Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘Truyện ngắn, phiếm luận về cổ vật’ Category

*MỤC LỤC – GIẢI TRÍ – THƯ GIÃN

*Vài giai thoại về vị Hoàng Đế Trung Hoa xuất thân từ ăn mày Chu Nguyên Chương

*LÊ CÔNG KIỀU – Kho Tàng Những Tạo Vật Phù Du

*Làm Đồ Giả Cổ Và Thị Trường Đồ Cổ

*Từ Thú Chơi đến Nghề Buôn Đồ Cổ Của Người Việt

*Cổ bình Hồng Võ …. Vương Hồng Sển

*Đồng tiển cổ truyện ngắn & Tác giả

*Kho cổ vật quý 500 tuổi và vụ trộm kỳ lạ

*Đầu xuân nói chuyện quốc hoa

*Những câu chuyện vàng hời

*Sự thật về hình tượng Lê Văn Tám

*Curator – Họ là ai ?

*Phát hiện kho báu vàng tại Anh

*10 kho báu vô giá của nhân loại

*Kẻ trộm cuỗm tranh khỏa thân 6 triệu đô la

*Ông bình vôi truyện dân gian

*Hành trình khổ đau của một học giả mê gốm sứ Đông Nam Á

*Hành trình khổ đau của một học giả mê gốm sứ ĐNÁ ( phần 2 )

*Hành trình khổ đau của một học giả mê gốm sứ ĐNÁ ( phần 1 )

*Lời nguyền trên kho báu Chăm

*Kho tang ChămPa – thực tế và truyền thuyết

*Truyền thuyết những viên ngọc thời cổ ở Trung Hoa

*Tác phẩm “ võ sĩ vàng “ tiết lộ kho báu của thiên hoàng

*Pho tượng cổ

*Kho báu hội Hoa Mai

*Kho báu của quân Mông cổ

*Nhữngchiếc ấm đất

*Viên phi công và chiếc đĩa cổ

*Chuyện “nổ “ về” đồng tiền cổ “  trị giá 300 tỷ

*Chiếc thống cổ

*Đồ cổ có ma

Truyền thuyết về kho tàng champa ở thành đồ bàn

Advertisements

Read Full Post »

Rồng đá, rùa đá bị chặt đầu: Hé lộ những ân oán lịch sử
Có những lời nguyền lịch sử tưởng mãi vùi sâu vào quên lãng. Nhưng có những phát hiện ngẫu nhiên trong lòng đất lại hé lộ những ân oán qua các vụ chặt đầu linh vật (?!).

Gần đây, khi thành nhà Hồ được UNESCO công nhận là di sản thế giới, khi kiểm lại kho báu di sản, các nhà khảo cổ mới thấy ngoài tòa thành đá đẹp nhất Đông Nam Á, các hiện vật phát lộ ngày một nhiều theo các cuộc khai quật khảo cổ, trong số đó có một cặp rồng đá lớn và độc nhất vô nhị, nhưng lại… mất đầu!

Rồng đá bị chặt đầu tại thành nhà Hồ.

Đôi rồng đá này được dân địa phương tìm thấy cách đây 74 năm khi một người nông dân xứ Thanh đang cày ruộng phát hiện được. Nơi tìm thấy rồng đá là giữa trung tâm Hoàng thành của thành Tây Đô này. Nhưng lạ một nỗi, cả đôi rồng đều bị chặt đầu. Không thể là một sự ngẫu nhiên. Từ bấy đến nay, quanh đôi rồng đá có bao sự tích truyền miệng.

Nhiều phóng viên đã lặn lội về tận nơi tìm hiểu thực hư. Nhưng có lẽ mỗi một người đều được giải đáp theo một cách.

Phải chăng rồng bị chặt đầu là do một nhóm người đập nát đầu rồng để tìm ngọc quý giấu trong đôi mắt? Chẳng thể có lý, khi mà chưa một rồng đá nào ở Việt Nam lại được yểm vàng bạc châu báu trong đôi mắt cả, kể cả những đôi rồng đá ở điện Kính Thiên và đền An Dương Vương. Mà những tay ăn trộm cổ vật thì quá khôn ranh, phải tìm đến đúng địa chỉ có cổ vật. Đó là các loại mộ táng, nhất là loại mộ gạch cách đây gần 2.000 năm có các đồ tùy táng quý, kể cả vàng, ngọc. Phần nhiều những mộ này khi khai quật khảo cổ thì đều đã bị đào trộm từ xa xưa mà dấu vết còn nguyên cả một ngách đào từ đỉnh gò mộ xuyên thẳng xuống.

Có thuyết lại cho rằng là do dân làng Xuân Giai ở ven cổng Nam tin rằng, làng hay bị cháy là do đầu rồng quay về hướng làng mà phun lửa, nên phải chặt đầu rồng? Cũng không có khả năng này, vì nếu thế thì nhiều ngôi làng sẽ bị cháy và nhiều rồng đá bị chặt đầu. Mà xem ra, chuyện rồng bị chặt đầu là chuyện hy hữu và chuyện rồng phun lửa đốt làng cũng không phải là tích chuyện phổ biến trong dân gian. Vả lại, chuyện chặt đầu một linh vật như thế, hẳn không phải người trong một làng mà dám làm như vậy.

Truyền thuyết cũng chỉ là truyền thuyết mà nhiều khả năng là truyền thuyết mới có sau khi rồng được đưa lên mặt đất, khó có thể coi là sự thật lịch sử. Mà sử cũ cũng không có dòng nào nói về chuyện chặt đầu rồng hiếm có này.

Đôi rồng đá mang đặc trưng của rồng thời Trần-Hồ, với thân hình uốn khúc, có bờm uốn lượn, bốn chân, ba móng. Chiều dài toàn thân khoảng hơn 3 mét. Rồng được đặt ở thềm bậc của cung điện, nhưng là cung điện nào trong thời đại ngôi thành đá này còn là chốn kinh đô? Cũng còn phải chờ thêm các cuộc khai quật mới trả lời được. Chỉ biết rằng, theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư thì khi đó, trong Hoàng thành có lầu son, gác tía điệp trùng như: điện Hoàng Nguyên, cung Nhân Thọ, cung Phù Dực, Đông Cung, Thái Miếu. Đôi rồng đá khi đó là biểu tượng của một triều đại ngắn ngủi, kéo dài có 7 năm (1400-1407) dưới sự trị vì của Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thương. Một thời điểm có nhiều cải cách cấp tiến như sử dụng tiền giấy, chế độ hạn nô, hạn điền, thi cử, chọn hiền tài…, nhưng cũng là thời điểm đầy những sự kiện bi thương. Lòng người chưa yên, phương Bắc nhà Minh đang rình rập.

Đôi rồng đá bị chặt đầu tại thành nhà Hồ, Thanh Hóa.

Có thể đôi rồng đá bị chặt đầu ngay sau khi triều đại Hồ Hán Thương bị sụp đổ. Ai là người oán ghét triều đại này đến nỗi “giận cá chém thớt”, chém luôn cả biểu tượng của một triều đại? Mọi chuyện dường như có nguyên do từ cuộc “chính biến” năm Kỷ Mão 1399 tức là trước khi Hồ Quý Ly lên ngôi một năm. Khi đó, Thượng tướng quân Trần Khát Chân mưu giết Hồ Quý Ly, nhưng việc bị bại lộ (về sau Trần Khát Chân được Vua Lê Thánh Tôn phong làm Trung thần Nghĩa sĩ). Ông bị hành hình trên núi Đốn Sơn cạnh thành nhà Hồ. 370 người gồm các tướng theo ông và gia quyến bị giết đến nỗi mà thư tịch ghi lại: “con gái bắt làm nô tỳ, con trai từ 1 tuổi trở lên bị chôn sống hoặc bị dìm nước”. Cuộc trả thù còn kéo dài vài năm nữa. Đó cũng là một dấu lặng buồn của lịch sử giống như  Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ cũng bị “tru di tam tộc” trong vụ án oan Lệ Chi Viên, sau vụ án Trần Khát Chân 43 năm.

Những người dám cả gan chặt đầu một linh vật, biểu tượng triều đại, có thể là những người thoát được cuộc trả thù năm Kỷ Mão. Họ đã tìm về mảnh đất còn lưu dấu hình bóng một vương Triều, để chặt đầu rồng và có những lời nguyền lịch sử. Sau đó, lịch sử đã sang trang. Thành nhà Hồ đã trở thành phế tích, đôi rồng đá chứng nhân của lịch sử cũng bị vùi trong lòng đất dễ đến hơn 500 năm.
Những tưởng rồng đá bị chặt đầu đã là chuyện lạ, nhưng ngay cả rùa đá cũng bị chặt đầu. Có lẽ trong tâm thức người xưa, hai con vật thuộc diện “tứ linh” (Long, Ly, Quy, Phượng) mang một ý nghĩa biểu tượng sâu sắc, cho một sự suy thịnh của một vương triều. Vì thế, chém đầu các con vật thiêng này gần như là một cuộc đòi nợ “ân oán” nào đó mà sử sách không ghi lại một dòng nào, nhưng chứa đầy những thông điệp lịch sử không thành văn.

Một tượng rùa đá khá to sẽ mãi mãi chìm trong lòng đất và mang theo bao uẩn khúc của lịch sử, nếu như vào ngày 15/11/2004, các chiến sĩ thuộc Đơn vị E600, Bộ Tư lệnh Cảnh Vệ đã phát hiện ở độ sâu 1,3 m trong lúc đào móng xây dựng doanh trại ở cạnh vườn Bách Thảo Hà Nội. Rùa đá kích thước khá lớn: chiều dài mai rùa đã là 2,01 m. Chiều rộng mai là 1,58 m, chiều cao thân rùa là 43 cm. Tượng rùa là phần bệ để đỡ một tấm bia đá bị mất từ trước.  Một chân đế phẳng có độ dày khoảng 27 cm làm nền cho tượng. Phần thân rùa còn nguyên vẹn, mai có hình gần bầu dục, hơi cong vồng.

Rùa đá bị chặt đầu phát hiện ở gần vườn Bách Thảo, Hà Nội.

Đáng ngạc nhiên là tượng rùa bị chặt đầu và chặt một bên chân sau. Vẫn còn thấy 3 chân còn lại, có 5 móng nhọn sắc, quặp xuống và phần đuôi tròn uốn lượn, nằm vắt lên mai rùa. Rùa bị chặt đầu và chân một cách có chủ ý, vết chặt còn gọn và sắc. Người chặt đầu rùa chắc là phải có ân oán gì đó sâu nặng lắm mới “ra tay” một cách ghê gớm nhường vậy?!.

Đi tìm niên đại của rùa Bách Thảo là một công việc khó khăn, vì rùa đã bị mất đầu, vốn là bộ phận lưu dấu nhiều họa tiết tạo hình đọng lại dấu ấn thời gian. Nhưng qua so sánh với 82 tấm bia ở Văn Miếu khắc tên của 130 vị Tiến sĩ, có thể thấy rùa đá này giống với rùa của bia năm 1466 và 1478 ở đặc điểm chân có 5 móng thò ra ngoài, mai rùa hình bầu dục, cong vồng, phần đuôi cong uốn lượn… Rùa Bách Thảo cũng có nét giống với rùa trên bia đá Lam Kinh, Thanh Hóa. Vì thế, có thể đoán định “ngày sinh” của rùa vào khoảng thời Lê Sơ là hợp lý. Đi tìm lý do nào khiến rùa bị chặt đầu đã hấp dẫn các nhà khảo cổ để giải tỏa nỗi oan khiên, dễ đến khoảng 500 năm cho rùa.

Vị trí rùa được tìm thấy chỉ cách điện Kính Thiên thời Lê khoảng 700 m, liệu có liên quan gì đến Hoàng thành Thăng Long? Đây cũng là địa giới của thôn Khán Sơn xưa, bị phá từ cuối thế kỷ XIX để làm vườn Bách Thảo. Trước đây thôn có một ngôi chùa tên là Khán Sơn tự, có mặt trên bản đồ Hồng Đức từ năm 1490. Liệu đây có phải là rùa đội bia đá chùa Khán Sơn?

Vậy rùa đá có tội gì mà bị chặt đầu? Có lẽ câu trả lời nằm ở chỗ phải có những người ghét cay ghét đắng nhà Lê mới tìm đến để trả thù biểu tượng trường tồn của triều đại này. Họ hoặc con cháu họ bị oan khiên lớn lắm trong thời Lê thì mới tìm về để chặt đầu một vật vô tri vô giác là tượng đá?.

Thực ra, các nhà khoa học còn biết đến 2 con rùa đá bị chặt đầu nữa nằm ngay ở trong khuôn viên Văn Miếu Quốc Tử Giám. Đó là năm 1976, tìm được trong lòng hồ Văn Miếu tượng rùa đá có chiều dài 1,15 m, cũng bị chặt đầu. Năm 1990, lại tìm thêm được một rùa đá nữa dài 1,36 m và đầu cũng bị chặt. Hai con rùa đá này trên lưng vẫn còn được khoét rãnh để đặt bia. Rõ ràng đây là những rùa đá đội bia tiến sĩ. Tiếc rằng bia không còn nữa, vì thế khó đoán niên đại rùa.
Việc khai quật được thêm 2 rùa đá bị chặt đầu ở Văn Miếu, đã cho thấy xưa nay nhiều người quan niệm Văn Miếu chỉ có 82 tấm bia còn nguyên đặt trên lưng 82 con rùa là không chính xác.

