Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘CÁC BÀI SƯU TẦM’ Category

Đồng Nai có gốm Biên Hòa

Đẹp, bền, duyên dáng ai mà lãng quyên

Đó là câu ca dao ngọt ngào, ngợi ca địa danh làm gốm nổi tiếng của mảnh đất Miền Đông Nam bộ. Thật tự hào với thương hiệu gốm Biên hòa đã đi vào lòng người. Điều đó chứng minh nghề gốm Biên Hòa đã có từ rất lâu, nó được đón nhận vào đời sống văn hóa của dân gian như nhiều nghề truyền thống khác. Trải qua hàng trăm năm hình thành và phát triển gốm Biên Hòa đã để lại nhiều giá trị tại kho tàng lịch sử gốm Việt Nam, trong đó giá trị nghệ thuật là yếu tố nổi bật và quan trọng để đưa sản phẩm gốm Biên Hòa trở nên nổi tiếng trong và ngoài nước. Một trong những yếu tố quan trọng đó, chính là nghệ thuật trang trí được thể hiện qua đôi tay khéo léo và khối óc sáng tạo của các nghệ nhân gốm Biên Hòa.

Hoa văn trang trí gốm Biên Hòa

Nói đến “Trang trí”, đầu tiên phải kể đến các họa tiết trang trí. Đó có thể là một hay nhiều mảng màu đơn giản đến các hoa văn phức tạp khác nhau. Một đặc trưng nổi bật của trang trí gốm Biên Hòa là sự đa dạng, phong phú của nội dung các hoa văn trang trí.Đối với các hoa văn, ngoài yếu tố trang trí, người ta rất quan tâm đến ý nghĩa của nó, đặc biệt là những hoa văn có tính ước lệ như rồng, phượng, được gắn đặt một ý nghĩa nào đó thông dụng trong nhân dân. Hoa văn miêu tả cuộc sống như cảnh sinh hoạt, hay minh họa cho một truyền thuyết của dân tộc, một kỳ tích của các anh hùng, một câu chuyện nào đó trong dân gian được mọi người yêu mến và có ý nghĩa giáo dục.

–  Hoa văn Rồng, Phượng

Hòa mình vào quan niệm truyền thống của người phương Đông, hình tượng con Rồng, Phượng, Kỳ lân là những hoa văn ước lệ xuất hiện khá nhiều trong các sản phẩm gốm truyền thống của Đồng Nai. Các bố cục như “lưỡng Long tranh châu” hay “lưỡng Long chầu Nguyệt” luôn là các đề tài cho việc trang trí sản phấm gốm thờ cúng.

Một đặc trưng của hình tượng Rồng trên gốm Biên Hòa là biến thể Rồng lá, đây là dạng hoa văn cổ rất hay được áp dụng trên các đố án trang trí bình đèn. Một sản phẩm gốm Biên Hòa được sáng tác từ thời Pháp thuộc là bình đèn lộng rồng lá đã áp dụng rất nhuần nhuyễn hoa văn trang trí này. Trong bình, rồng lá có bố cục mềm mại, uyển chuyển và liên tục chạy khắp một vòng của thân bình với nhiều con kết hợp lại. Các mảng lượn lờ đan xen với nhau sao cho bố cục của mảng được rải đều và nâng đỡ nhau để khi lộng thủng bớt phần nền, vẫn còn lại xương đủ cho sự chịu lực của bình. Nghệ nhân thường chạm thủng phần nền làm nổi bật thân Rồng lá để lộ rõ một lối trang trí có đường cong làm chủ đạo. Họa tiết trang trí và phần nền được hai màu men xanh đồng và trắng ta phối lại một cách hài hòa và trầm lặng.

 
 – Họa tiết hoa lá

Hoa lá trong trang trí gốm Biên Hòa thường hiện diện dưới hai hình thức, đó là hoa lá cổ được người nghệ nhân sưu tầm lại từ vốn cổ của cha ông để lại. Có nhiều dạng hoa lá cổ như hoa Mai, Lan, Cúc, Sen…hoặc chỉ là những chiếc lá được bố cục trong một dải đồ án nhất định. Việc đưa họa tiết cổ vào trang trí đã tạo cho sản phẩm trở nên gần gũi thấm đượm bản sắc dân tộc. Cách bố cục họa tiết hoa lá cổ cộng với sự phối màu hài hòa, trầm, đã tạo cho gốm Biên Hòa sự sâu lắng đến vô cùng, nghiêm trang và cao quý.

Ngoài hoa lá cổ, gốm Biên Hòa còn sử dụng họa tiết hoa lá do người sáng tác nghiên cứu. Họa tiết thường được chú ý nhiều nhất là hoa Sen, hoa Mai. Trong chiếc liễn hoa Sen một sự tự do, thoải mái cho người sáng tác, những mảng hoa và lá nâng đỡ cái nọ làm nền cho cái kia trên một diện tích hợp lý, tạo ra một bố cục hoàn chỉnh với màu sắc nhẹ nhàng, quyến rũ. Ở một số bố cục khác, lại có sự kết hợp rất khéo giữa Sen và cỏ, những bông Sen trong nhiều hình dáng từ khi mới nở đến lúc đã xòe ra hết cỡ, điều này chứng tỏ người sáng tác đã có nghiên cứu kỹ. Màu sắc của lá sen thường là men xanh đồng, bông sen màu trắng có điểm chút màu hồng để tạo ra sự tinh khiết.

Có một dạng trang trí rất đặc sắc của gốm Biên Hòa, đó là đồ án bá hoa. Trong đồ án trang trí này, nghệ nhân sử dụng rất nhiều các loại hoa, hoa Mai, hoa Cúc, hoa Hướng dương, hoa Dâm bụt…tất cả các hoa này, cái to, cái nhỏ chồng lấn nâng đỡ nhau tạo thành một rừng hoa trước mắt người xem. Đây là lối trang trí được sắp xếp rất nhiều màu cho các loài hoa, tuy nhiên, nhờ có mảng lớn nhỏ khác nhau, sự diễn tả tốt của không gian nhờ các mảng chồng lên nhau nên sự phối màu trở nên hài hòa, vui mắt.

Họa tiết động vât

Động vật trong trang trí gốm Biên Hòa rất phong phú, ngoài những con vật tưởng tượng như Rồng, Phượng, kỳ Lân, còn có rất nhiều loài vật khác trong tất cả các loại hình của gốm.

Trong gốm tượng tròn, hình tượng nhiều nhất là Voi với sự đa dạng ở các tư thế khác nhau, có con cụp vòi xuống, có con lại đưa vòi lên như đang vẫy gọi bạn. Một loại sản phẩm dùng voi làm hình tượng là đôn voi, đây là sản phẩm đặc trưng của gốm Biên Hòa. Nhìn chung, hình tượng voi trong gốm Biên Hòa có thân hình khỏe và sinh động trong các tư thế động. Trong một số loại hình, voi còn được trang trí những hoa văn, điều đó đã đưa gốm Biên Hòa có những sản phẩm tiêu biểu, khác biệt với các dòng gốm khác.

Trong nhiều đồ án trang trí trên gốm Biên Hòa, hình ảnh Ngựa được thể hiện rất đẹp với dáng vẻ sinh động và thật mềm mại. Dưới nét khắc tài hoa của nghệ nhân, hình ảnh ngựa hiện lên hùng dũng trên đường chạy song cũng thật uyển chuyển, lãng mạn với nhịp điệu của đường nét và mảng khối.

Họa tiết Tôm và Cá được diễn tả rất sinh động trên các sản phẩm gốm Biên Hòa. Một chú Tôm đang dùng hai chiếc càng để gắp bông hoa, cho thấy sự quan sát thật tinh tế của người sáng tác. Chỉ bằng những nét khắc đơn giản, con Tôm đã được tả thực một cách vô cùng chính xác. Cách bố cục của Tôm cùng với những thực vật trong lòng tròn đĩa cho người xem cảm nhận một sự chặt chẽ nhưng thật nhẹ nhàng của môi trường dưới nước. Trong sản phẩm này màu men xanh đậm của đĩa đã làm nổi bật mình Tôm màu trắng ta bên cạnh những mảng hoa màu nâu nhạt đóng vai trò trung gian.

Đề tài Cá được khai thác nhiều tập trung ở hình ảnh cá ba đuôi, cá tai tượng. Đĩa trang trí cá trong gốm Biên Hòa cho thấy một thân thể cá mềm mại với những cái đuôi lượn lờ trong nước. Ở đây tác giả đã cố ý miêu tả chi tiết vẻ đẹp đặc trưng của cá ba đuôi, những mảng đuôi được phụ họa bằng những nét khắc đã tạo nên sự uyển chuyển, mềm mại làm sao.

Bình hoa trang trí “Cò Tùng” là một bức tranh thật sinh động về cảnh sinh hoạt của cả một bầy cò. Tác giả đã nghiên cứu và thể hiện ở đây nhiều dáng cò, có con đang bay, con đang đậu nhìn lên, con đang xỉa lông… thật là một tập thể náo động quanh những cành, lá Tùng cùng một vài giải Mây lượn lờ bên trên. Bố cục trang trí của đồ án trang trí này là hết sức tự do, mọi họa tiết cứ phát triển tự nhiên và chạy giáp vòng, phủ kín hết diện tích bề mặt của bình. Điều này gây cho người xem sự chú ý toàn diện trên tất cả các mặt của sản phẩm, nó cũng cho cảm giác như đang được chiêm ngưỡng cả một rừng“Cò Tùng” vậy. Hình ảnh những cánh cò trắng hòa cùng màu xanh lãm của nền, trông như một bức tranh sống động trong thiên nhiên.

                                                                                                   

–  Hình ảnh con người trên gốm Biên Hòa:

Trong trang trí gốm Biên Hòa ngoài những tượng đài và phù điêu hoành tráng, hình tượng con người còn được thể hiện rất phong phú qua những đề tài có sự nghiên cứu kỹ lưỡng, mỗi đề tài đều gắn với một điển tích, một cảnh sinh hoạt hay một cốt truyện cụ thể trong dân gian. Nó là những lời ngợi ca các anh hùng, ngợi ca vẻ đẹp của con người Việt Nam trong lịch sử đấu tranh và lao động của mình.

Đề tài về con người được quan tâm sâu rộng là những cảnh sinh hoạt trong dân gian. Qua tranh gốm diễn tả đám cưới, hình ảnh con người và phong tục xưa hiện lên rõ nét. Sự rộn ràng, hồ hởi của ngày quan trọng nhất trong cuộc đời đã được tác giả thể hiện trên những gương mặt của các nhân vật cùng nhịp điệu vui tươi được tạo ra bởi các tư thế của những người đi rước dâu. Những trang phục cộng với ô và nón đã đem lại một cảm giác hết sức thân thương về một quê hương Việt Nam thanh bình, đầm ấm tình người. Tranh lấy màu xanh và trắng làm màu chủ đạo và được điểm một số họa tiết màu nâu vàng đã đem lại hiệu quả nhẹ nhàng, nền nã.

