Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘HỘI HỌA, ĐIÊU KHẮC’ Category

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

*Men màu trên gốm Biên Hòa

*Ấn Độ : bài học muộn về những tượng thần  1

*Ấn Độ : Bài học muộn về những tượng thần 2

*Ấn Độ : Bài học muộn về những tượng thần 3

*Tia sáng mới rọi vào một quá khứ bị lãng quên

*Truy tìm hung thủ đốt lăng Tần Thủy Hoàng

*Ánh Mắt từ các bức tượng Ai Cập

*Nghĩ về thú chơi chữ

*Thăm Viện Bảo tàng Lịch Sử TPHCM bằng Tour ảo

*Dấu ấn tạo hình Chăm trong lòng Đại Việt

*Tìm hiểu hình tượng thần Civa trong nghệ thuật điêu khắc đá ChămPa

*Phế tích và kiến trúc Chăm : Những điều chưa được giải mã

*Quan niệm về cái đẹp nhục cảm của Ấn Độ cổ đại

*Bóng ma tàng hình

*10 bảo vật quốc gia

*Họa trên kính

*Tượng chú tễu và múa rối nước

*Hàng mã của làng tranh Đông Hồ

*Lãng quên những di vật quý của tiền nhân

*Bộ sưu tập quý nhất của Tử Cấm Thành ..tại Đài Loan

*Ngôn ngữ của chất liệu trong hội họa

*Kỷ lục mới về giá của tranh cổ Trung Quốc

*Topless Mona Lisa …khỏa thân

*Hội họa đường phố

*Những bức tranh thư pháp độc đáo

*Một vài kỷ lục về gốm sứ

*Kỷ lục về tranh ghép bằng nút chai rượu vang , tăm tre và đinh

*Loạt tranh ‘’nuy ‘’ timeless của Guan Zeju

*Bí ẩn 14 tháp cổ Chàm trên đất Tây Sơn –Bình Định

*Bình hít vẽ mặt trong – một nghệ thuật hiếm có xuất xứ từ TQ

*làm mẫu khỏa thân cho Cha vẽ

*Bức tranh “nuy”nổi tiếng lập kỷ lục đấu giá

*Eroticism trong nghệ thuật hội họa

*Bảo tàng có cổ vật giả

*Chuyện dài… Bảo Tàng mỹ thuật VN

*Bảo tàng mỹ thuật và tranh chép

*Rồng phương đông và rồng phương tây

*Loạt  tranh có tên “ Tề bạch Thạch và Marilyn Monroe

*Vẻ đẹp của người phụ nữ qua lịch sử mỹ thuật thế giới

*Từ Bi Hồng và một số họa phẩm

*Khảo cứu về một bình đồng Pháp :quà được tặng của Vua Thành Thái

*Một số tranh lạ trong cuộc thi Merget paintings Pictures Contest

*Tranh hoạt hình của Hitler

*103 nhân vật nổi tiếng thế giới trên một bức họa

*Những bức tranh của trùm phát xít Đúc Adolf  Hitler

*Những tác phẩm trên tường ngộ nghĩnh

*Những bức tranh Lithograph & Typograph độc đáo

*bảy sự kiện lý thú về tranh Mona Lisa

Advertisements

Read Full Post »

DANH MỤC TỔNG HỢP

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

1/ MỤC LỤC  CÁC BÀI SƯU TẦM

2/ MỤC LỤC  – CỔ VẬT VĂN HÓA : TƯỢNG , ĐỒ ĐÚC VÀ ĐIÊU KHẮC

3/MỤC LỤC – TRANH CỔ TRUNG HOA

4/MỤC LỤC – TRANH DÂN GIAN

5/ MỤC LỤC – TRANH THỦY MẶC

6/ MỤC LỤC – TRANH VẼ NHÂN VẬT NỮ

Read Full Post »

Nhân mùa Phật Đản tặng các bạn đọc bộ hình chụp (có chú thích tiếng Anh) cực “đỉnh” của Brian English ! Nhấn vào dòng chữ tiếng Anh có gắn link để xem.

