Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘TRANH DÂN GIAN’ Category

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

*Tranh dân gian mất khách ,làng giấy dó cũng lụi tàn

*Tranh Đông Hồ- một dòng tranh luôn bám theo thời cuộc

*Tranh lấy cảm hứng từ tranh Đông Hồ

*Tranh thờ Ngũ Hổ hàng Trống

*Mỹ thuật truyền thống Việt Nam

*Bảo tồn văn hóa dân gian không phải là xây phòng trưng bày

*Bảo tồn tranh Đông Hồ bằng phòng trưng bày

*Tranh làng Sình xưa và nay

*Tranh tết khắc gỗ dân gian Trung Hoa

*Tranh dân gian Trung Hoa – 2

*Người vẽ tranh trên kính cuối cùng ở đất Bình Dương

*Nghề thủ công vẽ tranh trên kính , tỉnh Bình Dương

*Tranh dân gian hàng Trống

*Tranh dân gian Trung Hoa

*Tranh Đông Hồ

Read Full Post »

Tranh dân gian mất khách, làng giấy dó cũng lụi tàn

Giấy dó Phong Khê (huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh) vốn nổi tiếng vì gắn liền với làng tranh Đông Hồ. Nay tranh Đông Hồ mất khách nên nghề làm giấy dó cũng theo đó lụi tàn. Cả làng 1.800 hộ gia đình thì 600 hộ sản xuất đủ loại giấy và chỉ 4 hộ còn làm giấy dó.

Ông Nguyễn Văn Chuyển, cán bộ UBND xã Phong Khê, giải thích nghề làm giấy dó ra đời từ đời Tiền Lê, khi nhu cầu sử dụng giấy xuất hiện, nhất là khi có khoa cử. Giấy dó của làng thực sự nổi tiếng khi gắn liền với tranh Đông Hồ. Hồn giấy là những bức tranh dân gian khắc gỗ làng Đông Hồ, một làng cổ Kinh Bắc khác, cách Phong Khê gần 20 km. Những Đám cưới chuột, Hứng dừa, Đánh ghen, Cá chép… chỉ nổi tiếng khi in trên giấy dó Phong Khê.

Cây dó nguyên liệu được trồng nhiều ở các tỉnh miền núi phía Bắc. Nhưng người Phong Khê kén chọn, ít khi chọn thứ dó Yên Bái, Lào Cai mà phải là của Cao Bằng, Thái Nguyên, Tuyên Quang và cũng chỉ mua dó vào tháng 8 âm lịch. Dó mang về, lột tiếp lớp vỏ đen, lấy lượt vỏ trắng ngâm nước vôi 24 tiếng mùa hè, 36 tiếng mùa đông. Sau đó vớt ra, bó thành từng mớ, ngâm vào nước vôi tôi. Chuyển sang thùng nấu, cứ một thùng là 50 kg dó hết 20 kg than, than tàn dó cũng chín đúng độ. Một ngày sau, dỡ ra lại ngâm nước cho hết vôi, nhặt bỏ từng mấu nhỏ còn sót lại. Dó đem đi rửa tiếp, cho vào bể ngâm 15-20 ngày, rồi vớt ra, cho vào cối giã nhuyễn, đem đãi lấy nước trong, cho vào bể… Tính sơ sơ từ cây dó ra được tờ giấy phải qua 10 công đoạn, tức là gần một tháng.

Ông cụ Lưu, một lão nghệ nhân lôi ra xấp giấy chính hiệu Phong Khê khoe với khách: “Giấy dó xịn phải trong, mỏng, mịn, sờ vào mát tay như lụa tơ tằm thế này chứ!”. Cụ tự hào vì mấy hôm trước được Bảo tàng Dân tộc học mời về giới thiệu nghề làm giấy dó Phong Khê. Song đến khi trở về làng, cụ lại buồn. Đông Hồ giờ đã chuyển nghề làm hàng mã. Cả làng tranh dân gian nổi tiếng chỉ còn 2 người gắn bó với nghề: nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế và Nguyễn Hữu Sam. Nhưng cả hai giờ đã già, làm tranh khắc gỗ không phải để mưu sinh mà chỉ để chơi, để đỡ nhớ nghề. Giấy dó Phong Khê vì thế cũng lay lắt theo.

