Feeds:
Bài viết
Phản hồi

Archive for the ‘Truyện sưu tầm dịch, truyện tán gẩu’ Category

*MỤC LỤC – GIẢI TRÍ – THƯ GIÃN

*Nhớ Mãi Nụ Hàm Tiếu

*Đầu xuân nói chuyện Quốc Hoa

*Cảm hứng Thanh Hoa Sứ

*Pho tượng Quan Âm – Lâm Ngữ Đường

*Chuyện phiếm ; từ hàng giả đến người giả

*Kho báu

*Thư giãn với tiểu phẩm 2

*Thư giãn với tiểu phẩm 3

*Thư giãn với tiểu phẩm 1

*Chuyện tán gẫu về chó tây do bác sĩ thú y viết

*Sưu tầm dành khi tán gẫu

*Sách mới ? A dictionary of Womanese

*Gương vỡ , mèo mun và nhiều điều tốt lành

*Sự hấp dẫn của ngừoi đàn ông đáng chán  nhất  thế giới

Read Full Post »

I. Tôi nhớ mãi câu của Tư Mã Quan:

“Học xong mà thành đạt quên cả người thầy dạy mình thì chưa phải là học”

Tôi ngồi dưới mái trường Trung học Mỹ Nghệ thực hành Biên Hòa không đủ bốn năm, mà chỉ học tới năm thứ ba (Đệ Tam Niên) thôi!

Nếu học trọn khóa, lãnh bằng tốt nghiệp, là công thành danh toại, tựa bông hoa tới kỳ nở rộ, khoe sắc hương thơm.Trong khi tôi học hành dang dở, nghề nghiệp chưa thành, tựa nụ hoa chưa nở, nên không tỏa hương sắc – Nụ hàm tiếu.

Tuy vậy, tôi cũng có kỷ niệm về nụ Hàm Tiếu. Xin kể ở đoạn sau.

– Giờ đây có ai hỏi tôi, ngôi trường Trung học Mỹ Nghệ thực hành Biên Hòa giờ ở đâu?

– Tôi xin thưa: Ngôi trường thân yêu ấy hiện nó đang “nằm” trong trái tim tôi.

Vâng. Tôi “lọt” vào “đôi mắt kính” của truờng Mỹ Nghệ thực hành Biên Hòa khóa 1960-1964. Qủa không dễ chút nào ! Cũng “trầy da tróc vẩy”. Bởi một, phải “chọi” với năm, tỉ lệ 1/5. Nghĩa là: khóa học năm ấy! Chỉ tiêu của trường tuyển bốn mươi học sinh, cho lớp đệ nhất niên (đệ thất), nhưng có tới bốn trăm người dự thi và tôi may mắn nằm trong số bốn mươi người trúng tuyển và đậu hạng tư. Với hạng này, tôi được học bổng của tỉnh, mỗi tháng hai trăm đồng “tương đương hai triệu đồng bây giờ”. Cũng cần nói thêm, trường hồi ấy có hai loại học bổng: Của Bộ Quốc Gia giáo dục, mỗi tháng được bốn trăm, cho hai xuất. Hạng nhất và hạng nhì của tỉnh, từ hạng ba tới hạng năm, ba tháng lãnh một kỳ, mỗi lần lãnh tôi được sáu trăm, nếu có tác phẩm bán được, hưởng thêm 30% nữa! Vị chi tôi cũng được 7-8 trăm đồng, đủ trang trải giấy bút, sắm áo quần, giầy dép, cũng bớt gánh nặng cho gia đình!

Học năm đầu đệ nhất, tôi có chuyện vui vui, đáng nhớ! Xin kể – số là một lần có người hỏi thăm tôi bao nhiêu tuổi, và học lớp mấy? Tôi trả lời tôi mười lăm tuổi và học lớp đệ nhất! Họ tròn mắt nhìn tôi, thán phục! Qủa là tuổi trẻ tài cao, mới có tí tuổi này! Mà đã chuẩn bị lấy bằng tú tài kép “ tú tài đôi” (Hồi xưa chúng tôi vẫn gọi thế). Với bằng này thường ở tuổi 18-20. Cấp T.H.P.T, năm đầu là lớp đệ thất ( lớp 7) nhưng với trường nghề như Trường Mỹ Nghệ Biên Hòa lại gọi là đệ nhất, thế mới oái oăm! Tôi có mấy người bạn nữ trường K.T học lớp đệ lục “lớp 6” vẫn đinh ninh rằng tôi chuẩn bị “giựt” bằng tú đôi, rồi khoe với bạn bè, ra vẻ hãnh diện lắm! Ai có ngờ! Đời là thế!

Tôi cứ lặng im như … thóc, chẳng biện bạch chi cả. Kệ! Họ muốn hiểu sao thì hiểu, mình cứ hiên ngang tiến bước…

Chuyện thứ hai cũng đáng nhớ. Đó là giờ văn của Cô NGUYỆT( cô Nguyệt vừa dạy văn vừa dạy toán) đề Cô cho chúng tôi hôm ấy: Tả cây Phượng già trước sân trường. Cây cây phượng này là nguyên nhân, gây ra bao rắc rối, bởi những tay có tâm hồn lãn mạng hay viết vớ vẩn lên thân nó! Nào là hình hai trái tim lồng lên nhau với chữ HL (H.L) y như chữ Hy Lạp ! Mà chỉ có người trong cuộc mới hiểu ! Hoặc hình trái tim có mũi tên đâm vào, lại có vài giọt máu rơi xuống ! Qủa khó hiểu! Mà thôi ! Ai muốn hiểu sao thì hiểu !!!

Còn nhiều câu, nhiều hình đan xen nhau, chi chít! Làm tội cái gốc cây phải “gồng mình cõng” biết bao nhiêu cái đầu hâm nóng….

Cũng có những hình không lành mạnh, bởi cái đầu lệch lạc! Nên ai đó ?! Đã đè lên thân nó câu : “ Người họa sĩ này có bàn tay vẽ rất khéo ! Nhưng có tư tưởng không đứng đắn !”

Bài làm trong giờ xong, nộp cho Cô và Cô hẹn tiết sau trả bài. Chúng tôi chờ đợi trong sự hồi hộp. Hai ngày sau gặp Cô cũng tiết văn. Chúng tôi nhận lại bài, cả lớp ai lấy đã có bài. Bài thằng Lộc ngồi cạnh tôi, được điểm năm, nó không vui, cũng không buồn ! Tính nó là vậy ! Duy có tôi chưa nhận được bài ! Và tôi thấy trên tay Cô còn cầm một bài. Tôi hồi hộp tự hỏi chuyện gì sẽ xảy ra đây ! Thằng Lộc nó bảo” chắc bài của mày rồi! Bài mày làm chắc quá ẹ ! Nên bị Cô giữ lại” Tao nào biết ! Tôi trả lời nó vậy ! Bất ngờ Cô hỏi” em Phát đâu ? Đứng lên Cô coi ?”  Vì mới “ chân ướt chân ráo” nên Cô chưa biết mặt học trò. Tim tôi như muốn nhảy khỏi lồng ngực, đánh như trống… làng ! Phải đợi Cô gọi tới lần thứ ba, tôi mới từ từ đứng lên, mặt xanh như tàu lá (sau thằng Lộc nó bảo tôi vậy). Cô nhìn tôi mỉm cười, vẻ trìu mến, làm tôi hơi an tâm ! Rồi Cô nói: “Bài em làm r..ấ..t” Cô kéo dài chữ rất làm tôi càng điếng hồn! Cả lớp đổ dồn ngó tôi!!! Thú thật, lúc ấy! Phải là tôi Ngộ Không thì tôi đã thăng thiên, hoặc độn thổ ngay lập tức! Rồi Cô nói tiếp: “Bài em làm rất hay, điểm chín, đáng làm bài mẫu! Tôi thở phào nhẹ nhõm, như vừa chút được bao chì nặng trĩu! Tôi liền đá vào chân thằng Lộc một cái!!! Nó trợn mắt ngó tôi…cười! (Tôi thân với thằng Lộc hồi còn tiểu học). Rồi Cô trích một đọan và phân tích câu cú cho cả lớp nghe.

Tôi viết: Cây phượng trong sân trường! không biết nó mọc ở đây, từ bao đời! Và đã trải qua, bao thế hệ học sinh, thầy, cô, tới nay! Chính xác nó được bao nhiêu tuổi đời!?

Tôi chẳng biết! Chỉ biết rằng, cứ nhìn vào “ Dung nhan” về chiều của nó, với cái gốc to bè, sần sùi, đến 3-4 người lớn ôm không xuể, thì có thể đóan nó phải ngoài thất thập (ngoài 70 tuổi). Mà nó lại mọc ngay bìa trường, đứng sừng sững như người mẹ già nua vương những cánh tay khổng lồ ngoằn ngèo như những con rắn lượn! Phủ rợp cả một sân rộng, che nắng cho đàn con đông đúc, vui đùa, thỏa thích. Nhưng trong đám con ấy! Lại có những đứa tinh nghịch, ưa phá phách! Cứ leo lên từng cánh tay mẹ (vì tôi thấy có một sợi dây thừng to bằng cổ tay người lớn, được cột từ cành to cao nhất xuống tận đất ( chắc để học sinh chơi du dây) để bẻ những “ ngón tay” mẹ, mà vứt xuống! (bởi trên sân đầy những cành phượng nhỏ mang chùm hoa đỏ rực, tựa màu máu). Lúc ấy! Chắc “mẹ” đau lắm!? (Bài còn dài xin dừng tại đây!).

Sang năm thứ hai thì chọn ban, tôi theo bạn chọn điêu khắc đá nhân tạo. Đúng như lời cổ nhân có câu ” Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh” Trường hồi ấy có mấy ban như: Ban đồng do thầy Ung Văn Nam dạy, Ban Xoay do thầy Hai Bồi dạy, Ban Men thầy Nguyễn Văn Nhàn, ban điêu khắc thầy Nguyễn Văn Mậu, đá nhân tạo thầy Cừ, ban khuôn thầy Đinh, năm đầu mọi học sinh đều qua các ban. Năm hai thì chọn ban theo năng khiếu và học lấy một nghề cho thật giỏi, thật tinh thông, thế mới đúng: Nhất nghệ tinh…! Trường đã đi đúng lời cổ nhân dạy!..

Ban khắc có hơn mười bạn. Tôi, Thanh, Lịch, Soi, Lộc, Phép, Phấn, Liễu, Hướng, Tòng, còn mấy người bạn người nam, tôi không nhớ hết tên! Ban này do thầy Cừ và thầy Mậu giảng dạy. Thầy Đinh tuy dạy cùng phòng với hai thầy Cừ và thầy Mậu, nhưng thầy dạy môn khuôn, môn này tôi cũng học qua năm đầu, nhưng không có khiếu, đành trả nghề lại thầy! Em mong thầy lượng thứ cho thằng học trò bất tài này!!!.. vì không theo nổi nghề của thầy!

Với môn khiêu khắc đá nhân tạo, tôi cũng có vài kỷ niệm buồn, vui với các bạn! Chẳng hạn: Học được vài tháng đầu tôi nghe theo lời thầy Cừ bảo: “ Các em phải luôn có óc sang tạo, luôn đổi mới trong tư duy! Nhất là ngành khiêu khắc đá, phải tìm mọi hướng đi nghệ thuật cho riêng mình, như danh họa Picasso, có riêng một trường phái của ông, ngày nay khó có ai sánh kịp! Trước giờ! Điêu khắc chỉ thuần túy nắn một kiểu tròn, góc vuông, tức đồ giặt, rồi sẽ tạo riêng trường phái giặt!!! “ Câu nói của thầy Cừ cứ mãi xoáy vào tâm trí tôi, để rồi tôi đã thực hiện được điều thầy dạy.

Lần ấy! Chúng tôi thực tập, nặn con dơi sống, nó được nhốt trong cái lồng sắt, chúng tôi đứng bao quanh nó, nhìn và nặn, lâu lâu lại đổi chỗ xoay vòng, cốt để hoàn chỉnh tác phẩm.Và kết quả con dơi đá nhân tạo của tôi đã được trưng bầy trên H.T.X, mà bây giờ không biết nó “ bay” về phương mô?! Kể từ H.T.X không còn nữa.

Riêng môn đá nhân tạo, ngoài những chất liệu chính như: Xi măng, bột đá, màu, dụng cụ, dăm bằng sắt dăm lên tác phẩm để tạo sần sùi như đá thiên nhiên ra, còn có một bí quyết! Mà không phải ai cũng có thể làm được: Sư phụ cũng không dạy! Theo tôi! Chỉ có thiên phú, trời cho ai, người ấy được! Đó là chất… mồi hôi tay: “ Nghe có vẻ khôi hài, nhưng đó là sự thật”! Mồ hôi ai mà chẳng có, người thì mồ hôi muối, người mồ hôi dầu, mà đá nhân tạo lại chỉ hợp với người mồ hôi dầu, thế mới lạ kỳ ? Tôi đã bao phen “ghen” với tay Lịch, vì bài nó luôn được điểm cao, mặc dù xét về kỹ thuật tạo hình, tôi không thua hắn! Mà thua hắn về mỹ thuật. Nhìn tác phẩm của hắn luôn bóng láng và hấp dẫn! Vì hắn hay lấy tay xoa xoa lên tác phẩm “ thì ra hắn mồ hôi dầu!” Tôi cũng bắt trước hắn xoa xoa lên tác phẩm đến nỗi rát cả tay, đỏ tấy lên mà chẳng bóng! Trái lại nó cú bạc trắng ra, nhìn cứ như bị mốc! Hóa ra tôi mồ hôi muối!.