BRIAN ENGLISH PHOTOGRAPHY

Buddha_Jain-150
The beautiful and sensitive imagery of Brian English

*MỤC LỤC  – VIDEO – SLIDE SHOW

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

Read Full Post »

Tượng Phật Mục Đồng (Pho tượng theo lời tục truyền là tượng phật nổi được bảo quản tới ngày nay). Cao 31cm. Đất sét sơn màu, chùa Linh Châu (Tân Tây, Gò Công, Tiền Giang). Ảnh Nguyễn Đại Phúc

Cặp câu đối khắc trên hai trụ cổng chùa Long Phước (xã An Đức, Ba Tri, Bến Tre) đã chỉ ra đây vốn là ngôi chùa do mục đồng khởi tạo và sau đó, người trụ trì đầu tiên là nhà sư Minh Trí. Chúng tôi đã nghe một số câu chuyện truyền khẩu về loại chùa mục đồng này và cứ bán tín bán nghi về cái lõi sự thật lịch sử của nó. Do đó, khi đứng trước chùa Long Phước, cái “chứng cứ văn tự” đó đã làm tôi xác tín về sự tồn tại của loại chùa do trẻ chăn trâu / bò “khai sơn tạo tự”. Từ ấy, mỗi lần có dịp đi đây đó, chúng tôi luôn lưu tâm đến việc ở đây có ngôi chùa mục đồng nào không và nếu như được mách bảo là có, thì liền tìm đến để xem cho bằng được các di vật còn lại – đặc biệt là loại tượng, thường được nặn bằng đất sét, mà theo lời truyền khẩu là do đám mục đồng tạo tác. Một cách không đầy đủ, đến nay chúng tôi đã tận mắt thấy khoản hơn 40 ngôi chùa mục đồng ở khắp các địa phương ở xứ lục tỉnh Nam kỳ.

1. Chùa Mục đồng có thể hiểu là ngôi chùa làng, thuộc cơ cấu của thiết chế văn hóa thôn / làng thời trước, gồm “đình – chùa – miếu – võ”, hiểu là ngôi chùa thờ Phật nho nhỏ mà dân làng tự ý lập nên để tự giải quyết nhu cầu tín ngưỡng của cộng đồng. Ở đó, thờ thần, Phật và Phật được thờ tự theo tâm thức của thứ Phật giáo dân gian hơn là để tu học giáo nghĩa đích thực của Phật pháp. Cũng có chùa mục đồng về sau này trở thành ngôi bửu sát danh tiếng như chùa Sắc tứ Linh Thứu ở miệt Xoài Hột (Tiền Giang), song đa phần thì tồn tại như một ngôi chùa làng, nằm trong cái không gian văn hóa làng xã: đất vua, chùa làng, phong cảnh bụt… và các truyền thuyết về chúng vẫn cứ tồn tại theo năm tháng, mặc dù chùa đã có tên tự hẳn hoi, có chư tăng đến trụ trì và hoằng hóa đạo pháp… Ở An Phước tự (tục danh chùa Mục đồng Hóc Tra/An Bình Tây, Ba Tri, Bến Tre) – cách chùa Long Phước nói trên vài cây số, người ta kể rằng: Thoạt tiên đám mục đồng hay tụ tập chơi, nặn các tượng thần tượng Phật và lập một cái am lá để thờ các cốt tượng dười chòm cây tra gần một hóc nước. Do vậy, chùa có tên là “chùa Hóc Tra”. Di tích còn lại là pho tượng Bồ tát cỡi cọp vàng và tượng một ông Địa có tình tướng y hệt ông Địa múa lân. Cả hai đều đạt trình độ tạo hình mà khó có thể nói là do đám chăn trâu tạo tác!

