Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘CỔ VẬT VĂN HÓA :TƯỢNG, ĐỒ ĐÚC & ĐIÊU KHẮC’ Category

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

*Một số phương pháp phát hiện đồ đồng giả cổ

*Về hình tượng Lokesvara ( Bồ Tát ) trong nghệ thuật điêu khắc Champa

*Ấn tượng mỹ thuật Phật Giáo trên gốm sứ 3 miền

*THIÊN Y A NA & Tháp bà PO GANAR

*Hình chụp nghệ thuật một số tượng  & đầu tượng cổ các nước của Brian English

*Chùa mục đồng & tương mục đồng ở Nam bộ

*Chiêm ngưỡng mộ kiệt tác điêu khắc  ĐNA thế kỷ 12

*Một số tác phẩm Chăm trưng bày ở viện bảo tang Guimet

*Tượng Phật  giáo Champa

*Giới tính trong nghệ thuật Phật giáo tạng truyền

*Ảnh  hưởng Chăm trong mỹ thuật và tín ngưỡng Việt

*Thần Shiva

*Thần Vinus cỡi Kim Sĩ Điểu

*Điêu khắc Chăm – kho tang Việt Nam

*Tượng Phật  bằng đồng cổ nhất VN là tượng Chăm

*Cụ già làm tượng cổ Champa

*Nghề ‘’nhân bản ‘’ tượng Chăm ở thị trấn Bình Định

*bảo tồn và tiếp biên văn hóa thời Lý qua tượngPhật chùa Phật Tích

*Quan niệm về cái đẹp nhục cảm của Ấn Độ cổ đại

*Từ Avalokitesvara đếnQuán Thế Âm Bồ Tát

*Đa-La Bồ Tát – Thần Tara

*Tượng bồ tát Tara tại VBT Chăm- Đà Nẵng

*Về hình tượng Lokesvara trong nghệ thuật điêu khắc Chăm

*Chi tiết quan trọng về quy cách tạo tượng Phật

*Tượng Phật ,Thần và các nhân vật phù trợ

*Tì Hưu – Linh vật cầu tài

*Tì Hưu –Linh vật cầu tài 1

*300năm nghệ thuật tạo hình Phật tượngGia Định –Sài Gòn

*Binh Mã Dòng Tần Thủy Hoàng được chế tạo như thế nào ?

*Các loại Phật tượng thờ

*Tượng Phật thời Nguyễn ở Huế

*Sự tích tóm lược 18 La hán

*Tích và tượng 18 La Hán

*Cổ vật gỗ sơn đang dần mai một

*Truyền thuyết về Tỳ Hưu – con vật linh thiêng

*Họa tiết hoa văn trong điêu khắc Chăm

*Phát hiện mới về văn hóa Đông Sơn

*Phát hiện mới về văn hóa Đông Sơn

*Cổ vật văn hóa Đông Sơn

*Văn hóa và cổ vật Óc Eo

*Cổ vật Phùng Nguyên – văn hóa đồ đá

*Ý nghĩa 9 con rồng của Phương Đông

*Con rồng VNqua tác phẩm điêu khắc nghệ thuật ‘ Ông Rồng ‘

*Biểu tượng ‘’ Lưỡng long triều nguyệt ‘’

*Kỷ niệm và triển lãm 100hiện vật tiêu biểu văn hóa Sa Huỳnh

*Hình tượng con người trong điêu khắc kiến trúc đình làng việt TKXVII

*Đội quân đất nung 8.000 binh mã Tần Thủy Hoàng

*Hai quả chuông đồng cổ nhất VN

*Ngôi đền pô-kluang Garai ở Phan Rang

*Di sản nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc Champa

*Bí ẩn 14 tháp cổ Chàm trên đất Tây Sơn – Bình Định

*Dấu tích Champa trên đất BĐ

*Văn hóa Sa Huỳnh trên đất Bình Định

*Các nền văn hóa cổ và đồ cổ của chúng tại VN

*Bảo tàng điêu khắc Chăm- Đà Nẵng

*Thanh kiếm ngắn Đông Sơn mang hình tượng Hai bà Trưng

*Phật tượng gốm sứ ở Nam Bộ

Advertisements

Read Full Post »

Nhân mùa Phật Đản tặng các bạn đọc bộ hình chụp (có chú thích tiếng Anh) cực “đỉnh” của Brian English ! Nhấn vào dòng chữ tiếng Anh có gắn link để xem.