II- Nụ Hàm Tiếu:

Vừa rời mái trường Trung học Mỹ Thuật Thực Hành Biên Hòa năm 1963, tôi lên sài gòn kiếm việc và tìm cách học thêm để luyện thi cấp 3, tôi ở trọ nhà một người bà con, ở xóm Chí Hòa, dường Lê Văn Duyệt, nay là đường C.M.T.8. Quận 3, TP.Hồ Chí Minh, đang thất nghiệp đi lang thang trên đường Lê Văn Duyệt ngắm cảnh hai bên đường. Đi gần tới chợ Ông Tạ, tôi thấy trước cửa nhà có treo tấm bảng nhỏ đề vỏn vẹn bốn chữ: Cần người biết vẽ! Mừng quá, như người đang trong cơn khát, được ai cho ly nước uống, tôi liền vào xin việc, chủ tiệm đang lim dim gật, nghe tôi hỏi, anh tỉnh hẳn, nhìn tôi từ đầu tới chân. Biết tôi xin việc, rồi cuộc phỏng vấn chớp nhoáng về nhân thân, tên tuổi, biết tôi vừa dời Trường Trung Học Mỹ Nghệ Biên Hòa ra, và anh cho biết cũng mới tốt nghiệp Trường Bách Nghệ Phú Thọ và thuê phòng này mở phòng vẽ được hai tháng nay. Anh hơn tôi năm tuổi, tên Sơn. Vậy là cùng cảnh ngộ, đồng hội, đồng thuyền, dễ cảm thông!!! Rồi anh hẹn tôi ra nhận việc… để rồi nụ hàm tiếu nó “ mọc lên từ đây …!”.

Phòng vẽ, thì chủ yếu vẽ quảng cáo, bảng hiệu cho mấy quán bar. Vì thời gian ấy (1963) quân Mỹ ồ ạt sang Việt Nam mang theo những đồng đôla xanh, đỏ, rải đi mấy quán có cave “tiếp viên nữ” nên quán xá mọc lên càng nhiều! “ Chúng ta cứ chặc đẹp, tiền chùa mà” Anh Sơn bảo vậy!

Chúng tôi làm ăn với nhau được vài tháng, thì vào một sáng đẹp trời, tiết thu. Hai anh em đang thổi “kèn” và nghĩ ngợi lung tung, thì có một vị khách bước vào, ông khoảng năm mươi tuổi, lịch sự chào chúng tôi và muốn đặt chúng tôi vẽ bức tranh: Nụ hàm tiếu, đồng thời cho biết giá. Sau khi thỏa thuận giá cả, khách đồng ý. Chúng tôi hẹn ngày giao hàng, khách còn hào phóng đặt cọc và nở nụ cười “ hàm tiếu” ( sau này sự việc vỡ lẽ, chúng tôi mới hiểu nụ cười “ chết người ấy”! … cười chế diễu).

Sau khi ông khách ra về, hai thằng tôi nhìn nhau: Tôi hỏi anh Sơn hoa Hàm Tiếu là hoa gì? Anh Sơn lắc đầu!

–         Tôi cũng không biết nữa! Hồi học ở trường có ai dạy vẽ hoa Hàm Tiếu đâu?!

–         Tôi nói – hồi học ở trường em có vẽ khỏa họa bông hoa hồng, hay mình vẽ hoa hồng!?

–         Ừ! Cũng được, anh Sơn gật đầu, và chạy ngay ra chợ Ông Tạ mua một bông hồng to, tươi, nức mùi thơm, kèm theo cái nụ trên cành, rồi anh trao tôi vẽ, mẫu sao vẽ vậy! Sau một ngày vẽ và anh Sơn chỉnh sửa, bức tranh đã hoàn chỉnh, một bông hồng to và cái nụ hoa trên nền vải nhung tím được lồng trong khung gỗ, khổ 30 x 40cm, coi cũng có hồn lắm!!! Và bức tranh được bọc một lớp nhật trình, rất cẩn thận, chúng tôi chờ đợi trong sự hồ hởi! Rồi ngày hẹn cũng tới, khách đến lại vào cái giờ mà chúng tôi cho là “kị”- gặm bánh mì, buộc chúng tôi phải bỏ ra tiếp khách.

–         Khách nhìn chúng tôi, tỏ vẻ thân thiện, miệng luôn nở nụ cười như buổi đầu gặp, tôi liền trao bức tranh cho ông.

–         Ông giỡ lớp giấy bọc ngoài! Ngắm tranh một lúc, ông gật đầu khen “ Tranh vẽ bông hồng với cái nụ phải không? Khá đấy! Rất nổi! Vì hoa màu hồng đỏ, lại đặt lên nền nhung tím sẫm càng bật lên nét đặc trưng của hoa và cái nụ nho nhỏ, vậy cái nào là nụ Hàm Tiếu?!”

–         Hai thằng tôi ngớ người nhìn nhau, sau một giây, tôi chỉ đại vào cái bông hoa và bảo:

–         Dạ! đây là nụ Hàm Tiếu!!!

–         Ông khách phá lên cười dòn dã một hồi, và hai tay vỗ vỗ vào vai hai thằng tôi và nói:

–         Không phải rồi hai chú ơi! Hoa hồng là hoa hồng, nụ hàm tiếu là nụ hàm tiếu! Không thể lẫn lộn nhau được, Rồi ông giải thích cặn kẽ.

–         “Thật ra, khi nói đến nụ hàm tiếu là nói chung cho mọi nụ của các loài hoa chứ không riêng hoa hồng, hoa cúc, hoa mimosa chẳng hạn! Rất tiếc cái nụ này ( ông chỉ vào bức tranh) các chú vẽ nó hãy còn ngậm!!! Chưa hé nở! Vậy nụ hàm tiếu là cái nụ chớm nở! Các văn nhân thi sĩ khi ngắm nụ hoa chớm nở, đều cho là đẹp hơn cả bông hoa đã nở rộ! Vì thế người ta ví người con gái nào có nụ cười chúm chím, cười mỉm chi, khi cười chỉ khoe chút răng, đều cho là đẹp. Cái đẹp ở đây cón ẩn ý là người con gái kín đáo, ý tứ, được giáo dục kỹ lưỡng, nên được gọi là “Nụ Cười Hàm Tiếu”.

–         Hai thằng tôi cúi đầu sượng sùng! Lạnh thinh! Anh Sơn di di chân dưới đất, còn tôi, tay chân lúc ấy cảm thấy sao mà nó thừa đến vô duyên, chẳng biết giấu đâu! Căn phòng gần chục mét vuông, bình thường thấy rộng thênh thang, mà sao lúc này! Nó trở nên chật chội, ngột ngạt, khó thở lạ! Đang gặp nước bí, chưa biết ăn nói thế nào cho khách!!! Thì như hiểu được cảm nghĩ của hai thằng tôi!? Ông lên tiếng phá tan bầu không khí “ đặt quánh” bao trùm chúng tôi!. Ông tế nhị nói: “ Qua biết hai chú mới ra nghề, như mới dời trường lớp phải không? Nên chưa dầy dặn kinh nghiệm trường đời! Thế nên qua muốn thử cho vui thôi! Không ác ý gì đâu, dẫu sao đây cũng là bài học cho hai chú em. Người Pháp có câu : Ecol de lavie “ Trường đời” rất có nghĩa! Nói xong! Ông trả nốt tiền còn lại và lấy bức tranh, còn bắt tay hai thằng tôi vẻ chân tình, thân thiện, rồi chào tạm biệt!

Chúng tôi chưa kịp nói lời tạ lỗi, và cảm ơn vị khách quí, thì bóng ông đã mất hút vào lòng chợ Ông Tạ. Chúng tôi chợt bừng tỉnh! Như một cơn mê! Tiếc ngẩn ngơ!!!

Cho tới nay! Dù đã trải qua mấy chục năm, bao vật đổi, sao dời, biết bao việc đổi thay, nhưng với cái nụ Hàm Tiếu và vị khách quý kia, vẫn không phai mờ trong tâm trí tôi, bởi tôi đã coi ông như một người thầy trong đời, dù ông không dạy như thầy cô dạy trong trường lớp! Nhưng đã có câu: Nhất tự vi sư, bán tự vi sư “Một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy”, nếu không, làm sao chúng tôi biết được nụ hàm tiếu ra sao!? Để nó vẫn “ đeo sát” tôi trong gần nửa thế kỷ nay!!!

Nhân kỷ niệm 105 năm thành lập trường Cao đẳng Mỹ thuật Trang trí Đồng Nai, tôi viết lên những dòng này! Kính dâng lên vong linh các thầy cùng bạn thân yêu, như thắp lên nén hương lòng vậy!

Đồng Nai, ngày 07 tháng 3 năm 2008

Read Full Post »

Đầu Xuân Nói Chuyện Quốc Hoa

Tản mạn: Đức Chính

Quốc hoa là gì nhỉ? Hình như nhiều người cho đó là câu hỏi vớ vẫn, nhưng bình tâm tâm ngẫm xét lại xem: quốc hoa hơn loài hoa khác điểm gì. Quốc hoa không là thứ đua đòi danh tiếng, nó phải là loài hoa đi vào hồn dân tộc và gắn bó với sự thăng trầm của dân tộc. Trong dòng tư duy triết lý ẩn tàng trong quốc hoa bộc lộ ra dân tộc tính thuần chất của hầu hết mọi người cùng chung sống trên một mảnh đất được gọi là quốc gia.

Quốc hoa không thể gượng ép trao cho, nó hình thành từ trong tâm tư của người dân khi nhớ tưởng đến nó và nó phải là một biểu hiện tâm linh đặc thù của một dân tộc. Gía trị tâm linh đó không thể là dòng triết lý hay tín ngưỡng du nhập, càng không phải là tư tưởng riêng cho một nhóm người. Quốc hoa phải là loài hoa để mọi người không phân biệt tuổi tác, tín ngưỡng, địa vị xã hội cùng cảm nhận linh hồn của nó.

Gần đây có trào lưu phong hiệu quốc hoa quốc tửu. Một số đông bầu chọn hoa sen. Hoa sen là loài hoa cao quý, nhưng dòng tư tưởng đó du nhập từ Thiên Trúc qua nhiều ngã, trong đó không ít sự pha trộn dòng triết học Trung Hoa. Đành rằng sự du nhập đó đã trải qua nhiều thế hệ, ăn sâu vào lòng người, nhưng trong chừng mực nào đó gần như mặc nhiên coi là biểu tượng Phật giáo. Nên hay chăng gán ép người theo Cơ Đốc chấp nhận một quốc hoa mà trong đức tin của họ không hòa đồng được với những nét sâu xa thâm trầm mà hoa sen vốn có. Hay là vì tên gọi một loài quốc hoa khiến họ thành một bộ phận tách rời sống trong lòng một dân tộc. Linh hồn của một quốc hoa là để mọi người trong một dân tộc cùng hoài cảm như nhau: vậy hoa sen có nên là quốc hoa hay không? Chúng ta cứ suy tư mà tự trả lời.

Cũng có bài báo nêu cây lúa. Lúa ư! Đáng trân trọng lắm đấy chứ, nhưng xưa nay nào ai đã bẻ một nhánh lúa đòng đòng trưng trong nhà đâu mà gọi là hoa. Hơn nữa, dòng tư tưởng gắn với cây lúa không mang đậm triết lý sống. Vậy có nên chọn một loài cây có tâm linh thiếu nồng thắm như thế làm quốc hoa chăng?

Thế còn cây mai vàng. Ở đây nói đến loài mai vàng chưng tết, không nói đến loài mai mơ đặc nét Trung Hoa.

Có thể lắm chứ. Ngày xuân trong buổi họp mặt gia đình mà thiếu cây mai hình như không khí kém đi phần thiêng liêng của tinh thần gia tộc. Ai cũng cố tìm cho mình một canh mai vàng thật đẹp trong buổi đầu xuân, cầu mong một điều may mắn (mai trại là may) như một tâm nguyện của người dân xứ nghèo muôn đời lo chiến tranh loạn lạc. Cây mai hình như có một linh hồn, người Việt xa xứ thường cố tìm một cành mai để kỹ niệm ngày tết riêng của dân tộc mình thay vì nhánh đào đỏ thắm. Nhiều Việt Kiều lớn tuổi ngắm cành mai vàng qua ngày rụng từng cánh mà rưng rưng nước mắt nhớ về kỹ niệm ấu thơ, nhớ về quê hương. Cây mai vàng không được thêu dệt nhiều huyền thoại tâm linh chép thành sách như người Trung Hoa hay thêm thắt cho tín ngưỡng của mình, nhưng ngay chính nó có một thứ triết lý ‘vô ngôn’ chỉ những người vì hoàn cảnh xa quê cha đất tổ mới cảm được. Há thứ triết lý đó chẳng phải quá sức thâm trầm vượt ngoài ngữ nghĩa. Chỉ có trực tâm hoài cảm mới thấu được đạo lý “nguồn cội” của cành mai vàng vào đầu xuân nơi xứ lạnh.

Nếu cây đào còn mang dấu ấn của Trung Hoa, cây mai vàng hình như chỉ có ở Việt Nam đưa vào hàng hoa kiểng. Xứ Châu Phi không thiếu loài mai vàng nhưng họ có trân trọng  như người Việt chúng ta đâu. Người Nhật đặc trưng với quốc hoa Anh Đào vì chính họ và chỉ riêng họ biết nâng niu loài hoa ấy. Cây mai vàng của chúng ta có nét thuần túy dân tộc riêng như Anh Đào, có một tâm linh huyền diệu như thế, sao không là quốc hoa?