Ở chùa Da Lươn (tên chữ Thiên Trường tự – Đồng Sơn, Gò Công) lại có truyền thuyết tường tận hơn về lịch sử ngôi chùa: Thuở xưa, bọn mục đồng bày trò nặn tượng thần, Phật bằng đất sét chơi. Chơi chán lại đem tượng thả xuống ao ông Tú… cho Phật tắm mát! Lạ thay các tượng ấy lại nổi lình bình. Bọn trẻ hốt hoảng vớt các tượng lên để một nơi và che một am tranh để thờ. Sau đó, có một nhà sư từ xa đến, thấy cảnh chùa đơn sơ hiu quạnh bèn phát tâm ở lại tôn tạo chùa. Ngày qua, tháng lại, vị thiền sư một thân một mình khai phá dần rừng cây chà là ở đầm Bà Dơn để dọn một chỗ đất lập thành chùa. Người dân không biết danh tính của ông, chỉ thấy ông suốt ngày phơi tấm lưng trần sạm nắng như da lươn nên gọi ông là thầy Da Lươn và ngôi chùa đó cũng có tên là chùa Da Lươn. Sau nhiều lần trùng tu, chùa đổi tên là Thiên Trường tự.

Chùa Phật Nổi (Phước Lâm tự) ở ấp Ràng, xã Trung Lập Hạ (Củ Chi TP. HCM) được thành lập cách đây 200 năm cũng là một ngôi chùa mục đồng. Tục truyền lúc đó, ông Phan Sử (Thiện Sử – Như Thành) cùng bè bạn trong xóm, nhân một hôm thả trâu vào rừng, bày trò lặn xuống bàu Đất Sét để lấy đất nặn tượng Phật chơi. Hết ngày, bọn trẻ lùa trâu về nhà, bỏ các tượng Phật giữa rừng. Đêm đó bọn trẻ phát sốt và nói nhảm liên hồi. Sau khi gạn hỏi, cha mẹ bọn trẻ biết chuyện, bèn cùng nhau tính chuyện lập chùa thờ các tượng ấy – để gọi là chuộc tội với Phật! Thế nhưng Trùm cả và Trùm chủ trong làng không chấp thuận việc lập chùa vì lý do dị đoan đó. Để làm rõ mọi việc, Hương chức, đem các tượng Phật đất sét đó gác trên chiếc cầu khỉ bắc ngang qua bàu Đất Sét và rút cầu. Tục truyền, trong số các tượng rơi xuống thì có 8 tượng Phật nổi trên mặt nước. Thế là dân làng xúm nhau, kẻ có công, người có của, dựng ngôi chùa là để thờ các tượng Phật đó. Năm 1963, chùa bị Mỹ bỏ bom sập, nên sau đó dời vào chợ Trung Hòa. Di tích còn lại là một thân tượng bằng đất sét và một số tượng gỗ được tạo tác hết sức thô phác, nhưng có thần thái độc đáo..

Nói chung truyền thuyết về các nguyên nhân khởi phát của các ngôi chùa mục đồng mỗi nơi mỗi khác. Nhưng tất cả đều được hình thành trên mẫu đề duy nhất: trẻ chăn trâu nặn tượng đất sét và các tượng ấy khi thả xuống nước đều nổi. Trong lịch sử, tín lý thiêng liêng về các pho tượng nổi trôi dạt vào nơi nào thì ở đó dân lập đền chùa để thờ là rất phổ biến và từ tâm thức văn hóa sâu kín đó, giờ đây các cổ mẫu ấy lại tái sinh và tích hợp vào loại tượng mục đồng như một phương thức ảo hóa.

2. Đằng sau những tình tiết truyền kỳ, là một thực tế: có một tập hợp Phật tượng dân gian hình thành một cách tự phát trong thời khẩn hoang lập làng ở Nam bộ mà tác giả của các pho tượng đó là các sư sãi, tín đồ phật tử… và được gán cho trẻ mục đồng (1). Rõ ràng là nghệ thuật tạo hình Phật tượng ở Nam bộ từ buổi đầu đến những năm 1950 là một tiến trình song hành của cả hai dòng phái dân gian và chuyên nghiệp. Dòng tượng dân gian biểu hiện rõ nhất và nhiều nhất là ở tượng đất và tượng gỗ (có thể kể thêm loại tượng đất nung và tượng làm bằng hợp chất); ở đó, loại tượng đất sét, được gọi là tượng mục đồng, có thể coi là loại hình khởi phát của lịch sử tạo hình Phật tượng.