Thực ra nếu tra cứu thư tịch cổ, số năm có khoa thi, số năm tổ chức khắc bia thì con số bia và rùa còn nhiều hơn thế. Trải bao năm tháng, bia và rùa cũng tản mát các nơi. May mà 2 rùa đá bị chặt đầu vớt được dưới hồ Văn Miếu, mới nâng tổng số rùa đá lên đến 84 con. Ngày nay, đến Văn Miếu, khách tham quan có thể thấy có 2 con rùa đá để ngay cạnh cổng đi vào khu nhà bia. Vẫn đội mưa nắng vì không có mái che như 82 con rùa đá khác. Cũng một chút ngậm ngùi cho số phận đôi rùa này, người đời giận nhau mà rùa bị chém đầu, nay lại còn không được nằm trong nhà bia như đồng loại.

Bia thì bị vứt, cho đến nay không tìm được. Rùa đội bia cũng mang vạ lây. Có thể đây là cách trả nợ ân oán giữa các triều đại. Khi mà người ta còn thấy một số bia Văn Miếu cũng bị đục bỏ một số chữ, thường là có tên các chúa Trịnh và một số tên các vị tiến sĩ. Một giả thuyết cho rằng khi Vua Minh Mạng nhà Nguyễn Bắc tuần năm 1821, đã ra lệnh đục những chữ liên quan đến chúa Trịnh. Chắc là vị vua này vẫn còn nhớ đến thuở Trịnh – Nguyễn phân tranh thuở nào hay cho rằng chúa Trịnh không thể sắp ngang hàng với vua Lê, kể cả trên bia đá?
Vì thế chuyện rùa bị chặt đầu, nhiều khả năng liên quan đến các ân oán triều đại. Có thể chính rùa đá Bách Thảo cũng là một trong số nhiều rùa vốn đội bia tiến sĩ Văn Miếu, vì thời thế đổi thay mà phải chịu cụt đầu và lưu lạc tới tận thôn Khán Sơn xưa.

Trong tương lai, có thể khảo cổ học sẽ phát hiện ra các tượng rùa đá nữa, vốn là linh vật đội bia Văn Miếu, bị chặt đầu và còn vùi trong đất, vì số lượng bia Văn Miếu vẫn còn chưa đủ so với sử sách ghi lại. Còn nhiều vấn đề ân oán nữa mà chính sử  không ghi, nhưng một điều  cho thấy rằng việc chặt đầu các linh vật như rồng đá, rùa đá cũng là những thông điệp lịch sử quan trọng để nghiên cứu sự thăng trầm của lịch sử cũng như bài học cho các thế hệ sau.

* Ảnh minh họa của Viện Khảo cổ học

Theo PGS.TS Trịnh Sinh (An Ninh Thế Giới)

 

 

 

Read Full Post »

VÀI GIAI THOAI VỀ VỊ HOÀNG ĐẾ TRUNG HOA XUẤT THÂN TỪ ĂN MÀY – CHU NGUYÊN CHƯƠNG

Minh Thái Tổ – Chu Nguyên Chương là người tay không dựng nghiệp lớn, đánh đuổi được người Mông Cổ, giành lại quyền tự chủ của người Hán. Bản thân không có một tấc đất nương thân, nhưng qua tự lực phấn đấu mà khai sáng được giang sơn Đại Minh gần 300 năm. Vì vậy, trong dân gian không chỉ ở Trung Hoa lúc đương thời, mà ở nhiều nước trong khu vực châu Á xưa cũng như nay vẫn còn lưu truyền nhiều giai thoại lạ lùng về ông.

Chén men đỏ dưới men vẽ hoa dây hoa mẫu đơn thời Hồng Vũ  – Bảo Tàng Cung Điện Quốc Gia Đài Loan.

 

I – Vị hoàng đế xuất thân từ ăn mày

Có thể nói, Chu Nguyên Chương là vị Hoàng Đế có một xuất thân khiêm nhường nhất trong lịch sử Trung Hoa. Xuất thân trong một gia đình bần nông, cha mẹ là những nông dân nghèo. Năm 16 tuổi, ông đi chăn gia súc thuê và không lâu sau thì bị chủ đuổi vì lén thui một con gia súc trong đàn để ăn. Năm 1344, một bệnh dịch tấn công làng nơi ông ở và giết chết cha mẹ cùng những người anh lớn chỉ trong vòng vài tuần. Chẳng bao lâu sau, ông phải tá túc làm sư ở một chùa để tránh nạn hạn hán và đói kém, nhưng chùa cũng không thể đủ sức nuôi hết các sư trong chùa, do đó ông lại phải rời chùa để kiếm sống trong 3 năm bằng cách đi ăn mày. Sau đó, ông lại trở về chùa làm sư trong 3 năm nữa. Chính trong thời gian này ông mới bắt đầu học đọc và viết. Cho đến một ngày khi một trong những sư sãi báo với chính quyền rằng ông có những mối liên hệ với một nhóm  băng đảng phản loạn mang tên Hồng Cân ( Khăn đỏ) khiến ông bỏ trốn và tham gia với chính nhóm phản loạn đó chiến đấu chống lại triều đình nhà Nguyên.

Trước khi nhà Minh được sáng lập, Trung Hoa nằm trong tay Nhà Nguyên (1271 – 1368), do người Mông Cổ cai trị. Dù đã Trung Quốc hóa, triều Nguyên vẫn là triều đại của kẻ chinh phục ngoại tộc, do đó trong thời kì này, xã hội Trung Quốc tồn tại hai mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn dân tộc và mâu thuẫn giai cấp. Theo nhiều nhà nghiên cứu, sự kỳ thị của người Mông Cổ với người Hán chính là nguyên nhân số một dẫn tới sự chấm dứt của triều đại này. Sự kỳ thị này dẫn tới nhiều cuộc nổi dậy của nông dân buộc nhà Nguyên phải rút lui về các thảo nguyên Mông Cổ. Tuy nhiên, một số nhà sử học như J.A.G Roberts (giáo sư ngành Lịch sử thuộc Đại học Huddersfield) lại chưa chấp nhận giả thuyết trên. Bên cạnh đó, còn có nhiều nguyên nhân khác dẫn đến sự suy thoái của triều Nguyên như dưới thời Nguyên Huệ Tông, tiền giấy được phát hành quá nhiều khiến gia tăng lạm phát lên gấp mười lần. Ðặc biệt cuối đời Nguyên, người Mông Cổ ngày càng xa xỉ, trong khi đó nông nghiệp trở nên trì trệ, đê điều hỏng nặng không sửa chữa, các loại thiên tai thường xuyên xảy ra, dịch bệnh lan tràn, do đó nhân dân càng khốn khổ. Trong hoàn cảnh ấy, các hình thức tôn giáo như đạo Di Lặc, đạo Bạch Liên và Minh giáo đang âm ỉ lưu truyền rộng rãi trong nhân dân, nhất là ở vùng lưu vực sông Hoàng Hà

Năm 1351, đê Hoàng Hà nhiều lần bị vỡ, nhà Nguyên bất đắc dĩ phải điều 15 vạn dân phu đi đắp đê. Nhân cơ hội ấy, giáo trưởng đạo Bạch Liên là Hàn Sơn Đồng cùng đồ đệ của mình là Lưu Phúc Thông mưu tính việc khởi nghĩa. Ðể tranh thủ sự đồng tình của quần chúng, Lưu Phúc Thông phao tin rằng Hàn Sơn đồng là cháu 8 đời của Tống Huy Tông từ Nhật Bản đem quân về đánh đổ triều Nguyên. Nhưng trong khi chuẩn bị khởi nghĩa thì kế hoạch bị bại lộ. Hàn Sơn Ðồng bị bắt và bị giết chết. Tuy vậy, Lưu Phúc Thông vẫn tiếp tục lãnh đạo khởi nghĩa.
Ðược tin Lưu Phúc Thông dựng cờ khởi nghĩa, nhân dân nhiều nơi nổi dậy hưởng ứng, trong đó có những nhóm tương đối lớn như lực lượng của Từ Thọ Huy ở Hồ Bắc, Quách Tử Hưng ở An Huy. Quần chúng khởi nghĩa đều chít khăn đỏ làm hiệu nên gọi là quân Khăn đỏ ( Hồng Cân quân ). Khẩu hiệu đấu tranh của họ là đánh đổ nhà Nguyên, khôi phục nhà Tống.

Lúc đầu lực lượng khởi nghĩa của Lưu Phúc Thông đã giành được thắng lợi to lớn, đã tôn con Hàn Sơn Ðồng là Tiểu Minh Vương Hàn Lâm Nhi lên làm vua, và đặt tên nước là Ðại Tống. Nhưng đến năm 1363, Lưu Phúc Thông bị Trương Sĩ Thành, một thủ lĩnh nông dân đã thuần phục nhà Nguyên, đánh bại.

Khi quân khăn đỏ của Lưu Phúc Thông đang tiến quân thuận lợi ở miền bắc thì nghĩa quân do Từ Thọ Huy lãnh đạo cũng thu được nhiều thắng lợi ở vùng lưu vực Trường Giang. Năm 1360, Từ Thọ Huy bị một viên tướng của mình là Trần Hữu Lượng giết chết. Trần Hữu Lượng tự xưng là vua, đặt tên nước là Hán. Năm 1362, một tướng khác của Từ Thọ Huy là Minh Ngọc Trân không phục Trần Hữu Lượng cũng xưng vương ở vùng Tứ Xuyên Vân Nam, đặt tên nước là Hạ.

Cũng trong thời kì này, lực lượng quân khăn đỏ do Quách Tử Hưng lãnh đạo không ngừng phát triển. Trong hàng ngũ họ Quách có một nhân vật về sau trở nên rất quan trọng, đó là Chu Nguyên Chương. Chu Nguyên Chương tham gia lực lượng khởi nghĩa do Quách Tử Hưng lảnh đạo năm 1352, đến năm 1355, Quách Tử Hưng chết, Chu Nguyên Chương trở thành người lãnh đạo chính của nghĩa quân. Chu Nguyên Chương là thủ lãnh duy nhất trong số các nhóm quân Hồng Cân là người có thể hiểu được ý nghĩa của việc đói khát. Ông không phí phạm bất cứ cái gì, ngay cả khi đã trở thành một thủ lãnh khu vực. Khi bộ đồ mặc ngoài đã quá cũ và rách ông vẫn dùng nó thay làm lớp áo phía trong, khi nó mòn thêm lần nữa ông lại thay vào lớp bên trong nữa cho đến khi nó không thể được dùng trở lại nữa. Khi một yên ngựa được trang hoàng bằng vàng và ngọc được đưa đến ông , ông từ chối và nói: “Tôi chịu trách nhiệm lãnh đạo vùng này, tôi cần binh lính và người dân, lúa gạo và quần áo hơn tất cả những cái khác, tất cả những của cải không phải là ước nguyện của tôi.”
Năm 1356, Chu Nguyên chương thành lập chính quyền ở Kim Lăng ( Nam Kinh ), được Tiểu Minh Vương Hàn Lâm Nhi  tiến phong làm Ngô quốc công, rồi đến năm 1364 thì xưng làm Ngô vương. Sau khi lần lượt đánh bại các toán quân của Trần Hữu Lượng, Trương Sĩ Thành… đến năm 1367, Chu Nguyên Chương đã thâu tóm hết miền Nam Trung Hoa rộng lớn.
Ngay năm đó, Chu Nguyên Chương sai tướng đem quân đánh miền bắc, đồng thời truyền hịch nói rõ mục đích của việc tiến quân là để đánh đuổi giặc Hồ, khôi phục Trung Hoa, lập lại cương kỉ cứu vớt nhân dân, khôi phục uy nghi cho quan lại người Hán.
Trong khi quân Bắc tiến không ngừng thu được thắng lợi, năm 1368, Chu Nguyên Chương lên ngôi hoàng đế ở Kim Lăng, đặt tên nước là Minh. Mùa thu năm đó, quân đội của Chu Nguyên Chương tấn công Ðại Ðô, triều đình nhà Nguyên vội vàng chạy lên phía Bắc, ra khỏi Trường Thành. Nền thống trị của nhà Nguyên ở Trung Quốc kết thúc. Tiếp đó, Chu Nguyên Chương tiêu diệt thế lực cát cứ của Minh Ngọc Trân và các lực lượng còn lại của triều Nguyên, đến năm 1387 thì hoàn toàn thống nhất Trung Hoa

II – Vị Hoàng đế khiêm nhường

Cuộc nổi dậy thành công và nhà Minh được thành lập năm 1368. Chu Nguyên Chương lên ngôi Hoàng đế, tức là Minh Thái Tổ. Ông lấy niên hiệu là Hồng Vũ, đặt quốc hiệu là Minh, xác lập quyền thống trị quốc gia cho gia tộc họ Chu. Ông đã đặt tên tân triều đại Minh của ông với hai lý do

  1.  Để biểu thị sự tôn trọng tất cả các chỉ huy của các nhóm quân phản loạn Hồng Cân – “Tiểu Minh Vương”. Bằng cách này tất cả những người phục tùng Tiểu Minh Vương cũng sẽ sẵn lòng đi theo nhà Minh của Chu Nguyên Chương.
  2. Minh là một Hán tự được  kết hợp từ hai chữ nhật và nguyệt – mặt  trời và mặt trăng. Các học giả Trung Hoa tin tưởng rằng các nhà cai trị đất nước luôn luôn tôn thờ mặt trời và mặt trăng , như vậy từ Đại Minh đã được dùng cho ý nghĩa tôn thờ này. Bằng cách này ông đã có thể chiếm được sự ủng hộ của các học giả cũng như nhiều giới khác .