Hoa Champa (hoa sứ) là quốc hoa của Chiêm Thành nhưng dân tộc này chẳng bao giờ gọi nó là quốc hoa. Chí sau này các nhà nghiên cứu mới nói thế. Chẳng qua vì loài hoa đó gắn với dân tộc Chăm như cành mai vàng gắn với người Việt. Cả hai đều là sự hòa quyện linh hồn vào dân tộc, cả hai không là thứ gượng ép áp đặt. Quốc hồn quốc túy là thứ tự sinh ra và tiệm biến trong lòng dân tộc, nó không vay mượn hay ‘chế biến’ mà thành. Hãy cho bất cứ người dân Việt nào khi ngắm quốc hoa đều thấy hồn mình trong đó và kiêu hãnh đó là loài hoa đặc thù của dân tộc mình. Đáng buồn nhất là một ngày nào đó có du khách nước ngoài bảo loài hoa X gì đó là quốc hoa của dân tộc Y từ hàng thế kỷ rồi, chứ không gượng ép được chọn hồi thế kỷ 21. Hoa mai vàng chưa có dân tộc nào chọn làm quốc hoa và chắc chắc chẳng có dân tộc nào gửi nhiều tâm khảm vào loài mai vàng bằng dân tộc Việt. Mai vàng là quốc hoa được chăng?

Chuyện quốc hoa dần sang quốc tửu! Tôi chẳng muốn nói có cần hay không cần chọn một loại quốc tửu, chỉ muốn nói khi nhấp ly quốc tửu đó tâm linh người Việt thế nào? Nào ai cùng tôi rót ba ly rượu nếp tiêu biểu ba miền: rượu làng Vân, rượu Bàu Đá, rượu Gò Đen. Ai sành rượu xin mời phân biệt đúng tên từng loại rượu. Có lẽ người có khả năng này chỉ đếm trên đầu ngón tay, nếu không muốn nói không có, thế thì lạm bàn quốc tửu có quá lời chăng? Cũng như ai nhấp thử một ly rượu đủ sức nói đúng cách chế biến men, phân biệt được lửa già lửa non, trái gió hay không  trái gió khi nấu, … Có cao nhân như thế kẻ hèn này xin nâng chén tôn làm thầy. Tôi nói ý này chỉ với mục đích: hãy nghiên cứu cho kỹ rồi bàn về quốc tửu. E rằng rất nhiều kẻ huyên hoang cổ động quốc tửu này quốc tửu nọ nhưng thú thưởng rượu chẳng biết được bao nhiêu.

* MỤC LỤC – TIN TỨC THỜI SỰ NGÀNH GỐM 

MỤC LỤC – KIẾN THỨC MỸ THUẬT VN KỶ NIỆM THĂNG LONG 1000 NĂM

*MỤC LỤC – GIẢI TRÍ – THƯ GIÃN

Read Full Post »

Cảm hứng “Thanh Hoa Sứ”

Không chỉ người chơi đồ cổ thấy được cái đẹp của sứ xanh trắng (sắc màu men và họa tiết hoa văn…) và sưu tầm mà cả nhà thiết kế trang phục thời trang cũng lấy cảm hứng từ vẽ đẹp này cho các bộ sưu tập của họ!

Trung Quốc Thanh Hoa Sứ

Sứ xanh trắng Delft Hòa Lan

Ngói gốm xanh trắng Bồ Đào Nha

Thời trang xanh trắng biểu diễn tại Olympic 2008


Bộ sưu tập thời trang xuân hè 2009 của  John Galliano’s Christian Dior lấy cảm hứng từ sứ xanh trắng (John Galliano’s Christian Dior Spring/Summer 2009 Haute Couture collection )


John Galliano không phải là nhà thiết kế duy nhất lấy cảm hứng sáng tạo từ sứ xanh trắng. Roberto Cavalli tại trình diễn thời trang xuân hè 2005 đã giới thiệu “bộ sưu tập sứ” – “porcelain collection” từ rất sớm. Victoria Beckham đã ghi nhận lại như vậy!


Các người mẫu nổi tiếng Chiling Lin, Bing Bing Fan and Fei Fei Dai trong y phục in họa tiết thanh hoa.
The Chinese celebs, Chiling Lin, Bing Bing Fan and Fei Fei Dai dress’d in Qing Hwa prints


Nhà thiết kế thời trang Trung Quốc Gou Pei trong trình diễn thời trang cao cấp Thu Đông 2010 lại tiếp tục với niềm cảm hứng từ đồ sứ Thanh Hoa. Trang trí tóc dáng hình chiếc quạt gợi nhớ các nàng công chúa thời Thanh.


Thời trang Gucci tung ra giỏ xách Rồng Thượng Hải tại hôm lễ khai mạc Shanghai Expo






 


more!

KHTN Sưu Tầm & Dịch

 

*MỤC LỤC – GIẢI TRÍ – THƯ GIÃN

Read Full Post »