Để tồn tại, Phong Khê chuyển sang làm giấy bản, giấy in, bao bì và cả… giấy vệ sinh. Chị Ngô Thị Thu, một trong số 4 hộ gia đình còn giữ nghề, cho biết, giấy dó bây giờ có dăm bảy loại. Họa hoằn lắm có người đặt hàng, nhà chị mới làm thứ giấy cao cấp từ cây dó Cao Bằng, mỗi lần cũng chỉ dăm ba nghìn tờ. Mỗi tờ giá có 400 đồng, lãi lời chẳng thấm tháp vào đâu so với nhu cầu mưu sinh hằng ngày của hai vợ chồng và cậu con trai đang học ĐH Bách khoa năm cuối. Giấy dó nuôi sống gia đình chị là loại chất lượng kém, pha tạp nhiều.

Làng Phong Khê giờ rất giàu. Cụm công nghiệp làng tập hợp hơn 120 xí nghiệp sản xuất giấy, mỗi doanh nghiệp có vốn từ vài tỷ đến 50 tỷ đồng. Thu nhập bình quân đầu người gần 20 triệu đồng/năm. Anh Phúc, chủ doanh nghiệp sản xuất giấy Phúc Hân, tự hào rằng khu công nghiệp mỗi năm làm ra hơn 40.000 tấn giấy. Chất lượng chỉ kém giấy Bãi Bằng, còn cỡ giấy Tân Mai thì chẳng có gì phải ngại. Chuyển sang chuyện giấy dó, anh Phúc có vẻ bần thần: “Biết sao được, làng tôi không những phải sống mà còn lo chuyện làm giàu. Xã hội không dùng giấy dó thì sản xuất ra bán cho ai?”.

Theo dongho.bacninh.com

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

Read Full Post »

Tranh Đông Hồ – một dòng tranh luôn bám theo thời cuộc

 Quả thật, cách “nhại” tranh Đông Hồ để “giễu” các vấn đề của cuộc sống đương đại của họa sĩ trẻ Phạm Huy Thông – đang diễn ra tại Trung tâm Văn hóa Pháp, 24 Tràng Tiền, Hà Nội (kéo dài đến 15/7/2009) có thể để lại nhiều tiếng cười sảng khoái. Song cũng có những ý kiến khắt khe cho rằng, như thế có vẻ làm “tầm thường hóa” dòng tranh cổ kính của cha ông.

Vậy tranh Đông Hồ có thể phản ánh cuộc sống đương đại hay không? Để trả lời cho những thắc mắc này, chúng tôi xin giới thiệu bài viết khám phá những điều thú vị về tranh Đông Hồ – một dòng tranh luôn bám theo thời cuộc.

Từ cảnh nhảy đầm đến… nhà chứa!

Ai cũng biết trong phong trào Âu hóa, cái món “nhảy đầm” đã được du nhập vào Việt Nam khiến các cụ đồ Nho phải lắc đầu lè lưỡi. Nhảy đầm đã đi vào tranh Đông Hồ với bức tranh cùng tên, và hiện nay vẫn còn ván khắc để in. Bức tranh mô tả một quầy bar, có ly, cốc, có bồi bàn, có rượu vang hoặc champagne, hình vẽ cũng thô mộc thôi, nhưng rất rõ một sinh hoạt thuộc địa, với hai cặp giai thanh gái lịch trong điệu valse uyển chuyển.

Từ cảnh nhảy đầm đến… nhà chứa!

Nhảy đầm (tranh Đông Hồ)

Bức tranh đôi Phong tục cải lương – văn minh tiến bộ vẽ ông Tây – bà đầm đi “picnic”, một bên chú thích là Phong tục cải lương moa tăng phú, còn bên kia: Văn minh tiến bộ, tọa (toa) tăng xương. Theo lý giải của họa sĩ Trần Hậu Yên Thế, thì đây là cách chửi kiểu bồi tiếng Tây của một ông đồ cũng thật hay, Toa tăng xương = Toi attention/ Mày liệu hồn, Moa tăng phú = Moi, je m’enfiche/ Tao mặc kệ. Cả hai câu có nghĩa đầy phẫn nộ: Phong tục thay đổi, thì mày liệu hồn; Văn minh tiến bộ, tao đếch cần.