BRIAN ENGLISH PHOTOGRAPHY

Buddha_Jain-150
The beautiful and sensitive imagery of Brian English

*MỤC LỤC  – VIDEO – SLIDE SHOW

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

Read Full Post »

Tượng Phật Mục Đồng (Pho tượng theo lời tục truyền là tượng phật nổi được bảo quản tới ngày nay). Cao 31cm. Đất sét sơn màu, chùa Linh Châu (Tân Tây, Gò Công, Tiền Giang). Ảnh Nguyễn Đại Phúc

Cặp câu đối khắc trên hai trụ cổng chùa Long Phước (xã An Đức, Ba Tri, Bến Tre) đã chỉ ra đây vốn là ngôi chùa do mục đồng khởi tạo và sau đó, người trụ trì đầu tiên là nhà sư Minh Trí. Chúng tôi đã nghe một số câu chuyện truyền khẩu về loại chùa mục đồng này và cứ bán tín bán nghi về cái lõi sự thật lịch sử của nó. Do đó, khi đứng trước chùa Long Phước, cái “chứng cứ văn tự” đó đã làm tôi xác tín về sự tồn tại của loại chùa do trẻ chăn trâu / bò “khai sơn tạo tự”. Từ ấy, mỗi lần có dịp đi đây đó, chúng tôi luôn lưu tâm đến việc ở đây có ngôi chùa mục đồng nào không và nếu như được mách bảo là có, thì liền tìm đến để xem cho bằng được các di vật còn lại – đặc biệt là loại tượng, thường được nặn bằng đất sét, mà theo lời truyền khẩu là do đám mục đồng tạo tác. Một cách không đầy đủ, đến nay chúng tôi đã tận mắt thấy khoản hơn 40 ngôi chùa mục đồng ở khắp các địa phương ở xứ lục tỉnh Nam kỳ.

1. Chùa Mục đồng có thể hiểu là ngôi chùa làng, thuộc cơ cấu của thiết chế văn hóa thôn / làng thời trước, gồm “đình – chùa – miếu – võ”, hiểu là ngôi chùa thờ Phật nho nhỏ mà dân làng tự ý lập nên để tự giải quyết nhu cầu tín ngưỡng của cộng đồng. Ở đó, thờ thần, Phật và Phật được thờ tự theo tâm thức của thứ Phật giáo dân gian hơn là để tu học giáo nghĩa đích thực của Phật pháp. Cũng có chùa mục đồng về sau này trở thành ngôi bửu sát danh tiếng như chùa Sắc tứ Linh Thứu ở miệt Xoài Hột (Tiền Giang), song đa phần thì tồn tại như một ngôi chùa làng, nằm trong cái không gian văn hóa làng xã: đất vua, chùa làng, phong cảnh bụt… và các truyền thuyết về chúng vẫn cứ tồn tại theo năm tháng, mặc dù chùa đã có tên tự hẳn hoi, có chư tăng đến trụ trì và hoằng hóa đạo pháp… Ở An Phước tự (tục danh chùa Mục đồng Hóc Tra/An Bình Tây, Ba Tri, Bến Tre) – cách chùa Long Phước nói trên vài cây số, người ta kể rằng: Thoạt tiên đám mục đồng hay tụ tập chơi, nặn các tượng thần tượng Phật và lập một cái am lá để thờ các cốt tượng dười chòm cây tra gần một hóc nước. Do vậy, chùa có tên là “chùa Hóc Tra”. Di tích còn lại là pho tượng Bồ tát cỡi cọp vàng và tượng một ông Địa có tình tướng y hệt ông Địa múa lân. Cả hai đều đạt trình độ tạo hình mà khó có thể nói là do đám chăn trâu tạo tác!

Ở chùa Da Lươn (tên chữ Thiên Trường tự – Đồng Sơn, Gò Công) lại có truyền thuyết tường tận hơn về lịch sử ngôi chùa: Thuở xưa, bọn mục đồng bày trò nặn tượng thần, Phật bằng đất sét chơi. Chơi chán lại đem tượng thả xuống ao ông Tú… cho Phật tắm mát! Lạ thay các tượng ấy lại nổi lình bình. Bọn trẻ hốt hoảng vớt các tượng lên để một nơi và che một am tranh để thờ. Sau đó, có một nhà sư từ xa đến, thấy cảnh chùa đơn sơ hiu quạnh bèn phát tâm ở lại tôn tạo chùa. Ngày qua, tháng lại, vị thiền sư một thân một mình khai phá dần rừng cây chà là ở đầm Bà Dơn để dọn một chỗ đất lập thành chùa. Người dân không biết danh tính của ông, chỉ thấy ông suốt ngày phơi tấm lưng trần sạm nắng như da lươn nên gọi ông là thầy Da Lươn và ngôi chùa đó cũng có tên là chùa Da Lươn. Sau nhiều lần trùng tu, chùa đổi tên là Thiên Trường tự.