Pho tượng Quan Âm
Tác giả:Lâm Ngữ Đường
Dịch giả:Nguyễn Duy Chính

Chương I

Vượt qua được ba chặng sông Trường Giang lên mạn ngược quả thật kinh tâm động phách, nguy hiểm vạn phần. Dẫu sao cuối cùng tôi cũng đến được phủ đệ của viên tri phủ từ quan về ở ẩn nơi đây. Ông này là người nổi danh trong giới sưu tầm cổ ngoạn, bút thiếp và tranh vẽ. Có người bảo rằng khi còn tại quyền, ông ta lắm phen lợi dụng thế lực để cưỡng đoạt nhiều món đồ cổ quí giá. Mỗi khi ông ta chủ tâm lấy món gì, dù đồng khí hay tự họa, nếu dùng tiền mua không xong thì phải đủ mọi cách có bằng được mới thôi. Người ta kể rằng nhà kia không chịu bán một món đồ đồng đời Thương, ông ta đã làm cho họ phải nhà tan, người chết. Những điều ấy thật khó mà kiểm chứng, hoặc có khi vì ghét bỏ mà người ta bịa đặt không chừng, nhưng tính thích đồ cổ như chính mạng mình của ông ta thì ai cũng biết. Vả lại, trong bộ sưu tập của ông ta có những món trên đời hiếm thấy.
Viên hưu quan tiếp tôi tại căn phòng phía Tây. Đi qua ba dẫy nhà mới đến khách sảnh. Phòng khách của một người chuyên về cổ ngoạn mà sao chẳng có món gì đặc biệt ngoài những bàn ghế bằng gỗ gụ, trên mặt lót da báo. Nhưng toàn cục xem ra đầy vẻ phong nhã, giản phác chứng tỏ chủ nhà là người có khí tượng cao nhân. Tôi vừa tiếp chuyện, vừa quan sát chiếc bình màu huyết dụ, cắm một cành mai in lên nền núi cao ngoài song cửa. Sát bên phòng khách là một vườn hoa.
Viên tri phủ nói năng thật từ hòa, dễ mến. Có thể vì tuổi già nên ông không còn sắc mắc nhưng cứ như con người trước mặt thì thật khó mà có thể bảo ông ta tàn nhẫn như lời đồn. Ông ta tiếp tôi chẳng khác gì một người bạn cũ đến thăm. Còn tôi thì hơi nóng ruột vì những gì tôi dặn người giới thiệu tôi chuyển lời sao mãi không thấy nhắc tới, hay vị hưu quan vì tuổi già nên đã lẫn rồi chăng?
Tôi quả thực kính trọng con người này, dám về đây tự cất một căn nhà để tiêu dao ngày tháng. Vì thế tôi không thể đường đột mà chỉ lịch sự khen qua về những đồ cổ quí giá ông đã sưu tầm được mà thôi. Ông lão mỉm cười:
– Hôm nay thì người ta bảo là của tôi, nhưng một trăm năm sau thì lại về tay người khác rồi. Ông xem, có nhà nào mà giữ được một món đồ đến hơn trăm năm đâu. Đồ cổ cũng có số mệnh của nó, nếu nó biết, hẳn nó cũng cười chúng ta đấy.
Nói đến đây, dường như thú vị, ông già lấy ra một cái tẩu thuốc ngậm trên môi.
– Thật thế ư?
– Đương nhiên là thế.
Tôi e dè hỏi lại:
– Ngài nói như thế là nghĩa làm sao?
– Bất cứ món nào, hễ là đồ cổ đều có nhân cách riêng, sinh mệnh riêng.
– Tiên sinh nói vậy chẳng lẽ nó cũng có linh hồn ư?
ông già hỏi ngược lại:
– Thế theo ông thì linh hồn là cái gì? Linh hồn chẳng qua là nói về cái đời sống, mà hễ có đời sống thì hẳn có linh hồn. Ví thử như một nghệ phẩm, người nghệ sĩ đem hết sức tưởng tượng và sinh lực của mình dồn vào đó, có khác gì người mẹ đem khí huyết của mình nuôi cái bào thai. Một khi sinh lực người nghệ sĩ đem vào tác phẩm, thì tác phẩm đó ắt có sinh mệnh, còn hoài nghi gì nữa? Có khi vì sinh mệnh của tác phẩm mà người nghệ sĩ phải mất mạng như trường hợp pho triển ngọc Quan âm của tôi.
Tôi vốn dĩ chỉ muốn đến xem một bức viết danh quí, trước nay chẳng hề nghe nói đến triển ngọc Quan âm, mà nói đúng ra chẳng mấy ai biết. Tôi chỉ vô tình hỏi không ngờ lại được nghe một câu chuyện lạ lùng. Khi ông ta nói về lịch sử của pho tượng này, tôi thật cũng chưa biết ông ta nói gì, nhưng cốt ý đến xem chữ nên tìm cách quay trở lại đề tài. Tôi chỉ tay lên một bức thủ cảo:
– Đương nhiên là trong tác phẩm phải thể hiện được phần nào con người của tác giả, và đó chính là một phần của con người lưu cho hậu thế rồi còn gì.
– Ông nói không sai, cái gì tốt đẹp cũng còn lại cái sinh mệnh cũng như nghệ gia có con có cháu vậy.
Viên tri phủ khi nói tới đây xem chừng tin vào quan điểm của mình lắm.
– Nếu như trong khi sáng tạo tác phẩm, nghệ gia phải hi sinh tính mạng của mình thì đó là trường hợp pho tượng ngọc của tiên sinh chăng?
– Pho tượng Quan âm thì tình trạng lại đặc biệt, tác giả không chỉ vì tác phẩm mà chết, nhưng cái chết của ông ta thật cũng xứng đáng – vì hoàn thành được một tác phẩm như thế rồi nằm xuống thì cũng không uổng một đời.
Ngưng lại một chút, ông ta nói tiếp:
– Nếu ông xem pho tượng này thì sẽ cảm thấy như vì tác phẩm mà ông ta sinh ra, rồi cũng vì tác phẩm mà phải hi sinh tính mệnh. Nếu không như thế, thật không thể nào hoàn thành được tác phẩm này.
– Nếu thế ắt hẳn phải là một vật quí giá phi thường, chẳng hay chúng tôi có duyên được xem chăng?
Tôi phải khẩn khoản đến nửa ngày, ông lão mới bằng lòng cho tôi xem. Những đồ trân quí, ông ta để trên lầu hai, còn riêng pho tượng ngọc thì để tận lầu ba.
– Tác giả của nó là ai vậy?
– Tên ông ta là Trương Bạch, trên đời chẳng ai biết đến đâu. Tôi nghe được câu chuyện về đời ông ta từ nữ trụ trì ở am Kê Minh, và tôi phải hiến cho ni cô ở am này một tài sản lớn – cho mụ trụ trì già giảo hoạt – bà ta mới chịu giao cho tôi pho triển ngọc Quan âm. Khi đó, người chủ của pho tượng này qua đời rồi, nó vào tay tôi thật đáng hơn ở trong am nhiều.
Pho tượng nhỏ được khắc bằng một khối ngọc cực kỳ trong trắng, đặt trên một cái bệ bằng ngọc xanh trong một cái hộp pha lê ngay giữa lầu ba, chung quanh có song sắt đúc hoa nặng nề, không ai lay nổi.
– Ông thử đi vòng quanh mà xem, mắt pho tượng lúc nào cũng nhìn theo ông đấy.
Nghe ông ta nói, pho tượng này quả thực lạ thường. Tôi đi quanh một vòng, mắt pho tượng đích thực lúc nào cũng theo dõi tôi không ngoa. Thế nhưng hình dáng Quan âm thật buồn, tưởng như diễn tả đúng vào lúc đang toan bay lên, một tay giơ cao, đầu hơi ngửng về phía sau, một tay phải đưa ra phía trước, linh động chẳng khác gì một nữ nhân hòa ái trong lúc thương tâm, tựa như Quan âm bồ tát sắp bay lên trời còn cố giơ tay ban phúc cho chúng sinh. Thế nhưng nhìn vào khuôn mặt thì không cảm thấy hình ảnh giáng phúc. Một pho tượng chỉ cao mười tám phân, mà người điêu khắc nên nó có thể làm cho kẻ xem khó có thể quên vì ngay cả y phục cũng đặc biệt sáng tạo.
– Tại sao người ni cô lại có được pho tượng này?
– Ông nhìn kỹ tư thế của điêu tượng này, trong đôi mắt chứa đầy yêu thương, sợ hãi, thống khổ.
Nói tới đây ông ta ngưng lại một chút, rồi thốt nhiên tiếp:
– Thôi mình xuống dưới lầu, tôi sẽ kể cho ông nghe từ đầu đến cuối.
Chương II
Người ni cô ấy tên là Mỹ Lan, khi sắp chết mới kể câu chuyện này. Cũng có thể bà ni cô trụ trì thuật lại cho tôi không hoàn toàn đúng, có thêm thắt cho câu chuyện thêm sinh động nhưng viên tri phủ ngoài việc đổi một số tên đất, xác quyết với tôi chuyện này không sai. Cũng theo như bà trụ trì, người ni cô này trầm mặc, ít nói, khi còn sống chẳng truyện trò với ai bao giờ.
Vào khoảng hơn một trăm năm trước, Mỹ Lan khi ấy là một thiếu nữ đang tuổi thanh xuân, sống trong trạch đệ quan trấn thành Khai Phong. Nàng vốn là con gái duy nhất của Trương thượng thư, xinh đẹp bội phần. Cha cô là người cực kỳ nghiêm chính, nhưng với con lại cưng chiều vô cùng. Cũng như bao nhiêu quan to thời đó, trong gia phủ có rất nhiều họ hàng thân thích ở, người nào biết chữ thì làm việc quan, người nào dốt nát thì làm việc nhà.
Một hôm, có một đứa cháu họ xa đến Trương phủ. Tên anh ta là Trương Bạch, rất thông minh, hoạt bát đầy vẻ tinh anh. Tuy mới mười bảy tuổi nhưng thân hình cao lớn, ngón tay búp măng dài, không có vẻ nào một cậu bé nhà quệ Cả phủ ai cũng mến anh ta nhưng ngặt vì không biết chữ nên phu nhân giao cho Trương Bạch việc tiếp khách.
Anh ta hơn Mỹ Lan một tuổi, cả hai đều còn trẻ con, thường hay chơi đùa với nhau. Trương Bạch hay kể chuyện đồng quê cho Mỹ Lan nghe và cô nàng thích lắm. Qua độ hơn mười ngày, mọi người đã bớt vồn vã, phần vì chàng ta tính tình lạ lùng thích tìm nơi cô tịch, phần khác lơ đễnh hay quên việc, nên thường bị mắng. Vì thế phu nhân cho anh ta ra coi vườn và xem chừng Trương Bạch thích việc này hơn.
Trương Bạch vốn là kẻ trời sinh thích sáng tạo, không thích theo lối người thường học hành. Được sống chung với chim chóc, cỏ hoa có vẻ thích thú, vừa đi vừa gọi, tưởng như một vì chúa tể quần sinh. Nếu không ai để ý đến anh chàng thì anh ta lại làm được nhiều điều lạ. Không ai dạy mà anh ta biết vẽ. Khi rảnh rỗi anh ta làm được những chiếc đèn lồng tuyệt đẹp, hay lấy đất sét nặn chim nặn thú trông như sống thực.
Đến năm mười tám tuổi, xem ra anh ta vẫn chẳng có gì gọi là sở trường. Thế nhưng vì đâu mà lôi cuốn Mỹ Lan, nàng cũng không biết nữa. Trương Bạch thân hình cao ráo, thanh tú, ngoài cha cô ai ai cũng mến gã. Hai anh em họ ngày càng thân nhau, nhưng một điều rõ ràng là hai người cùng họ làm sao có thể lấy nhau.
Một hôm, Trương Bạch nói với phu nhân anh ta muốn đi kiếm nghề để học. Anh ta đã kiếm ra một cửa hiệu bán ngọc khí, và đã nói với người ta để xin học việc. Phu nhân thấy vậy cũng ưng vì càng ngày anh ta và Mỹ Lan xem càng thân thiết quả không haỵ Tuy nhiên Trương Bạch vẫn sống trong phủ, tối tối lại về và càng có nhiều chuyện để kể cho Mỹ Lan nghe.
Phu nhân mới nói với con rằng:
– Mỹ Lan, con và biểu huynh con đều đã lớn khôn, tuy là anh em họ, nhưng hai người không được gặp nhau nữa.
Nghe mẹ dặn, Mỹ Lan càng nghĩ càng buồn. Trước đây nàng chưa bao giờ nghĩ rằng mình đã yêu Trương Bạch. Tối hôm đó, nàng vào hoa viên gặp anh tạ Ngồi dưới ánh trăng, trên một phiến đá, Mỹ Lan nói cho Trương Bạch nghe lời mẹ.
– Này anh Bạch, mẹ em dặn là em không được gặp anh nữa.
Nói đến đây, hai má nàng ửng hồng.
– Đúng rồi, chúng ta đều đã lớn.
Cô gái cúi đầu làm như tự hỏi mình:
– Thế ư, vậy là thế nào?
Trương Bạch choàng một tay qua lưng Mỹ Lan nói:
– Thế có nghĩa là em càng ngày càng làm cho anh say mê, càng ngày càng làm cho anh muốn gặp. Nếu em ở bên cạnh anh, anh thấy vui sướng, nếu em không ở bên anh, anh thấy tịch mịch thê lương.
Mỹ Lan thở dài hỏi lại:
– Thế bây giờ anh vui lắm ư?
Giọng Trương Bạch trở nên trìu mến:
– Phải rồi. Có em ở bên cạnh, tâm hồn anh xao xuyến khác thường. Mỹ Lan, em là của anh mà anh cũng là của em.
– Chắc anh biết rồi, em không thể nào lấy anh được. Chẳng bao lâu cha mẹ em sẽ gả chồng cho em.
– Đừng em, đừng nói chuyện ấy.
– Thế nhưng anh cũng nên biết như thế chứ.
– Anh chỉ biết cái này thôi.
Nói đến đây Trương Bạch kéo Mỹ Lan vào lòng:
– Từ thuở khai thiên lập địa, em vì anh mà sinh ra, anh cũng vì em mà có mặt trên đời, anh không bao giờ để em đi. Anh yêu em không biết bao nhiêu mà kể.
Mỹ Lan vùng ra khỏi tay Trương Bạch, đi một mạch về phòng.
Tình yêu chớm nở trong tuổi thanh xuân thật bồi hồi, mà khi cả hai bên đều hiểu rằng họ Ở trong một hoàn cảnh ngang trái thì lại càng thấy thấm thía mùi vị vừa ngọt ngào, vừa đắng caỵ Đêm hôm ấy, Mỹ Lan trằn trọc, khi thì nghĩ đến lời mẹ dặn, khi thì nhớ lại những gì Trương Bạch nói với mình lúc ban chiều, như chỉ một đêm mà nàng trở nên khác hẳn. Hai người càng muốn thoát ra khỏi sợi dây ái tình, càng thấy mình bị trói chặt. Cả hai cùng cố tránh mặt nhau. Ba ngày sau, Mỹ Lan e e ấp ấp đến kiếm Trương Bạch. Vì hai người chỉ lén gặp nhau, lửa tình càng thêm mãnh liệt. Hôm ấy, ái tình của tuổi xuân, êm đềm của nuối tiếc, sâu xa của thề nguyền, ngọt ngào hơn, mà cũng đắng cay hơn. Hai người cùng biết rằng họ không thể nào cưỡng lại được quyền của đấng sinh thành. Nhưng họ không biết phải làm gì, chỉ biết yêu.
Cứ như phong tục thời ấy, cha mẹ Mỹ Lan ngấm nghé một thư sinh cho con nhưng nàng cực lực từ chối. Có lần nàng còn nói nàng không muốn lấy chồng khiến cho mẹ nàng giật mình. Nhưng Mỹ Lan tuổi cũng còn nhỏ, nên hai ông bà cũng có ý muốn để nàng ở nhà thêm vài năm.
Trong thời gian ấy, Trương Bạch vẫn tiếp tục đi học nghề. Trong nghề khắc tượng, anh ta cảm thấy mình có thiên tư, chẳng khác gì một người được sinh ra để làm việc này, nên chẳng bao lâu đã trở thành một người thợ xuất sắc. Anh ta mê điêu khắc lạ lùng, mỗi khi làm việc quên ăn quên ngủ, ngay cả những chỗ tỉ mỉ nhất cũng thập toàn thập mỹ, khiến cho ông thầy dạy cũng phải kinh ngạc. Những nhà phú quí càng ngày càng đến đặt mua nhiều hơn.
Một hôm, nhân lễ thọ của hoàng hậu, cha Mỹ Lan quyết định dâng một lễ vật tuyệt hảo, nên tìm được một khối ngọc lớn, loại thượng đẳng. Theo ý của phu nhân, ông tự mình đem đến nơi Trương Bạch làm việc nói rõ nguyên nhân. Khi xem những tác phẩm của anh ta, ông càng thán phục.
– Này cháu, đây là một lễ vật dâng lên hoàng hậu, nếu cháu làm khéo, ta sẽ thưởng một món tiền lớn.
Trương Bạch xem kỹ khối ngọc, lấy tay vuốt ve tảng đá chưa từng đẽo gọt, trong lòng vui sướng vô cùng. Chàng nói rằng đã lâu vẫn mong có cơ hội tạc một pho tượng Quan âm, và tin rằng sẽ hoàn thành một nghệ phẩm cổ kim chưa từng có.
Trong khi điêu khắc, Trương Bạch không cho ai xem và khi xong, quả nhiên pho tượng Quan âm là một tác phẩm tuyệt hảo, đúng qui củ từ xưa truyền lại. Từ nghi thái, phong tư, chỗ nào cũng hoàn toàn. Hơn nữa chàng còn làm được một điều chưa ai có là ở hai tai pho tượng khắc hai vòng đeo chuyển động được. Trái tai cũng thật tinh xảo, chỗ dày mỏng, chỗ lên xuống chẳng khác gì người thật. Thêm một nét, khuôn mặt pho tượng y hệt Mỹ Lan.
Viên thượng thư vui mừng không sao kể xiết. Trong bao nhiêu bảo vật của hoàng cung, không gì có thể sánh với pho tượng này. Ông bảo:
– Khuôn mặt cháu khắc sao giống hệt Mỹ Lan.
Trương Bạch đắc ý đáp:
– Dạ đúng vậy. Chính nàng là cảm hứng cho cháu.
ông quan thưởng cho Trương Bạch một món tiền lớn, rồi tiếp:
– Thôi, từ nay sự thành danh của cháu không còn là vấn đề nữa. Ta đã cho cháu cơ hội này, vậy phải biết ơn ta nhé.
Trương Bạch thế là đã nổi tiếng, nhưng điều tâm nguyện của chàng lại chưa thành. Thành danh mà làm gì nếu không có được Mỹ Lan. Chàng biết rằng nguyện vọng ấy không sao thành được, nên làm việc không còn hứng thú, nhiều mối hàng lớn cũng chẳng buồn nhận. Chẳng biết sao hơn, ông chủ phường khắc chỉ còn có nước thở dài.
Đến nay, Mỹ Lan đã hai mươi mốt tuổi, đáng lẽ phải là tuổi vui tươi của một thiếu nữ chưa chồng. Đúng lúc ấy, có người đã mai mối nàng cho một gia đình rất thế lực, và nàng không còn cách gì lần khân được nữa. Chẳng bao lâu hai bên đã cử hành lễ đính hôn, troa đổi lễ vật cực kỳ long trọng.
Chương III
Mỹ Lan và Trương Bạch thất vọng vô cùng, tưởng muốn phát điên nên bàn nhau trốn đi. Mỹ Lan tin rằng tài nghệ của Trương Bạch chắc đủ nuôi thân nên chỉ đem theo một ít tư trang, tính sẽ đi đến một nơi thật xa sinh sống. Hai người định một đêm kia sẽ theo vườn hoa phía sau mà đi. Nào ngờ đêm ấy, một lão bộc nhìn thấy hai người ở trong hoa viên nên đâm nghi, vì chuyện hai người thì cả nhà ai ai cũng rõ. Ông lão không muốn để cho phủ quan thượng thư mang tiếng xấu nên ra giữ chặt Mỹ Lan lại. Không cách gì hơn, Trương Bạch xô lão ra. Tuy lảo đão, lão nhất định không buông, chàng bèn đấm cho một quả. Ông ta ngã văng vào tòa giả sơn, đầu đập vào một cạnh đá, gục xuống tắt thở. Hai người thấy ông ta chết, hoảng sợ vội chạy ngay.
Sáng hôm sau, trong nhà phát hiện hai người tư bôn, ông lão bộc táng mệnh. Quan thượng thư giận đến cực điểm:
– Ta nhất định sẽ cho tìm khắp thiên hạ đem chúng nó về giải quan trị tội.