Phù điêu “Mùa gặt” đã mang đến một hình ảnh khác của người Việt, một lao động hăng say trên cánh đồng lúa nước. Những người nông dân trong động tác làm việc khác nhau, song họ đều hồ hởi trước một vụ mùa bội thu. Bố cục của ba người gom thành một nhóm chặt chẽ và tạo thành nhịp điệu rõ qua đường nét của mảng. Những cánh cò bay ngược với hướng của nhân vật ở phía trên có tác dụng cân bằng và mở rộng thêm không gian cho phù điêu.

              

Cảnh nhảy múa có rất nhiều đồ án trong trang trí gốm Biên Hòa, đó là sự thể hiện những nhịp điệu thật nên thơ của các điệu múa trong bản sắc văn hóa Việt Nam. Các nghệ nhân đã chọn lọc và bố cục nhịp nhàng giữa sự uyển chuyển của người múa cùng những dải lụa hoặc trang phục truyền thống duyên dáng, dịu dàng…tất cả tạo thành một tổng hợp của đường cong thật nhẹ nhàng, đẹp đẽ.

Các phương pháp trang trí trên gốm Biên Hòa:

–  Kỹ thuật chạm khắc trong trang trí gốm:

Kỹ thuật khắc chìm là một đặc trưng rõ nét nhất của nghệ thuật trang trí trên gốm Biên Hòa. Việc gốm Biên Hòa chọn phương pháp khắc chìm và phối màu men trên sản phẩm so với gốm vẽ oxit men Lam rất phổ biến ở Miền Bắc và Huế có thể cho chúng ta hình dung sự độc lập trong sáng tạo và xu hướng riêng biệt.

Khác  với  các  phương  pháp  vẽ  oxit  như gốm Hoa lam, người thợ khắc dùng một dụng cụ như bút viết nhưng đầu bằng sắt nhọn để khắc nét chìm vào sản phẩm. Muốn cho dễ thao tác và không bị bể nét, người thợ thường khắc khi đất còn chưa khô trắng. Họa tiết được phác chì hoặc in bằng một mộc cao su,  người  thợ sẽ khắc lại theo nét chì, mực in. Độ sâu của nét khắc vừa đủ để làm rãnh ngăn cách không cho hai màu men chảy lem vào nhau.

–  Kỹ thuật chạm lộng của gốm Biên Hòa:

Chạm lộng (chạm thủng) là kỹ thuật trang trí được áp dụng cho một số chủng loại sản phẩm như: Bình đèn, voi, đôn, chân đèn…Trong kỹ thuật này người thợ dùng dao cắt xương đất thành những lỗ hổng, tạo ra một phần nền (âm), phần họa tiết được giữ lại. Các họa tiết phải liên lạc với nhau sao cho  khi lộng thủng xong mà xương vẫn vững chắc cho công đoạn tiếp theo và trong sử dụng. Đối với bình đèn, bóng đèn được lắp bên trong, ánh sáng sẽ rọi qua các lỗ thủng tạo ra một hiệu quả vô cùng thú vị tùy vào sự tính toán của người thiết kế trang trí.

Kỹ thuật trang trí men trên gốm Biên Hòa:

Kỹ thuật trang trí men ở Biên Hòa có nhiều phương pháp khác nhau  nhưng hay sử dụng nhất là kỹ thuật chấm men. Khi đã có mảng trang trí được phân chia theo các đường khắc, người thợ sẽ dùng cọ chấm men lên sản phẩm  theo một sự phối màu đã có sẵn.Độ dày của lớp men phải luôn đảm bảo vừa, bởi nếu mỏng quá sẽ lộ cốt đất còn dày quá thì men sẽ bị tuôn, lem qua các mảng màu khác khi nung. Ưu điểm của phương pháp này là nó cho phép người thợ chủ động phối được nhiều màu men trên một sản phẩm, các mảng màu rõ ràng, thể hiện tính trang trí cao.

Men trên đồ gốm không chỉ là một bước tiến về mặt khoa học kỹ thuật mà còn góp phần tạo nên vẻ đẹp độc đáo của sản phẩm. Một đồ gốm khi được phủ men trên bề mặt và trong lòng sẽ có tác dụng như một lớp thủy tinh làm cho gốm không bị thẩm thấu, tăng độ bền cơ, bền hóa, bền điện và nhiệt.

Quan hệ của men và hình là mối quan hệ hỗ trợ, tôn vẻ đẹp cho nhau. Men làm cho hình dáng của sản phẩm trở nên lưu loát, hài hòa hơn. Men còn làm cho hoa văn trang trí mềm mại hơn, hòa nhịp với dáng của sản phẩm. Khi được phủ men, hoa văn trở nên ẩn hiện và có hồn hơn trong một tổng thể hài hòa. Men màu luôn được sử dụng hợp lý với màu sắc của hoa văn. Men giúp cho bề mặt của sản phẩm tăng thêm độ láng bóng, che bớt đi những nét thô ráp của những đoạn nối giữa thể chính và phụ, nó làm nhẹ đi góc cạnh của sản phẩm.

Men của Biên Hòa được chia ra hai xu hướng khác nhau về nhiệt độ chảy và hệ màu sắc. Đó là dòng men cao độ cho ra những màu sắc trầm và quý, dòng men trung độ chuyên sử dụng những sắc màu tươi sáng hơn, rực rỡ hơn với các màu nóng như màu vàng, hồng, cam, đỏ…

Nghệ thuật phối màu trên gốm Biên Hòa:

Trên gốm Biên Hòa, các màu men được phối hợp với nhau rất hài hòa trên một tổng thể đã được đính sẵn. Với tính đặc trưng là trang trí bằng các nét khắc, nên các mảng màu được phân định sẵn, rõ ràng không có sự lem qua lại giữa các màu. Vì vậy, đặc điểm trang trí của gốm Biên Hòa đã thể hiện sự kế thừa và phát triển tính trang trí trên gốm hoa nâu thời nhà Trần.

Qua các sản phẩm gốm Biên Hòa, cho thấy rõ hai trường phái phối màu khác nhau theo hai dòng men nặng và trung lửa. Trường phái thứ nhất là trang trí bằng các màu men nặng lửa của trường Mỹ Nghệ Biên Hòa. Xuất phát từ cái gốc của mỹ thuật học, sự phối màu của Thầy và Trò đều dựa trên cơ sở khoa học. Các màu được sắp xếp sao cho vừa nêu rõ được cái đẹp, cái nổi bật của mảng chính, lại vừa có tính chuyển tiếp, hài hòa trong tổng thể của một sản phẩm. Trên mỗi chiếc bình, hũ hay chén dĩa…số lượng màu rất hạn chế, chỉ từ 2 đến 5 màu nhưng vẫn cho thấy đủ màu chính và màu trung gian, vẫn gợi mở được cái sâu thẳm của không gian. Chính sắc độ và cách phối màu đã đưa gốm Biên Hòa đến cái đẹp không rực rỡ nhưng có hồn, nó cuốn hút người xem càng nhìn càng cảm nhận được tính sang trọng và cao quý, cảm nhận được chiều sâu của vẻ đẹp qua một tác phẩm.

Trường phái thứ hai là trang trí những màu men sáng. Với sự phong phú về số lượng màu sắc, nên người thợ thường phối màu có tính vui vẻ và rực rỡ trên nhiều sản phẩm. Đó là những bông hoa khoe sắc, những hình tượng Rồng, Phượng rực rỡ trên không trung. Là những mảng màu có tính tương phản trên cùng một sản phẩm. Tuy nhiên, cũng có nhiều bình, chậu có sự phối màu dịu dàng, song nhìn chung, trường phái này có hơi lạm dụng tính tương phản của màu. Nó cho ra nhiều sản phẩm mới nhìn rất rực rỡ, bắt mắt nhưng nhìn lâu sẽ có sự nhàm chán và hời hợt.

Như vậy, giá trị nghệ thuật trang trí của gốm Biên Hòa thể hiện thật phong phú và đầy tính sáng tạo. Bằng những đặc trưng và kỹ thuật sản xuất riêng, nghệ nhân Biên Hòa đã sản sinh ra dòng sản phẩm gốm có giá trị thẩm mỹ cao, được đón nhận và tôn vinh tại các cuộc triển lãm của trong nước cũng như quốc tế.

Trang trí là một giá trị nghệ thuật rất đặc trưng của gốm Biên Hòa. Đi theo lối khắc chìm, lộng vào thân sản phẩm, hoa văn trên gốm Biên Hòa trở nên rõ ràng, khỏe mạnh và dứt khoát. Sự phân mảng màu sắc riêng biệt cùng với kỹ năng phối màu men mang tính sáng tạo trên cơ sở những màu men truyền thống nổi tiếng đã nâng nghệ thuật trang trí gốm Biên Hòa vươn tới cái đẹp của sự hoàn thiện./.

Thạc Sĩ : Trần Đình Quả

This slideshow requires JavaScript.

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

MỤC LỤC  CÁC BÀI SƯU TẦM

*Mục Lục – Gốm Sản xuất Ở Miền Đông Nam Bộ

Read Full Post »

 Men là yếu tố thể hiện rõ nét trình độ phát triển của nghệ thuật gốm sứ truyền thống. Trong các loại hình gốm: sản phẩm đất nung không phủ men, gốm sành nâuvới màu men chủ yếu là da lươn và đen, đến gốm sành xốp thì đã có sự đa dạng về màu sắc của men. Tùy theo từng độ lửa mà người thợ có thể chế ra nhiều màu cho phù hợp với tính chất trang trí của từng sản phẩm. Men trên đồ gốm không chỉ là một bước tiến về mặt khoa học kỹ thuật mà còn góp phần tạo nên vẻ đẹp độc đáo của sản phẩm. Một đồ gốm khi được phủ men trên bề mặt và trong lòng sẽ có tác dụng như một lớp thủy tinh làm cho gốm không bị thẩm thấu, tăng độ bền cơ, bền hóa, bền điện và nhiệt.