Chùa Phật Nổi (Phước Lâm tự) ở ấp Ràng, xã Trung Lập Hạ (Củ Chi TP. HCM) được thành lập cách đây 200 năm cũng là một ngôi chùa mục đồng. Tục truyền lúc đó, ông Phan Sử (Thiện Sử – Như Thành) cùng bè bạn trong xóm, nhân một hôm thả trâu vào rừng, bày trò lặn xuống bàu Đất Sét để lấy đất nặn tượng Phật chơi. Hết ngày, bọn trẻ lùa trâu về nhà, bỏ các tượng Phật giữa rừng. Đêm đó bọn trẻ phát sốt và nói nhảm liên hồi. Sau khi gạn hỏi, cha mẹ bọn trẻ biết chuyện, bèn cùng nhau tính chuyện lập chùa thờ các tượng ấy – để gọi là chuộc tội với Phật! Thế nhưng Trùm cả và Trùm chủ trong làng không chấp thuận việc lập chùa vì lý do dị đoan đó. Để làm rõ mọi việc, Hương chức, đem các tượng Phật đất sét đó gác trên chiếc cầu khỉ bắc ngang qua bàu Đất Sét và rút cầu. Tục truyền, trong số các tượng rơi xuống thì có 8 tượng Phật nổi trên mặt nước. Thế là dân làng xúm nhau, kẻ có công, người có của, dựng ngôi chùa là để thờ các tượng Phật đó. Năm 1963, chùa bị Mỹ bỏ bom sập, nên sau đó dời vào chợ Trung Hòa. Di tích còn lại là một thân tượng bằng đất sét và một số tượng gỗ được tạo tác hết sức thô phác, nhưng có thần thái độc đáo..

Nói chung truyền thuyết về các nguyên nhân khởi phát của các ngôi chùa mục đồng mỗi nơi mỗi khác. Nhưng tất cả đều được hình thành trên mẫu đề duy nhất: trẻ chăn trâu nặn tượng đất sét và các tượng ấy khi thả xuống nước đều nổi. Trong lịch sử, tín lý thiêng liêng về các pho tượng nổi trôi dạt vào nơi nào thì ở đó dân lập đền chùa để thờ là rất phổ biến và từ tâm thức văn hóa sâu kín đó, giờ đây các cổ mẫu ấy lại tái sinh và tích hợp vào loại tượng mục đồng như một phương thức ảo hóa.

2. Đằng sau những tình tiết truyền kỳ, là một thực tế: có một tập hợp Phật tượng dân gian hình thành một cách tự phát trong thời khẩn hoang lập làng ở Nam bộ mà tác giả của các pho tượng đó là các sư sãi, tín đồ phật tử… và được gán cho trẻ mục đồng (1). Rõ ràng là nghệ thuật tạo hình Phật tượng ở Nam bộ từ buổi đầu đến những năm 1950 là một tiến trình song hành của cả hai dòng phái dân gian và chuyên nghiệp. Dòng tượng dân gian biểu hiện rõ nhất và nhiều nhất là ở tượng đất và tượng gỗ (có thể kể thêm loại tượng đất nung và tượng làm bằng hợp chất); ở đó, loại tượng đất sét, được gọi là tượng mục đồng, có thể coi là loại hình khởi phát của lịch sử tạo hình Phật tượng.

Đặc trưng cơ bản của Phật tượng mục đồng là sự thô phác và hồn nhiên làm sững sờ người xem như một thoáng thảng thốt khi bất chợt nghe câu hò buông dài trên sông. Nói cách khác, chúng được tạo tác không theo qui phạm tạo hình, không hề biết đến các nghi qui về đồ tượng học Phật giáo: quí tướng, tọa thức, ấn quyết, pháp phục… Chúng được tạo tác bằng thủ pháp riêng, chủ quan theo căn cơ của người tạo tác. Chúng hình thành như thể là vô tâm, vô chấp, vô sở trụ… Tác phẩm được tạo nên là tình là ý của người tạo tác mà không là dụng công, dụng trí của thợ điêu khắc chuyên nghiệp. Tính vô chiêu thức đã dẫn đến sự độc đáo của từng Phật tượng, và có thể gượng ép lấy thuật ngữ của hội họa mà nói thì thủ pháp “đại tả ý” là dự phóng sáng tạo của tác giả tượng mục đồng: nó chủ vào hình khối, dừng lại ở mực tạo dáng, không quá chăm chú vào chi tiết; cái chú trọng ấy là thần khí, sắc thái tâm linh.