Khi ra khỏi kinh đô, đôi nhân tình không dám ngừng bước, cứ đi thẳng nhưng tránh những thành thị lớn. Vượt sông Trường giang, vào đến Giang Nam. Trương Bạch nói với Mỹ Lan:
– Anh nghe nói Giang Tây có nhiều ngọc đẹp.
Mỹ Lan ngần ngừ hỏi lại:
– Anh vẫn còn định khắc ngọc sao? Nét khắc của anh ai cũng nhận được, chỉ nhìn qua là biết thôi.
Trương Bạch nói:
– Thế mình chẳng định khắc ngọc kiếm sống là gì?
– Đó là chuyện tính khi lão Đái không chết. Bây giờ ai cũng cho là mình mưu sát lão. Anh làm việc khác không được sao? Như làm đèn lồng hay nặn đất sét anh vẫn làm thuở nào?
– Chẳng lẽ anh lại làm những việc ấy. Anh đã nổi danh khắc ngọc rồi mà!
– Thì chính là phiền ở chỗ đó.
– Anh nghĩ rằng mình không nên lo quá. Giang Tây cách kinh đô cả hơn nghìn dặm, chắc chẳng ai biết đến mình đâu.
– Hay anh đổi cách đi, đừng khắc cái gì thật đẹp, chỉ cốt sao bán được là đủ rồi.
Trương Bạch cắn môi, không nói một lời. Chẳng lẽ chàng cũng như bao nhiêu người thợ ngọc tầm thường khác, ẩn tính mai danh, sống thừa sống nhục? Chính mình hủy diệt nghệ thuật của mình chăng? Hay để cho nghệ thuật hủy diệt mình? Quả thực chàng chưa hề nghĩ đến tình cảnh này.
Thế nhưng trực giác của đàn bà không sai. Mỹ Lan e rằng điêu khắc những vật tầm thường không hợp ý chồng. Sau khi qua khỏi Trường Giang, một sức mạnh vô bờ lôi cuốn Trương Bạch khiến hai vợ chồng theo đường cái quan đi Giang Tây. Từ Giang Tây họ đi qua những ngọn núi hùng vĩ tỉnh Quảng Đông, qua các đồng bằng. Hai người không ngừng ở Nam Xương mà đi thẳng tới Cát An. Khi tới Cát An, người vợ lại năn nỉ xin chồng cải trang. Xứ Giang Tây nổi tiếng về đất sét, có những đồ sứ tuyệt đẹp. Nhưng làm đồ sứ Trương Bạch cũng không hài lòng, chàng nói:
– Nếu có làm đồ sứ, người ta cũng nhận ra tài của anh. Ở đây có làm đồ ngọc chắc cũng không sao đâu.
Lời đề nghị đó ngược với linh tính của đàn bà. Mỹ Lan chẳng biết sao hơn, đành chiều ý chồng. Nàng nói:
– Anh ơi, vì em trăm lần ngàn lần anh đừng nổi danh nữa nhé. Hai đứa mình hiện đã khổ sở đến mức này, nếu như anh lại nổi danh thì mình chỉ còn có chết mà thôi.
Mỹ Lan sợ mà nói như thế, nhưng nàng cũng hiểu rằng, chồng nàng nếu không hoàn thành những vật thập toàn thập mỹ, thì đâu chịu cam lòng. Chàng là người yêu thích vẻ đẹp, có trình độ nghệ thuật cao siêu, lại tự hào về tác phẩm của mình, thêm lòng đam mê ngọc khí. Tránh sai dịch bắt bớ hay không là ở chàng. Thật là đầy đắng cay trong cái bi kịch này.
Trương Bạch lấy châu báu của vợ bán đi, mua về đủ các loại ngọc khác nhau mở một tiệm nhỏ. Mỹ Lan xem chồng làm, thường phải nói:
– Thôi đẹp rồi, người khác không ai làm đẹp đến thế đâu. Vì em đi, anh đừng phí công thêm làm gì, để vậy thôi.
Trương Bạch chỉ còn có nước nhìn nàng mà chua chát mỉm cười. Lúc đầu, chàng chỉ tạc các vòng đeo tai thường thôi. Thế nhưng mỗi loại ngọc có cái hồn riêng của nó, mỗi loại phải dùng một cách khác nhau. Dùng ngọc khắc vòng đeo tai, dẫu đẹp mấy cũng chẳng khác gì đào tiên cho khỉ hái, không đáng gì. Thành thử chàng vẫn lén – lúc đầu trong lòng bất an nên chàng phải dấu vợ – điêu khắc đôi ba vật đẹp tuyệt trần, để lộ chút thiên tài. Vừa làm xong là có người mua ngay, thật là mèo mù vớ cá rán. Mỹ Lan lại cầu khẩn chồng:
– Anh ơi, em lo quá. Tên tuổi anh mỗi lúc lại nổi như cồn. Em lại đang có thai, anh nên giữ gìn một chút mới phải.
– Có con ư? Thế thì mình là một tiểu gia đình rồi còn gì?
Chỉ trong khoảnh khắc, chàng thấy những gì Mỹ Lan lo lắng chẳng qua chỉ như người nước Kỷ lo trời sập, lập tức tiêu tan. Mỹ Lan nói một mình:
– Mình sống như thế này thật hạnh phúc.
Những gì Mỹ Lan nói không sai. Chỉ một năm sau, danh của tiệm Bảo Hòa đã vững. Bảo Hòa là tên cửa hiệu của Trương Bạch. Những người giàu có trong vùng ai cũng lại mua ngọc khí của chàng, cả thành Cát An ai cũng biết. Ngay cả những người từ tỉnh đi ghé ngang qua thấy ngọc đẹp cũng mua.
Một hôm, có một người vào tiệm, nhìn quanh quất một hồi rồi hỏi chàng:
– Có phải ông là Trương Bạch, bà con của Trương thượng thư ở phủ Khai Phong không?
Trương Bạch nằng nặc chối, nói từ trước tới nay chưa tới phủ Khai Phong bao giờ. Người đó có vẻ nghi, chăm chú nhìn Trương Bạch một hồi rồi nói:
– Nghe giọng ông đúng là người phương Bắc, thế ông đã có vợ chưa nhỉ?
– Có vợ hay chưa có vợ liên quan gì đến ông?
Mỹ Lan ở trong nhà ghé mắt qua khe cửa dò thám. Khi người nọ đi khỏi, nàng cho chồng hay gã là một viên thư lại trong phủ của thân phụ nàng. Chính đồ ngọc của Trương Bạch đã làm lộ thân thế chàng.
Hôm sau, người đó lại đến. Trương Bạch nói:
– Tôi nói cho ông hay, tôi không hiểu ông định làm trò gì?
– Tốt lắm. Để tôi nói cho ông hay về gã Trương Bạch này. Y phạm tội mưu sát, lại còn dụ dỗ tiểu thư con quan Thượng Thư, ăn cắp châu báu vàng bạc. Nếu như ông muốn cho tôi tin ông không phải là Trương Bạch thì mời bà nhà ra cho tôi xin một chén trà. Nếu như không phải là Trương tiểu thư thì thôi.
– Tôi mở tiệm ở đây làm ăn đứng đắn, hẳn hòi. Nếu ông muốn làm phiền tôi, tôi sẽ đuổi ông ra khỏi cửa.
Người nọ cười khẩy một tiếng rồi đi ra. Vợ chồng Trương Bạch vội vàng thu nhặt những ngọc khí và đồ quí giá, thuê một cái thuyền gỗ, trời chưa sáng đã vội vàng ngược giòng sông chèo đi. Lúc đó đứa con mới được ba tháng.
âu cũng là vận mệnh xui xẻo, hay trời làm ra thế nên đến Cống Huyện thì đứa nhỏ khởi bệnh, không thể không ngừng lại. Một tháng trời đi thuyền tiền bạc tiêu hết sạch. Trương Bạch đành phải lấy ra một món ngọc khí tuyệt đẹp bán cho một gã lái buôn họ Vương. Đó là một con chó, mắt nửa thức, nửa ngủ.
Tên lái buôn vừa thấy đã reo lên:
– Ôi chà, đây là ngọc của tiệm Bảo Hòa đây mà ! Không đâu có thể làm được mà cũng không đâu bắt chước được.
Trương Bạch mừng thầm:
– Vâng, tôi mua ở Bảo Hòa đấy.
Cống Huyện nằm ở chân một dãy núi cao. Lúc đó trời đang mùa đông. Trương Bạch càng thích cảnh trí và không khí trong lành. Hai vợ chồng bàn nhau ở lại đây. Khi đứa nhỏ khỏi bệnh, Trương Bạch lại bắt đầu tính chuyện mở tiệm. Cống Huyện là một thành phố lớn, nên ho đi cách đó chừng hai mươi dặm cho chắc ăn. Trương Bạch bàn với vợ bán đi một món ngọc khí làm vốn. Mỹ Lan hồ nghi hỏi:
– Tại sao anh lại phải bán ngọc?
– Có thế mới đủ tiền mua hàng.
– Kỳ này anh nên nghe lời em, mở một tiệm bán đồ sứ.
– Sao lại …
Chưa dứt câu, Trương Bạch đã hiểu ý vợ.
– Thì tại anh không nghe lời em, suýt nữa mình bị bắt. Đồ ngọc với anh chẳng khác gì tính mệnh, bộ anh không nghĩ đến vợ con hay sao? Đợi bao giờ êm êm hãy nghĩ tới việc khắc ngọc.
Chương cuối
Bất đắc dĩ, Trương Bạch phải mở tiệm bán đồ sứ, bán những tượng đất nung. Chàng nặn vài trăm tượng Phật. Mỗi đầu tháng, khi thấy những lái ngọc đi từ Quảng Châu qua, lòng chàng lại nao nao nghĩ đến điêu khắc. Khi đi ngang qua các tiệm bán ngọc, nhìn những món đồ xấu xí bày bán, máu nóng lại nổi lên bừng bừng. Về nhà nhìn thấy những tượng đất đang phơi, chàng lấy ngón tay di nát cả.
– Hừ, đất bùn. Ta có thể khắc ngọc mà sao phải đi nặn đất bùn.
Nhìn thấy chồng lên cơn giận dữ, Mỹ Lan sợ lắm vội khuyên:
– Thế anh không sợ chết sao?
Một hôm, gã lái buôn họ Vương gặp Trương Bạch, mời chàng vào nhà uống nước, mong mua thêm được vài món ngọc. Trương Bạch hỏi:
– Ông đi đâu về thế?
– Tôi đi Cát An về đây.
Gã mở bọc ra, nói:
– Này ông xem, đồ của tiệm Bảo Hòa bây giờ thế này đây.
Trương Bạch lặng thinh không trả lời. Khi gã Vương lôi ra một con khỉ bằng mã não, chàng la lên:
– Đồ giả rồi.
Gã Vương thở dài:
– Ông nói không sai. Mặt con khỉ chẳng có thần khí. Nghe ông nói, ông có vẻ rành ngọc lắm nhỉ.
Trương Bạch lạnh nhạt đáp:
– Thì đương nhiên tôi rành.
– A, thì ra thế. Hôm trước ông có bán cho tôi một con chó, chẳng dấu gì ông, tôi bán lời gấp trăm lần. Ông còn món nào khác không?
– Để tôi cho ông xem con khỉ bằng mã não thứ thiệt của tiệm Bảo Hòa.
Trương Bạch dẫn gã Vương về nhà, cho y xem con khỉ mã não chàng khắc hồi ở Cát An. Gã lại năn nỉ hết lời để chàng bán lại cho món ngọc đó. Hôm sau, họ Vương đến Nam Xương khoe ầm lên với các bạn ngọc khác là y mua lại được từ tay một gã bán đồ sứ, rồi chép miệng:
– Người như thế mà có những món ngọc đẹp, kể cũng lạ.
Độ sáu tháng sau, ba người nha dịch đến tiệm, đem theo công sự bắt hai vợ chồng giải về kinh độ Tên bí thư của Trương thượng thư cũng đi theo. Trương Bạch nói:
– Để chúng tôi lấy ít đồ mang theo.
Mỹ Lan cũng tiếp lời chồng:
– Chúng tôi đem ít đồ cho cháu bé.
Rồi dọa thêm:
– Các ngươi đừng quên rằng nó là cháu ngoại quan thượng thư, đi đường nếu nó bệnh, các ngươi phải chịu trách nhiệm.
Những tên nha dịch vốn đã được lệnh quan thượng thư đi đường phải lo cho chu đáo nên đâu dám từ chối. Trương Bạch và vợ ra đằng sau, bọn công sai chờ đằng trước. Quả thực là một cuộc biệt ly đau lòng. Trương Bạch hôn vợ, rồi hôn con, theo cửa sổ thoát ra ngoài. Mỹ Lan nói vói theo:
– Đời em lúc nào cũng yêu anh, nhưng anh đừng khắc ngọc nữa nhé.
Hai người nhìn nhau một lần cuối. Khi Trương Bạch đã đi khuất, Mỹ Lan mới quay vào. Nàng cố gắng trấn tĩnh, một mặt dọn đồ, một mặt giả vờ nói chuyện với chồng. Nàng ra ngoài giao cho một tên nha dịch bế con rồi quay vào trong. Đến khi bọn công sai khởi nghi, xông vào tìm thì Trương Bạch đâu còn nữa.
Khi Mỹ Lan về đến nhà, mẹ nàng đã mất, cha đã già đi nhiều. Nàng quì xuống xin lỗi cha, nhưng quan thượng thư mặt lạnh như tiền. Chỉ đến khi trông thấy đứa cháu ngoại, ông mới dịu đi một chút. Cũng may, Trương Bạch đã trốn được, chứ nếu như bắt được y, ông cũng không biết xử sao cho phải. Thế nhưng ông vẫn không thể nào tha thứ cho Trương Bạch được vì y đã làm hỏng đời con ông, làm gia đình ông tan nát.
Qua mấy năm, không ai nghe tin tức gì của Trương Bạch cả. Một hôm quan tri châu họ Dương ở Quảng Châu lên kinh độ Trương thượng thư thiết yến tiếp Dương tri châu tẩy trần. Trong khi hai người đàm đạo, Dương tri châu cho hay ông có mang theo một pho tượng ngọc cực quí giá, không kém gì pho tượng Quan âm mà Trương thượng thư dâng lên hoàng hậu ngày nào. Dáng cũng tương tự, mà nét khắc cũng không sai bao nhiêu. Ông định dâng lên hoàng hậu để cùng với pho tượng cũ thành một đôi.
Bàn tiệc ai cũng hoài nghi vì không ai tin có thể có người khắc được pho tượng đẹp như thế. Dương tri châu cao hứng:
– Thế thì để tôi đem ra mời quí vị coi.
Khi bữa ăn xong, bàn đã dọn dẹp, Dương tri châu sai lính hầu mang ra một hộp gỗ bóng như mun, mở đem pho tượng Quan âm để trên bàn. Cả phòng bỗng nhiên không một tiếng động. Chính là pho tượng Quan Thế âm đại từ, đại bi với nét buồn mênh mang.
Một tì nữ vội vàng vào báo cho Mỹ Lan haỵ Khi Mỹ Lan từ vườn sau lên thoạt nhìn pho tượng để trên bàn, mặt nàng bỗng xanh như tàu lá. Nàng lẩm bẩm:
– Chàng lại khắc ngọc nữa rồi. Chính là của chàng.
Cố gắng trấn tĩnh, Mỹ Lan lắng nghe xem Trương Bạch còn sống hay đã chết. Một người khách hỏi:
– Chẳng hay người nghệ sĩ ấy còn sống chăng?
Dương tri châu đáp:
– Con người ấy kể ra thật là lạ lùng. Y không phải là một thợ ngọc thường. Tôi biết được y là do cô cháu gái kể lại. Khi cháu tôi đi lấy chồng có mượn của nhà tôi một cái vòng đeo tay cổ. Vòng này nguyên có một đôi, trên có khắc hai con rồng quấn vào nhau, cực kỳ tinh mỹ. Cô ta sơ ý chẳng may đánh vỡ, sợ lắm vì không thể nào mua đâu mà đền, mà cũng chẳng có ai khắc đẹp như vậy. Cô ta đi lùng khắp các tiệm bán ngọc, nhưng đâu đâu cũng nói là bây giờ không ai có thể làm được như thế. Không biết sao hơn, cô nàng mới dán giấy khắp phố để tìm người.
Không bao lâu, có một người áo quần lam lũ đến nhận làm. Khi đem chiếc vòng ra cho y xem, y bảo y có thể làm được và quả nhiên y khắc một chiếc vòng y hệt chiếc kia. Đó là lần đầu tôi nghe nói đến y.
Sau đó, khi tôi nghe nói hoàng hậu đang đi tìm người nào có thể khắc được một pho tượng giống như pho tượng Quan âm bà đang có để thành một đôi, tôi nghĩ ngay đến người này. Tôi mua được ở Quảng Châu một khối ngọc tuyệt đẹp nên mời gã ta lại. Khi gã đến, có vẻ như sợ hãi lắm chẳng khác gì một tên ăn trộm bị bắt. Tôi phải mất biết bao công phu mới nói cho y hay là muốn khắc một pho tượng Quan âm. Khi tôi nói về đôi vòng tai có thể xoay được dường như gã có điều úy kị.
Gã đi chầm chậm vòng quanh khối ngọc, xem kỹ mọi góc độ một lần. Tôi hỏi:
– Ông thấy sao? Khối ngọc này có tốt không?
Anh ta ngẩng đầu nhìn tôi, giọng lộ chút tự kiêu:
– Khối ngọc này dùng được, khắc tốt lắm. Đã bao nhiêu năm nay, tôi đi kiếm một khối ngọc trắng, nay đã thấy đây. Đại nhân, tôi sẽ khắc một pho tượng, nhưng không muốn ai làm rộn – tôi muốn làm gì thì làm, đừng ai quấy rầy tôi.
Tôi dọn cho anh ta một phòng, trong phòng chỉ giản dị có một cái giường và một cái bàn cùng các vật dụng cần thiết. Người này lạ thật, chẳng nói chuyện với ai, còn có vẻ thô lỗ với những người đem đồ vào cho y.
Khi y bắt đầu vào việc, tưởng chừng như có thần linh nhập vào người. Sau năm tháng làm việc, y cũng không cho tôi ngó tới một lần. Lại thêm ba tháng nữa, y mới đem thành phẩm ra ngoài. Tôi vừa nhìn thấy, chân tay bủn rủn đứng không vững, chẳng khác gì quí vị mới rồi. Y nhìn tác phẩm của mình, mặt lộ một vẻ vô cùng kỳ bí. Y nói:
– Đại nhân, tôi muôn vàn cảm tạ ngài. Pho tượng này chính là lịch sử đời tôi.
Tôi chưa kịp đáp lời, gã đã đi mất dạng. Tôi cho người đi tìm nhưng chẳng thấy anh ta đâu, biến mất vô hình vô ảnh.
Bỗng một tiếng đàn bà rú lên thảm thiết từ trong nhà đưa ra, nghe rợn người. Tiếng kêu như xé ruột gan, ai nấy đều chết lặng. Lão thượng thư lật đật chạy vào, Mỹ Lan đã nằm sóng sượt dưới đất. Một người bạn thân cận với gia đình thượng thư, thấy Dương tri châu nghi hoặc, ghé tai nói nhỏ:
– Tiếng kêu đó chính là của tiểu thư Mỹ Lan, con gái quan thượng thự Tôi có linh cảm rằng, người nghệ sĩ này chẳng ai xa, chính là chồng của tiểu thư tên Trương Bạch.
Khi Mỹ Lan tỉnh lại, nàng chạy ra như mê như tỉnh, vuốt ve pho tượng. Nàng ôm lấy pho tượng vào lòng, tưởng như ôm Trương Bạch trong taỵ Ai ai cũng thấy, khuôn mặt của pho tượng và Mỹ Lan y hệt nhau, chính là một người.
Khi Dương tri châu nghe xong câu chuyện, ông nói với Mỹ Lan:
– Này cháu, cháu giữ lấy pho tượng này. Ta kiếm một lễ phẩm khác dâng lên hoàng hậu cũng được. Pho tượng này sẽ làm cháu nguôi ngoai phần nào. Cháu chưa gặp lại chồng, có pho tượng này cũng đỡ nhớ.
Từ ngày đó, mỗi ngày Mỹ Lan thêm tiều tụy, như người nhiễm phải một căn bệnh lạ lùng. Khi ấy, Trương thượng thư chỉ mong tìm ra Trương Bạch, bao nhiêu chuyện cũ bỏ qua hết. Mùa xuân năm sau, Dương tri châu cho người đến báo, ông đã tìm đủ mọi cách mà không sao tìm ra được tung tích của chồng Mỹ Lan.
Hai năm qua, một cơn ôn dịch lan đến toàn thành. Đứa con của Trương Bạch cũng nhiễm bệnh chết. Mỹ Lan cắt tóc, vào một am ni cô xuất gia, chỉ mang theo duy nhất pho tượng Quan âm. Cứ như bà ni cô trụ trì, nàng sống một mình một thế giới riêng, không cho một ai vào phòng, kể cả chính bà.
Bà ni cô cũng kể cho quan thượng thư nghe, đêm đêm nàng hay ngồi viết những lá thư dài đem đốt trước pho tượng. Nàng không tiếp xúc với ai, nhưng tựa hồ rất sung sướng mà cũng chẳng làm hại ai.
Mỹ Lan tu ở đó chừng hai mươi năm thì chết. Pho tượng Quan âm bằng xương bằng thịt tuy chết đi nhưng pho tượng ngọc vẫn còn lại với nhân gian.