Bức tranh đôi Phong tục cải lương - văn minh tiến bộ

Bức tranh đôi Phong tục cải lương - văn minh tiến bộ

Bộ tranh đôi Trai tứ khoái – gái bảy nghề, nghệ nhân đã rất khéo đổi câu vè quen thuộc trong dân gian chê các cô gái hư hỏng: “Ngồi lê là một, dựa cột (lười nhác) là hai/ theo giai là ba/ ăn quà là bốn/ trốn việc là năm/ hay nằm là sáu/ đánh cháu là bảy” thành “đăng sê (nhảy đầm) là một/ theo mốt là hai/ đánh bài là ba/ đàn ca là bốn/ trốn nhà là năm/ đi săm (nhà chứa) là sáu/ Mang cháu (chửa hoang) là bảy. Bộc lộ sự phê phán riết róng cái việc đánh mất thuần phong để đi vào bại tục.

Chỉ một góc nhỏ thôi trong tranh Đông Hồ đã cho ta thấy nghệ nhân với trách nhiệm xã hội đã đóng vai trò phê phán quyết liệt những thói xấu từ quan trường đến đời sống dân sự. Họ là nghệ nhân nhưng cũng là những nhà báo trứ danh đó chứ!

Tranh Đông Hồ: luôn bám theo thời cuộc

Chỉ từ đời sống dân gian, chẳng có ai định hướng mà tranh Đông Hồ cũng có đủ loại từ tranh giáo khoa, phong cảnh, phong tục, sinh hoạt, tín ngưỡng, tranh truyện (dựa theo cổ tích) tranh lịch sử, châm biếm và hài hước, chẳng thiếu thể loại gì.

Tranh Gái bảy nghề

Tranh Gái bảy nghề

Có thể nói, một đặc điểm rất đáng nể của tranh Đông Hồ là luôn bám theo thời cuộc. Ta để ý mảng tranh châm biếm, những bức tranh như Trê cóc, Đám cưới chuột, Đánh ghen, Hứng dừa cách nay vài trăm năm đến những tranh Trai tứ khoái, gái bảy nghề vẽ về thói sinh hoạt đàng điếm của đám trai gái thành thị thời thực dân Pháp đến các tranh vẽ người Pháp Văn minh tiến bộ, phong tục cải lương cách đây sáu bảy mươi năm tự nhiên đóng vai trò phản biện xã hội với con mắt phê phán khá sắc cạnh. Thế mới biết nghệ nhân quan sát cuộc sống và hiểu cuộc sống khá kỹ lưỡng. Có thể nói đó là loại tranh biếm xuất hiện rất sớm ở Việt Nam, ở tư thế độc lập, cao cấp in màu tử tế và được xã hội chấp nhận, giữ gìn.

Tranh Đám cưới chuột quá nổi tiếng, ai cũng biết nhà chuột trong buổi nghinh hôn phải lo lễ lạt cho bề trên là ông miêu để được vênh vang rước dâu. Nhưng vào thời mua quan bán tước, nghệ nhân ta chế lại hai chữ “nghinh hôn” thành “tiến sĩ”. Cảnh rước dâu thành cảnh rước tiến sĩ vinh quy, cũng lễ lạt cho mèo để được danh phận.

Đám cưới chuột (trái) được “chế” lại thành đám rước Tiến sĩ (dưới) với đầy tính thời cuộc

Đám cưới chuột (trái) được “chế” lại thành đám rước Tiến sĩ (dưới) với đầy tính thời cuộc

Ai cũng biết tranh đôi Đánh ghen chê cười cảnh lẽ mọn, ông chồng rụt rè can ngăn vợ cả: Thôi thôi bớt giận là lành… còn Hứng dừa thì “đấy trèo đây hứng” quả là ngoạn mục của sự phồn thực. Nhưng lại có một dị bản Đánh ghen, Hứng dừa nữa của thế hệ sau gần chúng ta hơn, khá đặc biệt với chú thích mới: Ở tranh Đánh ghen, cảnh ông già đang lộn xộn trong cảnh tranh chấp vợ cả vợ bé, ông tuyên bố gân guốc với bà cả “nhân lão tâm bất lão” (người già nhưng lòng chưa già!), quyết tâm giữ bà hai. Còn Hứng dừa thì đi xa hơn trong phồn thực với chú thích lẩy từ câu Kiều có sửa đi đôi chút: “trong như ngọc, trắng như ngà”, chẳng phải là anh chồng đang nói về cô vợ “nuy” sao?