Sau khi lên ngôi Hoàng đế, Chu Nguyên Chương vẫn giữ lối sống khiêm nhường như xưa. Một lần ông thấy hai thái giám trẻ tuổi trong cung đình mang những đôi ủng đi mưa mới và đi bộ tung tăng băng qua những đống bùn. Ông đã phạt họ với  lý do những người thợ làm giày đã phải tốn rất nhiều thời gian để làm đôi ủng đi mưa. Nếu những người hầu không quan tâm chăm sóc những đôi ủng là họ đã đi ngược lại ý chỉ của Hoàng Đế, ông sẽ phạt đánh gậy họ để họ nhớ không bao giờ quên. Lại một chuyện khác, có lần ông thấy một cung  nữ ném bỏ đi một đoạn lụa, ông đã triệu tật tất cả các cung nữ lại và khiển trách. Ông tính toán cho họ thấy phải tốn biết bao nhiêu thời gian để làm ra một cuộn lụa, bắt đầu từ việc sinh ra một con tằm, tằm nhả tơ cho đến khi hoàn thành được sản phẩm và rồi sau đó ông ra ý chỉ nếu việc này còn tái phạm thì sẽ không tha thứ mà sẽ bị chặt đầu. Liên quan đến các vật dụng nghi thức cho Hoàng Đế, ông đã ra lệnh phải hết sức tiết kiệm tiền bạc và phải tính toán kỹ lưỡng. Chẳng hạn nếu cái kiệu khiêng cần làm bằng kim loại vàng thì thay vào đó chúng được làm bằng đồng. Long sàng của Hoàng Đế chỉ là một giường bình thường với một khác biệt duy nhất là được khảm một con rồng bằng vàng.

Đồ án trang trí hoa cúc trên một đĩa thời Minh Hồng Vũ – Collection of Montague Meyer. Photo Sotheby’s

Một điều thú vị nữa chính là dưới thời Hồng Vũ, đồ gốm trong cung đình mặc dù vẫn được sản xuất nhưng không có sản phẩm nào được mang hiệu đề Hồng Vũ cả. Để chứng minh thêm rằng dưới thời Hồng Vũ không có đồ gốm sứ nào mang hiệu đề niên hiệu Hồng Vũ, viện bảo tàng Nam Kinh đã khai quật mở rộng địa điểm cung điện của hoàng đế Hồng Vũ tại Nam Kinh và tìm thấy hàng ngàn mảnh vỡ, nhưng không có cái nào được mang hiệu đề niên hiệu Hồng Vũ muốn tìm kiếm. Những món đồ cổ mang hiệu đề Hồng Vũ hiện nay được tìm thấy thực chất là do một nghệ nhân gốm sứ tên Yin-Chou-Sun làm. Yin-Chou-Sun chuyên làm nhái đồ gốm sứ thời đầu Minh vào năm 1937 – 1939. Ông ta đề dòng chữ ” Đại Minh Hồng Vũ niên Chế “‘ lên đồ gốm và trở nên rất nổi tiếng . Vậy nên một món sành sứ với hiệu đề Hồng Vũ thì  có lẽ đến 99,999 % nó là đồ giả. Cách hay nhất và đơn giản nhất để nhận dạng gốm sứ thời Hồng Vũ chính là gốm sứ sẽ mang phong cách nhà Nguyên, nhưng khác với phong cách truyền thống Nguyên. Điều này cũng được phản ánh trong các chính sách pháp trị thời Hồng Vũ, như là luật thuế thời ấy chỉ là ” những luật lệ thuế nhà Nguyên cải tiến ” những chính sách này có một chút xíu phong cách của nhà cai trị Minh.

III – Một vài luồng ý kiến khác về thân phận hoàng đế Chu Nguyên Chương

                                                                                     Xông trầm hình cầu thời Minh Tuyên Đế

 

 Vật dụng kê bút thời Minh Tuyên Đế sản xuất tại nam Giang Tây, mang ký tự Ả Rập nhưng lại có hình dáng liên hệ đến “Ngũ Đại Sơn” của Đạo giáo.

 

Nhiều nguồn cho rằng Hoàng đế Chu Nguyên Chương có xuất thân từ Hồi giáo. Yusuf Chang (Yusuf  là tên thường thấy của người Ả Rập, Chang là họ Trung Quốc), một người Hoa Đạo Hồi tại Đài Loan thừa nhận rằng mình là con cháu xa của Chu Nguyên Chương khi tổ tiên ông đã cưới một vị công chúa nhà Minh. Ông đã trình bày nhiều bằng chứng gây sửng sốt để dẫn chứng cho những  bí mật của tìn ngưỡng đạo hồi trong dòng tộc Đại Minh như sau :

  1. Khi Chu Nguyên Chương còn trẻ gia đình của ông chết vì dịch bệnh và ông đã chôn họ bằng cách cuốn họ trong vải trắng, cuốn người chết bằng vải trắng là phong tục của Đạo Hồi.
  2. Những cận thần gần gũi nhất của Chu Nguyên Chương là những người Đạo Hồi.
  3. Chu Nguyên Chương đã thông qua một đạo luật nghiêm khắc cấm rượu. Có lần Hoàng Đế đã ra lệnh xử tử con của một vị cận thần vì vi phạm luật này. Uống rượu cũng bị nghiêm cấm tại thế giới Hồi Giáo.
  4. Hoàng hậu Ma (vợ Chu Nguyên Chương) là một người Hồi Giáo. Đích thân bà nấu tất cả những bữa ăn cho Chu Nguyên Chương ngay cả sau khi ông trở thành Hoàng Đế.
  5. Màu biểu trưng hoàng gia của triều đại Minh là màu xanh lá, đây cũng là màu biểu trưng của Đạo Hồi .
  6. Chu Nguyên đã ra lệnh xây một ngôi đền Hồi Giáo tại Nam Kinh ngay khi ông lên ngôi và đích thân viết một bài thơ ca tụng Đạo Hồi và giáo chủ Mohamet. Bài thơ này được những người theo Đạo Hồi gọi là “syahada”  – tức tự bạch về lòng kiên trung của họ Chu về Đạo Hồi .
  7. Nhiều người Hồi Giáo đã lên được những thứ bậc cao dưới triều đại nhà Minh. Một ví dụ cụ thẩ nhất là đô đốc Trịnh Hòa. Yusuf Chang công bố rằng Trịnh Hòa được Hoàng Đế nhà Minh gởi đi để thực hiện nhiệm vụ giáo đồ nhân danh ông , bởi vì Hoàng đế không thể làm như thế, và vì ông muốn dấu kín bí mật tín ngưỡng của mình đối với số đông những người không phải là Đạo Hồi. Đạo Hồi cho phép thực hiện theo cách nhân danh này .
  8. Triều Đại nhà Minh đã thiết lập nhựng mối giao hảo tốt với nhiều quốc gia Hồi Giáo.
  9. Lịch Hồi Giáo là lịch được công nhận là lịch chính thức dưới triều đại nhà Minh.

Khánh Hòa – Thúy Nga – Hòa Bình

Việc sử dụng các bài viết trên xin vui lòng liên hệ  : 

thuyngastocks@yahoo.com    –      khanhhoastocks@yahoo.com

 

*MỤC LỤC – GIẢI TRÍ – THƯ GIÃN

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

Read Full Post »

Một bài viết về phố Lê Công Kiều – TPHCM  của DENNIS COLEMAN mời các bạn xem .

ĐỒ ĐỒNG BẮT MẮT  , chao đèn và đồng hồ Pháp trường phái Art nouveau , cổ vật Việt Nam hay Trung Quốc ….nếu bạn đang để mắt tìm vài món trang trí hoặc chỉ thuần túy rong chơi ngắm nghía thì đường Lê Công Kiều đúng là nơi vậy gọi , nhưng chớ để cuốn mình theo cơn cám dỗ . Còn nếu tính đến chuyện mua bán nghiêm túc thì hãy tâm niệm câu “” tiền trao cháo múc ‘’ để cẩn trong trong giao dịch , nhất là với giới du khách lượn qua nơi đây để mua sắm trong phút chốc .

Con đường chẳng dài gì . ta có thể đi lướt qua trong vòng mười  phút hoặc chìm đắm trong một cuộc sục sạo lâu lắc hơn …Tôi đã gây dựng được quan hệ giao thương tốt đẹp với một số chủ tiệm ở đây và đối với lưu khách ngắn ngày tôi có lời khuyện chung là cứ thưởng thức cái kho tàng này – giồng như cái thú khám phá kho đồ cũ của bà ngoại  – nhưng việc mua sắm thực thụ để giành cho những ai có thời gian thâm nhập khu này .

Nguyên tắc một   : tránh những tiệm chèo kéo nồng nhiệt  hoặc trưng bày hàng loạt vật phẩm giống nhau . Tôi dám chắc với bạn những món ‘’đồ cổ’’ này có thâm niên chưa tới một năm . Những chủ tiệm điềm đạm và kín đáo thường có những đồ vật giá trị . Đây là những người nên tạo quan hệ mua bán . hãy thử vào tiệm số 21 có chiếc Vespa hồng dựng  trước cửa hoặc đi xuôi chừng mười tiệm , các thiên thần tình yêu đội đèn sẽ chào đón quý khách trong một tiệm tí xíu bề bộn gần ngôi trường học .

Nguyên tắc hai : nên hiểu biết chút đỉnh về những món bạn đang tìm kiếm hoặc nhờ sự giúp đỡ của ai đó am hiểu . Đi cùng một người bạn VN hoặc phiên dịch cũng tốt  , miễn sao người ấy hiểu biết hoặc đành giá được chút đỉnh các món đồ .

Chỉ cần vài câu hoi mào đầu là có thể phân biệt vàng thau .Bất cứ người bán nào khi được hòi về tuổi tác các pho tượng deco hoặc đồ thủy tinh mà trả lời bằng câu ‘’ chừng mấy trăm năm ‘’ thì theo tôi nên khẩn trương giã từ . Tương tự người nào dám quả quyết mớ hộp quẹt Zippo là kỷ vật chiến tranh thì cũng khó có thể coi là nghiêm túc .Những câu phán ẩu về về xứ sở và nguồn gốc ly kỳ của hiện vật cũng nên bỏ ngoài tai . chỉ nên quan tâm đến những thương nhân nào có thể nói về nguồn gốc của đồ vật một cách chi tiết hơn bình thường .

Sau khi cân nhắc  thận trọng mới nên tiến đến đánh giá món hàng mình muốn mua  có đúng là món họ trình bày hay không  , để mua với một giá phải chăng và cũng nên quan tâm đến việc khai hải quan và các thông số tương thích về điện chẳng hạn .

Với những ai mê các món kiểu Pháp và kiểu Victoria thì sẽ không tránh khỏi bị mê hoặc bởi các ngọn đèn dầu tinh xảo  , các chân nến và chụp đèn đủ màu sắc và đường nét . Chúng được đội trên đầu các thiên thần tình yêu hoặc gắn trong các chùm trang trí trần nhà khiến ai đó cảm thấy có sứ mạng phải giải thoát chúng khỏi chốn bụi băm này để đưa về một nơi lộng lẫy nào đó ở Sài Gòn hay ngoại quốc  . Điều kỳ diệu là một số chụp đèn thủy tinh , màu hồng hoa anh thảo . màu xanh vỏ chanh tao nhã hay màu trắng đục mờ , đã sống sót qua chiến tranh điêu tàn và bao bàn tay phũ phàng sẵn sang khoái trá quẳng đi những tạo vật đẹp đẽ chỉ đơn thuần vì chúng đã trở nên cũ kỹ .

Tuy nhiên nếu săm soi kỹ lưỡng , nhất là với con mắt nhà nghề như anh chàng Piers Allbrook bạn tôi  , thì thường thấy các món đồ là một sự giao duyên giữa tân và cựu .

Thử bắt đầu với ‘’’ đồ đồng ‘’ một từ được dùng rất dễ dãi  , mà khởi thủy nghĩa là hợp kim của đồng đỏ với thiếc nhưng thường được pha nhiều hợp chất khác . đây không phải điểm trọng tâm , mà vấn đề ta quan tâm nhiều hơn là nó được tạo hình thế nào và gọt giũa ra sao . Chính những nhà buôn có uy tín cũng thú nhận rắng mấy bức tượng đồng thiên thần tính ái và chân đuốc cổ điển thường chẳng thuộc thời art deco của Pháp mà được chế tạo trong vùng .Nhữn món nguyên thủy sẽ có dáng vẻ đồng nhất , tinh xảo và mềm mại hơn . Đồ đồng tốt thường có đường khắc sắc sảo , minh bạch và không có đường ráp như trường hợp các món đồ thời nay được đổ khuôn hai nửa ráp lại .