Hết

Nguyễn Duy Chính
Tháng 8/1997

source: ketnoitre.com

 

*MỤC LỤC – GIẢI TRÍ – THƯ GIÃN

Read Full Post »

TỪ HÀNG GIẢ ĐẾN NGƯỜI GIẢ

Mấy hôm nay rảnh rỗi, gã đọc lại chồng báo xuân Mậu dần 1998 và gã tóm được một mẩu tin làm đề tài tán hươu tán vượn, không biết nên buồn hay vui. Và nếu có cười thì nụ cười cũng méo mó, rất có thể sẽ rơi cả nước mắt.

Mẩu tin ấy ở trong báo Công an, mang tựa đề là “chồng thật- chồng giả “, đại khái như thế này :

Với mong muốn được vi vút ở ngoại quốc, nên khi được người quen gợi ý, cô BT, ngụ tại phường 12 quận 6, đồng ý liền tù tì.

Để hợp thức hóa việc xuất ngoại, BT ưng thuận làm thủ tục kết hôn giả với một với công dân Pháp, tên là Simon, 35 tuổi, hơn BT vừa đúng một con giáp.

Theo hợp đồng, hai người là vợ chồng nhưng không sống chung. Khi đã định cư ở nước ngoài, thì ly dị và BT phải trả công cho ông chồng hờ 3.000 mỹ kim.

Ngày 06-5-1997, BT và Simon được Ủy ban nhân dân thành phố cấp giấy chứng nhận kết hôn. Từ đây, cô gái những tưởng mọi chuyện đã xuôi chèo mát mái, bắt đầu thêu dệt mộng…việt kiều.

Nào ngờ chàng rể vi phạm hợp đồng, đòi làm chồng thật, chứ nhật định không chịu đóng vai làm chồng hờ nữa. Đường cùng, BT phải đâm đơn cho ba tòa quan lớn xin ly hôn. Vì thà “ vỡ mộng “còn hơn là …tàn một kiếp hoa.

Từ sự việc trên đây, đêm nằm vắt chân lên trán, gã nghiệm rằng :

– Sự giả là một cơn bệnh trầm trọng của xã hội hiện nay, là một hiện tượng được liên tục phát triển qua một lãnh vực, từ hàng hóa đến con người.

Vậy giả là gì ?

Dĩ nhiên, giả có nhiều nghĩa, nhưng trong phạm vi bài này, gã chỉ xin được tự hạn chế :

– Giả là nhái cho giống để gạt người ta.

Thí dụ như giả điếc, giả câm, giả bộ…Riêng dân có tinh thần ăn uống cao, ghiền món “cờ tây’’ mà nếu không sẵn, thì bèn phệu ra món ‘’giả cầy’’ để xài cho đỡ nhớ. Vật liệu được làm bằng thịt heo, tẩm liệm với riềng mẻ và mắm tôm, xào lên thơm phưng phức, làm điếc cả mũi hàng xóm, xơi vào cũng êm trời gió bụi, chẳng khác chi thịt cầy thứ thiệc.

Bây giờ xin trở lại với phạm trù hàng giả.

Hàng giả hơi khác với hàng dổm một tí, bởi vì hàng dổm là hàng có phẩm chất kém. Còn hàng giả, ngoài phẩm chất tồi, còn mắc thêm cái tội ‘’cóp pi’’ mẫu mã y chang thứ hàng thật, rồi tung ra thị trường, nhằm dối gạt người mua, gây thiệt hại đôi ba bề.

Hàng giả lúc này thật ê hề, tràn lan từ cái tăm đến hộp xà phòng, từ chiếc đồng hồ đeo tay đến những máy móc đắt tiền.

Chẳng thế mà có thời người ta để mỉa mai :

– Hồng kông ư ?

– Hỏng dám đâu, có mà bên hông Chợ lớn ấy.

Nghệ thuật làm hàng giả ngày càng tinh vi, khiến cho người tiêu dùng khó mà nhận ra, chỉ khi mua về đem xài thì mới vỡ nhẽ ra đó là hàng giả.

Dịp tết, gã bóp bụng mua một chai rượu tây cho đời lên hương. Từ vỏ chai đến nhãn hiệu trình tòa đều là thứ xịn, nhưng khi khui ra để uống, thì hỡi ơi, chỉ toàn là một thứ nước màu vàng, sặc mùi cồn mà thôi.

Bởi đó, trong những năm gần đây, người ta chịu khó tổ chức nhiều cuộc triểm lãm hàng giả, để người mua kẻ sắm nhận diện. Hay trong những mục quảng cáo trên truyền hình, người ta luôn dặn dò :

– Xin nhìn kỹ mẫu mã để khỏi mua nhầm hàng giả.

Tới đây, gã xin kể lại hai mẩu chuyện nho nhỏ.

Mẩu chuyện thứ nhất về tiền giả ở bên Đức.

Hôm ấy, hai đội bóng tranh giải vô địch. Sân vận động chặt cứng như nêm. Người hèn có, kẻ sang có và những bậc tai mắt lại càng nhiều.

Khi tan cuộc, mọi người hối hả ra về, thì thấy giữa đường đi, rải rắc nhiều tờ giấy bạc 500 đồng, của một hay nhiều khán giả vô ý nào đó đánh rơi.

Ai cũng lấm la lấm lét. Thế rồi kẻ trước người sau, tất cả đều lần lượt cúi xuống…sửa giày. Có kẻ sửa tới năm bảy lần. Kẻ sang cũng như người hèn, thượng lưu cũng như bình dân. Không ai trao đổi với ai một tiếng, nhưng ai cũng thấy vui như mở trong bụng :

– Đi xem đá bóng hôm nay đúng là được thần tài phò trợ.

Về đến nhà, xoa tay cho sạch, thò vào túi, rút xấp bạc ra, sung sướng và hí hủng.

Thế nhưng dưới ánh đèn sáng, nhìn kỹ lại, thì ôi thôi, khóc vì hổ ngươi. Vừa tức lại vừa nhục. Tức cho ai mà cũng nhục cho ai. Các ngài đã bị sập bẫy trong một cuộc chơi trắc nghiệm của một tổ chức nào đó. Bời vì giấy bạc toàn là thứ giả mà thôi.

Xem thế, thì phàm đã là người, ai cũng có một chút máu tham trong mình.

Mẩu chuyện thứ hai về vàng giả ở Việt Nam.