Tranh Đánh ghen và Hứng dừa (cũ)

Tranh Đánh ghen và Hứng dừa (cũ)

Tranh Đánh ghen và Hứng dừa (mới)

Tranh Đánh ghen và Hứng dừa (mới)

Hs Đỗ Đức (TT&VH)

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

Read Full Post »

 

Tranh lấy cảm hứng từ tranh Đông Hồ

Những bức tranh của họa sĩ trẻ Phạm Huy Thông lấy bố cục và cảm hứng từ tranh dân gian Đông Hồ đã khai mạc chiều ngày 16/6/2009 tại Trung tâm Văn hóa Pháp (24 Tràng Tiền Hà Nội). Xem triển lãm mới thấy giá trị và sức sống bền lâu của nghệ thuật dân gian khi người nghệ sĩ biết cày xới trên mảnh ruộng của cha ông để lại…

1. Cách đây mấy năm, tôi đưa Gérald Gorridge, một họa sĩ Pháp, thầy giáo của Trường Đại học Angoulême ở Bordeau chuyên vẽ tranh truyện về thăm làng tranh Đông Hồ. Sau khi nghe giải thích về những bức tranh quê, ông đưa ra nhận xét: “Thì ra mỗi bức tranh đều được xuất phát từ một câu chuyện”.

Tranh Lợn đàn của Đông Hồ (trái) và tranh của Phạm Huy Thông

Tranh Lợn đàn của Đông Hồ (trái) và tranh của Phạm Huy Thông

Sau chuyến đi một ngày ấy, Gérald đã nảy ra ý tưởng sẽ lập một dự án vẽ truyện tranh lấy cảm hứng từ tranh Đông Hồ. Cuốn Kể mới ra đời vào năm 2004 là kết quả của dự án giữa trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội và Alliance Francaise (Trung tâm Văn minh Pháp) do ông khởi xướng đã ra đời.

Phải nói ý tưởng đó thật tuyệt vời nhưng quá trình thực hiện, các họa sĩ trẻ trong đó có những sinh viên đang theo học tại trường đã không làm được theo ý tưởng của Gérald Gorridge. Cuốn sách giống tranh truyện hành động của Âu châu, tinh thần Đông Hồ bị khuất lấp vì các bạn trẻ chưa kịp đọc được cốt lõi tinh thần của người làng Hồ.

Xem các họa sĩ trẻ vẽ hiện đại, học theo tinh thần hội họa phương Tây tôi cứ thấy tiếc tinh thần phương Đông ẩn chứa sau các bức tranh dân gian, tranh thờ cúng khá đặc sắc nhưng không thấy ai tìm hiểu, hoặc tìm hiểu mà chưa thấm để tìm cảm hứng từ đó. Tôi đoán chắc rằng với tinh thần và sức trẻ, một khi đã ngộ ra việc đó thì sẽ có những bức tranh gây biến động đời sống sáng tác trong giới trẻ. Chắc chắn là vậy.

2. Tôi đã không phải chờ lâu. Triển lãm tranh của họa sĩ trẻ Phạm Huy Thông đã làm được điều đó. Lấy cảm hứng từ trong tranh của người xưa để áp vào cuộc sống hôm nay là cách mà Phạm Huy Thông đã khéo léo dùng để tạo ra những bức tranh của mình vừa hóm hỉnh vừa tức cười. Xem đây người ta mới thấy giá trị và sức sống bền lâu của nghệ thuật dân gian khi người nghệ sĩ biết cày xới trên mảnh ruộng của cha ông để lại.

Phạm Huy Thông đã nhìn tranh đôi Tiến tài tiến lộc thành một hình ảnh đối xứng cụ thể đầy chất trào lộng: tiến tài bê hộp bột giặt Tide, tiến lộc thì đang bê chiếc giày trên tay để quảng cáo hàng.

Tranh Rước trống là lũ trẻ vui nhộn đẩy xe kem, ồn ào như chợ vỡ, chơi đàn thả bóng bay trên đường phố.

Tranh nhà nông với con trâu thành ông nông dân ngán ngẩm vì mất đất rao bán trâu và bắn số điện thoại di động lên mình trâu để người mua tiện liên hệ.

Khoáy âm dương trên mình tranh Lợn đàn biến thành những chiếc băng cối đồ sộ, mõm lợn thành muôn vàn những chiếc loa loe xoe như đang muốn rống lên thống thiết. Tiến sĩ vinh quy thời nay ngồi trên xe tăng lao rầm rầm trên đường phố với loa phóng thanh giống các loa công cộng chĩa về mọi ngả, hai bên sườn xe là những trung nam bản xã áp sát tiền hô hậu ủng hết cỡ cho cái vẻ vang công thành danh toại.