Có những món xem kỹ thấy được làm từ khuôn riêng và rỗng ruột , được hàn theo kiểu hiện đại , khác với kiểu hàn đổ khuôn ép trước kia . Miết ngón tay lên bề mặt hoặc nhìn dưới ánh mặt trời sẽ thấy được cách chế tạo này .Nhớ luôn luôn nhìn dưới đế món hàng , nhưng nếu muốn làm thế với một cái chân đèn cao vài bộ , chóa thủy tinh thì trí thông minh va phép lịch sự sẽ mách bạn phải nhờ họ tháo cái bòng đèn ra trước kẻo phải móc túi đền cho một mớ mảnh vụn ! Xem xét đồ xưa từ dưới đế , ngoài chuyện khám phá về tuổi tác còn đem lại cho ta nhiều thông tin xác thực khác .Những chiếc bù loong  hay đinh vít thời nay gần dưới đế là chứng cứ rành rành ! Một điểm nữa  : các bức tượng đồng thủ công khác với tượng sản xuất trong xưởng ở chỗ chúng có những vết khiếm khuyết rất riêng giống như những người thợ đã tạo ra chúng .

Cũng như đồng , đồ thủy tinh cũng đòi hỏi phân tích cẩn thận . Mặc dù nhiều món thủy tinh giả cổ ngày nay chỉ đơn thuần thuộc loại thô , các nghệ nhân ngày càng lão luyện trong việc sáng tạo những kỹ thuật phục chế . Tất cả thủy tinh làm bằng tay đều mang dấu ấn của que sắt kẹp trong quá trình thổi thủy tinh  – dấu ấn này không nói lên tuổi tác mà chủ yếu là chất lượng .

Nếu bạn đang nghiêm túc mua một món đồ thủy tinh kiểu deco thì hãy tìm kiếm dấu ấn những năm tháng phai mòn dưới đế . Những tỉ lệ kích thước quá hoàn hảo chứng tỏ sản phẩm được chế tạo hàng loạt chứ không phải làm thủ công từng chiếc .

Cón nếu nói về những bảo vật cao cấp như thủy tinh Galle and Daum thì cái giá không bao giờ dưới mức năm con số 0 nếu bạn muốn có được sản phẩm của những nghệ nhân trường phái Art Nouveau  này . Những chiếc đèn thủy tinh Galle dùng đá chạm hoặc kỹ thuật ghép lớp , ghép hoa văn thành lớp rồi cắt bằng acid để phơi ra mẫu thiết kế hình hoa lá hoặc phong cách mơ màng đến bất ngờ  . Cón rất nhiều điều để tìm hiểu nếu bạn đam mê thủy tinh nhưng nếu chỉ muốn tìm một tạo vật đáng mặt và đáng tiền thì Lê Công Kiều có khá nhiều .

Trừ phi bạn đang chuẩn bị lấy học vị khảo cổ hoặc nghiền ngẫm những cuốn như ‘’ Các kho tàng ở Hội An “” catalogue của Butterfield  năm  2000 hoặc ‘’ gốm Việt Nam ‘’ ( song ngữ Việt Anh , nhà sản xuất bản mỹ thuật , 1996 ) hoặc hoàn toàn sành sõi qui định hải quan khi định mang các món đồ ra khỏi Việt Nam ( giả sử như đó là ‘’hàng xịn ‘’ ) , còn lại thì không nên động đến mảng cổ vật này . nếu món đó có chút gì đó hao hao giống với bảo vật thì bạn có khả năng phải trình với bộ văn hóa ở Hà Nội để xin chứng nhận , đóng thuế hoặc có cả nguy cơ bị thu hồi . Những món bằng ngà cũng nằm trong danh sách hàng hóa bất hợp pháp cho nên nếu không muốn mua phải hàng nhái làm bằng nhựa thông hoặc xương bo thì bạn cũng  không nên động đến mảng này .

Những ai nhớ nhung sài Gòn xưa có thể sục sạo trong đống ảnh đen trắng để tìm vài tấm mang về nhà treo lưu niệm trên tường .Nhiều bức có ca chữ viết phía sau  – có khi là một chút vết tích về số phân những con người xa xứ nay gọi là Việt Kiều .

Dù sao đi nữa , hãy sắm vai khách mua thân thiện để thưởng thức dãy kho tàng thích thú này .

 

DENNIS COLEMAN

 

 

Đúng như lời DENNIS COLEMAN nói  hãy sắm vai khách mua thân thiện để thưởng thức dãy kho tàng thích thú này … từ phố LCK này ta cũng có thể học hỏi được rất nhiều từ cách mua bán , giá cả hoặc những kinh nghiệm của họ  ,  nếu bạn là khách quen tại một cưa hàng náo đó , bạn có thể thoải mái lục lọi  , hoặc ngồi nói chuyện với họ hàng giờ mà có khi chẳng phải mua món gì cả  , vẫn niềm nở vẫn ần cần tiếp đón bạn một cách nhiệt tình  , đôi khi họ mua được những món đồ đúng với sở thích của mình , họ gọi điện thoại  nhắn tin hoặc để dành khi nào mình đến thì giới thiệu cho mình , đó cũng là một lợi thế khi là một khách quen của họ …..về giá cả thì ta cứ thoải mái trả giá  , vừa túi tiền ta đúng giá của họ thì ok …nhưng nếu bạn là dân mới tới phố lần đầu thì bạn cũng nên thận trong với những giá cả họ phán ra , bạn sẽ rất ngại khi phải trả giá một món đồ nếu chưa mua quen ở phố này , tình trạng nói thách của họ với giá nào của bạn trả cũng có thể …..bị hớ  , bây giờ ngoài dãy phố LCK  có nhiều cửa hàng đã mọc lên thêm trên con đường Nguyễn Thái Bình   một con đường cắt ngang đầu phố LCK …

Phố Lê công Kiều bây giờ chẳng còn nhộn nhịp như xưa nữa  , chắc có lẽ do tình hình kinh tế suy thoái  nên túi tiền của những người thích đồ xưa , đồ cũ ……cũng co lại  .Một buổi chiều tháng tư lang thang ngoài phố lê Công Kiều , con  đường tuy chẳng dài bao nhiêu ta có thể nhìn thấy từ đầu đường đến cuối đường một cảnh vật thật vắng vẻ và buồn ảm đạm , khg một bóng du khách hay những người khách thích thú với những  món đồ xưa cũ thường hay lùng sục tại các vỉa  hè phố LCK , chỉ thấy chủ cửa tiệm với những cái ngáp dài , đôi mắt mơ màng nhìn …. đâu đó , nhưng chính vì thế mà ta có thể mua được những món đồ ưng ý với một giá rẻ bất ngờ ….

Khanhhoathuynga .

*MỤC LỤC – GIẢI TRÍ – THƯ GIÃN

Read Full Post »

Tặng em Nguyễn Chí Hiền người đam mê cổ vật với hoài bão lớn .

 

Đồ cổ , như ta đã biết , được làm ra từ hàng trăm năm về trước , càng lâu đời càng quý , lâu đời và chất liệu độc đáo , làm đơn chiếc , hiếm thấy lại càng quý giá hơn .Một pho tượng cổ , một bức tranh cổ có thể trị giá bằng cả một tòa nhà . Một bộ tam đa cổ ( ba ông ) bằng gốm có thể bán tới 4-5 cây vàng .

Do đồ cổ là thứ hàng xưa đều rất đắt nên người ta tìm mọi cách để làm giả . Làm giả đồ cổ trở thành một loại nghề nghiệp hốt bạc , khá phổ biến ở Việt Nam , cũng như trên thế giới .Những vật dụng được sản xuất hôm nay không thể coi là đồ cổ , nếu làm giống như đồ cổ thì chỉ là thứ đồ giả cổ .Tuy giả cổ , song chúng rất được giá . Đương nhiên , làm đồ giả cổ phải rất công phu , như đồ gỗ , đồ gốm , đồ đồng giả cổ  chẳng hạn . Hiện nay , nghề làm đồ giả cổ phát triển mạnh . đem lại nguồn thi khá lớn cho ngân sách nhà nước , giải quyết công ăn việc làm cho hàng triệu lao động trong cả nước , có ý nghĩa tích cực về đời sống kinh tế – xã hội , đáp ứng nhu cầu ngày càng tang của người tiêu dung trong và ngoài nước .Điều đó giải thích vì sao hàng giả cổ chẳng những không bị cấm mà còn khuyến khích sản xuất , trong khi các loại hàng giả khác đều bị cấm sản xuất và buôn bán .

Tuy vậy , lợi dụng tính hợp pháp của việc sản xuất , kinh doanh các mặt hàng giả cổ , một số người đã làm đồ cổ giả để đánh lừa khách hàng . Bằng các thủ pháp kỹ thuật , họ làm cho đồ giả ‘’ có màu thời gian ‘’ , biến đồ giả thành đồ cổ thật và bán cho những khách hàng cả tin với giá cắt cổ . Việc sản xuất , kinh doanh kiểu ấy được coi là hoạt động phi pháp , cần phải nghiêm trị , bởi vì nó làm phương hại đến lợi ích chính đáng của người tiêu dung , gây hậu quả xấu về kinh tế , xã hôi .

1/ ĐỒ GIẢ CỔ VÀ ĐỒ CỔ – THẬT GIẢ LẪN LỘN

Trên thế giới , việc làm đồ cổ giả đã diễn ra khá phổ biến ở bất cứ thời kỳ nào . Không hiếm những người thành thạo trong lĩnh vực này , mà một đại diện trong số họ V.Migio ( Meegere ) .

Năm 1947 , tãi Amsterdam , thay vì lãnh án tù chung thân về tội thông đồng với phát xít Đức chống lại lợi ích quốc gia , V.Migio chỉ bị tòa kết án một năm tù vì tội mạo chữ ký của danh họa Hà Lan Van Vermeer . Nguyên do là V.Migio đã từng bán cho Gocring một tên trùm phát xít Đức bức kiệt tác Chúa Cứu Thế và con dâm  phụ  do Van- Vec-mia  sang tác từ thế kỷ XVII . Nhưng trước tòa V-Migio đã chứng minh bằng tài nghệ của mình – kiệt tác mà ông bán cho Gocring chỉ là một bức tranh giả của kiệt tác kia … và đến lúc ấy , người ta mới biết rằng : từ năm 1936 đến khi phải ra tòa , V-Migio đã làm và bán trót lọt  8 bức tranh giả cổ , mỗi bức 60- 120 nghìn livres , cho một số nhà bảo tàng lớn và giới sưu tập tranh chuyên nghiệp .

Để qua được con mắt các nhà chuyên môn , nói cách khác là ‘’ qua mắt thiên hạ ‘’, là V-Migio phải bỏ ra  ba năm khổ luyện tay cọ cho nét vẽ giống hệt bút pháp của Van Vermeer . Sau đó , ông sưu tầm những tranh cùng cỡ , cùng thời với tranh của Van Vermeer , đem tẩy rửa sạch lớp sơn dầu cũ cho thật khéo để có các tấm vải nền cùng thời với vải nền các tranh vẽ vào thế kỷ XVII . Tranh giả khi vẽ xong lại phải làm lại cho cũ đi , giới làm đồ giả gọi  ‘’ nhuốm màu thời gian ‘’ . Tranh sơn dầu cũ thường có vết ran . V.Migio đã dung loại dầu đặc biệt để pha sơn , để sao cho khi sấy nóng tranh không đổi màu mà vẫn rạn mặt , đó là cách làm giả rất tinh vi của ông .

Người ta thán phục V.Migio bởi  các tranh giả cổ của ông tinh xảo và hoàn thiện đến mức , những chuyện viên sừng sỏ trong nghề giám định , có sự giúp sức của các thiết bị hiện đại , chuyện dụng trong thẩm định cũ , mới cũng phải bó tay . Những người làm đồ cổ giả cỡ như V.Migio tuy không nhiều , nhưng ở đâu và thời nào cũng có . Một lần , có nhà nghiên cứu đem đến một bức tranh có chữ ký của Picasso để hỏi nhà danh họa có phải tranh của ông không . Picasso nhìn kỹ tác phẩm rồi thốt lên : đúng là chữ ký của ông , nhưng chính ông cũng không biết đấy có phải tranh của mình hay tranh giả !

Những người làm tranh giả , tranh cổ giả và đồ cổ giả nói chung , phần lớn đếu là nghệ nhân vô danh , đầy tài năng ,am tường về đồ cổ . Họ có tài , lại thừa hưởng kho kinh nghiệm quý báu trong các nghề thủ công truyền thống do các thế hệ trước tích lũy , lưu truyền .Trong số họ phải kể đến các chuyên gia phục chế cổ vật của các viện bảo tàng . Nghề phục chế cổ vật có vai trò quan trọng trong việc trả lại cho hiện vật bộ mặt ban đầu của nó , nhân bản cổ vật quý hiếm để trưng bày , nhằm bảo vệ cổ vật gốc trước nạn đánh cắp gia tăng , đồng thời để cung cấp bản sao cổ vật cho các bảo tàng và có thể bán cho các nhà sưu tầm .