Men truyền thống gốm Biên Hòa nói riêng cũng như gốm Việt Nam nói chung phần lớn được làm từ những khoáng chất tự nhiên. Màu sắc của men phát ra ngay từ bản thân các nguyên tố bị oxit hóa có sẵn trong đất đá và những màu sắc này được kiểm soát, điều khiển bằng nhiệt độ lò nung. Men của Biên Hòa được chia ra hai xu hướng khác nhau về nhiệt độ chảy và hệ màu sắc. Đó là dòng men cao độ cho ra những màu sắc trầm và quý, dòng men trung độ chuyên sử dụng những sắc màu tươi sáng hơn, rực rỡ hơn với các màu nóng như màu vàng, hồng, cam, đỏ…

Trong những năm mới thành lập, gốm Biên Hòa sản xuất tại trường kỹ nghệ Biên Hòa được tráng men Pháp nhưng sau một thời gian, dưới sự lãnh đạo của người phụ trách rất có tài và có tâm là bà Marie Balick, nhóm nghiên cứu men mớichỉ dùng nguyên liệu trong nước như đất sét Bình Phước, đá trắng An Giang, vôi Càn Long, tro rơm, tro củi, tro trấu và thủy tinh. Các nguyên liệu nội địa đó sẽ cho ra loại men trong, rất thích hợp với chất đất và phong cách tạo hình của gốm Biên Hòa. Họ dùng kim loại mạt đồng, đá đỏ (đá ong Biên Hòa) và bột màu cobalt để tạo nên màu sắc của men. Một trong những màu men nổi tiếng nhất của gốm Biên Hòa là men xanh đồng (vert de Bien Hoa). Ngoài ra, gốm Biên Hòa còn có các men đẹp khác là men màu xanh dương, màu đá đỏ, màu trắng ta,… rất được ưa chuộng.

Dòng men do trường Mỹ nghệ Biên Hòa chế tạo thường có nhiệt độ chảy cao. Khi nung tới 12500c, men mới bắt đầu rướm chảy, các hóa chất trong hỗn hợp men sẽ từ từ hóa lỏng. Sự bóng láng bề mặt xảy ra ở nhiệt độ12800c trong một khoảng lưu nhiệt kéo dài nhất định. Vì nhiệt độ nung cao nên các màu men có một vẻ đẹp rất thâm trầm, sâu lắng.

Vert de Bien Hoa, men màu xanh đồng nổi tiếng thế giới, là sự kết hợp của men tro và chất tạo màu bằng hợp kim đồng. Có một hệ thống men xanh đồng được sử dụng trong thực tế là xanh ve chai, xanh lá và xanh ngọc do người thợ Biên Hòa sản xuất. Khi làm nguội trong lúc nung lò, người thợ Biên Hòa đã có cáchxử lý tốt, điều này dẫn đến hiện tượng khử oxy và tạo tinh thể đồng trên men. Khuynh hướng tạo tinh thể đồng thường xảy ra không đều trên bề mặt men, vì vậy mặt men màu xanh đồng sẽ có những đốm mà người trong nghề thường gọi là xanh đồng trổ bông. Bông có thể đen hay vàng. Trong nhiều trường hợp, ở trên cùng một sản phẩm có thể mặt này trổ bông đen, mặt kia lại có bông vàng. Nguyên liệu làm men dễ trổ bông là tro trấu có độ nhớt cao, đồng sẽ ít bị phân tán nên dễ ra bông. Mặt khác, kỹ thuật chấm men cũng ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng của màu men. Đối với hệ thống men tro là nguyên liệu có tính lắng đọng cao, nếu người thợ không thường xuyên khuấy đều trong lúc sử dụng sẽ gây ra hiện tượng men nhiều nước, điều này sẽ làm nhạt màu và không có bông.

Gốm Biên Hòa còn nổi tiếng với màu men đá đỏ (đá ong). Khi vùi dưới lớp đất dày chừng một mét trở lên thì đá ong mềm, có thể dùng xẻng xắn được dễ dàng. Đá ong chứa oxit sắt và oxit nhôm, khi đã lấy lên mặt đất, đá ong mới cứng dần. Hàm lượng oxit sắt trong đá ong chứa tới 25%, vì vậy đá ong luôn luôn có màu đỏ hơi đậm. Đá đỏ trộn với men trắng sẽ cho ra màu nâu, màu đỏ đậm, màu vàng đất tùy theo tỷ lệ trộn giữa đá và men.

Một trong những màu men hay được sử dụng trên gốm Biên Hòa là men màu trắng ta. Đây cũng là màu men được đánh giá rất cao về giá trị nghệ thuật. Men trắng ta có màu hơi ngà và trong nên rất thích hợp làm trung gian cho sự phối màu của nghệ nhân. Sở dĩ gọi là men trắng, bởi các thành phần phối liệu đều là nguyên liệu trong nước. Ngoài ra, loại men cao độ còn có các màu khác là xanh coban, nâu vàng, trắng đục, xanh crôm…

Bên cạnh men cao độ, dòng men lửa trung với những màu sáng được sử dụng nhiều tại các làng gốm Biên Hòa. Đây là dòng men khá phong phú về màu sắc với cả hai tông màu là nóng và lạnh. Hệ màu nóng gồm có các màu vàng, cam, hồng, đỏ, nâu. Hệ màu lạnh có các màu xanh lá, xanh dương, xanh lam, tím…Các màu trung gian có màu trắng, đen. Tất cả các màu men đều có thể có được sắc độđậm và nhạt tùy theo yêu cầu của khách hàng.

Trên gốm Biên Hòa, các màu men được phối hợp với nhau rất hài hòa trong một tổng thể đã được đính sẵn. Với tính đặc trưng là trang trí bằng các nét khắc, các mảng màu được phân định sẵn, rõ ràng không có sự lem qua lại giữa các màu. Vì vậy, đặc điểm trang trí của gốm Biên Hòa (có thể nói là) đã kế thừa và phát triển tính trang trí trên gốm hoa nâu thời nhà Trần.

Qua các sản phẩm gốm Biên Hòa, có thể thấy rõ hai trường phái phối màu khác nhau theo hai dòng men nặng và trung lửa (men cao và trung độ).

Trường phái thứ nhất là trang trí bằng các màu men nặng lửa của Trường Mỹnghệ Biên Hòa. Xuất phát từ cái gốc của mỹ thuật, sự phối màu của thày và trò đều dựa trên cơ sở khoa học. Các màu được sắp xếp sao cho vừa nêu rõ được cái đẹp, cái nổi bật của mảng chính, lại vừa có tính chuyển tiếp, hài hòa trong tổng thể của một sản phẩm. Trên mỗi chiếc bình, hũ hay chén đĩa,… số lượng màu rất hạn chế, chỉ từ 2 đến 5 màu nhưng vẫn cho thấy đủ màu chính và màu trung gian, vẫn gợi mở được cái sâu thẳm của không gian. Chính sắc độ và cách phối màu đã đưa gốm Biên Hòa đến cái đẹp không rực rỡ nhưng có hồn, nó cuốn hút người xem,càng nhìn càng cảm nhận được tính sang trọng và cao quý, cảm nhận được chiều sâu của vẻ đẹp qua một tác phẩm.

Trường phái thứ hai là trang trí với những màu men sáng. Do sự phong phú về số lượng màu sắc nên người thợ thường phối màu có tính vui vẻ và rực rỡ trên nhiều sản phẩm. Đó là những bông hoa khoe sắc, những hình tượng rồng, phượng rực rỡ trên không trung, là những mảng màu có tính tương phản trên cùng một sản phẩm. Tuy cũng nhiều bình, chậu có sự phối màu dịu dàng song nhìn chung, trường phái này hơi lạm dụng tính tương phản của màu. Nó cho ra nhiều sản phẩm mới nhìn rất rực rỡ, bắt mắt nhưng nhìn lâu sẽ có sự nhàm chán, thiếu chiều sâu cuốn hút.

Giá trị nghệ thuật của gốm Biên Hòa thể hiện qua hai phương diện là tạo hình và trang trí sản phẩm. Bằng những đặc trưng và kỹ thuật sản xuất riêng, nghệ nhân Biên Hòa đã sản sinh ra được một dòng sản phẩm gốm có giá trị thẩm mỹ cao, được đón nhận và tôn vinh tại các cuộc triển lãm trong nước cũng như quốc tế. Một yếu tố đã góp phần làm nên sự nổi tiếng của gốm Biên Hòa chính là những sắc men màu. Với phong cách phân mảng màu sắc riêng biệt cùng với kỹ năng phối màu men mang tính sáng tạo, trên cơ sở những màu men truyền thống nổi tiếng,nghệ nhân gốm Biên Hòa đã nâng nghệ thuật trang trí gốm vươn tới cái đẹp của sự hoàn thiện.

Nguồn: Tạp chí VHNT số 335, tháng 5-2012
Tác giả: Trần Đình Quả

Read Full Post »

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

*Men màu trên gốm Biên Hòa

*Ấn Độ : bài học muộn về những tượng thần  1

*Ấn Độ : Bài học muộn về những tượng thần 2

*Ấn Độ : Bài học muộn về những tượng thần 3

*Tia sáng mới rọi vào một quá khứ bị lãng quên

*Truy tìm hung thủ đốt lăng Tần Thủy Hoàng

*Ánh Mắt từ các bức tượng Ai Cập

*Nghĩ về thú chơi chữ

*Thăm Viện Bảo tàng Lịch Sử TPHCM bằng Tour ảo

*Dấu ấn tạo hình Chăm trong lòng Đại Việt

*Tìm hiểu hình tượng thần Civa trong nghệ thuật điêu khắc đá ChămPa

*Phế tích và kiến trúc Chăm : Những điều chưa được giải mã

*Quan niệm về cái đẹp nhục cảm của Ấn Độ cổ đại

*Bóng ma tàng hình

*10 bảo vật quốc gia

*Họa trên kính

*Tượng chú tễu và múa rối nước

*Hàng mã của làng tranh Đông Hồ

*Lãng quên những di vật quý của tiền nhân

*Bộ sưu tập quý nhất của Tử Cấm Thành ..tại Đài Loan

*Ngôn ngữ của chất liệu trong hội họa

*Kỷ lục mới về giá của tranh cổ Trung Quốc

*Topless Mona Lisa …khỏa thân

*Hội họa đường phố

*Những bức tranh thư pháp độc đáo

*Một vài kỷ lục về gốm sứ

*Kỷ lục về tranh ghép bằng nút chai rượu vang , tăm tre và đinh

*Loạt tranh ‘’nuy ‘’ timeless của Guan Zeju

*Bí ẩn 14 tháp cổ Chàm trên đất Tây Sơn –Bình Định

*Bình hít vẽ mặt trong – một nghệ thuật hiếm có xuất xứ từ TQ

*làm mẫu khỏa thân cho Cha vẽ

*Bức tranh “nuy”nổi tiếng lập kỷ lục đấu giá

*Eroticism trong nghệ thuật hội họa

*Bảo tàng có cổ vật giả

*Chuyện dài… Bảo Tàng mỹ thuật VN

*Bảo tàng mỹ thuật và tranh chép

*Rồng phương đông và rồng phương tây

*Loạt  tranh có tên “ Tề bạch Thạch và Marilyn Monroe

*Vẻ đẹp của người phụ nữ qua lịch sử mỹ thuật thế giới

*Từ Bi Hồng và một số họa phẩm

*Khảo cứu về một bình đồng Pháp :quà được tặng của Vua Thành Thái

*Một số tranh lạ trong cuộc thi Merget paintings Pictures Contest

*Tranh hoạt hình của Hitler

*103 nhân vật nổi tiếng thế giới trên một bức họa

*Những bức tranh của trùm phát xít Đúc Adolf  Hitler

*Những tác phẩm trên tường ngộ nghĩnh

*Những bức tranh Lithograph & Typograph độc đáo

*bảy sự kiện lý thú về tranh Mona Lisa

Read Full Post »

Bức tượng nổi tiếng “Scribe accroupi” (Viên thư lại ngồi xếp bằng, 2600 – 2350 TCN) trong bảo tàng Louvre có một cái nhìn cuốn hút nhiều thế hệ khách thăm đến đây. Nhưng tại sao người Ai Cập cổ lại có thể tạo ra được một ánh mắt kì lạ đến thế? Các nhà khoa học mới đây đã khám phá ra được bí mật này. Phân tích bức tượng đã giúp các nhà khoa học không những hiểu được cách người ta làm ra nó mà còn cung cấp thêm những kiến thức mới về thành phần, cách chế tạo và bảo quản các tác phẩm nghệ thuật.