Tranh Phú quý của Phạm Huy Thông

Tranh Phú quý của Phạm Huy Thông

Em bé trong tranh Phú quý thì tay cầm micro, tay ôm đài, xung quanh ngổn ngang các thiết bị âm nhạc với đám dây nhợ lằng nhằng cũng đang xả âm thanh chát chúa… Người xem không thể không mỉm cười cách phê phán thời hiện đại được dựng lên từ tinh thần trào lộng của người xưa, quyết liệt hơn người xưa, hài hước hơn người xưa, thật là một sự đồng hành đầy duyên nợ không thể không khiến người xem sau những trận cười vãi nước mắt lại ngậm ngùi về thế sự.

Không thể nói hết cái hay, cái dí dỏm hài hước mà họa sĩ đã khéo đắm mình vào cuộc sống dân gian và thế sự tạo dựng lên trong một bài viết ngắn. Các bạn hãy đến với phòng tranh, đắm mình vào đó để sống với hiện tại và nhớ về cha ông ta một thời, để cùng chia sẻ với họa sĩ và cảm nhận về tinh thần văn hóa một thời của người dân đồng quê Việt.

Hoạ sĩ Đỗ Đức (TT&VH)

Read Full Post »

Tranh thờ Ngũ hổ Hàng Trống

5tigers-1

Trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam, con Hổ là con vật đã từ lâu được tôn thờ. Và danh xưng của hổ cũng được thần thánh hóa là Ngài, là Ông. Hổ được dựng thành biểu tượng qua nhiều chất liệu của tạo hình: gỗ, đá, vôi giấy, đất nung, tranh vẽ, tranh cắt giấy… có ở hầu khắp các công trình: đền, miếu, đình, lăng mộ v.v… Nhưng mẫu tranh được biết đến nhất qua nhiều thế hệ đó là tranh Ngũ hổ của phố Hàng Trống (Hà Nội) ngày xưa.

Tranh Ngũ hổ Hàng Trống có kích cỡ 0,55m x 0,75m. Tranh vẽ năm con hổ được bố cục đông đầy, cân đối trên mặt giấy. Mỗi con một dáng vẻ: con thì đứng, con thì ngồi, con cưỡi mây lướt gió… Đây là loại tranh khắc gỗ in trên giấy. Nhưng cách thức của dòng tranh Hàng Trống là chỉ in bản nét rồi dùng bút lông tô màu. Trong quá trình tô màu, các nghệ nhân đã vờn chuyển màu, tạo độ đậm, nhạt, sáng, tối. Nên các nhân vật trong tranh không còn là mảng bẹt như cách thể hiện của các dòng tranh đương thời. Với bút pháp diễn tả ấy, các nhân vật đã “nổi khối”. Đồng thời với việc vờn chuyển diễn tả khối này, các nghệ nhân còn đi sâu vào việc phát huy khả năng diễn tả của nét. Cùng với những nét được khắc in qua bản gỗ, khi cần nhấn, đẩy các chi tiết, các nghệ nhân Hàng Trống không ngần ngại dùng bút để nẩy, tỉa. Với cách thức sáng tạo của riêng mình, các nghệ nhân Hàng Trống không chỉ tạo nên nét riêng cho dòng tranh, mà đã làm bật lên sức sống nội tại của nhân vật. Điều này người xem rất dễ dàng nhận thấy thông qua các nhân vật hổ: những khối thân chắc khỏe, những dáng ngồi, thế đứng đường bệ, oai phong đặc biệt những chiếc đuôi như đang ve vẩy hoặc uốn vồng lên để đập xuống đất mà bật chồm lên. Và những con mắt hổ hừng hực nội lực của loài mãnh chúa.

Màu sắc trong tranh Ngũ hổ là một thế giới hòa sắc, lộng lẫy, uy linh. Nhưng nó vẫn được khu biệt với năm màu: xanh, đỏ, trắng, vàng, đen trên năm nhân vật. Lối dùng màu này của các nghệ nhân Hàng Trống thể hiện rõ một hàm ý, mang triết lý sâu xa của quan niệm dân gian truyền thống:

* Hoàng hổ: Con hổ ngồi chỉnh trện giữa tranh được vẽ vờn bằng màu vàng, tượng trưng cho hành thổ – ứng với trung ương chính điện.

* Thanh hổ: Con hổ được vẽ bằng màu xanh là tượng trưng cho hành Mộc, ứng với phương Đông.