Do đó, về mặt tạo hình chúng ta thấy tính giản lược một cách biểu cảm và những mảng khối thô phác là đặc điểm của tượng mục đồng. Lấy tập hợp Phật tượng mục đồng ở chùa Thanh Sơn (Hóc Môn, TP. HCM) làm ví dụ, chúng ta thấy chúng giản lược đến mức là nếu căn cứ vào các đặc điểm của hình tướng, tọa thức, ấn quyết thì khó mà định dạng được chính xác cho từng tượng: tất thảy đều ngồi theo thức tọa thiền và tay kết định ấn.

3. Nói là vô chiêu thức, nhưng không phải là sự phóng túng hoàn toàn mà cơ hồ việc biểu đạt cũng bắt nguồn từ một hoài niệm nào đó về hình tướng chư Phật, Bồ tát trong tâm thức của người tạo tác để ít ra cũng có sự khu biệt nhất định giữa Phật hình, Tỳ khoe hình với hình tướng của các thần linh không thuộc đối tượng thờ tự của Phật giáo. Ngoài hình tướng chung, các chi tiết tạo hình khác cũng được lưu tâm như tư thế tọa thiền (đúng ra là “ngồi xếp bằng”) và trong phần lớn các trường hợp là hai bàn tay đều biểu hiện một thức ấn quyết (mudra) nào đó – tất nhiên là không hoàn toàn đúng như qui thức mà đồ tượng Phật giáo đã xác định. Chẳng hạn tượng Phật tọa thiền ở chùa Linh Châu (Tân Tây, Gò Công), tuy đã bị hư hỏng nhiều nhưng vẫn toát lên vẻ an định và từ bi của đức Phật. Điều này khác biệt rõ nếu so sánh với tượng Tà Mun (thần bảo hộ cộng đồng, gốc của người Tà Mun) ở chùa mục đồng Phước Đồng (Tân Bình, Dĩ An, Bình Dương). Ở đây, tượng Tà Mun có đường nét mạnh, màu sắc phi thực tế, hình thù biến dạng: tất thảy đều mang tính chất của nghệ thuật thuộc trường phái biểu hiện. Qua so sánh, chúng ta thấy Phật tượng tuy không bị câu chấp vào các nguyên tắc đồ tượng học, nhưng trong lòng người tạo tác đã tiềm ẩn một cổ mẫu Phật tượng – một tâm ảnh về Phật, để từ đó mà phát tâm tạo tựợng. Nói cách khác, Phật giáo nói chung, Phật tượng nói riêng, trải qua lịch sử đã trở thành văn hóa của dân tộc, văn hóa ở đây hiểu như di sản còn lại qua thời gian, văn hóa hiểu theo nghĩa tất cả những gì đã có đều bị mất đi thì cái còn lại là văn hóa; và rồi khi bao nỗi gian truân của công cuộc khẩn hoang lập nghiệp đã có phần ổn định thì giờ đây tâm cảnh của những lưu dân lại bừng lên một khát khao tâm linh, một nhu cầu về văn hóa – tinh thần: họ moi đất-sét-dưới-chân mình để nặn thành Phật tượng và lập một ngôi chùa lá để thờ Phật. Ở đây cũng lưu ý rằng đa số chùa mục đồng đều thờ cả Phật tượng lẫn tượng thần linh đa tạp. Với cái nhìn văn hóa như vậy, Phật tượng mục đồng là hình tướng mang đậm cá tính chủ quan, được nhân cách hóa, là sự hóa thân tình cảm và tâm hồn của người tạo tác vậy. Do đó, mỗi Phật tượng là một thủ đắc riêng và tự nó cũng biểu hiện căn cơ sở đắc của cộng đồng cư dân thời đó ở vùng đất mới phương Nam. Trong chừng mực nhất định, có thể nói Phật tượng mục đồng ra đời trong tâm thức đa thần luận với đặc điểm thô phác, chúng có nhiều điểm tương đồng với nghệ thuật hồng hoang mà chúng ta bắt gặp ở những khám phá khảo cổ học thời sơ sử.