Trưa Sài Gòn, trời nắng như đổ lửa. Đường phố ngái ngủ. Xe cộ thưa thớt. Một cô nàng ăn mặc thật đúng mốt. Cổ thì giây chuyền. Tay thì vòng vàng óng ánh. Còn thân hình yểu điệu thì đang cưỡi trên một chiếc xe gắn máy, dường như cô nàng vừa mới đi dự tiệc và đang trên đường về nhà.

Bỗng một chiếc xe gắn máy khác trờ tới và ép sát cô nàng. Người ngồi sau lanh tay lẹ con mắt chộp vội sợi giây chuyền nơi chiếc cổ nõn nường, khiến cho chiếc xe lảo đảo và cô nàng xuýt bị đo đường.

Thế nhưng, chỉ một lúc sau hai tên kẻ cướp vòng xe lại, ném sợi giây chuyền vào mặt cô nàng và chửi :

– Tiên sư em nhé, đẹp như tiên mà xài toàn đồ giả, thối không chịu nổi.

Tuy nhiên, chúng ta cần phải lưu ý điều này :

– Hàng giả đang lũng đoạt thị trường, nhưng không nguy hiểm cho bằng người giả.

Thực vậy, nhìn vào con người, chúng ta thấy từ vóc dáng và hành động bên ngoài đến tình cảm và ý nghĩ bên trong, người ta đều có thể giả được tuốt luốt.

Nếu các cụ ta ngày xưa thường bảo :

– Cái răng cái tóc là góc con người.

Thì ngày nay, với kỹ thuật giải phẫu thẩm mỹ và trang điểm tuyệt vời, người ta có thể cải lão hoàn đồng, từ một bà già trầu móm mém gần đất xa trời trở nên một cô thiếu nữ liễu yếu đào tơ trong thoáng chốc bằng cách trang bị cho bà cụ những thứ đồ giả : nào là mái tóc giả, nào là hàng mi giả, nào là hàm răng giả, nào là bộ ngực giả, nào là cặp mông giả…

Người ta cũng có thể tạo nên những nụn ruồi giả, những má lún đồng tiền giả, những chiếc cằm xẻ giả. Thậm chí có những anh chàng đực rựa “chăm phần chăm” được cải trang thành những cô gái y như thật với những ý đồ đen tối và hắc ám, khiến cho những đấng mày râu háo sắc và ngây thơ cụ cũng phải bé cái lầm.

Thế nhưng cái “hình dong bên ngoài” không quan trọng cho bằng những cái làm nên phẩm chất bên trong của con người. Và những thứ này lại cũng toàn là đồ giả.

Chẳng hạn để khoe khoang với bè bạn, để dễ dàng trong công ăn việc làm, cũng như để luồn lách vào chức vụ nọ chức vụ kia, người ta có thể bỏ tiền ra mua một cái bằng…phó tiến sĩ giả, để hù dọa bà con lối xóm.

Người ta cũng có thể mượn danh làm công an giả, cán bộ giả, thậm chí cả linh mục giả để dối gạt thiên hạ, ẵm về cho mình những món tiền lớn và những lợi nhuận kếch xù.

Thế nhưng bẽ bàng và cay đắng hơn cả, đó là người ta đã mượn tạm danh nghĩa, lợi dụng những chức vụ giả ấy để ăn cướp cơm chim, phỗng tay trên chén cơm manh áo của các em nhỏ trong viện mồ côi, của các cụ già trong nhà dưỡng lão…bằng cách lừa đảo các tổ chức từ thiện cũng như các nhà hảo tâm.

Mánh mung của bọn này thì thiên biển vạn hóa, đến quỉ thần cũng không lường nổi mà chúng ta thấy nhan nhản trên báo chí.

Từ phẩm chất giả, quạ mượn lông công, cáo mượn oai hùm, chúng ta bàn tới những hành động giả. Và một trong những hành động giả mà gã xin đề cập đến, đó là hôn nhân giả.

Thực chất của cuộc hôn nhân giả chính là tình yêu giả. Người ta giả bộ yêu nhau để toan tính những công việc khác chẳng hạn như để xuất ngoại, để làm ông nọ bà kia.

Họ nhìn vào người ấy không phải để thấy người ấy dễ thương và dễ mến, nhưng để thấy túi tiền người ấy đang có, cái ghế người ấy đang ngồi, tòa nhà người ấy đang ở, chiếc xe người ấy đang đi…Tóm lại, họ không yêu gì người ấy, mà yêu cái tài sản, cái chức vụ của người ấy mà thôi.

Nổi cộm trong hàng loạt hành động giả này, đó là cái thói giả hình, hay nói một cách cụ thể hơn, cái thói giả nhân giả nghĩa, hay đạo đức giả.

Họ là những kẻ khẩu phận tâm xà, miệng nam mô bụng bồ dao găm, đúng như tục ngữ đã diễn tả :

– Ngoài thì thơn thớt nói cười,

Mà trong nham hiểm giết người không gươm.

Hay :

– Nam mô.

Một bồ dao găm,

Một trăm dao mác,

Một vác dao bầu,

Một xâu thịt chó.

Họ là những kẻ nghĩ thế này, nói thế kia, nói một đàng làm quàng một nẻo. Tư tưởng không đi đôi với lời nói, còn lời nói thì không đi đôi với việc làm. Tư tưởng, lời nói và việc làm của họ không còn trong suốt như pha lê. Không còn hợp nhất với nhau.

Họ nói thì nhiều mà làm chẳng được bao nhiêu. Thậm chí họ còn làm ngược lại với điều họ nói.

Trong Phúc Âm, Chúa Giêsu đã diễn tả một cách rất chính xác về hạng người này :

– Họ kinh kệ dài dòng nhưng lại nuốt hết tài sản của các bà góa. Họ rửa sạch bên ngoài chén đĩa, nhưng bên trong thì đầy những chuyện trộm cắp và vô độ. Họ giống như mồ mả tô vôi, bên ngoài thì có vẻ đẹp đẽ, nhưng bên trong thì đầy xương người chết và đủ mọi thứ ô uế.

Để kết luận, tôi xin ghi lại nơi đây ý kiến của chị Nguyễn thị Oanh, tác gỉa bài ‘’tính trung thực’’, đăng trên báo tuổi trẻ Chủ Nhật, như sau :

“Tôi thấy cán bộ công đoàn ngồi lại đánh giá công nhân trên những phát triển của họ ở các buổi học tập chính trị. Còn công nhân thì thổ lộ : Người ta không cần biết chúng tôi sản xuất như thế nào ? Đối xử với anh em ra sao ? Gìn giữ tài sản chung đến mức nào ? Mà chỉ coi trọng lời nói. Tôi thì rất ngượng ngùng phải nói những điều không xuất phát từ đáy lòng. Đó là vào giữa thập kỷ 80.

‘’Còn ngày nay, trở lại sự trung thực thì ta thấy trong cuộc sống : mắt mũi môi giả, hàng giả, bằng lái giả, bằng cấp giả, hôn nhân giả ! Người ta giả vờ với nhau một cách tỉnh bơ. Đáng sợ hãi cho tương lai là chuyện gian dối ở chỗ mà lẽ ra sự trung thực là nguyên tắc hàng đầu. Đó là ở phòng thi : thày làm ngơ để trò quay cóp.

‘’Con người lấy gì làm cơ sở để quan hệ với nhau khi cái trục chính của chiếc cầu đã gẫy ? Cái túi nước silicon rò rỉ, đã biến những con người muốn làm đẹp thành xấu xí đến tai hại. Thực phẩm giả, bằng lái giả gây chết người. Còn bằng cấp giả ?

Xin trích thêm đoạn dưới đây từ báo phụ nữ ngày 27-9-1997.

‘’NM sinh viên khoa ngữ văn, một cô gái tài hoa, có lối sống khá bạt mạng, mệt mỏi tâm sự :

– Ở gia đình, bố mẹ luôn dạy tôi cách sống tốt, chân thật, nhưng tôi biết rõ ràng đó chỉ là lời nói. Thực tế còn cả một khoảng cách.

“Cái khoảng cách ấy đã được NM nhận rõ khi người ta phát hiện hai cái học vị phó tiến sĩ của bố và mẹ NM đều là của giả. NM bộc lộ :

– Tôi không quan lắm đến danh dự gia đình, nhưng bố mẹ, những thần tượng của tôi, đã hoàn toàn sụp đổ.

“Để trốn chạy thực tế, NM thường đóng kín cửa phòng, đắm mình trong âm thanh của Spice Girls, hoặc phóng xe hết tốc lực ngoài đường.

‘’ Thế đấy, cái giả tưởng chừng như vô thưởng vô phạt đang giết chết một thế hệ về mặt tinh thần. Và ngày nay không cần thiết phải chứng minh tính chính trị của đạo đức nữa. Cái khó là tìm hiểu những nguyên nhân sâu xa và những cơ chế vận hành nào đã đưa tới tình trạng báo động này.

‘’Ta đánh giá cao những báo cáo tô hồng, những trường có tỉ lệ ‘’lên lớp’’, ‘’thi đậu’’ cao, những người nói đúng bài bổn nên cấp dưới tập phản xạ nói dối, phản xạ này ăn sâu trong tâm tư họ đến nỗi có người không còn biết nhận ra và phân biệt thật và giả, đúng và sai.

‘’Phải tập lại từ đầu, không phải bằng hô hào mà bằng hành động. Khó có thể kêu gọi tuổi trẻ bằng những khẩu hiệu chung chung, nhưng họ sẽ hưởng ứng ngay với cách làm mới.’’

‘’Khen thưởng những ai lật tẩy sự dối trá. Phạt nặng sự dối trá trong sản xuất. Chỉnh đốn triệt để ngành giáo dục vì bao giờ còn gian lận trong ngành này thì không thể gọi nó là giáo dục. Văn học nghệ thuật phải đem sự dối trá ra làm trò cười cho đến nơi đến chốn.

Và rồi cuối cùng :

– Sự thật sẽ giải thoát chúng ta.

Tác giả Gã Siêu

*MỤC LỤC – GIẢI TRÍ – THƯ GIÃN


Read Full Post »

“Kho báu” – Truyện ngắn

Sherlock Holmes

Người tù của chúng tôi ngồi trong khoang tàu trước chiếc hộp sắt, mà để chiếm hữu nó, y đã phải chờ đợi bao lâu nay và chiến đấu hung hãn. Y có cái nhìn táo bạo, nước da rám nắng. Khuôn mặt ngang dọc những đường nhăn. Nét mặt hằn sâu màu đồng hun thể hiện cuộc sống dạn dày sương gió. Cái cằm râu rậm sừng sỏ chứng tỏ y không phải là người có thể dễ dàng gạt khỏi mục tiêu đã nhắm. Y trạc tuổi 50. Mái tóc đen quăn lốm đốm rất nhiều sợi bạc. Bình thường, khuôn mặt cũng không đến nỗi nào. Nhưng hàng mày rậm và cái cằm nhô hẳn ra tạo cho bắn vẻ khủng khiếp trong cơn giận dữ. Hắn ngồi, đôi tay bị còng, đầu cúi gằm, cặp mắt lanh lợi chớp chớp nhìn về cái hộp – Nguyên nhân mọi tội ác của hắn. Trong tư thế cứng nhắc có tự chế, tôi nghĩ và phân biệt được nhiều nét buồn rầu hơn là giận dữ. Một lần y ngước mắt nhìn tôi và trong ánh mắt tưởng

như có tia châm biếm….

– Này, ông Johnathan Small, tôi tiếc là công việc lại kết thúc như thế này – Holmes vừa nói vừa châm một điếu xì gà.

– Thế còn tôi đây, thưa ông – Đáp lại – Tôi không nghĩ tôi sẽ tìm ra cách tự minh oan cho mình khỏi vụ án này. Thế nhưng tôi có thể thề với ông trên kinh thánh là tôi không hề đụng vào ông Sholto. Chính Tonga, con chó địa ngục ấy đã phóng ra một trong những mũi tên độc địa của nó đấy. Tôi tuyệt đối không nhúng tay vào, thưa ông! Tôi rất ân hận y như ông ta là người trong gia đình tôi vậy. Tôi đã dùng một mẩu dây tẩn cho con quỷ nhỏ ấy một trận rồi; nhưng trước sự đã rồi, tôi không còn cách gì cứu vãn được nữa.

– Này, hãy hút một điếu xì gà đi! – Holmes bảo – Và ông cũng nên uống một ngụm whisky, ông ướt đẫm cả người rồi. Nhưng mà này, ông nói tôi biết làm sao ông hy vọng một người nhỏ yếu như tên da đen ấy lại có thể bắt giữ được ông Sholto trong khi ông trèo lên bằng dây?

– Dường như ông cũng biết rõ như ông đã có mặt tại đó, thưa ông. Mặc dù thật ra ông đã đến khi không còn ai. Tôi biết khá rõ những thói quen trong nhà, và ông Sholto thường xuống lầu dùng cơm tối vào giờ đó. Tôi không muốn giấu diếm gì trong vụ này. Cách biện hộ tốt nhất của tôi vẫn là nói lên sự thật đơn thuần. Phải chi là viên thiếu tá già kia, tôi đã đưa hắn ta qua bên kia thế giới mà lòng nhẹ nhõm, tôi sẽ ung dung cắt cổ y, cũng ung dung như tôi hút điếu xì gà này vậy! Xui thật. Cứ nghĩ tôi sẽ bị kết án vì ông Sholto em! Thật tình tôi chẳng có lý do gì

để gây gổ với ông ấy!