* Bạch hổ: Con hổ được vẽ bằng màu trắng là hành Kim ứng với phương Tây.

* Xích hổ: Con hổ được vẽ bằng màu đỏ là hành Hỏa ứng với phương Nam.

* Hắc hổ: Con hổ được vẽ bằng màu đen là hành Thủy ứng với phương Bắc.

Như vậy 5 nhân vật hổ, được thể hiện bằng 5 màu: đỏ, đen, vàng, xanh, trắng, mang một ý nghĩa tượng trưng cho ngũ hành. Quan niệm cách thể hiện hình, màu mang tính ước lệ, tượng trưng này trong nghệ thuật dân gian xưa là rất phổ biến.

Hắc Hổ ft_nguho

ft_bachho

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

Read Full Post »

Mỹ thuật truyền thống Việt Nam

Nghệ thuật Dân gian là một thành tố quan trọng của mỗi nền văn hoá dân tộc. ở Việt Nam, nghệ thuật ấy bao gồm nghệ thuật của dân tộc Kinh (Việt) tại các vùng châu thổ, và nghệ thuật của các dân tộc thiểu số miền núi. Tất cả hợp thành nền văn hoá đa sắc tộc có cội nguồn lịch sử sâu xa.

Chỉ riêng mảng tranh khắc gỗ dân gian cũng đã là kho báu cho các nhà sưu tập và nhà nghiên cứu. Nghệ thuật in tranh qua các bản gỗ khắc nổi xuát hiện từ xa xưa, cha truyền con nối trải qua nhiều thế hệ.

Chỉ riêng mảng tranh khắc gỗ dân gian cũng đã là kho báu cho các nhà sưu tập và nhà nghiên cứu. Nghệ thuật in tranh qua các bản gỗ khắc nổi xuát hiện từ xa xưa, cha truyền con nối trải qua nhiều thế hệ.

Theo truyền thống, hàng năm cứ vào dịp Tết Nguyên Đán, những tờ tranh màu sắc tươi rói lại bày la liệt khắp nơi từ nông thôn đến thành thị, lên cả vùng núi xa xôi, làm cho không khí hội xuân càng thêm hồ hởi. Đó là tranh Tết. Ngoài ra, có loại Tranh Thờ bán quanh năm.

Tranh khắc gỗ dân gian được sản xuất ở nhiều địa phương, hoặc tập trung từng làng, hoặc do từng hộ gia đình in riêng. Trong các trung tâm nổi tiếng, có Đông Hồ (Hà Bắc), Hàng Trống (Hà Nội), Kim Hoàng (Hà Tây), Nam Hoành (Nghệ Tĩnh), Sình (Huế) … Dù sản xuất tại đâu, tranh đều phản ánh đời sống xã hội, tuy mỗi vùng vẫn mang đậm sắc thái và kỹ thuật riêng. Hai dòng tranh khắc dângian có truyền thống lâu đời hơn cả là dòng tranh Đông Hồ và dòng tranh Hàng trống.

Tranh khắc dân gian Việt Nam hết sức hồn nhiên, trực cảm. Nội dung, hình thức đều độc đáo: ý tứ và bố cục, nét vẽ và bảng màu, lại thêm cảm quan hài hước sắc sảo trong xử lý đề tài.

Cùng với tranh khắc, nghệ thuật dân gian Việt Nam còn có những bức tranh vẽ tay của các tác giả khuyết danh thuộc các dân tộc thiểu số ở vùng núi miền bắc: Tày, Nùng, Dao, Cao Lan v.v. Mặc dầu hầu hết là tranh tôn giáo gắn với tín ngưỡng đạo Phật hay đạo Lão, song tranh mang dấu ấn rất rõ dấu ấn nghệ thuật của mỗi dân tộc, hình thành từ cội nguồn văn hoá, và phong tục tập quán riêng. Chẳng hạn như bức “Cầu Hoa” của dân tộc Tày để thờ Mé Bjóoc (Mé Hoa), cúng cầu sinh con được trai hay gái, Hình tượng Bàn Cổ, thuỷ tỏ truyền thuyết của dân tộc Dao, được treo thờ tưởng nhớ công đức che chở dân tộc trong buổi chuyển cư lớn thủa xưa xuống phía nam, Tranh Thần Nông, vị thần cày cấy trồng trọt, thường gặp trong lế hội “Dựng Bồ Thóc” của dân tộc Cao Lan tổ chức hàng năm vào dịp xuống đồng mở mùa lúa mới.