Đặc trưng cơ bản của Phật tượng mục đồng là sự thô phác và hồn nhiên làm sững sờ người xem như một thoáng thảng thốt khi bất chợt nghe câu hò buông dài trên sông. Nói cách khác, chúng được tạo tác không theo qui phạm tạo hình, không hề biết đến các nghi qui về đồ tượng học Phật giáo: quí tướng, tọa thức, ấn quyết, pháp phục… Chúng được tạo tác bằng thủ pháp riêng, chủ quan theo căn cơ của người tạo tác. Chúng hình thành như thể là vô tâm, vô chấp, vô sở trụ… Tác phẩm được tạo nên là tình là ý của người tạo tác mà không là dụng công, dụng trí của thợ điêu khắc chuyên nghiệp. Tính vô chiêu thức đã dẫn đến sự độc đáo của từng Phật tượng, và có thể gượng ép lấy thuật ngữ của hội họa mà nói thì thủ pháp “đại tả ý” là dự phóng sáng tạo của tác giả tượng mục đồng: nó chủ vào hình khối, dừng lại ở mực tạo dáng, không quá chăm chú vào chi tiết; cái chú trọng ấy là thần khí, sắc thái tâm linh.

Do đó, về mặt tạo hình chúng ta thấy tính giản lược một cách biểu cảm và những mảng khối thô phác là đặc điểm của tượng mục đồng. Lấy tập hợp Phật tượng mục đồng ở chùa Thanh Sơn (Hóc Môn, TP. HCM) làm ví dụ, chúng ta thấy chúng giản lược đến mức là nếu căn cứ vào các đặc điểm của hình tướng, tọa thức, ấn quyết thì khó mà định dạng được chính xác cho từng tượng: tất thảy đều ngồi theo thức tọa thiền và tay kết định ấn.

3. Nói là vô chiêu thức, nhưng không phải là sự phóng túng hoàn toàn mà cơ hồ việc biểu đạt cũng bắt nguồn từ một hoài niệm nào đó về hình tướng chư Phật, Bồ tát trong tâm thức của người tạo tác để ít ra cũng có sự khu biệt nhất định giữa Phật hình, Tỳ khoe hình với hình tướng của các thần linh không thuộc đối tượng thờ tự của Phật giáo. Ngoài hình tướng chung, các chi tiết tạo hình khác cũng được lưu tâm như tư thế tọa thiền (đúng ra là “ngồi xếp bằng”) và trong phần lớn các trường hợp là hai bàn tay đều biểu hiện một thức ấn quyết (mudra) nào đó – tất nhiên là không hoàn toàn đúng như qui thức mà đồ tượng Phật giáo đã xác định. Chẳng hạn tượng Phật tọa thiền ở chùa Linh Châu (Tân Tây, Gò Công), tuy đã bị hư hỏng nhiều nhưng vẫn toát lên vẻ an định và từ bi của đức Phật. Điều này khác biệt rõ nếu so sánh với tượng Tà Mun (thần bảo hộ cộng đồng, gốc của người Tà Mun) ở chùa mục đồng Phước Đồng (Tân Bình, Dĩ An, Bình Dương). Ở đây, tượng Tà Mun có đường nét mạnh, màu sắc phi thực tế, hình thù biến dạng: tất thảy đều mang tính chất của nghệ thuật thuộc trường phái biểu hiện. Qua so sánh, chúng ta thấy Phật tượng tuy không bị câu chấp vào các nguyên tắc đồ tượng học, nhưng trong lòng người tạo tác đã tiềm ẩn một cổ mẫu Phật tượng – một tâm ảnh về Phật, để từ đó mà phát tâm tạo tựợng. Nói cách khác, Phật giáo nói chung, Phật tượng nói riêng, trải qua lịch sử đã trở thành văn hóa của dân tộc, văn hóa ở đây hiểu như di sản còn lại qua thời gian, văn hóa hiểu theo nghĩa tất cả những gì đã có đều bị mất đi thì cái còn lại là văn hóa; và rồi khi bao nỗi gian truân của công cuộc khẩn hoang lập nghiệp đã có phần ổn định thì giờ đây tâm cảnh của những lưu dân lại bừng lên một khát khao tâm linh, một nhu cầu về văn hóa – tinh thần: họ moi đất-sét-dưới-chân mình để nặn thành Phật tượng và lập một ngôi chùa lá để thờ Phật. Ở đây cũng lưu ý rằng đa số chùa mục đồng đều thờ cả Phật tượng lẫn tượng thần linh đa tạp. Với cái nhìn văn hóa như vậy, Phật tượng mục đồng là hình tướng mang đậm cá tính chủ quan, được nhân cách hóa, là sự hóa thân tình cảm và tâm hồn của người tạo tác vậy. Do đó, mỗi Phật tượng là một thủ đắc riêng và tự nó cũng biểu hiện căn cơ sở đắc của cộng đồng cư dân thời đó ở vùng đất mới phương Nam. Trong chừng mực nhất định, có thể nói Phật tượng mục đồng ra đời trong tâm thức đa thần luận với đặc điểm thô phác, chúng có nhiều điểm tương đồng với nghệ thuật hồng hoang mà chúng ta bắt gặp ở những khám phá khảo cổ học thời sơ sử.