Tại thung lũng Saqqarah, vào năm 2600-2350 trước Công nguyên, một nhóm các nghệ sĩ đã được tập hợp lại để hoàn thiện một bức tượng điêu khắc làm bằng đá vôi, miêu tả một người đàn ông đang ngồi xếp bằng. Nhẹ nhàng và khéo léo, các nghệ sĩ hoàn tất công việc dát đá cho bức tượng. Những viên tinh thể đá núi đã được chọn để chế tác thành đôi mắt cho bức tượng. Họ đã khiến cho bức tượng Scribe, một tuyệt tác của Đế chế Ai Cập cổ đại có một cái nhìn bao la, thật một cách đáng kinh ngạc. Cái nhìn như từ bên trong của nhân vật nhưng lại giày vò những người ngoài khi họ bắt gặp ánh mắt đó, bằng những dữ liệu thị giác rõ ràng. “Chúng ta nhìn ông ta và điều kỳ lạ là chúng cảm thấy như đi cùng, hòa đồng với ông”, Maurice Merleau-Ponty, nhà triết học người Pháp từng nói về bức tượng như vậy.

Bức tượng Scribe là bằng chứng của một thời kỳ rực rỡ, thời kỳ mà các xưởng vẽ của các vị vua sáng lập ra Saqqarah, những phường hội nghề nghiệp cùng chung sống với nhau (hội họa và nghệ thuật có quan hệ mật thiết với những người thợ thủ công trong các lĩnh vực như mài đá, đào vàng, kim hoàn và chế tác đá quí).

Năm 1850, nhà Ai Cập học Auguste Édouard Mariette của bảo tàng Louvre phát hiện ra một lăng mộ ở Ai Cập bị vùi lấp dưới cát sa mạc, sau này lăng mộ đó đã trở nên nổi tiếng. Người ta kể lại rằng những công nhân Ai Cập được thuê khai thác kho báu đã rất sợ hãi khi mới nhìn thấy bức tượng và nói rằng ánh mắt của bức tượng luôn dõi theo họ. Đối với họ, đó là người thật chứ không phải là một bức tượng.

Quan sát bằng mắt thường

Cho tới năm 1997, bức tượng Scribe được bảo quản tại bảo tàng Louvre và ánh mắt của nó luôn được coi là bí ẩn đối với mọi người. “Tác phẩm nghệ thuật này là một thông điệp khá mơ hồ, trong đó tính đa nghĩa của cái được biểu đạt lại tồn tại với tính đơn nghĩa của cái biểu đạt”. Mỗi khách tham quan có thể có sự lựa chọn riêng của mình nhưng câu hỏi mà ánh mắt đưa ra đối với mọi người thì khó ai có thể giải đáp được chính xác.

Để lột bỏ bức màn bí hiểm che phủ bức tượng, vào năm 1997, các chuyên gia của Trung tâm nghiên cứu và phục chế các bảo tàng của Pháp (C2RMF) và bảo tàng Louvre đã chụp, quét và phân tích bức tượng Scribe với sự trợ giúp của các công nghệ mới nhất, các thiết bị tinh vi nhất và các kiến thức khoa học cập nhật nhất.

Phòng thí nghiệm nằm dưới bảo tàng là nơi tiến hành các nghiên cứu vật lý và hóa học trên tác phẩm nghệ thuật. Để đảm bảo không ảnh hưởng tới bức tượng, các nhà khoa học đã sử dụng phương pháp nghiên cứu không phá hủy (phân tích không cần lấy mẫu).

Nhờ phương pháp gia tốc phân tử, các nhà khoa học đã khám phá được bí mật chất liệu làm ra đôi mắt kỳ lạ của bức tượng. Sử dụng thêm phương pháp chiếu tia X, cấu trúc của bức tượng cũng đã được làm rõ. Con ngươi của cặp mắt được làm từ tinh thể đá núi cực kỳ thuần khiết. Được đẽo thành hình nón, con ngươi của bức tượng trông như một nhãn cầu thực sự. Bề mặt hình nón được làm mờ để tạo ra “ánh sáng” xung quanh con ngươi. Chúng được làm như một đồng tử của mắt thật. Những điều này cho thấy người Ai Cập cổ đã có một kiến thức đáng ngạc nhiên về giải phẫu mắt. Người nghệ sĩ đã tái tạo khá trung thành độ cong của giác mạc và đồng tử thì được đặt rất đúng chỗ, với một sự chính xác hiếm có. Dường như người nghệ sĩ muốn tạo ra bí ẩn thực sự cho cái nhìn của bức tượng. “Người ta đã cố tạo cho cái nhìn đó sống động hết mức có thể. Một ánh mắt bất diệt”, Jean-Pierre Mohen, Giám đốc C2RMF.

Anne Bouquillon, một kỹ sư và đồng tác giả của nghiên cứu bức tượng nhận xét rằng: dường như các nghệ sĩ Ai Cập đã quan sát rất kỹ mắt của người, phần trước của mắt dường như được làm để tiếp nhận mọi ánh mắt khác khi nhìn vào đó. Điều kỳ lạ là các nhà kim hoàn thời đó đã biết mài các thấu kính thành các hạt quartz. “Đây là điều chưa từng có trong lịch sử, theo những kiến thức mà chúng tôi có được”, bà nói. Liệu y học Ai Cập đã phát minh ra nhãn khoa trước khi phát minh ra bức thư? Cho đến ngày nay, người ta chưa tìm thấy bất cứ bằng chứng khảo cổ nào chứng minh cho câu hỏi đó. Tuy nhiên, với những quan sát và phân tích mắt bằng mắt thường như vậy chứng tỏ người xưa đã có rất nhiều các kiến thức y học trong lĩnh vực này.

Men và ngọc rubis

Qua các nền văn minh và thời kỳ khác nhau, người ta đã biết đến rất nhiều bộ phận giả được làm ra và gắn trong các tác phẩm nghệ thuật. Bức tượng nữ thần Babylon Ishtar được làm ra từ hai thế kỷ trước Công nguyên, với đôi mắt không phải là những mảnh thủy tinh nhuộm, mà là những viên ngọc rubis có nguồn gốc từ Myanmar (Miến Điện cũ).

Nhiều tác phẩm nghệ thuật Ai Cập khác cũng vậy, thí dụ như chiếc mặt nạ bằng vàng của bức tượng Toutankhamon và những con mắt tráng men, hay những đồ vật bằng đá chạm trổ tuyệt mỹ, tượng trưng cho đầu của thần Horus. Người ta cũng thấy nhiều bộ phận giả trong các tác phẩm nghệ thuật Celtic, Hy Lạp (thí dụ trong mặt người đánh xe của Delphes) hay trong các tác phẩm thời Roman. Phải chăng chính là nhờ các nghệ sĩ Roman mà ngày nay chúng ta có được từ ocularii, một từ dùng để chỉ các nhà sản xuất mắt giả, chuyên dùng cho các bức tượng. Vào thời Trung cổ, con ngươi trong mặt người trên các cột kiến trúc Roman đều được làm bằng đá quí hoặc chì. Các bức tượng ở Đảo Pâques trước cũng có các con ngươi như vậy, nhưng sau đã bị đánh cắp hết.

“Ngày nay người ta đã nhận thức rõ ràng rằng một tác phẩm nghệ thuật được tạo ra không chỉ để thỏa mãn thị giác của người xem mà còn kể lại cuộc sống của những con người đã sáng tạo ra nó”, Jean-Pierre Mohen, Giám đốc phòng nghiên cứu và phục chế các tác phẩm nghệ thuật của Louvre nói.

VƯƠNG TIẾN (TS, Theo Cnrs)

 

 

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

 

Read Full Post »

Truy tìm hung thủ đốt lăng Tần Thủy Hoàng

Những kết quả khai quật tại hầm số 1 thuộc khu lăng mộ Tần Thủy Hoàng hồi tuần trước đã khiến các nhà khảo cổ Trung Quốc nổ ra một cuộc tranh luận sôi nổi về kẻ đã hỏa thiêu lăng mộ Tần Thủy Hoàng.

Những pho tượng bị cháy

Những pho tượng gốm màu vừa được khai quật.

Được tìm thấy vào năm 1974, đến nay, các nhà khảo cổ Trung Quốc đã tiến hành nhiều đợt khai quật tại khu lăng mộ Tần Thủy Hoàng, vị Hoàng đế đầu tiên của đất nước Trung Quốc.

Từ 13/06/2009 đến nay, các nhà khảo cổ đã tiến hành đợt khai quật lần thứ 3 ở hầm mộ số 1, hầm mộ lớn nhất trong khu mộ Tần Thủy Hoàng. Cho đến tuần trước, công việc khai quật hầm số 1 đã cơ bản kết thúc.

Kết quả, các nhà khoa học đã khai quật được thêm 114 pho tượng gốm, trong đó có một lượng lớn tượng gốm màu. Điều độc đáo nữa là màu sắc ở các pho tượng không hề giống nhau. Thậm chí đến cả màu tóc, mỗi pho tượng cũng được tô một màu khác nhau.

Các nhà khoa học Trung Quốc cho biết, do hầm số 1 là một trong những hầm tượng bị hư hại khá nghiêm trọng nên khi bắt đầu khai quật, họ không hy vọng nhiều về việc tìm ra những pho tượng màu. Tuy nhiên, kết quả đã làm họ kinh ngạc. Diện tích chôn tượng gốm màu ở hầm số 1 tuy không lớn nhưng số lượng rất nhiều.

Sơ đồ vị trí hầm số 1 trong khu lăng mộ Tần Thủy Hoàng.

Theo ông Hứa Vệ Hồng (Xu Weihong) thuộc độ khảo cổ tượng binh mã Tần Thủy Hoàng thì các bức tượng này đều có chiều cao từ 1,8 – 2 mét. Do chiều cao đặc biệt này nên hầu hết các pho tượng tại hầm số 1 đều đã bị vỡ vụn.

