Houdin đề nghị dùng 2 giàn trượt chính diện phối hợp với giàn trượt bên trong. Theo đề nghị này 40 m đầu tiên của Kim Tự Tháp dùng giàn trượt chính diện đôi: một giàn để đưa lên và một giàn nâng tiếp lên cao hơn. Tiếp theo dùng giàn trượt bên trong dạng xoắn ốc, tổng chiều dài lên tới đỉnh 1,6 km chia thành 21 đoạn. Do đặt ở trong nên tại vị trí các cạnh Kim Tự Tháp không thiếu mặt bằng cho thợ làm việc như phương pháp của Uvo Hölscher.

Phương pháp này khác phục được trở ngại dốc trượt quá cao, thiếu diện tích cho thợ thi công hay lượng vật tư cần dùng quá lớn của các phương pháp khác.

Đề nghị kết hợp thứ hai là dùng giàn trượt zíc-zắc với hai loại công cụ: cần trục con dê và tời đứng. Jean-Pierre Adam đề nghị ở mỗi mặt làm một giàn trượt zíc-zắc ; bổ sung thêm cho 4 giàn trượt này là những cần trục con dê theo ‎ý kiến Auguste Choisy, hay tời đứng kéo tay[1].


[1] Jean-Pierre Adam cho rằng vào thời này người Ai Cập đã biết đến bánh xe.

 

MỤC LỤC – KIM TỰ THÁP

Read Full Post »

Older Posts »