 

Huỳnh Ngọc Trảng – Nguyễn Đại Phúc

______________________________________________________

  1. Theo quan niệm phổ biến ở Nam bộ thì mục đồng là con cháu của Thần Nông, theo đó các thế lực siêu nhiên như ma quỉ, cô hồn đều phải kiêng dè và tuân phục. Do vậy, trẻ mục đồng được quyền hưởng các lễ vật cúng, kể cả lễ vật cúng cô hồn. Tục truyền, trẻ mục đồng ngoắc tay vẫy thì tức khắc các bè chở lễ vật cúng cô hồn (trong lễ tống ôn, tống gió) cập vô bờ. Nói chung, trẻ mục đồng là một nhóm xã hội “ngoại hạng” dưới con mắt của cộng đồng và do niềm xác tín chúng là con cháu của Thần Nông nên chúng có khả năng liên thông với cõi thiêng, cảnh giới bên trên và bên ngoài trần thế. Phàm các nổ lực truy cứu về nguyên ủy các yếu tố truyền kỳ đều là chuyện… lông rùa sừng thỏ. Ở đây nêu ra một số thông tin để tạm giải thích lý do gán việc tạo tượng cho mục đồng.

Read Full Post »

Tranh quyển lụa “khủng” tk 18 bán gần 31 tr đô la tại Paris

Bản tin Việt ngữ trên thanhnien online:

(TNO) Một bức tranh lụa khổng lồ, dài hơn 24 mét, xuất xứ từ Trung Quốc (ảnh) vừa được bán với giá 19 triệu bảng Anh tại một cuộc đấu giá ở thủ đô Paris (Pháp).
Theo Telegraph, tác phẩm nghệ thuật nói trên được xác định thuộc thời Hoàng đế Càn Long (khoảng năm 1748). Nó từng nằm phủ bụi nhiều năm trên gác mái một căn hộ tại Paris (Pháp), trước khi được nhà đấu giá người Pháp tên Marc Labarbe mua lại.


Ảnh: AFP

Đây là một trong bộ bốn tranh lụa vẽ về cuộc diễn tập của đội quân 20.000 người của Trung Quốc vào thế kỷ 17.
Được biết, hai bức khác trong bộ bốn tranh lụa này, có một bức hiện đang được trưng bày tại Bảo tàng Cung điện Bắc Kinh (Trung Quốc), còn một bức đã được bán đấu giá tại Hồng Kông năm 2008, với giá 67,86 triệu USD.

Bản tin ngắn Anh ngữ trên The Canadian Press – ONLINE EDITION:

Enormous 18th-century Chinese silk scroll painting sells for more than $30 million in FranceBy: The Associated PressPosted: 03/26/2011 11:04 AM

PARIS – A giant 18th-century Chinese silk scroll painting of a military troop review has been sold at auction for more than €22 million ($30.8 million), the highest auction price for a Chinese work in France.
The work, found in a Paris attic and sold in Toulouse by auctioneer Marc Labarbe, is one of a series of four works of 17th-century manoeuvrs that mobilized some 20,000 men.
A Hong Kong collector, who asked to remain anonymous, made the winning bid Saturday of €22,057,000 after a ferocious bidding war with seven others.
The 24-meter-long (78.7 feet) horizontal scroll was painted around 1748 under Emperor Qianlong.
One of the four scrolls is in the Palace Museum of Beijing, and another was auctioned off in 2008 at Sotheby’s in Hong Kong — for $67.86 million.