Một điều khiến các nhà khảo cổ kinh ngạc hơn chính là những pho tượng được tìm thấy ở lối đi hoặc chỗ thông gió trong hầm mộ đều có dấu vết từng bị đốt ở nhiệt độ khá cao. Một số bộ phận tượng đã bị hủy hoại khá nghiêm trọng vì nguyên nhân này.

Những phát hiện này đã giúp các chuyên gia khẳng định chắc chắn giả thiết từ trước tới nay, hầm mộ Tần Thủy Hoàng từng bị đốt cháy.

Tuy nhiên, vấn đề khiến các nhà khoa học đau đầu chính là ai là kẻ đốt lăng mộ?

Chính Hạng Vũ thiêu lăng mộ Tần Thủy Hoàng?

Chính Hạng Vũ đã hỏa thiêu lăng mộ Tần Thủy Hoàng?

Đứng trước câu hỏi này, trước nay có hai quan điểm trái ngược nhau. Một số ý kiến cho rằng, việc lăng mộ bị cháy là do tự bốc cháy.

Họ giải thích rằng trong lăng mộ có những chất hữu cơ như gỗ, sau một thời gian dài đã sinh ra khí mêtan, sau đó tự bốc cháy.

Một số các học giả khác lại tin chắc rằng đây là  hành vi phá hoại của một người nào đó. Nhưng là ai đốt, thì ý kiến cũng khá bất đồng.

Kẻ thì nói là do Hạng Vũ sau khi tiến vào Quan Trung đốt cung điện nhà Tần đã đốt luôn khu lăng mộ này.

Cũng có người cho rằng có thể là do trẻ chăn trâu đốt. Có người thì lại cho rằng, có thể là do chính người thời Tần đốt khi thực hiện một nghi lễ mai táng.

Tuy nhiên, những kết quả khai quật lần thứ 3 tại hầm mộ số 1 đã cho giúp các nhà khoa học có câu trả lời.

Ở vị trí phía Tây của khu khai quật, các nhà khảo cổ phát hiện ra một hành lang chạy dọc theo hướng bắc nam đồng thời nối liền với cửa phía bắc.

Tất cả những tượng gốm ở hành lang này đều bị thiêu hỏng, màu sắc cũng bị thay đổi theo, nhiều pho còn bị cháy thành tro.

Việc những pho tượng bị đốt nằm ở gần những chỗ thông gió cho thấy tượng gốm binh mã bị cháy là do có người đốt, không thể là tự bốc cháy được.

Tuy nhiên, các nhà khoa học cũng cho biết, việc kết luận ai là người đốt thì vẫn cần phải tiếp tục nghiên cứu.

 

 

 

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

Read Full Post »

TIA SÁNG MỚI RỌI VÀO
MỘT QUÁ KHỨ BỊ LÃNG QUÊN

Wilhelm G. Solheim II

Tiến sĩ Wihelm G.Solheim II là giáo sư nhân chủng học ở Đại học Hawaii chuyên nghiên cứu tiền sử Đông Nam Á. Bài viết “New Light on a Forgotten Past” trích giới thiệu dưới đây đăng trong tạp chí “National geographic” (Vol.139, No.3, March 1971). Cũng nội dung này ông đã trình bày trong nhiều bài ở những tạp chí khác.

Tuy về những nhận định trong bài thì tác giả khuyên rằng chúng “cần được xem như những giả thuyết hoặc nghi vấn, song những sự kiện khảo cổ học mà tác giả trình bày, lịch sử vấn đề cùng những lập luận của tác giả là rất đáng để ta suy ngẫm.

Đây là bản trích dịch in trong Trần Ngọc Thêm 1996/2006: “Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam”. – NXB Tp. HCM. (Các chỗ nhấn mạnh trong bài này là của TNT).

Nguyên tác tiếng Anh: W.G. Solheim II. New Light on a Forgotten Past

Thế giới trong 10 năm qua đã quay sang chú ý đến Đông Nam Á, nhưng nguyên do chính của sự chú ý này là chiến tranh đang xảy ra tại đây. Chính cái tính chất nặng trĩu của những biến cố quân sự ấy đã làm lu mờ nhiều khám phá kỳ thú về cổ sử và tiền sử của các dân tộc hiện đang sống trên miền đất này. Thế nhưng, về lâu về dài, những khám phá này, phần nhiều có tính khảo cổ, sẽ tác dụng, có lẽ còn nhiều hơn là chiến tranh hay hậu quả của chiến tranh, đối với lối suy nghĩ của chúng ta về miền đất này và các dân tộc của miền này, và đối với lối tư duy của họ đối với chính họ nữa.

Ngay cả đến quan niệm của người phương Tây về vị trí của họ trong quá trình biến đổi của văn hóa thế giới cũng có thể bị thay đổi hoàn toàn. Bởi vì có nhiều dấu hiệu rõ rệt và mạnh mẽ khiến ta nghĩ rằng những bước đầu tiên đến văn minh có thể đã phát xuất từ Đông Nam Á.

LOÀI NGƯỜI BIẾT TRỒNG TRỌT VÀ ĐÚC ĐỒNG Ở ĐÂU TRƯỚC?

Các nhà sử học Âu Mỹ thường hay lý luận rằng lối sống mà ta gọi là văn minh thoạt tiên bắt nguồn từ vòng cung phì nhiêu miền cận Đông, hoặc trong những vùng sườn đồi lân cận. Ta đã tin tưởng từ lâu rằng ở đây con người cổ sơ đã phát triển nghề nông và dần dần học cách làm gốm và đồ đồng. Môn khảo cổ học cũng yểm trợ cho điều tin tưởng này, một phần vì các nhà khảo cổ đào bới khá nhiều trong vùng thung lũng phì nhiêu của vùng cận Đông.

Tuy nhiên, những khám phá mới đây ở vùng Đông Nam Á bắt buộc chúng ta phải xét lại những quan niệm này. Những vật dụng đã được đào lên và đem phân tích trong vòng 5 năm qua cho ta thấy rằng con người ở đây đã bắt đầu trồng cây, làm đồ gốm và đúc đồ dùng bằng đồng sớm hơn hết thảy mọi nơi trên trái đất.

Điều hiển nhiên là người ta tìm thấy các chứng tích tại những nơi mà ngành khảo cổ đào xới trong vùng Đông Bắc và Tây Bắc Thái Lan, với những chứng minh hỗ trợ từ các cuộc đào xới ở Đài Loan, Nam và Bắc Việt Nam, các miền khác của Thái Lan, Malaixia, Philippin, và ở cả Bắc Úc Châu nữa.

Các vật dụng đã tìm được và ước định tuổi bằng cacbon 14 là những di tích văn hóa của dân tộc mà tổ tiên họ đã biết phương pháp trồng cây, chế tạo đồ đá mài và đồ gốm sớm hơn các dân tộc Cận Đông, Ấn Độ và Trung Hoa tới cả hằng mấy ngàn năm.

Trong một vùng ở Bắc Thái Lan, có những đồ đồng được đúc bằng các khuôn kép (hình 2) vào khoảng 2.300 năm trước công nguyên. Thậm chí có thể trước cả năm 3.000 trước công nguyên nữa. Nghĩa là trước khá lâu so với các vật dụng bằng đồng được đúc ở Cận Đông, Ấn Độ và Trung Hoa mà nhiều chuyên gia đã tưởng là những vật dụng đầu tiên <…>.

Người ta có thể sẽ có lý khi đặt câu hỏi: Nếu có sự kiện quan trọng như vậy thì tại sao cho tới nay khoa tiền sử học Đông Nam Á lại không ai biết đến? Có nhiều nguyên nhân, nhưng lý do chính là vì rất ít những tìm tòi khảo cổ được tiến hành tại đây trước năm 1950. Ngay cả đến bây giờ công việc cũng chỉ mới bắt đầu. Nhà cầm quyền thực dân đã không ưu tiên cho vấn đề khảo cổ ở đây, còn một số rất ít người khảo cứu về môn này lại không có hiểu biết chuyên môn cần thiết. Trước năm 1950, không có một bài biên khảo nào đúng với tiêu chuẩn hiện đại được tiến hành. Lý do thứ hai là bất cứ cái gì khám phá thấy đều được xếp loại căn cứ vào quan niệm từ lâu cho rằng đó là kết quả của sự di chuyển văn minh… Họ cho rằng, văn minh bắt nguồn từ Cận Đông, phát triển thịnh vượng ở xứ Mesopotamie và Ai Cập, và sau này ở Hy Lạp và La Mã. Văn minh cũng di chuyển về hướng Đông đến Ấn Độ và Trung Hoa. Còn Đông Nam Á, vì ở xa nhất đối với điểm xuất phát, nên cũng hưởng văn minh sau chót.

Người châu Âu đã tìm thấy những nền văn hóa tiến bộ ở Ấn Độ và Trung Hoa. Khi họ thấy có những điểm tương đồng của các nước này với các xứ sở miền Đông Nam Á thì họ liền cho rằng đó là do Ấn Độ và Trung Hoa đã ảnh hưởng đến Đông Nam Á. Ngay cả cái tên mà họ đặt cho miền này – “Ấn Độ Trung Hoa (Indochine) – cũng phản ảnh thái độ đó.

NHỮNG NGƯỜI THIÊN DI VÀ CÁC “LÀN SÓNG VĂN HÓA”

<…> Robert Heine Geldern, một nhà nhân chủng học Áo, đã xuất bản năm 1932 một tác phẩm bàn về những nét chính cổ truyền của tiền sử Đông Nam Á. Ông cho rằng có một loạt các “làn sóng văn hóa”, nghĩa là những dòng di cư <…>. Theo ông thì đoàn di cư quan trọng nhất đến Đông Nam Á là từ phía Bắc Trung Hoa <…>.

Ông cho rằng đồ đồng Đông Nam Á là kết quả di cư của các dân tộc ở Đông Âu tới vào khoảng năm 1.000 trước công nguyên. Ông tin rằng những dân tộc này di cư về phía Đông và phía Nam, đi qua Trung Hoa vào thời kỳ Nhà Tây Chu (1122 – 711 trước công nguyên). Các sắc dân này mang theo không chỉ phương pháp đúc đồng mà cả một nghệ thuật trang trí đồ đồng bằng các hình vẽ kỷ hà học <…>.

Các nhà nghiên cứu tiền sử phần đông đều chấp nhận lối lập luận cổ điển này, nhưng nếu theo đó thì có một số sự kiện tỏ ra không được ăn khớp lắm. Một số nhà thực vật học nghiên cứu nguồn gốc cây trồng chẳng hạn cho rằng Đông Nam Á là nơi biết trồng cây sớm nhất.