So với đồ cổ thật , sản phẩm được làm giả vừa phải đúng về chất liệu , kích cỡ , trọng lượng , vừa phải có ‘’ màu thời gian ‘’ và phải hệt như bản gốc ngay cả những vết sứt sẹo , rạn nứt nhỏ nhất .

Ở Việt Nam , nghề làm đồ cổ giả cũng có lịch sử lâu đời , với không ít nghệ nhân vô danh và lưu danh .

Năm 1903 , thành lập trường Mỹ Nghệ Thực Hành  Biên Hòa , người Pháp đặt vào đó hy vọng đào tạo những lớp thợ giỏi để có thể sản xuất hàng loạt đồ gốm giả cổ Trung Quốc , bởi họ biết rõ thế mạnh của các nghệ nhân Việt Nam ( khéo tay , cần cù , óc sáng tạo , tính nhạy bén tiếp thu cái mới … ) Thế nhưng phải mất 18 năm nghiên cứu , thực nghiệm với sự hỗ trợ của chuyên viên cao cấp người Pháp về gốm  , trường này mới tìm ra kỹ thuật sản xuất gốm cổ – đó là cách chế men gốm cổ , loại đất sét làm xương gốm và độ lửa nung gốm cần thiết xưa .

Đầu những năm 60 của thế kỷ XX , hang Thành Lễ , một cơ sở tư nhân chuyên sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ tại Thủ Dầu Một ( Sông Bé ) đã khá nổi tiếng , cũng bắt đầu chập chững đi tìm kỹ thuật làm đồ gốm giả cổ .Phương pháp tìm tòi , thể nghiệm của hang Thành lễ được tiến hành như sau :

-Bước đầu tiên là sưu tầm , hãng cử người đi khắp nơi săn lung , tìm mua các loại đồ gốm cổ của Việt Nam và của Trung Quốc .

-Bước hai – nghiên cứu và thẩm định , khi có số lượng đồ cổ cần thiết , hãng mới mời chuyên viên về gốm ( đa số đã tốt nghiệp Phân ban Gốm của trường Mỹ Nghệ Thực hành Biên Hòa ) và các họa sĩ có tài đến xem xét kỹ lưỡng kiểu dáng , hoa văn , họa tiết , thẩm định chất liệu gốm ( xương gốm , men , độ nung .. .) xác đinh niên đại và xuất xứ từng loại , từng thứ cổ vật .

-Bước cuối cùng là thử nghiệm , sản xuất . Khi đã nghiên cứu , phân tích mọi mặt , nắm vững về chất liệu và kỹ thuật hãng bắt tay vào sản xuất thử nghiệm và thử mãi đến khi thành công mới tiến hành sản xuất hàng loạt để bán ra thị trường . Ở cơ sở Thành Lễ , việc nghiên cứu gốm cổ tiến hành trên cả hai mặt , đó là tìm hiểu các kiến thức gốm trong sách vở , tài liệu va phân tích sâu sắc từ trên sản phẩm gốm xưa, đem kết quả thu được đưa vào thử nghiệm sản xuất .

Do tiến hành nghiên cứu , sản xuất rất công phu , có phương pháp khoa học như thế , nên trước năm 1975 hãng Thành Lễ đã làm ra nhiều chủng loại gốm giả cổ : đồ đất nung , gốm thô , gốm men ngọc , men hoa nâu , men Celadon .vv…Nghĩa là , Thành Lễ trên thực tế đã làm được hàng loạt đồ cổ giả như đồ cổ thời Lý , Trần , Lê , Nguyễn của Việt Nam , cũng như giả đồ cổ các đời Xuân – Thu chiến quốc , Khang Hy , Càn Long … của Trung Quốc .

Sự kinh doanh  đồ cổ  kéo theo việc săn tìm đồ cổ . Kinh doanh đồ cổ phát triển rầm rộ còn lôi cuốn những người làm đồ giả cổ và cả đồ cổ giả . Ngoài kết quả sản xuất đồ gốm giả cổ của cơ sở Thành Lễ , các nghệ nhân có tay nghề cao ở nhiều địa phương trong nước đã tìm cách làm ra các đồ gỗ giả cổ , các sản phẩm khắc đá , đúc đồng giả cổ …. Được khách hàng rất ưa chuộng .

Tuy kỹ thuật làm cho các sản phẩm giả cổ có ‘’ màu thời gian ‘’ nhiều khi rất thô sơ , nhưng nhờ khéo tay , một số ‘’ nghệ nhân ‘’ đã làm cho đồ giả y như đồ cổ thật .Hoạt động này đã gây rất nhiều khó khăn trong  xã hội , làm cho người mua bị mắc lừa , thậm chí ngay cả các chuyên viên giám định đồ cổ ở các cửa khẩu cũng không phân định rạch ròi đâu là đồ cổ , đâu là đồ cổ giả , nếu họ thiếu kinh nghiệm và sự thận trọng cần thiết .

Mấy năm gần đây , tham gia vào  việc làm đồ cổ giả còn có một số xí nghiệp , công ty và một số cơ quan nhà nước . Các cơ sở sản xuất gốm sứ Bát Tràng đua nhau làm đồ gốm sứ giả cổ . Một số hộ đúc đồng Ngũ Xá ( Hà Nội ) làm nhiều đồ đồng giả cổ . Nhìn chung các đơn vị chế tạo đồ giả cổ đang cố gắng thực hiện chương trình nghiên cứu một cách nghiêm túc về đồ cổ .Mục đích cuối cùng của họ là làm được các loại sản phẩm hoàn hảo . Để làm được các sản phẩm giả cổ chất lượng cao , các nghệ nhân , các chuyên gia đang cố gắng kế thừa những kinh nghiệmcổ truyền , kết hợp kinh nghiệm quý báu ấy với các thành tực khoa học – kỹ thuật hiện đại , khắc phục dần nhược điểm , yếu kém trong nghề làm đồ giả cổ ở nước ta .Chúng tôi xin nhấn mạnh rằng  : sản xuất các mặt hàng giả cổ hiện đang là thế mạnh của ngành thủ công mỹ nghệ Việt Nam , xuất khẩu và tiêu thụ hàng giả cổ trên thị trường trong nước đã thu cho ngân sách nhà nước khoản tiền lớn .Nhưng , ngay ở lĩnh vực sản xuất kinh doanh này rõ ràng vẫn có sự lấn cấn ít nhiều giữa giả và thật . Hơn nữa , một số người đã và đang chế tạo ra những đồ cổ giả rồi tung vào ‘’thị trường ngầm ‘’ càng làm cho tình hình quản lý , mua bán đố cổ phức tạp hơn .

2/KỸ THUẬT LÀM ĐỒ CỔ GIẢ – ĐỒ ‘’ THẬT GIẢ ‘’ TRÊN THỊ TRƯỜNG

Đồ cổ vốn đắt giá . Vì thế , đồ cổ giả thường đem lại những khoản lợi kếch xù cho người làm ra và người kinh doanh nó . Song công việc làm đồ cổ giả đến mức tinh xảo và hoàn thiện thì không phải là dễ dàng . Quá trình tìm đạt các yếu tố cần và đủ để món đồ giả được chấp nhận như đồ cổ thật là quá trình đầy gian nan , tốn phí nhiều thời gian , công sức , tiền bạc … kinh nghiệm trong lĩnh vưc  này vì vậy luôn luôn là bí quyết , bí mật , nhiều khi vĩnh viễn thất truyền .

Đồ cổ tức là các vật dụng ,   hiện vật xưa , phải lâu đời , phải mang cái màu đặc trưng “’màu thời gian ‘’ . Vậy mà những đồng tiền cổ thời Hồng Đức , tiền đồng thời Minh Mạng , thới Vạn Lịch … đậm nét dấu vết tàn phá của thời gian , được bày bán trong các hộp nhỏ hoặc trong tủ kính dọc đường Đồng Khởi ( TPHCM ) thường là ‘’ đồ cổ ‘’ mới làm hôm qua !Giới làm đồ cổ giả ( đồ dởm ) biết cách tạo ra ‘’màu thời gian ‘’ đơn giản mà rất nghệ thuật , đống và thau hóa ra màu rỉ xanh đặc biệt , kẽm hóa ra màu xám , xỉn , đồng đỏ hóa đồng đen , giấy mới tinh hóa thành giấy cũ ố vàng … Thực sự kỹ thuật này không có gì phức tạp .

Để có ‘’ màu thời gian ‘’, biến vật mới thành cũ , người ta chỉ việc ngâm đồ kim khí vào a- xít trong một thời gian cần thiết , lâu hay mau tùy ý . Không cần cọ rửa kỹ , rồi để chừng vài giờ , vật kim khí bị ăn mòn ít nhiều ấy sẽ có màu xỉn và trở nên u ám như đã chon vùi hàng thế kỷ .

Muốn có một văn bản cổ ư ? người ta dung loại giấy dó thủ công , đem viết bằng bút long , mực tàu một bài văn bản cổ bằng chữ Hán hoặc chữ Nôm ,hoặc kiếm loại giấy khá dày ( chọn giấy sản xuất thủ công càng tốt ) đem viết một văn tự chuyển nhượng nào đó bằng loại ngòi bút cũ như loại ngòi là tre , ngòi búp đa , ngòi viết rông (rond) , với mực gói pha và kiểu  chữ  gô –tích ( gothique ) chứ tuyệt đối không dung bút bi , bút dạ là các loại bút viết và loại mực mới xuất hiện gần đây . Văn bản được nhúng qua nước Javel cho phai nhạt bớt màu giấy mực mới , rồi phơi khô .Xong đem nhuộm ‘’ màu thời gian ‘’bằng … nước trà đặc . cần cho chỗ đậm nhạt chỗ nhạt chỉ việc tạo bằng cách điểm xuyết cho văn bản vài giọt javel vài giọt nước trà .Để tạo giấy nhăn nheo , người ta kiên trì ngồi xếp lại thành tập rồi mở ra hàng trăm lần . Muốn cho nó mềm nhũn thì lấy ống sắt mà cán .

Văn bản thời trước , nhất là thời Pháp thuộc ,thường có dấu rỉ sắt đinh ghim . Người ta dùng kim ghăm , kẹp sắt ngâm acid loãng rồi đem ghim tập văn bản đã xử lý trên . Còn con dấu và chữ ký chỉ là việc vặt vãnh của những người có tay nghề làm giả . Các văn bản cổ giả như vậy dễ dàng gây cho ta niềm tin rằng chúng vừa được lấy ra từ một ván khố cổ của kho lưu trữ nào đó và đấy là một tài liệu gốc!

Các tranh giả mới vẽ , mới sao chép hôm qua mà trông như đã để hàng trăm năm trong các bảo tàng hay trong các bộ sưu tập tư nhân .Kỹ thuật khá đơn giản : cho tranh vào lò sấy như lò bánh mì . Chừng vài giờ sau thì cả khung gỗ , cả mặt tranh đều có những vết rạn đầy nghệ thuật . Bụi thời gian ư ? có gì khó . Qua một số công đoạn kể trên , tức khắc nó được liệt vào loại tranh cổ . Còn giá bán tranh thì tùy đối tượng cần mua .

Đồ gốm , sứ cũng không thoát khỏi cảnh bị làm giả . Làm một chiếc bát cổ , lọ cổ rạn vỏ trứng , rạn vảy rắn , rạn hột mè cũng không phải là chuyện khó . Người ta làm cho nó nóng nguội đột ngột là men bị rạn ngay . Rồi đem ngâm nó vào nước trà đặc . Cách này có  thể tạo ra các đồ gốm men rạn y như đồ được làm từ thời Lý , Trần , Lê vậy .Chỉ có điều làm gốm men rạn giả , sau khi tạo vết rạn trong môi trường nhiệt bất thường , người ta nhúng nó trong chậu mực xanh để mực ngấm vào sâu trong men gốm theo các vết rạn nứt , rồi mới nhúng vào nước trà để tạo ‘’ màu thời gian ‘’ .

Nhiều loại tượng gỗ , tượng đá , tương đồng cổ được làm giả không chỉ bằng trình độ cao về kỹ thuật mà còn bằng các thủ thuật . Chẳng hạn trường hợp pho tượng cổ Chăm bằng đá được làm giả bằng  xảo thuật :những công đoạn cuối cùng hoàn chỉnh pho tượng cổ giả vừa hoàn thành , người nghệ nhân suy nghĩ một lát và bỗng cầm búa chặt mạnh vào cổ pho tượng , làm nó gãy đôi , đầu một nơi , thân một nơi .Bạn đọc đừng vội ngạc nhiên . Ông ta  làm như thế là làm theo yêu cầu của chủ hàng . Cách đây vài năm , chính ông đã sơ ý làm vỡ một pho tượng giả cổ do mình tạo .Chưa kịp gắn lại thì có một du khách mua ngay phần thân tượng  . Gần đây , người khách ấy quay lại cửa hàng bỗng thấy đầu tượng .ông ta thích quá mau ngay đầu tượng với giá đắt gấp ba lần thân tượng trước đó . Thế là mỗi pho tượng do nghệ nhân này làm xong , chủ cửa hàng đều đề nghị ông đập gãy đôi , gãy ba , gãy bốn …

Đó là kiểu khá phổ biến trong kinh doanh đồ giả cổ ở thị trường nước ta hiện nay ,tìm đủ cách , dung cả kỹ thuật lẫn xảo thuật để bán đồ giả với giá của đồ cổ thật .