Bản tin Anh ngữ cho biết thêm người thắng đấu giá mang quốc tịch HongKong phải tranh giá với 7 người khác để thắng đấu giá và Marc Labarbe là nhà đấu giá chứ không phải là thể nhân ( họ mua lại bức tranh từ chủ củ với giá khoảng 5 tới 6 tr euros! ( chú bởi KHTN)

Bản tin anh ngữ chi tiết tại tin tài chính Bloomberg:

Chinese 18th-century painting

A section from a 79-foot (24 meter) scroll showing the Quianlong emperor reviewing his troops. The 18th-century Chinese painting was originally estimated to fetch between 5 million euros ($6.9 million) and 6 million euros at the Toulouse, France-based auction house, Labarbe, on March 26. It sold for 22.1 million euros. Source: Labarbe via Bloomberg

Chinese 18th-century painting

A section from a 79-foot (24 meter) scroll showing the Quianlong Emperor reviewing his troops. It is one of four Imperial examples thought to have been looted from the Forbidden City in 1900. Source: Labarbe via Bloomberg

A Qianlong-dynasty scroll painting sold today in Toulouse, south-west France, for a record 22.1 million euros ($31 million), the latest in a series of big- ticket auction prices pledged by Asian bidders keen to buy back China’s heritage.
The price of the 79-foot (24 meter) scroll, including fees, was the most paid for a Chinese artwork at a French auction. The work, showing the army of the Qianlong emperor at a military review, was originally estimated to fetch between 5 million euros and 6 million euros by the Toulouse auction house Labarbe.
“The bidding was secure,” Pierre Ansas, the freelance Asian art specialist who catalogued the painting, said in an interview. Ansas, who will earn a commission of more than 5 percent, said the estimate was raised to 13 million euros to 15 million euros after seven Asian bidders registered to take part.
The values of Chinese antiques are rising even outside the country’s own art market, which is now second only to the U.S. On March 22 at Sotheby’s in New York, a Chinese vase decorated in gold and the “famille rose” palette sold for $18 million against an estimate of $800 to $1,200. While the piece had been catalogued as “probably Republican (early 20th century),” some people thought it was an 18th-century piece, according to Giuseppe Eskenazi, a dealer in Chinese art.
Today, the small salesroom in a quiet side street in the east of the French city was packed with more than 300 people including 40 Asian dealers, agents and collectors.

Bidding Contest

Bidders competed for 10 minutes before the scroll was knocked down to a Chinese buyer at the back of the room, brandishing paddle 109. He refused to comment after the sale. Both he and the underbidder, sitting in the second row, are Beijing-based collectors. They fought off competition from at least two other people in the room and a client on the telephone.
Five months earlier, in November, a Qianlong-dynasty vase was bid to 51.6 million pounds (then $83.2 million) at a Bainbridges sale in west Ruislip, on the outskirts of London. The price was a record for any Chinese work of art offered at auction. Auctioneer Peter Bainbridge said on Feb. 3 that he hadn’t yet received payment from the successful Beijing-based bidder.
__________________ khanhhoathuynga.wordpress.com
mobile 0908758773
khanhhoastocks@yahoo.com

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

Read Full Post »

Chiêm ngưỡng một kiệt tác điêu khắc Đ N Á thế kỷ 12 – Hiện vật trưng bày tại VBT Metropolitan New York.

Dancing Celestial at the Metropolitan Museum, New York City USA. Dancing Celestial, India (Uttar Pradesh), Early 12th century, Sandstone. Dimensions: Height 331/2 in. (85.1 cm), Promised Gift of Florence and Herbert Irving (L 1993.88.2)

WoodCiti® Studios – Photos of Darren Pinkney

 

 

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

Read Full Post »

Bức tượng nổi tiếng “Scribe accroupi” (Viên thư lại ngồi xếp bằng, 2600 – 2350 TCN) trong bảo tàng Louvre có một cái nhìn cuốn hút nhiều thế hệ khách thăm đến đây. Nhưng tại sao người Ai Cập cổ lại có thể tạo ra được một ánh mắt kì lạ đến thế? Các nhà khoa học mới đây đã khám phá ra được bí mật này. Phân tích bức tượng đã giúp các nhà khoa học không những hiểu được cách người ta làm ra nó mà còn cung cấp thêm những kiến thức mới về thành phần, cách chế tạo và bảo quản các tác phẩm nghệ thuật.