Năm 1952, ông Carl Sauer, một nhà địa chất học Mỹ, đi thêm một bước xa hơn nữa. Ông nêu giả thuyết là khoa trồng cây trên thế giới đã bắt nguồn trước tiên trong vùng Đông Nam Á. Ông cho rằng khoa trồng cây do một sắc dân mang lại đây trước thời kỳ Đông Sơn rất lâu, họ được biết tới dưới danh hiệu một nền văn hóa thô sơ gọi là văn hóa Hòa Bình. Các nhà khảo cổ học không thể chấp nhận ngay thuyết của ông Sauer.

TỪ VĂN HÓA HÒA BÌNH ĐẾN CÁC ĐẬP NƯỚC Ở BẮC THÁI LAN

Từ năm 1920 trở đi, bà Madeleine Colani, một nhà thực vật học, cổ sinh vật học và khảo cổ học người Pháp, đã nêu ý kiến là có một nền văn hóa Hòa Bình. Những ý kiến của bà đều căn cứ vào các cuộc đào xới ở một vài hang đá và các nơi trú ẩn bằng đá khác ở miền Bắc Việt Nam, trong đó khu vực đào xới đầu tiên đã được tìm thấy ở tỉnh Hòa Bình <…>.

Đến năm 1963, tôi tổ chức một phái đoàn hỗn hợp của bộ Mỹ nghệ Thái Lan và trường Đại học  Hawaii để tìm kiếm cổ vật trong những vùng sẽ bị chìm sâu dưới mặt nước do việc xây dựng các đập mới trên sông Mêkông và các nhánh của sông này tạo ra. Chúng tôi đã khởi công ở miền Bắc Thái Lan, nơi sẽ xây chiếc đập đầu tiên.

Trước kia chưa có công cuộc đào xới quy mô nào để khảo cứu về tiền sử vùng này <…>.

NHỮNG NGẠC NHIÊN LỚN TỪ MỘT GÒ ĐẤT NHỎ

<…> Kết quả các cuộc đào xới này, cho đến nay đã vào năm thứ bảy, thật là kinh ngạc, nhưng chỉ tiến rất chậm so với những khám phá của chúng tôi trong phòng thí nghiệm ở Honolulu. Trong khi tiếp nhận tư liệu của các thời kỳ ước lượng bằng cacbon 14, chúng tôi bắt đầu nhận thấy rằng khu vực đào xới này quả đang đảo lộn hoàn toàn các điều khoa khảo cổ học đã biết từ trước.

Trong một chỗ đất chỉ rộng chừng 2,5cm2, có một mảnh đồ gốm có in vết vỏ của một hạt lúa, có niên đại muộn nhất là 3.500 năm trước công nguyên. Như vậy có nghĩa là trước cả ngàn năm so với những hạt lúa tìm thấy ở Ấn Độ và Trung Hoa cũng được xác định bằng phương pháp cacbon (mà trước đây, dựa vào đó các nhà khảo cổ đã cho rằng con người tại đây biết trồng lúa nước trước tiên).

Cũng với phương pháp ước lượng thời gian bằng cacbon đối với các cục than tìm thấy ở đó, chúng tôi được biết thêm là các rìu đồng, được đúc trong các khuôn kép bằng đá, đã được chế tạo ít nhất là khoảng 2.300 năm trước công nguyên, có thể là trước cả năm 3.000 trước công nguyên nữa. Như vậy là sớm hơn bất cứ một đồ đồng đầu tiên nào đã đúc tại Ấn Độ cả 500 năm và nó cũng còn lâu đời hơn cả những khu vực Cận Đông mà trước đây người ta đã tưởng là nơi xuất phát cách chế tạo đồ đồng đầu tiên.

Những khuôn đúc tứ giác mà chúng tôi tìm thấy ở Non Nok Tha đều nằm từng đôi một, chứng tỏ chúng đã được đặt cạnh nhau ở đó chứ không phải bị mất hoặc bị vứt bỏ bừa bãi. Cứ nhìn những mảnh vụn của những nồi gang tìm được, và rất nhiều những dây đồng nhỏ như sợi bún rải rác chung quanh đó, thì có thể chắc chắn rằng chúng tôi đã đào trúng một khu vực ngày xưa đúc đồng, hay đúng hơn, một lò đúc rìu thời cổ.

Có những miếng thịt bò được chôn chung trong những ngôi mộ ở Non Nok Tha. Chúng được xem như thịt của một loài bò bướu (bos indicus). Như thế, đây là nơi sớm nhất trên trái đất biết chăn nuôi gia súc ở Đông Á.

Chester Gorman, một sinh viên hầm mỏ ở trường Đại học Hawaii, là người đã xác định vị trí của Non Nok Tha nhờ tìm thấy những mảnh gốm bị xói mòn trong gò đất. Năm 1965, anh trở lại Thái Lan để tìm tài liệu cho luận án tiến sĩ của mình <…>. Ở xa phía Bắc Thái Lan gần biên giới Miama, anh đã tìm thấy Hang Thần và những gì đang ra công tìm kiếm.

HANG THẦN CHO NHỮNG NIÊN ĐẠI GÂY SỬNG SỐT

Hang Thần ở cao trên sườn một vách núi đá vôi phía bên một con suối chảy vào sông Salween ở Mianma. Hiển nhiên hang này đã có lần được dùng như một ngôi đền, vì vậy nên mới có tên là Hang Thần.

Khi đào nền hang, Gorman tìm thấy những mảnh cây đã hóa than, cùng hai hạt có thể là đậu, một hạt đậu tròn, một hạt dẻ, một hạt tiêu sọ, nhiều mảnh bí và dưa leo, cùng với nhiều đồ dùng bằng đá rất đặt biệt của vùng Hòa Bình.

Những mảnh xương súc vật được chặt thành miếng nhỏ rõ ràng chứ không phải bị đốt, cho phép ta nghĩ rằng thịt được chế biến ở đây không phải bằng cách vùi hoặc nướng trên lửa, mà là được nấu trong một dụng cụ hẳn hoi, có lẽ là trong ống nứa giống như ngày nay người ta vẫn còn làm như vậy ở Đông Nam Á.

Việc xác định thời gian bằng cacbon 14 đối với một loạt những gì tìm được tại đây đã cho ta thấy một khoảng thời gian từ 6.000 năm đến 9.700 năm trước công nguyên; và hiện còn nhiều vật dụng khác nữa trong các lớp đất sâu hơn đang chờ xác định thời gian. Vào khoảng 6.600 năm trước công nguyên, có nhiều yếu tố mới đã xuất hiện tại nơi này. Đó là những đồ gốm tráng men bóng được khắc sâu và trang trí bằng cách in dấu các sợi dây thừng trong lúc chế tạo; những dụng cụ đồ đá có một phía mài bằng và những con dao bằng đá mỏng. Những dấu vết của đồ dùng và cây cối thời Hòa Bình đang tiếp tục được khám phá thêm.

Như vậy ta có thể coi những khám phá ở Hang Thần ít nhất cũng phù hợp với thuyết của Carl Sauer và nhiều đoàn thám hiểm khác đang đi đến nhận định rằng có một nền văn hóa Hòa Bình khá phức tạp đã được phổ biến tương đối sâu rộng. Ông Aung Thaw, giám đốc sở Khảo cổ học Mianma, năm 1969 đã đào được một số dụng cụ rất đáng chú ý về văn hóa Hòa Bình trong những hang Padh Lin ở Đông Mianma. Ngoài nhiều vật dụng, còn tìm thấy cả những hình vẽ trên vách hang. Như vậy, đây là khu vực ở phía cực Tây của nền văn hóa Hòa Bình đã được tìm thấy.

Những cuộc đào xới ở Đài Loan do một đoàn thám hiểm hỗn hợp của trường Đại học Yale thực hiện dưới sự hướng dẫn của giáo sư Kwang Chih Chang thuộc Đại học Yale cũng cho thấy có một nền văn hóa đồ gốm có khắc và in hoa văn dây thừng, đồ đá mài và dao nhọn mài, đã xuất hiện khá lâu trước năm 2.500 năm trước công nguyên.

NHỮNG ĐIỀU KHÓ HIỂU BẮT ĐẦU ĂN KHỚP

Căn cứ vào kết quả của các cuộc đào xới mới đây và của các thời kỳ mà tôi đã tóm lược, và của những nơi khác có lẽ cũng quan trọng không kém mà tôi chưa ghi chép, có thể thấy rằng một ngày kia tiền sử Đông Nam Á sẽ được hiện ra một cách hết sức thú vị. Trong một số tài liệu, tôi đã phác thảo những nét đầu tiên về vấn đề này. Đa số những ý kiến của tôi cần được xem như những giả thuyết hoặc nghi vấn; cần phải khảo cứu sâu hơn nữa mới có thể chấp nhận hay phủ nhận chúng. Trong số các ý kiến đó có những điểm sau:

1. Tôi đồng ý với Sauer rằng sắc dân Hòa Bình ở miền nào đó trong vùng Đông Nam Á là giống người biết trồng cây trước hết trên thế giới. Tôi cũng không ngạc nhiên nếu thời kỳ đó bắt đầu khoảng 15.000 năm trước công nguyên.

2. Tôi cho rằng những đồ dùng bằng đá đẽo có cạnh sắc tìm thấy ở Bắc Úc Châu và được ước định bằng cacbon 14 là xuất hiện vào khoảng 20.000 năm trước công nguyên đều thuộc nguồn gốc Hòa Bình.

3. Trong khi người ta được biết hiện nay đồ gốm cổ xưa nhất tìm được ở Nhật có niên đại khoảng 10.000 năm trước công nguyên, tôi tin rằng khi xác định được tuổi của loại đồ gốm có in hoa văn dây thừng thì ta sẽ phải nhận rằng đồ gốm đó chính là do sắc dân Hòa Bình chế tạo rất lâu trước khoảng 10.000 năm trước công nguyên.

4. Theo truyền thống, người ta cho rằng trong thời kỳ tiền sử, kỹ thuật miền Đông Nam Á là kết quả của những làn sóng di dân từ phương Bắc mang tới. Riêng tôi cho rằng văn hóa nguyên thủy thời đồ đá mới Ngưỡng Thiều (Yangshao) ở Trung Hoa mà người ta biết đến chính là kết quả của một nền văn hóa tiền Hòa Bình đã di chuyển từ miền Bắc Đông Nam Á lên phía Bắc vào khoảng 6 hay 7.000 năm trước công nguyên.

5. Tôi cho rằng văn hóa mà sau này được gọi là văn hóa Long Sơn (Lungshan) vẫn thường được coi là phát triển từ Ngưỡng Thiều (Yangshao) ở Bắc Trung Hoa rồi lan ra miền Đông và Đông Nam, thì trái lại thực ra đã khai sinh ở Nam Trung Hoa và di chuyển lên phía Bắc. Cả hai nền văn hóa này đều bắt nguồn từ gốc văn hóa Hòa Bình.