Người kinh doanh đồ cổ giả không chỉ lừa những kẻ ‘’gà mờ’’. Họ còn qua mắt người sành chơi đồ cổ .

Người sành đồ cổ , sính đồ cổ hay có cái hiếu kỳ muốn cho món đồ cổ của mình có lai lịch , càng ly kỳ càng tốt .

Họ còn phân biệt đồ cổ và đồ cổ giả theo những nguyên tắc  nhất định .Tính hiếu kỳ và các nguyện tắc ấy không phải là bí mật tuyệt đối , giới làm đồ cổ giả cũng nắm vững và tìm ra đối sách hữu hiệu .Các chủ hiệu đồ cổ , nhất là những tay bán đồ cổ dởm cũng dán cho hàng mình môt lai lịch , thậm chí còn ‘’sáng tác’’ra lai lịch ly kỳ nữa .Có tới hàng ngàn ví dụ thực tế về điều ấy , như một bình vôi vô danh ( thuộc loại vứt gốc đa , sau miếu , lăn lóc không ai thèm nhặt ) đã được bán với giá bằng cả một căn nhà khang trang , nhờ được gắn một lai lịch ‘’  bình vôi của Ngài Ngự ‘’ – bà Từ Cung Thái Hậu thời nhà Nguyễn (! ). Một viên ngọc ( hay đá ? ) màu trắng đục , bên trong có hai vân đá quấn lấy nhau , được chủ buôn gắn cho cái lai lịch ‘’ viên ngọc rắn ‘’ . Ly kỳ hơn nữa , người ta bảo : đem ngâm viên ngọc ấy trong sữa của bà mẹ có con so sẽ thấy ngọc trong hơn và hai con rắn cựa quậy ( ! ) . Rắn có ngọc là phi lý và phản khoa học . Song có nhiều người chơi đồ cổ cố tin vào câu chuyện hoang đường ấy . Theo họ , con gì cũng có ngọc , miễn là tu luyện lâu năm , kể cả con người . Ở Hà Nội , không mấy ai chơi đồ cổ lại không nhớ câu chuyện hoang đường gắn liền với ông Hoàng Cao Khải có ‘’huệ nhỡn ‘’đã biết trước trong đầu cậu bé ( đầu to khác thường ) có viên ngọc to …bằng trứng gà con so (!) .

Người sính đồ cổ thì mê đồ cổ . Đã mê thì dễ tin . Dễ tin thì dễ bị lừa gạt . Cái lô-gich nghìn đời vẫn thế .

Hiện nay , thật khó đoàn định chính xác số lượng , chủng loại đồ cổ giả đã và đang lưu hành trên thị trường , khó có thể thống kê số đồ giả được coi như các bảo vật đã được sưu tập trong các gia đình hay đang trôi nổi trên thương  trường trong và ngoài nước . Chỉ biết rằng , sản xuất và kinh doanh đồ cổ giả , dù công khai hay ngấm ngầm , thì từ lâu đã thành nghề và nghiệp sống còn của không ít người .

Bên cạnh lấy tân làm cổ , còn có nghề tân trang – lấy cổ làm tân . Thượng vàng hạ cám , bất cứ cái gì cũ làm cho mới thì đều có giá . Đó là những nghề tân trang đồng hồ , máy hát , ti vi , tủ lạnh , máy giặt , ô tô , xe máy , xe đạp , dây chuyền công nghệ và thiết bị cũ , kể cả con người ( như tân trang sắc đẹp , chỉnh hình ) mà phần lớn đều mới xuất hiện ở Việt Nam .Nếu như những năm trước việc tân trang đồng hồ cũ hỏng thành đồng hồ mới ( đồng hồ dởm , đồng hồ cốp ) dễ thu lợi thì bây giờ  , khi thị trường TP HCM rộ lên việc mua bán cao giá đồng hồ cổ , đồng hồ cũ của Thụy Sĩ , của Pháp , đã kéo theo sự phát triển việc làm đồng hồ cổ giả , tức là làm cho đồng hồ mới có hình thức tương tự biến thành đồng hồ cổ , như chúng ra đời hàng trăm năm trước .

Ngành bảo tồn bảo tàng có khoa phục chế , dạy cho người ta các phương pháp làm đồ cổ giả .Nhưng trong giới sản xuất , chế tác đồ cổ giả , ngoài các chuyên gia và nghệ nhân giỏi , rất am tường đồ cổ cả về lý thuyết lẫn thực hành , còn khá nhiều người không hề qua trường lớp nào , không được kế thừa kinh nghiệm gia truyền , nhưng tay nghề của họ có khi rất cao , sản phẩm của họ có thể qua mặt các chuyên gia trong ngành giám định cổ vật . Quả thật , những tay nghề cỡ ấy rất đáng khâm phục , song xét về mặt kinh tế – xã hội thì không khuyến khích các hoạt động của họ , bởi nó gây nên và để lại hậu quả tiêu cực nhiều khi hết sức phức tạp .

Ngăn chặn và làm giảm hẳn nạn làm đồ giả , cần có nhiều biện pháp quản  lý , kiểm tra . Giám định là một biện pháp kiểm tra hữu hiệu trong việc chặn đứng nạn ‘’chảy máu đồ cổ ‘’ , phân định đâu là đồ cổ thật , đâu là đồ cổ giả .

 

Thạc Sĩ Bùi Văn Vượng .

 

 

Xin  giải thích theo cách hiểu của tôi :

– Đồ cổ : đồ nguyên bản có tuổi (original )

– Đồ giả cổ : là đồ sao chép chính xác từ nguyên vật liệu đến hình dáng của món đồ nguyện bản ( theo luật định của Việt Nam phải được sự đồng ý của chủ sở hữu món đồ cổ đó mới được tái bản và món đồ đó được gọi là đồ giả cổ và phải xin phép cơ quan quản lý cổ vật )

– ĐỒ CỔ GIẢ  : là đồ giả cổ nhưng không được sự đồng ý hoặc chủ sở hữu không biết đến việc sao chép lại món đồ cổ đó hoặc không xin phép cơ quan quản lý cổ vật

-Đồ phỏng cổ : cũng là đồ sao chép nhưng không chính xác từ nguyên vật liệu cho đến hình dáng do đó không cần xin phép chủ sở hữu món đồ đó .

Do vậy về giá cả đồ phỏng cổ không đắt bằng đồ giả cổ , đồ cổ và ĐỒ CỔ GIẢ có thể bạn sẽ mua ngang giá vì bị lừa .

tùy theo sự hiểu biết và cảm nghĩ của mỗi người mà có thể diễn đạt ngôn ngữ có khác biệt và gây nhầm lẫn đôi chút

 

Khanhhoathuynga .

*MỤC LỤC – GIẢI TRÍ – THƯ GIÃN

Read Full Post »

Tặng bạn Đỗ Hữu Thái , một người đam mê cổ vật chân chính 

 

I /  ĐỒ CỔ

Đồ cổ là những sản phẩm văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá khứ lịch sử , bằng nhiều chất liệu khác nhau , được bảo tồn đến nay .

Đồ cổ có rất nhiều loại ,bằng nhiều chất liệu và có giá trị trên nhiều mặt . Từ những đồ cổ được sưu tập , sắp xếp có hệ thống và xác định niên đại hoặc thời đại , người ta có thể thấy được trình độ kỹ thuật , thẩm mỹ , tư tưởng , tình cảm của con người và cộng đồng dân tộc trong mỗi triều đại , thời kỳ lịch sử , có thể hiểu được nền văn hóa , văn minh của dân tộc ấy . Thông thường , đồ cổ có ý nghĩa và giá trị nổi bật trên hai mặt mỹ thuật và kinh tế . về mặt mỹ thuật , đồ cổ đem lại cho chúng ta tình cảm thẩm mỹ , thưởng thức cái đẹp hiếm có do người xưa để lại . về mặt kinh tế , đồ cổ có thể được định giá bằng tiền bạc , bằng vàng với giá trị vật chất lớn , do đó đồ cổ có thể được trao đổi , mua bán như những hang hóa đặc biệt .Thú chơi đồ cổ xuất phát chủ yếu từ yếu tố mỹ thuật của đồ cổ . Nghề buôn đồ cổ xuất phát từ giá trị kinh tế của sản phẩm này . Từ giá trị to lớn của đồ cổ và nhu cầu sử dụng rộng rãi chúng đã nảy sinh nghề làm giả đồ cổ . Thú chơi ấy , các nghề ấy xuất hiện và song song tồn tại ở nước ta , cũng như trên thế giới từ lâu đời .Việc sưu tầm săn lung và buôn bán đồ cổ xưa nay đã đem lại không ít vinh quang , sự giàu có , nhưng cũng xảy ra nhiều bất hạnh , đắng cay cho con người .

Người Việt Nam , từ Huế vào Nam thường gọi các loại mỹ nghệ phẩm được làm khoảng trăm  năm về trước là đồ xưa , còn người Miền Bắc thì gọi chúng là đồ cổ . Bây giờ thuật ngữ đồ cổ đang được dùng rộng rãi trong cả nước , chỉ tất cả các sản phẩm cổ xưa , phần lớn đều quý hiếm , đồ đồng , đồ đá , đồ vàng bạc , đồ gỗ , sách cổ , vv …. Từ trống đồng , tượng đồng , tượng đá , đồ gốm , bàn ghế , hòm tủ , đến câu đối , hoành phi , tranh khắc , tiền cổ …. Còn nghành bảo tàng thì gọi chúng bằng thuật ngữ cổ vật , hiện vật cổ .

1/ Cổ vật bảo tàng .

Cổ vật quốc gia được lưu giữ ở các bảo tàng trong nước .Xin hãy đến Viện bảo tàng Hà Nội , nơi đang lưu giữ bảo quản tới 5.500 cổ vật …. Trong hầm tối – theo đúng nghĩa của từ này . Các nhà chuyện môn cho biết đây là một kho tàng vô giá , có một không hai ở Việt Nam . Người duy nhất đang có trách nhiệm quản lý kho cổ vật này là bà Nguyễn Kim Nguyên , tốt nghiệp khoa Bảo tàng Đại học Lômônôxốp ( Liên Xô cũ ) , chuyên viên cổ vật của viện Bảo tàng Hà Nội . Đến nay , Viện đã có bộ hồ sơ hàng nghìn trang về các cổ vật của mình , do bà Lê Kim Nguyên âm thầm thiết lập trong suốt 4 năm qua .

Mỗi trang hồ sơ ấy mô  tả một cổ vật , bằng 4 tấm ảnh , kèm theo một bảng lý lịch ghi rõ tên cổ vật , nơi xuất xứ , chất liệu kích thước , kiểu thức trang trí . Niên đại , ngày xác định niên đại , người xác định niên đại , vv …chồng tài liệu dày 3300 trang chất cao từ nền nhà lên quá đầu người . Nếu một người xem liên tục có lẽ phải mất một tháng mới hết bộ hồ sơ này , bà Lê Kim Nguyên giải thích : ‘’ Có tất cả 5500 hiện vật , nhưng chúng tôi mới phân loại được 3300 cái ‘’ .

Thực ra , người chuyện viên cổ vật rất đáng khâm phục này chỉ trông coi cổ vật qua ảnh chụp trong bộ hồ sơ lớn đó  , đồng thời cũng là công cụ để bà giới thiệu vốn cổ vật với đồng nghiệp và khách thăm quan , nghiên cứu khi cần thiết . Còn kho đồ cổ thì để ở dưới tầng hầm kiên cố của tòa nhà Bảo tàng . Cửa kho luôn luôn có giấy niêm phong và lần lượt ba lớp khóa . Theo phóng viên tờ tuần báo Thanh Niên Huỳnh Ngọc Chênh ( số 22 (462 ) ra ngày chủ nhật  27 -2-1994 )thì trước đây , người tiền nhiệm của Lê Kim Nguyên đã phải bị tù oan trong Hỏa Lò chỉ vì đánh rơi tượng ngọc bích vào trong một lọ bình mà ba năm sau mới tình cờ phát hiện được .

Kho cổ vật có hang ngàn hiện vật từ tranh , tượng cổ của Trung Quốc , Nhật Bản đến đồ đồng cổ Việt Nam , từ đồ gốm đời Minh , Thanh đến đồ gốm sứ , ngà ngọc đời Lý Trần cho đến các vật dụng cổ của người Châu Âu . Theo Niên đại trong kho này có có mặt đầy đủ các hiện vật từ trước Công Nguyện cho đến đầu thế kỷ XX . Các cổ vật ở đây – dấu tích văn hóa hang nghìn năm của Việt Nam và nhiều dân tộc khác , một di sản quý giá của nhân loại được dồn nén lại trong một diện tích 50m vuông của căn hầm .

Nếu phân loại theo chất liệu , kho cổ vật này có các loại : đồ gốm , đồng , đá ,ngà , ngọc , vàng , bạc , thủy tinh , da , gỗ , giấy ..vv ., phân theo chủng loại , có tới 40 loại , gồm tranh , tượng , chuông , trống , bình , lọ , thạp , thống , chóe , chén , bát , ly , tách , bình vôi , nậm , đồng hồ , bàn là ….vv . , theo quốc tịch , chúng có xuất xứ ở Việt Nam , Trung Quốc , Nhật Bản ,Triều Tiên , Thái Lan , Ấn Độ và một số nước Châu Âu . Các cổ vật được xếp chồng trên các bệ gỗ , được bày la liệt trên sàn hầm , được đựng trong các thùng gỗ , hòm thiếc , giỏ tre ….