– Ông Athelney Jones, thuộc Scotland Yard, sẽ chịu trách nhiệm về ông. Ông ấy đưa ông về nhà tôi. Tôi xin ông thuật lại chân thật câu chuyện. Nếu ông tuyệt đối thành thật, nếu ông chẳng giấu diếm gì, tôi hy vọng có thể giúp ông được. Tôi nghĩ tôi có thể dẫn chứng rằng chất độc tác dụng nhanh đến độ nạn nhân chết ngay trước khi ông bước vào phòng.

– Về việc này thì đúng như vậy, thưa ông.

Trong đời tôi, tôi chưa bao giờ bị chấn động như thế khi tôi thấy ông ta, đầu quẹo trên vai, nhìn tôi với nụ cười diễu gớm ghiếc khi tôi vào bằng cửa sổ. Điều này làm tôi rất xúc động, thưa ông! Chắc là tôi đã giết Tonga nếu nó không bỏ trốn đi

trước. Ấy chính vì thế mà nó để lại cái chùy đá và một số tên, theo như lời nó nói. Tôi chắc là việc này đã giúp ông tìm ra dấu vết chúng tôi, phải thế không ạ? Mặc dầu tôi không thấy ra được bằng cách nào ông đã theo dõi chúng tôi được đến tận cùng. Tôi không đem lòng oán giận ông đâu, ông biết cho. Nhưng có điều lạ là tôi thì ngồi đây, trong khi tôi có quyền lợi chính đáng chiếm hữu nửa triệu đồng… Tôi đã dùng nửa cuộc đời thứ nhất của tôi để xây một cái đập trong vùng Andaman; phần đời còn lại tôi có cơ hội tốt để đào hầm ở Dartmoor! Cái ngày tôi gặp tên lái buôn Achmet và kho báu Arga quả thật là một ngày tai họa! Thưa ông, cái kho báu ấy tự thuở nào vẫn là điềm bất hạnh cho những ai nắm giữ nó. Tên lái buôn thì bị ám sát. Còn thiếu tá Sholto thì sống trong nỗi sợ hãi và ô nhục. Riêng tôi, kho báu ấy chỉ mang lại cho tôi cả một cuộc sống nô lệ.

Lúc đó, Athelney Jones thò cái đầu tròn của ông ta vào:

– Ơ, đúng là một cuộc hội họp gia đình! – Ông thốt lên – ông Holmes ạ, tôi nghĩ tôi sẽ nếm thử chút whisky của ông. Thế là ta có quyền khen tặng lẫn nhau. Tiếc là ta không bắt sống được tên kia Nhưng lúc ấy nào ta đâu có quyền chọn lựa! Dầu sao, ông Holmes ạ, ông cũng thừa nhận là ta tóm họ vừa đúng lúc. Ta đã phải xả hết tốc lực.

– Khởi đầu tốt thì chung cuộc cũng tốt thôi, – Holmes nói – Nhưng tôi không ngờ chiếc “The Aurora” lại nhanh thế!

– Smith nói chiếc đò máy của y là một trong những chiếc nhanh nhất trên sông, và nếu có thêm người phụ ở buồng máy thì không bao giờ ta đuổi kịp. Y thề chẳng hay biết gì về vụ án mạng ở Norwood cả.

– Đúng đấy! – Người tù của chúng tôi buột miệng nói lớn – Tôi chẳng tiết lộ điều gì với y. Tôi chọn chiếc đò máy của y vì nghe nói nó chạy như gió. Nhưng chỉ có thế thôi. Tôi trả tiền y rất hậu, và có hứa cho y một phần thưởng xứng đáng nếu y đưa chúng tôi ra tàu Esmeralda đang đậu tại Gravesend, để khởi hành đi Brasil.

– Thế nếu y không làm gì đáng chê trách, thì chẳng có gì tai hại xảy ra cho y cả. Bắt tội phạm thì ta khá nhanh tay, nhưng kết án thì ta chậm hơn.

Thật là tức cười khi thấy Jones cứ làm ra vẻ quan trọng khi mọi việc bắt bớ đã xong. Tôi thoáng thấy một nụ cười phớt qua khuôn mặt Shelock Holmes, sự thay đổi thái độ này không qua được mắt anh.

– Ta sắp đến cầu Vauxhall – Jones nói – Bác sỹ Watson, tôi đưa ông lên bờ cùng với cái hộp đựng kho báu. Khỏi cần nói với ông rằng như vậy là tôi nhận lãnh một trách nhiệm rất nặng nề, bởi vì hoàn toàn không nằm trong nguyên tắc. Nhưng ta đã thỏa thuận về điểm này rồi; tôi không tự mâu thuẫn đâu. Tuy nhiên bổn phận tôi buộc tôi phải cho một viên thanh tra hộ tống bác sỹ, vì giá trị to lớn của cái hộp. Chắc hẳn ông sẽ đi bằng xe?

– Vâng, tôi đi nhờ.

– Thật tiếc là không có chìa khóa để ta có thể tiến hành việc liệt kê sơ khởi. Các ông sẽ phải phá ổ khóa. Này, Small, chìa khóa đâu rồi?

– Dưới đáy sông.

– Hừm? Thật là vô ích khi ông gây thêm cho chúng tôi cái trở ngại đó nữa. Ông đã tạo cho chúng tôi khá nhiều rắc rối rồi. Dầu sao, bác sỹ à, tôi không cần dặn dò ông là phải rất cẩn thận. Bác sỹ hãy đem cái hộp về phố Baker. Chúng tôi đợi bác sỹ tại đó trước khi đi đến kho tang vật.

Họ bỏ tôi xuống Vauxhall, tôi và cái hộp sắt nặng trịch, cộng thêm một viên thanh tra khỏe mạnh và dễ mến. Một chiếc xe đưa chúng tôi đến nhà bà Cecil Forrester trong không đầy 15 phút. Bà bồi phòng tỏ vẻ ngạc nhiên về cuộc viếng thăm muộn màng như thế; bà giải thích là bà Forrester tối ấy đi vắng và có lẽ sẽ về rất muộn. Nhưng cô Morstan có ở phòng khách. Tôi nhờ người đưa vào phòng khách với cái hộp. Viên thanh tra đồng ý ngồi lại trong xe.

Cô Morstan ngồi cạnh cửa sồ để mở, mặc một chiếc áo trắng mờ đục nổi bật nhờ đường viền màu đỏ thắm ở cổ và ở thắt lưng. Dưới cái chao đèn, ánh sáng dịu tỏa chiếu đều đặn đến khuôn mặt thanh tú và những lọn tóc quăn mượt mà óng ánh của cô. Tựa lưng vào chiếc ghế mây, một tay buông về một phía, dáng cô trông sầu não, trầm tư. Nhưng khi nghe tôi vào, cô đứng hẳn dậy và đôi má xanh xao phớt hồng vì ngạc nhiên và vui mừng.

– Tôi có nghe rõ tiếng xe ngừng trước cửa – Cô nói – Tôi nghĩ bà Forrester trở về quá sớm, không ngờ lại là ông. Ông mang lại cho tôi tin gì vậy?

– Còn hơn là “tin” nữa kia! – Tôi nói.

Rồi tôi đặt cái hộp lên bàn.

Tim tôi nặng trĩu, nhưng tôi cố làm ra vui vẻ:

– Tôi mang đến cho cô cái còn qúy hơn tất cả tin tức trên thế giới này. Tôi mang đến cho cô một gia tài.

Cô liếc nhìn chiếc hộp.

– Vậy đây là kho báu đấy? – Cô hỏi.

Giọng cô thoáng vẻ thờ ơ khó tả.

– Vâng, kho báu to lớn xứ Arga đấy! Một nửa về ông Thaddeus Sholto, nửa kia thuộc về cô. Mỗi người có khoảng chừng 200.000 đồng. Cô có hình dung ra điều đó là như thế nào không? Ở nước Anh hiếm có phụ nữ nào giàu hơn cô đấy. Không tuyệt vời sao?

Có lẽ tôi hơi quá lời trong những biểu lộ niềm hân hoan, và giọng những lời tán tụng của tôi không hoàn toàn có sức thuyết phục, tôi thấy cô khẽ nhướng mày và nhìn tôi với vẻ lạ lùng.

– Nếu tôi có được – Cô nói – Chính là nhờ ông chứ gì?

– Không đâu! – Tôi đáp – Không phải nhờ tôi, mà là nhờ anh bạn Shelock Holmes của tôi. Với tất cả thiện chí tốt nhất trên đời, tôi cũng không tài nào gỡ rối cái mớ bòng bong ấy được. Vả chăng suýt nữa là chúng tôi làm mất kho báu ấy vào phút chót…

– Mời ông ngồi, bác sỹ Watson. Xin bác sỹ cho tôi nghe trọn câu chuyện đi.

Tôi thuật lại cho cô vắn tắt những sự việc y như chúng diễn tiến từ lúc tôi gặp cô ta. Cái phương pháp truy tầm mới mẻ Holmes đã dùng, việc phát hiện ra chiếc “The Aurora”, sự xuất hiện của Jones, những công việc chuẩn bị, cuộc đuổi bắt điên cuồng trên sông Thames. Mắt sáng ngời, môi rung rung, cô lắng nghe những câu chuyện mạo hiểm của chúng tôi. Lúc tôi nói đến cái mũi tên nhắm trật chúng tôi trong đường tơ kẽ tóc mặt cô biến sắc nhợt nhạt, tưởng như cô sắp sửa ngất xỉu.

– Không sao đâu? – Cô thì thào, khi tôi đưa cho cô ly nước – Chỉ hơi khó chịu tí thôi; thật là một chấn động khi tôi hiểu ra rằng tôi đã đặt các bạn bè tôi vào một sự nguy hiểm kinh khiếp đến thế.

– Bây giờ mọi chuyện đã qua rồi – Tôi đáp – Ta hãy gạt sang một bên những chi tiết buồn thảm ấy đi. Ta hãy nói đến một cái gì vui vẻ hơn: kho báu đây rồi. Còn có gì vui hơn? Tôi được phép mang nó theo nghĩ rằng cô sẽ hài lòng là người đầu

tiên được trông thấy nó.

– Tôi thích lắm chứ! – Cô nói.

Giọng cô thiếu sự vồn vã. Nhưng có lẽ cô nghĩ có phần thiếu lịch sự nếu tỏ ra hững hờ trước một chiến tích khó mà giành giựt đến thế.

– Chiếc hộp đẹp quá – Cô vừa nói vừa xem xét nó – Tôi đoán nó được chế tạo tại Ấn Độ?

– Vâng, tại Benares.

– Lại nặng đến thế! Cô thốt lên và nâng thử nó – Chỉ riêng cái hộp thôi cũng đủ có giá trị rồi. Thế chìa khóa đâu rồi?

– Small đã ném nó xuống sông Thames rồi – Tôi đáp – Có lẽ phải mượn que củi của bà Forrester thôi.

Ở mặt trước chiếc hộp có một cái móc chắc chắn hình ông Phật ngồi. Tôi tìm cách nhét lần que củi vào bên dưới, và tạo một lực đòn bảy. Ô khóa bung ra với một tiếng “cắc” nghe rõ. Tay run rẩy, tôi mở nắp ra. Cả hai chúng tôi rất đỗi kinh ngạc:

Chiếc hộp trống trơn.

Nó nặng đến thế thì cũng chẳng có gì đáng ngạc nhiên. Một lớp sắt luyện dày gần 2 inch, bao bọc nó hoàn toàn. Nó được chế tạo kỹ lưỡng, đồ sộ vững chắc. Chiếc hộp chắc chắn được chế ra với mục đích đựng những vật quý giá. Nhưng bên trong, chẳng có lấy một mẩu nhỏ nào, không có lấy mảnh kim loại hoặc đá quý. Chiếc hộp tuyệt đối và hoàn toàn trống rỗng.

– Kho báu mất rồi – Cô Morstan nói với giọng điềm tĩnh lạ thường.

Nghe câu nói ấy và hiểu trọn vẹn ý nghĩa của nó, tưởng như cái bóng u ám đè nặng xa khuất khỏi hồn tôi. Trước kia tôi chưa thấy hết cái kho báu Arga đè nặng trên tôi đến mức nào.

Tôi chỉ ý thức ra được điều này vào lúc kết cục kho báu bị gạt ra ngoài. Thật là vị kỷ, hẳn nhiên rồi. Tôi thật bất chính và độc ác. Nhưng lúc bấy giờ tôi chỉ nghĩ đến một điều duy nhất: giữa hai chúng tôi bức tường vàng đã không còn nữa.

– Cám ơn, chúa tôi! – Tôi thốt lên tự đáy lòng mình.

Cô nở một nụ cười thoáng qua rồi nhìn tôi vẻ tra vấn:

– Tại sao bác sỹ lại nói thế?

– Bởi vì giờ đây em lại ở trong tầm tay anh – Tôi nói, tay tôi đặt lên tay nàng – Bởi vì, Mary ơi, anh yêu em: yêu em chân thành như chưa có người đàn ông nào yêu một phụ nữ như thế. Bởi vì cái kho báu ấy với tất cả của cải của em khiến anh không thốt nên lời được. Bây giờ nó mất đi rồi anh mới nói được với em là anh yêu em biết chừng nào. Đấy, tại sao anh lại nói: “Cám ơn, chúa tôi”.

– Thế thì em cũng nói: “Cám ơn, chúa tôi” – nàng thì thầm.

Có một kẻ nào đó chắc chắn đã đánh mất một kho báu vào đêm đó; nhưng riêng tôi, tôi vừa mới được một kho báu khác.

(sưu tầm)

*MỤC LỤC – GIẢI TRÍ – THƯ GIÃN


Read Full Post »

Older Posts »