6. Xuồng đục từ thân cây có lẽ đã được sử dụng trên các sông rạch Đông Nam Á rất lâu trước 50 thế kỷ trước công nguyên. Rất có thể là các bộ phận giữ thăng bằng lồi ra hai bên xuồng cũng được sáng chế tại Đông Nam Á khoảng 4.000 năm trước công nguyên, làm cho xuồng được vững chắc hơn trong khi cần vượt biển. Tôi tin rằng những đợt di chuyển ra khỏi khu vực Đông Nam Á bằng ghe, thuyền bắt đầu khoảng 4.000 năm trước công nguyên đã tình cờ đưa cư dân Đông Nam Á lạc tới đất Đài Loan và Nhật Bản, và du nhập vào Nhật cách trồng sắn (khoai mỳ) và có lẽ là cả các hoa màu khác.

7. Vào khoảng 3.000 năm trước công nguyên, các dân tộc Đông Nam Á bấy giờ đã thành thạo trong việc sử dụng thuyền bè, đã đi vào các đảo Inđônêxia và Philippin. Họ mang theo nghệ thuật vẽ hình kỷ hà học gồm những vòng xoắn ốc, những hình tam giác, tứ giác trong các dải đường viền trang trí khi chế tạo đồ gốm, khắc gỗ, xăm mình, dệt vải bằng vỏ cây, và sau này là trên các trống đồng tìm thấy ở vùng Đông Sơn mà trước đây người ta vẫn giả thuyết là từ Đông Âu tới.

8. Các dân tộc Đông Nam Á cũng di chuyển về phía Tây tới Madagascar có lẽ vào khoảng 2000 năm trước đây. Rõ ràng là họ đã đóng góp một phần quan trọng vào nền kinh tế Đông Châu Phi bằng cách trồng các loại hoa màu.

9. Cũng cùng vào khoảng thời gian đó, đã có sự tiếp xúc giữa Việt Nam và miền Địa Trung Hải, có lẽ bằng đường biển do sự phát triển thương mại đem lại. Người ta đã tìm thấy tại tàn tích Đông Sơn một số đồ đồng khác thường, rõ ràng là bắt nguồn từ Địa Trung Hải <…>.

LÊ XUÂN MAI dịch
(lấy theo bản in trong tạp chí “Phương Đông” số 10, 1972, tr. 256- 264; Trần Ngọc Thêm hiệu chỉnh, có tham khảo bản dịch của Nguyễn Tường Minh đăng trong: [Lê Kim Ngân 1974, tr. 216-225]).

Ảnh:Trần Ngọc Thêm sưu tầm và bổ sung.

 

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

Read Full Post »

Ấn Độ: Bài học muộn về những tượng thần! (Phần III)

Tượng thần Nataraja

Thu thập chứng cứ

Ghiya có một xu hướng thay đổi đối tác và bọn đàn em, ông ta lập tức cắt đứt liên lạc ngay khi có dấu hiệu nghi ngờ dù nhỏ nhất (“Ông ta hoàn tòan không có bạn bè”.) Tính thận trọng và đa nghi của Vaman Ghiya đã khiến rất nhiều người làm thuê cho ông ta cảm thấy bất mãn. Vì thế, chỉ trong một thời gian ngắn, Shrivastava đã tìm được một vài nhân chứng, những người có thể khai báo.

Nhân chứng là những tên trộm địa phương và những người môi giới với lời khai rất thuyết phục, nhưng vẫn không có đủ bằng chứng. Trong nhiều trường hợp, khi những bức tượng bị đánh cắp, chúng đều được đăng ký (khai báo) ở trụ sở cảnh sát địa phương, nhưng Shrivastava cần có những bức ảnh chụp những ngôi đền thờ, xuất xứ của những bức tượng này. Nhưng đáng buồn là những tài liệu lưu trữ về khảo cổ lại không đầy đủ.

Shrivastava buộc phải lùng sục trong thư viện và tài liệu lưu trữ mong tìm kiếm được những bức ảnh cũ và những ghi chép khảo cổ. (Cùng lúc này,Shrivastava tìm được một bản copy cuốn sách của Watson). Ông tìm đọc lại các luận án tiến sĩ từ những năm 1960, trong đó có rất nhiều những bức ảnh chụp những bức tượng điêu khắc nguyên gốc của các đền thờ. Shrivastava ta thừa nhận rằng công việc này đã trở thành một nỗi ám ảnh. “Trong cơ quan tôi, mọi người đều nói ‘Anh điên à, anh đã trở thành nhà nghiên cứu nghệ thuật và văn hóa rồi đấy””. Và tôi thì suốt ngày đọc và đọc ” Shrivastava vừa nói vừa mỉm cười ” Nó là sở thích của tôi “.

Đôi khi, trong quá trình nghiên cứu, Shrivastava tìm thấy rất nhiều những bức tranh minh họa sinh động những cổ vật mang tính tôn giáo bị buôn lậu ra khỏi Ấn Độ. Shrivastava vô tình tìm thấy một loạt ảnh rất đẹp về Matrika (nữ thần mẹ) với hàng loạt những pho tượng từ bên ngoài Tanesar, một làng ở gần Udaipur. Những bức tượng làm bằng đá xanh lục sẫm, ước tính niên đại từ thế kỷ thứ 5, miêu tả một cách duyên dáng từng giai đoạn phát triển của tình mẫu tử: bức tượng người mẹ đang mang thai, người mẹ cho con bú, người mẹ dìu đứa con đang chập chững đi, và người mẹ dắt con đi.

Tượng nữ thần Matrika

Tìm về cội nguồn

Vào năm 1961, một tờ tạp chí khảo cổ học đã cho đăng tải những bức ảnh Matrikas ở Tanesar. Sau đó những bức tượng bị đánh cắp và bị tuồn ra nước ngoài. Đến cuối những thập niên 90, một trong số chúng lại xuất hiện trong danh mục đấu giá của Sotheby. Đến tháng Hai năm 2003, Shrivastava đã thu thập được những bức ảnh chụp những bức tượng và lên đường tới Tanesar.

Khi đội cảnh sát tới ngôi làng, Shrivastava hỏi đám đông dân địa phương xem liệu có ai nhớ gì về những pho tượng cổ đó không. “Chúng tôi đã được chỉ dẫn đi gặp một cụ già 80” Shrivastava nói “ đó là một ông cụ tóc bạc trắng”. Shrivastava hỏi ông, rằng liệu ông ta còn nhớ những bức tượng Matrikas, và sau một hồi suy nghĩ, cụ già nói “Ồ, đúng, tôi nhớ là có 7 hay 8 pho tượng nữ thần, bà ta đang chăm bẵm con”. Shrivastava lấy những bức ảnh chụp Matrikas đưa cho ông lão xem. Ông chăm chú xem trong giây lát, rồi bất ngờ oà khóc.

Tôi hỏi Shrivastava rằng điều đã xảy ra với những bức tượng Matrikas, Shrivastava nói với tôi rằng chúng đã yên vị trong các nhà bảo tàng ở Anh và Mỹ. Hiện tại, một bức tượng được đặt ở bảo tàng British, một bức khác ở bảo tàng Cleveland, và một bức khác nữa ở Met.

Ông trùm thất thế

Quá trình thẩm vấn Vaman Ghiya kéo dài 90 ngày. Ban đầu, Ghiya ông ta bị nhốt cùng buồng giam với một trong những tay chân của ông ta, nhưng ông ta coi đó là sự sỉ nhục. Ghiya liên tục than phiền vì tình trạng thiếu tiện nghi và và nài nỉ gọi điện cho bác sĩ riêng hàng ngày để hỏi han và nhờ tư vấn sức khoẻ. Trong khi, Shrivastava thì hăm hở muốn khai thác kẻ bị tình nghi, thì Ghiya chỉ mở miệng nói đúng một câu duy nhẩt “Tại sao anh không cho tôi tên anh và số tài khỏan ở nước ngoài của anh? Tôi sẽ gửi tiền vào đó “.

Shrivastava đã khuất phục Ghiya bằng cách tiến hành thẩm vấn hàng đêm, từ 6 giờ tối cho đến sáng, trong suốt một thời gian dài. Shrivastava miêu tả mối quan hệ của mình với Ghiya trong thời gian thẩm vấn với một giọng điệu hài hước. “Rõ ràng, việc tôi làm là bất hợp pháp nhưng nó là cả một nghệ thuật” Shrivastava nói “Đây không phải là một vụ cướp ngân hàng, và Ghiya cũng không phải là thành viên của Al-Qaeda. Ông ta là người có tài ăn nói. Tuy nhiên, ông ta cũng rất cứng rắn”.

Một vài ngày sau, Shrivastava cố tình châm chọc Ghiya, bằng cách nói rằng, theo ông thì Baliram Sharma là sếp của Ghiya trong giới buôn lậu cổ vật. Ghiya đã ngạo mạn nói “Ông ta đã bị cảnh sát bắt giữ một vài lần. Còn với tôi, đây là lần đầu tiên”.

Và khi Shrivastava hỏi, tại sao những nhà đấu giá trên thế giới vần tiếp tục làm ăn với với Ghiya sau khi cuốn sách của Watson được xuất bản và Brendan Lynch bị sa thải, Ghiya bật tanh tách rằng mình là người không thể thiếu: “Họ có thể sống sót nếu không có Brendan Lynch, nhưng không thể tồn tại nếu không có tôi”.

Tượng nữ thần Matrika Tượng thần Shiva

Cung khai

Hai tuần sau khi bị thẩm vấn, Ghiya bắt đầu khai. Shrivastava đã đọc cho tôi nghe những lời thú tội của Ghiya, được viết tay bằng tiếng Hindi trong một tập những cuốn vở học sinh. Chúng ghi lại tòan bộ quá trình buôn lậu hết sức tinh vi và phức tạp. Do Thụy Sĩ là một nước tự do buôn bán và việc kiểm tra ở đây khá lỏng lẻo, Ghiya đã vận chuyển hàng bằng đường biển tới Geneva, nơi ông ta thành lập 3 công ty khác nhau. Những công ty này mua đi bán lại những món hàng nhằm tẩy xóa nguồn gốc của chúng trước khi đưa đến tay những nhà đấu giá và những người sưu tập.

Các nhà bán đấu giá có thể khăng khăng khẳng định rằng họ có được những cổ vật đó không phải từ Ấn Độ và là từ một công ty Thụy Sĩ (và công ty Thuỵ Sĩ này thì cũng mua lại của một công ty ở Thụy Sĩ khác) – Dù cho những công ty này dùng chung một địa chỉ đăng ký kinh doanh và những cổ vật chỉ “dừng chân” ở Thụy Sĩ không quá một tuần.