 

Huỳnh Ngọc Trảng – Nguyễn Đại Phúc

______________________________________________________

  1. Theo quan niệm phổ biến ở Nam bộ thì mục đồng là con cháu của Thần Nông, theo đó các thế lực siêu nhiên như ma quỉ, cô hồn đều phải kiêng dè và tuân phục. Do vậy, trẻ mục đồng được quyền hưởng các lễ vật cúng, kể cả lễ vật cúng cô hồn. Tục truyền, trẻ mục đồng ngoắc tay vẫy thì tức khắc các bè chở lễ vật cúng cô hồn (trong lễ tống ôn, tống gió) cập vô bờ. Nói chung, trẻ mục đồng là một nhóm xã hội “ngoại hạng” dưới con mắt của cộng đồng và do niềm xác tín chúng là con cháu của Thần Nông nên chúng có khả năng liên thông với cõi thiêng, cảnh giới bên trên và bên ngoài trần thế. Phàm các nổ lực truy cứu về nguyên ủy các yếu tố truyền kỳ đều là chuyện… lông rùa sừng thỏ. Ở đây nêu ra một số thông tin để tạm giải thích lý do gán việc tạo tượng cho mục đồng.

Read Full Post »

Chiêm ngưỡng một kiệt tác điêu khắc Đ N Á thế kỷ 12 – Hiện vật trưng bày tại VBT Metropolitan New York.

Dancing Celestial at the Metropolitan Museum, New York City USA. Dancing Celestial, India (Uttar Pradesh), Early 12th century, Sandstone. Dimensions: Height 331/2 in. (85.1 cm), Promised Gift of Florence and Herbert Irving (L 1993.88.2)

WoodCiti® Studios – Photos of Darren Pinkney

 

 

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

Read Full Post »

Một số tác phẩm Chăm trưng bày ở Viện Bảo tàng Guimet

Vui lòng click trên tựa đề để xem bài này trên Diễn Đàn Sưu Tầm.

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Read Full Post »

Bài được đăng trên diễn đàn sưu tầm, click trên tên tựa để vào xem.

Tượng Phật giáo Champa

 

 

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Read Full Post »

GIỚI TÍNH TRONG NGHỆ THUẬT PHẬT GIÁO TẠNG TRUYỀN

Tara

Nhân đại lễ Vesak 2008, vừa qua Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam phối hợp với nhà sưu tập Dương Phú Hiến đã cống hiến cho công chúng Hà Nội một cuộc trưng bày chưa từng có về nghệ thuật Phật giáo châu á. Với một số lượng lớn về tượng Phật Tạng truyền, triển lãm đã đem lại cho công chúng từ sự kinh ngạc này tới sự kinh ngạc khác (1). Rất nhiều câu hỏi được đặt ra trong triển lãm, gom góp những kiến thức rời rạc, bài viết tập trung vào việc giải thích một trong những lý do làm triển lãm thành một sự kiện văn hóa nổi bật nhất tháng 5 vừa qua.

Phật giáo Tạng truyền là khái niệm ban đầu chỉ dòng Phật giáo lưu truyền ở Tây Tạng, Nepan, Bhutan, Sikkim. Giới tính trong nghệ thuật Phật giáo Tạng truyền là một chủ đề nghiên cứu rất thú vị; vì tôn giáo nói chung không mặn mà với vấn đề giới tính, tình dục, cứu cánh của tôn giáo không ở trên giường mà là ở trên thiên đường. Phật giáo là một tôn giáo hướng đến sự bình đẳng không phân biệt thành phần xuất thân, đẳng cấp xã hội. Nhưng Phật giáo nguyên thủy không đặt ra vấn đề bình đẳng giới. Phật giáo vốn là tôn giáo rất linh hoạt, khi vượt qua những dãy núi cao ngất quanh năm tuyết phủ của dãy Himalaya đã hòa nhập với tín ngưỡng và văn hóa bản địa nơi đây tạo nên những hình tượng nghệ thuật Phật giáo vô cùng đặc sắc. Một trong những điều làm nghệ thuật Phật giáo Tây Tạng mê hoặc người xem chính là sự cường điệu nhân tố giới tính. Hay nói theo cách của giới trẻ là rất sexy.