Tại thung lũng Saqqarah, vào năm 2600-2350 trước Công nguyên, một nhóm các nghệ sĩ đã được tập hợp lại để hoàn thiện một bức tượng điêu khắc làm bằng đá vôi, miêu tả một người đàn ông đang ngồi xếp bằng. Nhẹ nhàng và khéo léo, các nghệ sĩ hoàn tất công việc dát đá cho bức tượng. Những viên tinh thể đá núi đã được chọn để chế tác thành đôi mắt cho bức tượng. Họ đã khiến cho bức tượng Scribe, một tuyệt tác của Đế chế Ai Cập cổ đại có một cái nhìn bao la, thật một cách đáng kinh ngạc. Cái nhìn như từ bên trong của nhân vật nhưng lại giày vò những người ngoài khi họ bắt gặp ánh mắt đó, bằng những dữ liệu thị giác rõ ràng. “Chúng ta nhìn ông ta và điều kỳ lạ là chúng cảm thấy như đi cùng, hòa đồng với ông”, Maurice Merleau-Ponty, nhà triết học người Pháp từng nói về bức tượng như vậy.

Bức tượng Scribe là bằng chứng của một thời kỳ rực rỡ, thời kỳ mà các xưởng vẽ của các vị vua sáng lập ra Saqqarah, những phường hội nghề nghiệp cùng chung sống với nhau (hội họa và nghệ thuật có quan hệ mật thiết với những người thợ thủ công trong các lĩnh vực như mài đá, đào vàng, kim hoàn và chế tác đá quí).

Năm 1850, nhà Ai Cập học Auguste Édouard Mariette của bảo tàng Louvre phát hiện ra một lăng mộ ở Ai Cập bị vùi lấp dưới cát sa mạc, sau này lăng mộ đó đã trở nên nổi tiếng. Người ta kể lại rằng những công nhân Ai Cập được thuê khai thác kho báu đã rất sợ hãi khi mới nhìn thấy bức tượng và nói rằng ánh mắt của bức tượng luôn dõi theo họ. Đối với họ, đó là người thật chứ không phải là một bức tượng.

Quan sát bằng mắt thường

Cho tới năm 1997, bức tượng Scribe được bảo quản tại bảo tàng Louvre và ánh mắt của nó luôn được coi là bí ẩn đối với mọi người. “Tác phẩm nghệ thuật này là một thông điệp khá mơ hồ, trong đó tính đa nghĩa của cái được biểu đạt lại tồn tại với tính đơn nghĩa của cái biểu đạt”. Mỗi khách tham quan có thể có sự lựa chọn riêng của mình nhưng câu hỏi mà ánh mắt đưa ra đối với mọi người thì khó ai có thể giải đáp được chính xác.

Để lột bỏ bức màn bí hiểm che phủ bức tượng, vào năm 1997, các chuyên gia của Trung tâm nghiên cứu và phục chế các bảo tàng của Pháp (C2RMF) và bảo tàng Louvre đã chụp, quét và phân tích bức tượng Scribe với sự trợ giúp của các công nghệ mới nhất, các thiết bị tinh vi nhất và các kiến thức khoa học cập nhật nhất.

Phòng thí nghiệm nằm dưới bảo tàng là nơi tiến hành các nghiên cứu vật lý và hóa học trên tác phẩm nghệ thuật. Để đảm bảo không ảnh hưởng tới bức tượng, các nhà khoa học đã sử dụng phương pháp nghiên cứu không phá hủy (phân tích không cần lấy mẫu).