James Hodges đã cho Peter Watson xem những tài liệu về hai công ty ở Thụy Sĩ mà Ghiya sử dụng. Trong vòng hai năm, từ năm 1984 đến 1986 công ty Cape Lion Logging và Megavena đã ủy thác 93 cổ vật cho Sotheby’s bán đấu giá. Sotheby’s thường trả tiền hoa hồng thông qua một tài khỏan giả, Ghiya giải thích. Để đưa tiền mặt quay về Ấn Độ, Ghiya sử dụng hawala (theo tiếng Arập nghĩa là chuyển tiền – việc chuyển tiền thông qua một hệ thống ngân hàng chui, không chịu bất cứ sự kiểm soát hay luật lệ tài chính nào. Hệ thống này có các trung tâm giao dịch đặt tại các nước Arập nhiều dầu mỏ) và cũng được sử dụng rộng rãi ở Ấn Độ, và thực tế là không thể lần ra dấu vết.

Sau khi Sotheby’s đóng cửa sàn giao dịch tại London năm 1997, nó chuyển việc buôn bán tới New York, đó là theo lời của Ghiya. Nhưng theo người phát ngôn viên của Sotheby, nhà đấu giá này đã không bán bất cứ một tác phẩm nào do Ghiya ủy nhiệm kể từ năm 1997.

Còn nhà đấu giá Christie’s thì tiếp tục bán những cổ vật do Ghiya cung cấp (theo như Ghiya nói). Riêng bức tượng thần Shiva, cảnh sát đã đối chiếu những bức ảnh tìm thấy trong ngăn tủ bí mật ở nhà Ghiya, đối chiếu những vết trầy xước, nứt vỡ, những cạnh mép lởm chởm khi pho tượng bị cạy ra khỏi vị trí ban đầu… nó hòan toàn phù hợp trạng thái bức tượng thần Shiva được nhà đấu giá Christie’s chào bán tại New York vào ngày 20 tháng Chín năm 2000.

Ghiya kể rằng ông ta đã gặp những người đại diện của Christie’s vào cuối tháng Giêng năm 2003. Phát ngôn viên của Christie’s nói “Christie’s miễn bình luận về lai lịch những khách hàng của họ”. Đồng thời, bà này cũng nhấn mạnh rằng đã có rất nhiều câu hỏi nhằm vào Ghiya nhưng “đây là một nhà kinh doanh có uy tín”, bà không được phép tiết lộ danh tính và Christie’s “không có lý do gì để tin rằng Ngài Ghiya có bất kỳ mối liên hệ nào” với bức tượng thần Shiva.

Dần dần Ghiya đã cung cấp cho Shrivastava hơn một chục tên những khách mua hàng của ông ta ở Anh, Thụy Sĩ, và Mỹ. Ghiya ghi nhớ hết sức cẩn thận địa chỉ, sở thích riêng của những người sưu tầm, và số phận của những cổ vật đã được buôn bán qua tay ông ta.

Những người sưu tầm luôn tuyên bố rằng họ là sưu tầm là để gìn giữ và bảo vệ những cổ vật quý này khỏi bị hứng chịu sự ngược đãi hoặc lãng quên. Nhưng Ghiya lại nói khác, ông ta kể rằng rất nhiều lần nhận được những đơn đặt hàng yêu cầu buôn lậu một pho tượng từ nước này sang cái khác. Ghiya nhớ lại những gì đã xảy ra với pho tượng đá Vahara – chạm khắc hình một con lợn rừng, một trong những hiện thân của thần Vishnu – ở làng Attru, Đông Nam Rajasthan. Pho tượng này được gắn trên một cái đế nặng cả nghìn pound, chân và tòan thân phủ kín bằng những họa tiết trang trí cầu kỳ. Cuối những năm 1980, bọn trộm đã dùng một sợi xích, xâu qua cái miệng đang há ra của con lợn và giật nó ra khỏi bệ đá. Quá trình này đã làm bay mất xương hàm dưới và làm gẫy chân của nó. Cuối cùng nó được bán cho một nhà sưu tầm tư nhân ở Zurich.

Một hai ba chúng ta cùng chối

Ghiya bị buộc tội ăn trộm “chuyên nghiệp”, sở hữu và vận chuyển cổ vật bất hợp pháp. Những phiên tòa xét xử của tòa án Ấn Độ được tiến hành một cách chậm chạp, người ta hy vọng cuộc xử án, đã tiến hành hơn một năm này, sẽ kết án ít nhất 5 người. Giới báo chí bị chặn lại bên ngoài phòng xử án, Ghiya được biện hộ vô tội. Những lời thú tội mà phía cảnh sát đưa ra được cho là kết quả của quá trình tra tấn và thẩm vấn ép buộc nên đã không được tòa án chấp nhận.

Khi tôi hỏi cả Shrivastava lẫn những sĩ quan khác rằng liệu Ghiya có bị tra tấn trong quá trình thẩm vấn hay không, họ đều nói, họ sẽ bị sa thải tức thì nếu có bất cứ một dấu hiệu ngược đãi nào đối với những đối tượng bị tình nghi. Nhưng ô dù của Ghiya cho rằng sẽ thật là kỳ lạ nếu như cảnh sát có được lời thú tội của Ghiya mà không có những hành động ngược đãi về thể xác nào.

Sharma Sandipan, một nhà báo Ấn Độ đã cảnh báo tôi rằng việc giao du với giới buôn bán đồ cổ ở Jaipur “cũng giống như cuộc thi điền kinh” – mọi người đều nhúng tay vào, và mọi người đều chối đây đẩy những việc đã làm. Chắc chắn rằng không một ai trong số những người đàn ông này dám thừa nhận rằng họ là người buôn lậu cổ vật.

“Một nhà buôn hàng dệt ở Rajasthan đã nói với tôi “Ghiya đã thức tỉnh đất nước Ấn Độ cần có những biện pháp nhằm gìn giữ những di sản văn hóa của mình bằng việc cho thấy cái giá mà người nước ngoài sẵn sàng trả để có được chúng”.

“Luật pháp không làm lợi cho bất cứ ai” nói theo cách của học giả Pratapaditya Pal, người đã tới Mỹ từ giữa những năm 1960, ông đã có trong tay một số bộ sưu tập nổi tiếng.

Pal tin rằng, những điều luật thường không linh hoạt vì nó không thể phân biệt giữa được một kiệt tác nghệ thuật với những loại đồ cổ bình thường. Và kết quả là thị trường chợ đen ra đời và chính phủ không có khả năng quản lý. Pal đã ủng hộ mô hình được sử dụng ở Nhật.Tại đây, họ tiến hành đánh giá tác phẩm nghệ thuật mang tầm vóc, ý nghĩa dân tộc để gìn giữ và bảo quản, còn những thứ khác sẽ được đem bán trên thị trường tự do.

Tượng đầu voi Ganesha Tượng thần Vishnu

Cổ vật … đi đâu về đâu

Tương lai không có gì sáng sủa đối với hàng nghìn cổ vật đã bị Ghiya buôn lậu ra nước ngòai từ giữa những năm 1970 cho đến khi ông ta bị bắt. Một cuộc tranh luận đã diễn ra giữa ngành khảo cổ và chính phủ ở Rajasthan về việc ai sẽ tài trợ tiền để những tác phẩm nghệ thuật bị mất quay trở lại và nằm trong những gian triển lãm của viện bảo tàng ở Ấn Độ. Tuy nhiên, dù cho chúng có quay trở lại thực sự, thì chúng cũng không thể trở về chính xác nơi mà từ đó chúng bị đánh cắp.

Pal đã chỉ ra rằng, thậm chí sau khi chính phủ Ấn Độ phải chi một số tiền khổng lồ để bức tượng đồng đỏ Nataraja, một tác phẩm điêu khắc được coi là một trong những kiệt tác của nghệ thuật Ấn Độ – quay về, thì nó cũng không được đặt lại trong ngôi đền mà từ đó nó đã ra đi, mà nó cũng không được trưng bày ở viện bảo tàng.

Khi cảnh sát thu giữ được gần 900 cổ vật trong những kho hàng khác nhau của Ghiya nằm rải rác khắp Ấn Độ, chúng lập tức được vận chuyển về Jaipur. Hiện tại, chúng được cất giữ trong kho tàng cổ vật của đồn cảnh sát Vidhyadhar Nagar ở Jaipur. Chính quyền đã công bố kế hoạch tập hợp, khôi phục và cho trưng bày toàn bộ số cổ vật tại Hawa Mahal – lâu đài Winds ở Jaipur.

Tôi đến thăm Hawa Mahal, lâu đài được ốp bằng đá hồng với hàng trăm ô cửa sổ nhỏ xíu được xây dựng từ thế kỷ 19 – nơi những phụ nữ quý tộc xưa có thể ngắm cảnh thành phố mà không cần đi ra ngoài . Ở đây tôi gặp Zafar Ullah Khan, người được phân công gìn giữ cổ vật. Mọi cổ vật đều được chụp ảnh trước khi nhập kho, và, trong khi chúng tôi đang lật giở một núi những bức ảnh đen trắng chụp cổ vật, Zafar Ullah Khan nói với tôi rằng: một ngày nào đó, tất cả các tác phẩm đó sẽ được đem ra trưng bày. Nhưng tại thời điểm hiện tại, lâu đài Winds cần phải được trang bị hệ thống báo động và hệ thống camera theo dõi. Họ không thể đem trưng bày những cổ vật quý giá như vậy trong một điều kiện thiếu an toàn.

Mafia thanh toán lẫn nhau

Một điều bí mật, một câu hỏi được đặt ra là tại sao Ghiya không thể hối lộ giới quan chức để được ra khỏi tù. Ariane Dandois, đã nghe được những tin đồn ở Jaipur rằng Ghiya có những kẻ thủ rất có thế lực. Ariane Dandois nói “Ghiya đã trở nên quá giàu có, quá kiêu ngạo, và mâu thuẫn với những nhân vật quan trọng”. “Anh biết đấy, đây là một tổ chức mafia. Và rõ ràng là có một số người muốn loại Ghiya ra khỏi cuộc chơi “.

Đường dây hoạt động của Ghiya được xem là đường dây buôn lậu đồ cổ lớn nhất trong lịch sử Ấn Độ đã bị phá. Ghiya có thể phải sống nốt phần còn lại của đời mình ở trong tù.

Trong vòng ba năm sau khi Ghiya bị bắt, đường dây buôn lậu đã bị gián đoạn. “Nhưng hiện giờ tôi biết rằng họ đã bắt đầu hoạt động lại,” Shrivastava nói “Buôn lậu cổ vật là một hành vi phạm pháp đòi hỏi phải có chuyên môn. Anh cần phải có khiếu thẩm mỹ và phải đọc rất nhiều”. “Những tay buôn lậu mới này, đã rút ra được bài học kinh nghiệm của Ghiya. Vì thế chúng càng thận trọng và tinh vi hơn”. /.

Tác giả Patrick Radden Keefe

Uyển Chi (Vietimes) lược dịch từ The New Yorker

 

 

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

Read Full Post »

Older Posts »