Dù hướng nguyện cầu nhằm tới đủ mặt chư vị thần tiên, tới các thánh nhân đạo Phật và đạo Lão, tới cả ma quỷ trên trời dưới đất, các lễ hội dân tộc ấy đều khởi xướng từ những ước vọng ấm no của nhân dân, và là dịp vui chơi hồ hởi cho cả bản làng.

Tranh thờ miền núi cũng có mật trong các lễ tang, biểu thị ước nguyện dân gian của gia đình người chết cầu cho vong hồn thân nhân thoát cảnh địa ngục, vươn tới cõi Niết Bàn phật giáo hay cõi Bất tử đạo giáo,. Nhiều tranh miêu tả những cảnh hành trình rùng rợn dưới địa ngục đối với nhũng kẻ phạm trọng tội trên cõi dương, răn đe con người chớ làm điều ác, hoặc cổ xuý tư tưởng, hành vi xử thế hợp dạo lý và lẽ phải…

Về cơ bản loại tranh này vẽ bằng màu bột trên giấy. tuỳ nơi xuất xứ, một đề tài có thể xử lý qua các bố cục khác nhau, tạo ra nhiều dị bản.

Tranh dân gian Việt Nam, đặc biệt là tranh khắc gỗ, đã trở thành một ngôn ngữ nghệ thuật có giá trị trường tồn góp phần phát triển văn hoá nghệ thuật dân tộc, và là niềm tự hào văn hoá của đất nước.

Theo Bảo tàng mỹ thuật Việt Nam

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

Read Full Post »

Bảo tồn VH dân gian không phải là xây phòng trưng bày!
 
 
Việc trưng bày sưu tầm chỉ là một hình thức. Còn để lâu dài và bền vững thì phải làm cho cộng đồng đó nhận thức được hết những giá trị di sản người ta nắm giữ, để nâng niu gìn giữ và truyền lại cho con cháu… – TS Nguyễn Thị Minh Lý.Trong khi nhiều người dân đang nỗ lực truyền giữ giá trị văn hóa dân gian trong cộng đồng như ca trù làng Chanh Thôn, quan họ Đặng Xá… thì ở nhiều cấp quản lý, việc bảo tồn các giá trị vật thể là xây dựng một trung tâm, một phòng trưng bày; giá trị phi vật thể là gom các nghệ nhân vào các đội nghệ thuật trình diễn trên sân khấu, hội trường. Chúng tôi đã có cuộc trao đổi với TS Lê Thị Minh Lý, Phó cục trưởng Cục Di sản Văn hóa, để được rõ hơn về vấn đề này.

photo
“Phòng trưng bày không thể làm thay việc lưu giữ những giá trị sống của cộng đồng”

Cách bảo tồn giá trị văn hóa dân gian ở các địa phương đang ở đâu?

– Đây cả là một câu chuyện dài. Nhưng có thể đánh giá chung, ở các địa phương hiện nay, việc bảo tồn có tiến bộ về cách tiếp cận cũng như hiệu quả. Họ đã bắt đầu làm tốt hơn.

Trong một cuộc hội thảo về bảo tồn quan họ Bắc Ninh, nguyên Giám đốc Sở VH-TT Bắc Ninh, Trần Đình Luyện cho rằng: Đã đến lúc cần phải thành lập một Trung tâm nghiên cứu bảo tồn quan họ để nghiên cứu, sưu tầm về không gian văn hoá quan họ một cách có hệ thống. Bà nhận xét gì về quan điểm này?

– Trên thực tế thì Bắc Ninh đã từng có một trung tâm văn hóa quan họ rồi. Vì vậy không nhất thiết phải thành lập thêm 1 trung tâm nữa. Và tôi càng nghĩ rằng không phải cứ có nhiều trung tâm nghĩa là công tác bảo tồn thực hiện được tốt hơn. Bảo tồn ở đây phải mang tính toàn xã hội, nó phải là người dân tự bảo tồn. Còn những trung tâm, viện nghiên cứu chỉ là những công cụ hỗ trợ. Bảo tồn không có nghĩa là đi sưu tầm và lưu giữ đơn thuần, mà phải giữ cái truyền thống đang sống trong đời sống của người dân. Tôi nhắc lại, không phải là có thêm trung tâm, phòng trưng bày nghĩa là công tác bảo tồn thực hiện tốt.