Nguyên là những cổ vật trôi nổi , chúng được tập hợp lại một cách khác thường .Loại cổ vật đầu tiên mà Bảo Tàng Hà Nội hiện có là do lượm nhặt được từ đống vật dụng bát nháo . Trong số ấy , quan trọng nhất là nhóm đồ đồng Đức Giang . Người ta định gom lại để đưa đi nấu đồng , nhưng may sao một vài người có trách nhiệm biết được đó là đồ cổ rất quý giá nên nhặt ra và đem về giao cho Bảo Tàng cất giữ .Đồng thời , hàng trăm đồ sành sứ , gốm quý hiếm thời Minh , Thanh và  Lý , Trần cũng được thu lượm theo con đường này .

Một loại tượng bằng đồng , gỗ , sành …. Của nhiều đình ,chùa ,am , miếu  được thu về khi các nơi tôn nghiêm ấy bị sập đổ , bị bom đạn chiến tranh , bị phá dỡ hay biến thành nhà kho , văn phòng hợp tác xã , hoặc tượng bị thu giữ chuẩn bị hủy trong phong trào chống mê tín dị đoan và nhiều hoàn cảnh xót xa khác .

Số khá lớn đồ cổ khác nữa của Bảo tàng Hà Nội do các cơ quan quản lý văn hóa và bảo vệ pháp luật ( Công an , hải quan , quản lý thị trường ) chuyển giao . đó là kết quả điều tra và khám phá các vụ buôn lậu đồ cổ ra nước ngoài . Trong số đồ cổ chuyển giao , có đôn nghê bằng đồng trị giá hàng triệu đô la Mỹ , nhưng năm 1991 bọn buôn lậu đã đem bán cho một người nước ngoài với giá 50.000 USD , cơ quan công an kịp phát hiện và thu lại được . Hoặc như bộ Long Đỉnh Bát Tràng , các đỉnh sứ , lục bình cao 1,40m có niên đại thế kỷ XIV, vv…. Cũng tịch thu được từ bọn buôn lậu .

20 trống đồng Cổ Loa cũng được tàng trữ tại kho cổ vật này . Chúng được tập hợp từ 20 địa điểm khác nhau , vơi những bối cảnh riêng biệt .Đây là bộ sưu tập vô cùng quý giá , khá hoàn chỉnh về trống đồng Cổ Loa ( từ thời An Dương Vương về sau ) mà không nơi nào có được , kể cả viện Bảo Tàng Lịch Sử Việt Nam (Bác Cổ , Hà Nội ) .

Cho đến nay công việc phân loại cổ vật của viện Bảo Tàng Hà Nội mới tiến hành được chưa quá 2/3 số cổ vật chưa lập hồ sơ , phân loại còn hơn 2.000 đơn vị . Hiện trạng đó cần phải khắc phục , nhưng do những  khó khăn thực tế về tài chính và cơ sở vật chất . Thêm vào đó , viện chưa có một địa điểm trưng bày nên cổ vật vẫn bị ‘’giam’’trong hầm kín ! bao trùm lên hết thẩy các trở ngại ấy là yêu cầu bảo vệ an toàn đối với cổ vật quốc gia một khi đem ra trưng bày , giới thiệu rộng rãi .

Bà Lê Kim Nguyên cho biết : cổ vật có giá trị rẻ nhất cũng khoảng  8 triệu đồng . cái đắt nhất cũng tính đến triệu USD . Nhưng theo bà , đồ cổ còn có một giá trị khác , rất cao , không thể định giá bằng tiền bạc . Chúng là nguồn tài liệu ( hiện vật ) hết sức quý  giá cho những người nghiên cứu lịch sử , văn hóa , khảo cổ học .Chúng góp phần quan trọng  cho việc hoàn thành nhiều công trình , đề tài nghiên cứu khoa học về quá khứ .

Vậy thì cổ vật Bảo Tàng cần đem ra giới thiệu cho công chúng , nó không thể bị ‘’ giam ‘’ , nhưng phải giữ gìn và bảo vệ nghiêm ngặt .

2/ Những cổ vật men Celedon ( Xêladong ) ở Hòn Dầm , Phú Quốc .

Khoảng 200 loại đại diện cho 15.359 đơn vị cổ vật ( đồ cổ ) tất cả đều là gốm men Celadon , trục vớt ở biển ven Hòn Dầm . Phú Quốc ( Kiên Giang ) đã được đem triển lãm tại Bảo Tàng Mỹ Thuật Thành Phố Hồ Chí Minh , khai mạc vào ngày 1-9-1993 .

Kho tàng gốm cổ có giá trị này do tỉnh Kiên Giang và luên hiệp Xí Nghiệp trục vớt cứu hộ ( Visal) không có liên doanh với một công ty nước ngoài nào ,  trục vớt tại Hòn Dầm vào năm 1991 . Khu vực tàu chìm tương đối cạn , chỉ khoảng 20m bề sâu , nên việc trục vớt thuận lợi . Đây là cuộc trục vớt đồ cổ tàu đắm tại Hòn Dầm có quy mô và bài bản nhất , cũng là lần vớt triệt để các cổ vật trong con tàu đắm này .

Nói lần vớt quy mô , bài bản và triệt để nhất , bởi trước đó cổ vật ở đây đã được dân vớt khá tự do sau khi phát hiện ra ‘’ kho báu ‘’ .

Trở lại khởi điểm cách đây khoảng 20 năm , có vài ngư dân ở Phú Quốc , có lần đã câu được … cái tô! Lưỡi câu của họ mắc vào cái tô dính hầu (hà ) . Họ cho rằng cái tô đó của ‘’bà’’ của ‘’ cậu ‘’ nên vội khấn vái và thả xuống biển để trả ‘’thần ‘’ .Trong số họ . có người táo tợn hơn mang về nhà , như ông Nguyễn Văn Hoành ( xóm 3 , ấp 1 , xả An Thới , Phú Quốc ) cũng chỉ dám để trên bàn thờ làm đồ thờ .

Thời gian qua đi , câu chuyện những cái tô kỳ lạ như truyền thuyết chắc không còn làm cho ngư dân trong vùng biển Hòn Dầm chú ý , nếu không diễn ra sự  kiện mới . Đó là sự kiện các cổ vật trục vớt ở Hòn Cau , Côn Đảo được đem đấu giá tại Amstredam được 6,7 triệu USD vào năm 1990 , làm xôn xao dư luận . Thế là các thợ lặn ở Phú Quốc thi nhau đến vùng ông Đực vớt đồ tàu đắm .Họ vớt lên rất nhiều đồ gốm và tiền cổ . Đồ vớt được đem bán rẻ như ở chợ An Thới .Cấp ủy xã An Thới thấy vậy , đã kịp thời báo cáo lên huyện . Lãnh đạo huyện không hiểu hết giá trị  các đồ vật ấy ,cho là vật bình thường , nên không đánh thuế và để cho dân vớt bán tùy ý . Ngay cả một số đơn vị , cơ quan ở địa phương cũng đi vớt đồ cổ , bán gây quỹ . Bán 3 lô gốm cổ đi gán nợ , bình quân mỗi cái chỉ 5.000 đồng . mà chủ nợ cũng không nghe !

Đã có bao nhiêu đồ cổ được mò vớt tự phát và mua bán tự do như thế  , đến nay vẫn chưa ai thống kê được .

Đầu tháng 5 năm 1991 , các cơ quan hữu trách của tỉnh Kiên Giang đã kiểm tra đánh giá tình hình nói trên và cho tiến hành trục vớt . Kết quả thật bất ngờ . Trừ những chiếc bị vỡ hỏng  còn lại 15.539 cổ vật gốm Celadon đã được vớt lên nguyên vẹn , cùng với chiếc ngà voi ( sơ chế , đường kính 2,5 cm  dài 20 cm ) 7 cục thiếc lớn , 8 trong 10 đồng tiền cổ còn nguyên (  hình tròn có lỗ vuông ) mang dòng chữ Hoàng Tông thông bảo , Chí Nguyên thánh bảo , Tường Phù thông bảo , Vĩnh Lạc thông bảo đều của Trung Quốc đương thời ) .

Gốm men Celadon ở Hòn Dầm là một loại gốm rất quý thời Tống – có màu xanh lá cây nhạt , có điểm lấm tấm như hạt bụi – gọi chung là gốm Tống .

Thợ gốm Trung Quốc thời nhà Tống ( 980 – 1279 ) phát hiện và sử dụng men ấy để trang các loại tô , bát đĩa , bình chậu , thống …. Thoạt đầu thợ giỏi sản xuất gốm tập trung ở Hồ Nam .Bị quân Kim đánh chiếm , thợ Bắc Tống , nhất là thợ gốm hoàng gia phải chuyển tới Hàng Châu để tiếp tục sản xuất , đồng thời cũng xuất hiện một số lò gốm tại Thổ Cương .

Năm 1279 nhà  Tống bị tiêu diệt ‘’ theo một vài sách kể , thì thợ gốm di thần nhà Tống , không khứng phục nhà Nguyên , đã kéo đi lập nghiệp nơi ba chỗ khác nhau đều có sản xuất Celadon , đó là : Cao Ly Quốc , An Nam Quốc ( vùng Thanh Hóa ) và Xiêm La quốc ( vùng Sanvankhalog ) .

Các loại gốm Tống . do hình dáng và màu men độc đáo , ngay thế kỷ 15 đã được ưa chuộng ở vùng cận Đông  , và sau đó , bắt đầu xuất hiện tại thị trường Châu Âu vào thế kỷ 17 . Ở Pháp dưới thời vua Louis 16 ( 1774- 1791 ) , loại gốm này trở thành món hàng thời trang của giới quý tộc cung đình và thị dân khá giả . Người ta đặt cho nó cái tên Pháp là gốm Celedon ( celadon là tên chàng rất lãng mạn trong cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của nhà văn Honoré d’Urté – ý nói là đồ gốm lãng mạn ) .

Trở lại cổ vật gốm Celadon ở Hòn Dầm . Theo kết quả giám định của hội đồng giám định cổ vật thuộc Bộ Văn Hóa – thông tin các đồ gốm này được kết luận  : Chúng xuất xứ từ Thái Lan , do Thái Lan sản xuất vào thời kỳ đầu thế kỷ 15 .

Văn phòng chính phủ nước ta chỉ thị giữ lại cho Bảo Tàng Lịch Sử Trung Ương , Bảo Tàng Mỹ Thuật và Bảo tàng Kiên Giang mỗi nơi 2 bộ  , bao gốm các bộ gốm nguyên vẹn ( lành lân , men bóng , sang ) và tiền cổ vớt ở Hòn Dầm .Tổng số đồ gốm giữ lại là 126 chiếc , tiền cổ không nhiều lắm , được lựa chọn kỹ càng , đánh ký hiệu lưu trữ và dĩ nhiên được bảo vệ lâu dài .Số cổ vật còn lại , chiếm phần lớn , tới hơn 15 nghìn chiếc được đem trưng bày và bán trong nước , nước ngoài .

Kết Quả giám định về xuất xứ đồ gốm cổ ở Hòn Dầm của cơ quan chức năng ngành văn hóa chưa làm cho một số nhà nghiên cứu gốm cổ nhất trí . Người ta còn nghi vấn về xuất xứ các cổ vật này . Trên tờ Nguyệt san Thanh Niên ( số 32 , tháng 11 -1993 ) tác giả Q.H ( khg ký rõ tên ) nêu lên nhận xét và quan điểm của mình về sự ‘’ nghi vấn ‘’ ấy .

‘’ Đồ gốm Tống …. Vào thế kỷ 15 được sản xuất tại 4 nơi : Trung Quốc , Cao Ly ( Triều Tiên ) Savankhalog ( Thái lan ) và Thanh Hóa ( Việt Nam ) . Đồ Tống Thanh Hóa rất mỏng manh . nhẹ làm bắng đất nung , men ngà ngà và bóng , không có ánh kim sa . Cao Ly quốc ở quá xa vùng biển Phú Quốc , như thế đồ cổ vớt được ở Hòn Dầm chỉ có thể là gốm Trung Quốc hoặc Savankhalog .

‘’ Vậy căn cứ vào đâu để phân biệt hai loại đồ gốm cùng cấu trúc , cùng hình dáng , cùng có màu men Celadon đặc trưng này ? Nếu đúng là thuyền Thái Lan , tại sao trên thuyền chỉ có tiền cổ Trung Quốc tương ứng với thời gian tiền ấy được sử dụng ? Theo chúng tôi biết , lúc ấy ở Việt Nam không dung tiền Hán để trao đổi mua bán ! và dẫu sao , thủy thủ nước nào cũng phải ‘’lận lưng’’ vài đồng bạc của mình . Lại nữa , nếu thuyền Thái Lan chở đồ về hướng Phú Quốc , thì chắc chắn không phải để xuất khẩu sang vùng Cận đông  hoặc Phương Tây …Một đoàn du khách nước Đức ( do cán bộ VN hướng dẫn ) đến thăm nơi trưng bày cổ vật Hòn Dầm ( vào ngày 4- 9-1993 ) , nhận xét : ‘’ Đây là đồ cổ Trung Quốc “” .