1. Sơ lược vài nét về nghệ thuật Phật giáo.

Phật giáo tuy hình thành từ thế kỷ thứ 5 trước công nguyên nhưng thoạt đầu là tôn giáo không chủ trương lập tượng. Đức Phật ban đầu được thờ phụng với hình thức biểu tượng như Bánh xe hay chiếc ngai. Cho đến thế kỷ thứ nhất sau CN, tôn giáo Đại Thừa tại Tây Bắc ấn Độ bắt đầu hưng khởi, việc thờ các ngẫu tượng mới bắt đầu xuất hiện. Phật giáo Đại thừa dùng nghệ thuật tạo hình như một phương tiện để truyền giáo. Đây là lý do sự bùng nổ các loại tượng Phật của Phật giáo đại thừa. “Nghi lễ giáo lý nhấn mạnh đến “ quán” và “quán tưởng”, tín đồ khi tập trung ý chí để xem một bức tranh hay một bức tượng, sau đó thông qua thiền định, đạt tới “ tâm nhãn” nhìn thấu cảnh giới chân tướng của Phật và Bồ Tát, nhờ đó lĩnh ngộ được sự vĩ đại của Phật pháp. Trong quá trình này thì các tượng thờ không chỉ là hình ảnh thay thế của Phật hay Bồ tát, nó còn là một loại “ vật dẫn đạo”.(2) Bởi vậy, Phật giáo buổi đầu đến Trung Quốc còn có tên gọi tượng giáo để phân biệt với Đạo giáo một tôn giáo bản địa thoạt đầu không lập tượng thờ. Với Đại thừa Phật giáo, không có tôn giáo nào có thể sánh được về sự phong phú về chủng loại và sự đa dạng về phong cách. Và trong Phật giáo Tạng truyền số lượng các loại tượng Phật còn đông gấp bội. Thông thường có từ 300 tới 500 loại tượng Phật. Năm thứ ba đời vua Càn Long nhà Thanh, Chương Gia, quốc sư đã chủ biên bộ sách “ Tam bách tượng Phật tuyển” phỏng theo cách thức quy định của Phật giáo Tạng truyền. Năm 2007 cuộc trưng bày bộ sưu tập 100 hiện vật nghệ thuật Phật giáo Tạng truyền của ngôi chùa Bạch Tháp tự nổi tiếng (Bắc Kinh) tại thành phố Thâm Quyến tại Bảo tàng Thâm Quyến. 100 hiện vật hàng quốc bảo được tuyển chọn từ hơn một vạn hiện vật đã được phân chia thành 7 nhóm tượng chính yếu. Một. Tượng Tổ sư. Hai. Tượng. Mật tu bản tôn. Ba. Tượng Phật mẫu. Bốn. Tượng Phật tổ. Năm. Tượng Bồ tát. Sáu. Tượng La Hán. Bẩy. Tượng Hộ pháp. Nghệ thuật Phật giáo Tạng truyền mãi mãi là một sức hấp dẫn đầy ma lực của nghệ thuật Phật giáo. Triển lãm này tiếp sau triển lãm năm 2004 tại Dung Hòa Cung ở Bắc Kinh đã cho công chúng chiêm ngưỡng vẻ đẹp của nghệ thuật Phật giáo Tạng truyền. Sự say mê của nghệ thuật Phật giáo này có phần bởi sự hấp dẫn của những nhân tố giới tính trên hệ thống đồ tượng,

2. Sự cường điệu giới tính trong nghệ thuật Phật giáo Tạng truyền.

Những bức tượng Phật hiện diện gần như khỏa thân là điều chưa từng biết đến ở Việt Nam. ở Việt Nam tượng Thích Ca sơ sinh là tượng Phật hài đồng mới không mặc quần áo. Nhưng hiện nay nhiều chùa bắt tượng này khoác một chiếc áo choàng. Nên phần đông công chúng tới thăm triển lãm đều không ít băn khoăn, thậm chí có người còn cho rằng nó không phải là tượng Phật.

Có hai loại tượng gây sốc về giới tính trong triển lãm này: một là tượng Phật nữ gần như khỏa thân, hai là tượng song thân một nam một nữ dính chặt vào nhau.