Việc lập các trung tâm sưu tầm, đưa các giá trị văn hóa vật thể vào nhà trưng bày, bảo tàng. Hoặc tập hợp các nghệ nhân (người lưu giữ giá trị phi vật thể) vào các đoàn nghệ thuật để trình diễn đang diễn ra phổ biến. Cách thức này đã hợp lý chưa?

– Đây cũng là 1 hình thức để phát huy những giá trị. Nhưng không thể làm thay việc lưu giữ những giá trị của người dân. Cũng còn tùy phương pháp mà phát huy hiệu quả ít hoặc nhiều. Những địa phương nghiên cứu kỹ lưỡng, tìm được những cộng đồng, những chủ thể văn hóa đích thực, và tạo những cơ hội để đưa những cộng đồng đó đến trình diễn tại bảo tàng thì thành công.Trình diễn ở quảng trường, bảo tàng có hai tác dụng. Một, cộng đồng thấy được giới thiệu, tôn vinh. Thứ hai, nó tạo điều kiện cho những đối tượng công chúng không có điều kiện xuống tận cộng đồng được tiếp cận với truyền thống văn hóa đó. Việc đó cũng làm tăng cường nhận thức về giá trị di sản văn hóa của toàn xã hội, góp phần bảo vệ các chủ thể văn hóa.

Nhưng nếu chỉ gìn giữ bằng cách trưng bày giới thiệu, mà tách di sản ra khỏi cộng đồng sẽ có những hệ lụy như thế nào?

– Việc trưng bày sưu tầm chỉ là một hình thức. Còn để lâu dài và bền vững thì phải làm cho cộng đồng đó nhận thức được hết những giá trị di sản người ta nắm giữ. Thấy được cái hay, cái đẹp, cái quý của di sản để trân trọng, nâng niu gìn giữ và truyền lại cho con cháu, cho những người trong cộng đồng đều thực hành, và nối tiếp từ đời này sang đời khác thì mới gọi là bảo tồn bền vững.

Vậy đối với những địa phương tiến hành bảo tồn mang tính cứng nhắc như trong bảo tàng, Cục Di sản có những biện pháp nào để khắc phục, điều chỉnh?

– Thực ra không phải cứng nhắc mà do chưa nhận thức hết được cách thức bảo tồn một cách hữu hiệu nên chỉ dừng lại ở sưu tầm và trưng bày. Như vậy họ cần phải đi xa hơn nữa, địa phương phải nối dài cánh tay của mình xuống cộng đồng, giúp cộng đồng bảo tồn các giá trị sống.

Để giữ gìn các giá trị sống trong cộng đồng, các địa phương cần những bước đi như thế nào cho phù hợp với điều kiện kinh tế vật chất hiện nay?

– Trước hết phải nhận diện ra đâu là những giá trị văn hóa có thể trở thành di sản. Bởi có rất nhiều truyền thống, rất nhiều biểu hiện văn hóa nhưng chỉ một phần nào đó mới trở thành di sản thôi.

Khi đã nhận thức được vấn đề đấy, thì phải có những biện pháp cụ thể. Thí dụ, nếu truyền thống bị mai một chút ít thì phải giúp người dân nhớ lại, phục hồi lại. Có thể truyền thống bị đứt quãng thì phải khôi phục lại cho hoàn chỉnh. Ngay sau đó, phải có hình thức hỗ trợ để hình thành những sinh hoạt cộng đồng để gắn kết và duy trì truyền thống. Xa hơn nữa, phải làm cho người dân khai thác những giá trị di sản đó để làm kinh tế như các nghề thủ công truyền thống.

Gắn kết kinh tế vào việc giữ gìn văn hóa dân gian có làm biến đổi đi giá trị nguyên gốc của văn hóa?

– Có biến đổi! Đặc biệt trong cơ chế thị trường thì đây là một mâu thuẫn. Một bên là mong muốn giữ nguyên gốc, một bên là xu thế phát triển và nhu cầu thị trường, nó sẽ làm cho các truyền thống bị sai lệch hoặc bị thương mại hóa.

Chính vì thế, chúng ta cần các nhà nghiên cứu và các nhà quản lý. Các nhà nghiên cứu sẽ chỉ ra cho đâu là đúng, đâu là giá trị cần gìn giữ. Còn quản lý là hoạch định chính sách, có biện pháp về mặt chính quyền để tạo thế cân bằng, vừa bảo tồn vừa phát triển được.

  • Nguyễn Hữu Bắc (thực hiện)

Vietnamnet

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

Read Full Post »

Older Posts »