Nhờ phương pháp gia tốc phân tử, các nhà khoa học đã khám phá được bí mật chất liệu làm ra đôi mắt kỳ lạ của bức tượng. Sử dụng thêm phương pháp chiếu tia X, cấu trúc của bức tượng cũng đã được làm rõ. Con ngươi của cặp mắt được làm từ tinh thể đá núi cực kỳ thuần khiết. Được đẽo thành hình nón, con ngươi của bức tượng trông như một nhãn cầu thực sự. Bề mặt hình nón được làm mờ để tạo ra “ánh sáng” xung quanh con ngươi. Chúng được làm như một đồng tử của mắt thật. Những điều này cho thấy người Ai Cập cổ đã có một kiến thức đáng ngạc nhiên về giải phẫu mắt. Người nghệ sĩ đã tái tạo khá trung thành độ cong của giác mạc và đồng tử thì được đặt rất đúng chỗ, với một sự chính xác hiếm có. Dường như người nghệ sĩ muốn tạo ra bí ẩn thực sự cho cái nhìn của bức tượng. “Người ta đã cố tạo cho cái nhìn đó sống động hết mức có thể. Một ánh mắt bất diệt”, Jean-Pierre Mohen, Giám đốc C2RMF.

Anne Bouquillon, một kỹ sư và đồng tác giả của nghiên cứu bức tượng nhận xét rằng: dường như các nghệ sĩ Ai Cập đã quan sát rất kỹ mắt của người, phần trước của mắt dường như được làm để tiếp nhận mọi ánh mắt khác khi nhìn vào đó. Điều kỳ lạ là các nhà kim hoàn thời đó đã biết mài các thấu kính thành các hạt quartz. “Đây là điều chưa từng có trong lịch sử, theo những kiến thức mà chúng tôi có được”, bà nói. Liệu y học Ai Cập đã phát minh ra nhãn khoa trước khi phát minh ra bức thư? Cho đến ngày nay, người ta chưa tìm thấy bất cứ bằng chứng khảo cổ nào chứng minh cho câu hỏi đó. Tuy nhiên, với những quan sát và phân tích mắt bằng mắt thường như vậy chứng tỏ người xưa đã có rất nhiều các kiến thức y học trong lĩnh vực này.

Men và ngọc rubis

Qua các nền văn minh và thời kỳ khác nhau, người ta đã biết đến rất nhiều bộ phận giả được làm ra và gắn trong các tác phẩm nghệ thuật. Bức tượng nữ thần Babylon Ishtar được làm ra từ hai thế kỷ trước Công nguyên, với đôi mắt không phải là những mảnh thủy tinh nhuộm, mà là những viên ngọc rubis có nguồn gốc từ Myanmar (Miến Điện cũ).

Nhiều tác phẩm nghệ thuật Ai Cập khác cũng vậy, thí dụ như chiếc mặt nạ bằng vàng của bức tượng Toutankhamon và những con mắt tráng men, hay những đồ vật bằng đá chạm trổ tuyệt mỹ, tượng trưng cho đầu của thần Horus. Người ta cũng thấy nhiều bộ phận giả trong các tác phẩm nghệ thuật Celtic, Hy Lạp (thí dụ trong mặt người đánh xe của Delphes) hay trong các tác phẩm thời Roman. Phải chăng chính là nhờ các nghệ sĩ Roman mà ngày nay chúng ta có được từ ocularii, một từ dùng để chỉ các nhà sản xuất mắt giả, chuyên dùng cho các bức tượng. Vào thời Trung cổ, con ngươi trong mặt người trên các cột kiến trúc Roman đều được làm bằng đá quí hoặc chì. Các bức tượng ở Đảo Pâques trước cũng có các con ngươi như vậy, nhưng sau đã bị đánh cắp hết.

“Ngày nay người ta đã nhận thức rõ ràng rằng một tác phẩm nghệ thuật được tạo ra không chỉ để thỏa mãn thị giác của người xem mà còn kể lại cuộc sống của những con người đã sáng tạo ra nó”, Jean-Pierre Mohen, Giám đốc phòng nghiên cứu và phục chế các tác phẩm nghệ thuật của Louvre nói.

VƯƠNG TIẾN (TS, Theo Cnrs)

 

 

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

 

Read Full Post »

« Newer Posts - Older Posts »