Trước tiên xin đề cập tới tượng Độ mẫu Tara có nguồn gốc từ ấn Độ sau đó phát triển rất mạnh ở Tây Tạng. Trong triển lãm Nghệ thuật Phật giáo châu á vừa qua, chú thích ban đầu cho bức tượng chỉ ghi đơn giản “ tượng Phật” đã làm thắc mắc bao khán giả. Tượng với đôi gò bông đảo căng phồng, bụng thon mông nở, đùi căng mặt tươi rói gợi cho ta hình ảnh của một thanh nữ hơn là những khuôn mặt tiết hạnh, trìu mến ân cần của các tượng Phật bà quan âm. Theo “ Tạo tượng độ kinh”(3) phần qui định về hình tượng Độ mẫu ghi rõ “ hình tướng như các cô gái đồng trinh tuổi mười sáu”. Vẻ đẹp của tượng Độ mẫu làm người viết không khỏi liên tưởng tới chất nhục cảm của các pho tượng Tứ Pháp Việt Nam. Nhưng Tây Tạng trong lịch sử không bị sự kiềm tỏa của Nho giáo như Việt Nam nên chất nhục cảm không phải ẩn giấu mà cứ phơi phới, hừng hực phô bày. Độ mẫu Phật có nhiều loại theo mỗi mầu khác nhau mà theo đó có những công năng và ý nghĩa cầu chúc khác nhau như mầu xanh, mầu trắng mầu đỏ, mầu vàng. Cách biểu thị đa dạng mầu sắc này cũng lại làm ta nhớ tới cách tô mầu tượng Bà Mây bà Mưa, Bà Sấm, Bà Chớp trong tín ngưỡng Tứ Pháp hay cách tô mầu cho các vị tượng Mẫu của người Việt (4)
Một pho tượng đồng khá lớn trong triển lãm này cũng làm người xem bối rối là bức tượng Vajrayogini trong hình ảnh của một cô gái khỏa thân hiên ngang mạnh mẽ. Đây là một biểu tượng của chiến thắng vô minh của Phật giáo. Tượng này có khởi nguồn từ ấn Độ khoảng thế kỷ thứ 10-12. Cũng giống như Tara, hình ảnh của Vajrayogini là một cô gái 16 tuổi trăng tròn, ngực để trần, căng mọng hiên ngang đứng thẳng trong quầng lửa mặt hướng lên trời.

So với các nền nghệ thuật Phật giáo trên thế giới, tượng Phật Tạng truyền rất đàn ông và cũng rất đàn bà. Về điểm này Phật giáo Trung Hoa lại phát triển theo hướng nhòe mờ giới tính. Các bức tượng không những bị phủ kín vải vóc mà ngay cả các khuôn mặt các tượng Phật vốn là nam cũng dần mang chất nữ. Xu hướng suy giảm giới tính này của nghệ thuật tượng phật Trung Hoa biến chuyển từ Tây sang Đông, từ Nam Bắc triều đến thời Tống Minh. Chẳng hạn như tượng đức Phật ở Vân Cương, Đại Đồng tỉnh Sơn Tây thời Bắc Ngụy thì còn vẻ uy nghi cương nghị của một nam nhi. Càng về sau và càng đi vào sâu trong lục địa, tượng Phật Trung Hoa càng mềm mại hơn. Khuynh hướng này cũng đã ảnh hưởng ít nhiều tới tượng Phật Việt Nam. Xu hướng nữ hóa các tượng Phật về thực chất là sự trung hòa giới tính trong nghệ thuật Phật giáo thế giới, nó đã diễn ra ở rất nhiều nền nghệ thuật Phật giáo, kể cả Thái Lan, Lào, Cămpuchia, những đất nước của Phật giáo tiểu thừa.

Nếu như tượng Độ mẫu hay tượng Quan âm thể hiện sự mềm mại, dịu dàng của nữ giới thì tượng Kim Cương (Vajrapani) – (5) lại là thái cực ngược lại thể hiện sự mạnh mẽ, quyết liệt. “ Vajra nhận lấy đặc tính của kim cương mà ý nghĩa của nó là đức tính tinh khiết bất diệt, còn gọi là tri thức tuyệt đối hoặc là tuệ, cắt đứt vô minh”. (6)

Nhóm tượng thứ hai, tượng Song thân Phật phần lớn làm bằng vàng hay hợp kim vàng là tượng. Song thân Phật hay cũng gọi là tượng Hoan hỉ Phật là cách gọi không thực sự chuẩn của Trung Quốc đại lục đã từ lâu. Tượng có cấu trúc của một hình nữ và một nam. Từng có một thời ở Trung Quốc lục địa gắn cho tượng này với ý nghĩa dâm lạc. Đây là loại tượng đồ rất tiêu biểu của Phật giáo Tạng truyền, thể hiện sâu sắc minh triết về giới tính của Phật giáo Mật tông, biểu tượng cho hai nhân tố âm dương đối đãi, và nó không liên quan gì tới những hành vi dâm dục của thế tục.

Khi Phật giáo Tạng truyền phát triển mạnh ở các nước phương Tây, thì một trong những chủ đề được các học giả chú ý là vai trò của nữ giới trong Phật giáo Tây Tạng. Thật vậy, ngay từ buổi bình minh Phật giáo ở trên mái nhà thế giới, vai trò của các nữ tu hành đã được đề cao. Khảo sát về danh xưng các nữ sỹ xuất gia trong tiếng Tạng, bà De Ji Zhou Ma ( Đắc Cát Trác Ma) phát hiện ra nhiều cách gọi thể hiện sự tôn kính như btsun-ma ( nữ tôn giả), dg-ma (thiện nữ), jo-mo (Phật mẫu), ma-jo (thân mẫu), A-n-jo-mo (cô mẫu). Cách gọi kính trọng này duy chỉ có trong ngôn ngữ Tạng. Cách xưng hô nói lên một nét văn hóa bản địa nơi đây và cho chúng ta tin vào những cứ liệu lịch sử rằng Phật giáo du nhập vào Tây Tạng đầu thế kỷ thứ 7 thì vào giữa thế kỷ thứ 8 đã có nhiều nữ sỹ xuất thân trong các gia đình quyền thế quý tộc xuất gia tu hành. Vào triều đại của Songtsn Gampo, một đức vua sùng tín đạo Phật có hai hoàng hậu từ hai nước Phật giáo là Nepan và Đại Đường Trung Hoa đã làm đạo Phật lan truyền nhanh chóng trong giới thượng lưu, quyền quý. Tì khâu ni (Bhikkhuni – nữ tu sỹ) kiệt xuất Zhuo Sa Jiang Ju đã cùng với 30 nữ sỹ xuất gia khác lập nên tăng đoàn tì khâu ni đầu tiên ở Tây Tạng. So với một lịch sử non trẻ của Phật giáo Tây Tạng lúc đó thì đây là một sự kiện trọng đại. Nó cũng là một nhân tố quan trọng thúc đẩy nghệ thuật Phật giáo Tây Tạng đề cao hình vị trí nữ giới trong thế giới tôn giáo vốn luôn là nơi ngự trị của các đấng mày râu.

Lý giải về sự xuất hiện đậm nét những biểu hiện giới tính trong Phật giáo Tây Tạng là một chủ đề lớn mà người viết tự thấy vượt quá khả năng của mình. Trong phần kết này, tôi xin được nhắc đến bối cảnh lịch sử và vị trí địa lý của Tây Tạng. Khi Phật giáo bắt đầu suy tàn ở ấn Độ trước sức mạnh của lưỡi gươm của những tên cướp nhân danh Hồi giáo, Phật giáo đã tìm thấy ở Tây Tạng một nơi trú ngụ vĩnh hằng. Các hòa thượng ấn Độ đã tìm thấy sức sống mới ở đây, những cô gái Tây Tạng phải chăng đã thay đổi suy nghĩ của họ về vai trò của nữ giới với sự phát triển của đạo Phật. Thực ra, ở ấn Độ xu hướng khẳng định nguyên lý nữ tính (shakti) là lực lượng chủ yếu trong vũ trụ của phái Kim Cương thừa đã ảnh hưởng rất lớn tới cả nghệ thuật Phật giáo và Bà la môn giáo từ sau thế kỷ thứ 7. Tây Tạng với điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt với độ cao trung bình là 4900m, có nhiệt độ cao trong mùa hè nhưng cực lạnh về mùa đông, tỷ lệ tăng dân số thấp. Phật giáo nếu muốn đứng được ở đây nó không thể đi theo con đường của diệt dục và khổ hạnh. Nó tìm được những ý nghĩa tôn giáo trong cuộc sống thường nhật và đó cũng là một lý do khiến Latma giáo Tây Tạng có sức hấp dẫn lớn ở Phương Tây hiện nay.

Trần Hậu Yên Thế

(1) Tác giả không bàn tới niên đại và tính nguyên gốc của bộ sưu tập trong bài viết này
(2) Zhenyan – Diện mạo Trung Hoa qua các văn vật lịch sử
(3) Tạo tượng lượng độ kinh là sách làm thời Càn Long thứ 7 năm 1742
(4) Nhà nghiên cứu Phan Cẩm Thượng nhắc tôi về những nét tương đồng giữa nghệ thuật Tây tạng và Việt Nam. Có thể đây cũng là một hiện tượng cần được khảo cứu thêm
(5) Tượng này gắn bó với Kim Cương thừa khởi nguyên từ ấn Độ do lấy Vajra (lưỡi tầm sét hoặc kim cương) làm biểu tượng trung tâm
(6) Roy C.Craven. Mỹ thuật ấn Độ NBXB Mỹ thuật tr 209

Nguồn Lý học Đông Phương

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Read Full Post »

Older Posts »