Toàn bộ gốm cổ này đều bằng chất liệu nặng màu trắng , hoặc phủ một lớp men Celadon có trang trí hoa văn chìm hoặc để trơn ( không tráng men , không hoa văn ) . Chúng đều được nặn bằng một thứ nguyên liệu : sa thạch , có thể chia thành 7 chủng loại  chính , mỗi chủng loại được dung 3 loại nguyên liệu đất khác nhau , tạo thành các sản phẩm có trong lưỡng và kích thước khác nhau . Như vậy , 15.359 món đồ cổ này bao gồm 21 loại khác nhau .

Mặc dù vẫn chưa thống nhất về xuất xứ của ‘’kho báu ‘’ Hòn Dầm , từ Thái Lan hay từ Trung Quốc , nhưng về giá trị của nó thì ai cũng thừa nhận là quý và cổ . Đây là kho cổ vật quý , có thể làm phong phú thêm kho tàng cổ vật của nước ta , mặt khác , đã đem lại số tiền , nhất là ngoại tệ mạnh cho ngân sách nhà nước .

Việc giới thiệu , trưng bày các cổ vật này ( chủ yếu là đồ gốm Celadon ) có ý nghĩa tích cực , góp phần nâng cao kiến thức về một loại đồ cổ rất quý giá : gốm Tống hay gốm men Celadon .

II / THÚ CHƠI ĐỐ CỔ

Một thú chơi sang trọng , thanh tao , thi vị phát sinh trong xã hội loài người ở khắp nơi trên thế giới từ rất lâu đời là thú chơi đồ cổ .

Ngoài Trung Quốc có bản tính hiếu cổ .Các triều vua thời Đường , Tống , Minh , Thanh đều thích sưu tầm cổ vật quý  , như cổ khí , văn vật từ thời Hạ , Thương , Chu … để làm quốc bảo vật . Còn ở phương Tây , các nhà cầm quyền và giới quý tộc phong kiến , ngay từ thế kỷ XV , đã say mê tìm kiếm các loại cổ vật của phương Đông .

Thú chơi đồ cổ ở Việt Nam nảy sinh từ khá sớm .Có lẽ nó có nguyên nhân chủ quan và khách quan sau đây :

1/Nhu cầu thưởng ngoạn , giải trí của vua chúa , của các nhà quyền quý , của các nghệ nhân , trí thức nước ta .

2/sản phẩm thủ công cao cấp của ta rất đẹp , được làm từ rất xa xưa , nhiều loại không thua kém Trung Quốc , Nhật Bản .

3/Nhiều sản phẩm thủ công tuyệt hảo của nước Trung Quốc làng giềng sớm du nhập vào Việt Nam .

Dưới chế độ quân chủ chuyện chế , đồ cổ và các vật quý khác ( vàng , ngọc , ngà …) đều giành riêng cho vua và quan lại cao cấp sử dụng . Ngay cả những của ngon vật lạ , sơn hào hải vị , đặc sản quý đều phải cung tiến vua và triều đình phong kiến theo quy định . Vì vậy , dân gian gọi nhiều loại đặc sản do mình làm ra là ‘’tiến ‘’như  nhãn tiến (nhãn lồng ) vải tiến ( vải thiều ) , vv…Luật lệ cũ của triều đình không cho phép thường dân xây dựng nhà cửa to lớn , không sử dụng đồ vật sang trọng , quý báu như của vua , chúa và những người có phầm hàm , chức tước . Nhân gian nếu có đồ cổ , vật quý đều phải nộp cho triều đình , hoặc phải cúng kiến vào chùa chiền , đền miếu làm đồ thờ cúng .

Trước kia đồ cổ không phải là vật phẩm để chơi cho tất cả mọi người , như quan niệm ngày nay .

Mãi đến cuối thế kỷ XIX , khi d8a6t1 nước ta hoàn toàn rơi vào tay thực dân Pháp , mọi trật tự xã hội và quan niệm truyền thống bị đảo lộn , thay đổi , uy quyền của vua chúa mất dần , nhà nước phong kiến suy yếu , thế lực địa chủ , thương nhân mạnh dần lên .Chính những người mới phất lên thành  giàu sang này đã nghĩ đến việc chơi đồ cổ .Bởi vì bấy giờ mới có điều kiện cả về kinh tế cả về xã hội để họ thực hiện mong ước của mình , cũng là mơ ước lâu đời của người dân .Do có tiền và muốn chơi sang , để chọi lại giới quyền quý xưa , cũng là để giải trí , những người chơi đồ cổ hồi bấy giờ cố công sưu tầm cổ vật quý Việt Nam và tìm mua đồ gốm sứ , hoặc các loại đồ gỗ gia dụng quý giá của Trung Quốc , sản xuất vào các thời Minh – Thanh . Họ bày  biện , trang trí nhà cửa bằng những đồ cổ ấy , nhiều khi được lựa chọn kỹ càng và sắp xếp theo yêu cầu mỹ thuật rất cao , nhằm tạo ra vẻ mỹ cảm đặc biệt hoặc nhấn mạnh sự giàu sang . Từ đó , thú chơi đồ cổ dần dần lan rộng trong nhân dân . Những kiến thức mới về khảo cổ và mỹ thuật được giới trí thức tân học tiếp thu rồi phổ biến trong dân chúng .

Từ cuối thế kỷ XIX đến những năm đầu thế kỷ XX , do kết quả của khảo cổ học , dân tộc học và nghiên cứu văn hóa song song với hoạt động của Viện Viễn Đông Bác Cổ ( Hà Nội ) và Hội Đô Thành Hiếu Cổ ( Huế ) các viện bảo tàng được thành lập ở Bắc Kỳ , Trung Kỳ và Nam Kỳ đã mở các cuộc triển lãm cổ vật giới thiệu những di sản văn hóa của dân tộc cho công chúng thưởng thức .

Tại kinh đô Huế , dưới triều Khải Định ( 1916 – 1925 ) , Viện bảo tàng Khải Định được mở ra . Bảo tàng này đã trưng bày các bảo vật của Hoàng gia , vốn trước đó được cất giữ bí mật .Cần nói them rằng : Khải định là ông vua rất ham thích đồ cổ . Dưới thời ông , các đại thần , quý tộc , hoàng thân quốc thích đều thi nhau chơi đồ cổ . Trong các nội phủ , các dinh thự vàng son , đồ cổ không chỉ để bày biện , trang trí , mà còn được dùng trong cúng tế , yến tiệc và cả trong sinh hoạt hàng ngày . Hơn nữa , ngay tại đất cố đô , nghề buôn đồ cổ được phép hoạt động . Lúc ấy , các nhà buôn đồ cổ tiếng tăm lừng lẫy ở Huế là các ông Tham Hòa , Nghè Hưng , Cửu Sung .

Trong thời gian ấy ở Bắc Kỳ , các nhà chính trị và giới thương gia cũng đua nhau chơi đồ cổ . Những viên quan khét tiếng như khâm sứ Hoàng Cao Khải  , tổng đốc Hoàng Trọng Phu , tổng đốc Nguyễn Văn Định … trưng bày la liệt kỳ trân , bảo vật trong nhà , ngoài sân dinh thự nhằm thỏa mãn thú chơi quyền quý , cao sang một thời .

Ở Hà Nội , trong giới chơi đồ cổ là các thương gia những năm đầu thế kỷ , đến nay người Hà Nội vẫn cón nhắc tới tên tuổi : Ông Hương Ký ( chủ hiệu ảnh Hương Ký ) ông Nguyên Ninh ( chủ doanh nghiệp bánh cốm Nguyên Ninh ), ông Mỹ Thắng ( phố Hàng Bạc ) và hai nhân vật nữ không kém nổi tiếng là bà Bé Tý , cô Tư Hồng . Các ông Hương Ký , Nguyên Ninh , Mỹ Thắng đều rất sành về đồ cổ , có những bộ sưu tập quý hiếm .

Đặc biệt , ở phố Hàng Trống lúc bấy giờ , có nhà buôn đồ cổ lừng tiếng Hàn Liên . Cụ là người kỳ cựu trong nghề buôn bán cổ vật , mà tiếng tăm đã vang khắp nơi trên Đông Dương và tới tận Pari , thủ đô nước Pháp .

Còn trên đất Nam Bộ , thú chơi ‘’đồ xưa’’ cũng lan rộng trong nhân dân từ thành thị đến thôn quê . Ở Sài Gòn thời Pháp thuộc , nổi tiếng sành chơi cổ vật hơn cả bà Đốc Phủ Hà Minh Phải . Trên đất Vĩnh Long cũng có ông Phán Nuôi được người đương thời mệnh danh ‘’ đệ nhất về đồ xưa ‘’ . Tại đường Catinat ( nay là đường Đồng Khởi , TPHCM )  có tiệm Pháp Vũ chuyên bán đồ cổ .Tiệm này chuyên cung cấp các đồ quý lạ cho những người sành điệu . Ở Chợ Lớn bấy giờ cũng có nhà buôn Chánh Đào Ngọc chuyên cung cấp các loại bình thường cho người miệt vườn vùng Lái Thiêu và các tỉnh miền Tây Nam Bộ .

Như vậy , thú chơi đồ cổ cũng như thú chơi non bộ và cá cảnh Việt Nam phát triển rộng rãi từ Bắc đến Nam ăn sâu bắt rễ trong nhân dân , đem lại niềm say mê mỹ cảm rất lành mạnh . Đồ cổ không chỉ đẹp , mà còn quý hiếm , cho nên việc chơi đồ cổ thường đi liền với việc buôn bán đồ cổ . Có thể nói các nhà chơi đồ cổ và các nhà kinh doanh đồ cổ bao giờ cũng là người có công sưu tầm và bảo quản các đồ vật . Tính sôi động của thị trường đồ cổ , phần đông là thị trường ngầm lắt léo và phức tạp sẽ được nói tới ở phần sau . Còn bây giờ ta hãy tìm hiểu thú chơi , kiểu chơi đồ cổ của người Việt Nam .

III/ CÁC TRƯỜNG PHÁI CHƠI ĐỒ CỔ

Nhìn chung ở nước ta có hai trường phái chính : Trường phái cổ đồ và trường phái sưu tập .

1/ Trường phái cổ đồ :

Chơi cổ đồ là dùng đồ cổ để bày theo đúng quy cách mỹ thuật cổ điển . Những người thuộc trường phái này luôn thấm nhuần tư tưởng triết học và quan niệm thẩm mỹ phương Đông cổ .

Cách chơi này phổ biến ở miền Bắc , phần nào chịu ảnh hưởng truyền thống Trung Hoa , nó toát lên phong cách tao nhã , triết lý sâu xa . Nhưng vẫn rất đậm nét ngầm phô trương chủ nhân là người cao sang , giàu có .

Để bày đồ cổ , người ta không đòi hỏi phải có nhiều hiện vật , mà chỉ đòi hỏi phải có vài thứ đồ cổ đích đáng , hội đủ ba điều kiện : ‘’ cổ , quý , kỳ ‘’ . Đồ phải thật sự là cổ , càng xa xưa càng hay . Đồ càng xưa càng quý . Nhưng chúng phải là loại sản phẩm kỳ lạ , tức là chất liệu và tạo dáng phải thật độc đáo . Những đồ cổ đẹp , đơn chiếc , có một không hai thường được người chơi ưa chuộng  nhất .

Món đồ được chọn phải toàn bích , men màu , kích thước , hình dáng phải hoàn hảo , nhìn ngắm kỹ hoặc dùng kính lúp để soi đều không thể chê điểm nào được .

Nghệ thuật trưng bày đồ cổ để thưởng ngoạn đòi hỏi một bối cảnh không gia hài hòa , vừa thoáng đãng , sang sủa , vừa có vật cảnh tạo nền .Thông thường , người ta tạo nền bằng các đồ gỗ cổ hoặc giả cổ tạo tác tuyệt khéo và hài hòa .Nền có tác dụng làm nổi bật các thứ đồ cổ , làm tang them giá trị nhiều mặt cũa chúng .Quan trọng  nhất là chủ nhân phải thông hiểu nghệ thuật trang trí Trung Quốc thời cổ với những bài bản ,  quy tắc của nó ở từng thời đại , thông hiểu phong cách nghệ thuật trang trí cổ Việt Nam , có kiến thức cần thiết về đồ cổ nói chung ,  hay ít ra cũng phải am tường loại đồ cổ mà mình quan tâm .

Người chơi ‘’cổ đồ ‘’thường chỉ đem những món độc đáo và quý giá nhất ( món ruột ) ra bày vào dịp lễ tết , hay những dịp quan trong khác , để giới thiệu với quý khách , bạn bè tri âm , tri kỷ . Chủ nhân cho đốt đỉnh trầm xông hương , tự tay pha trà , chuốc rượu mời khách . trong không khí thân tình và trang trọng ấy , chủ khách cùng nhau thưởng thức đồ cổ , săm soi phẩm bình , có chen thơ phú , xướng họa , tận hưởng cái thú tiêu dao , nhàn tản đầy thi vị như tao nhân mặc khách xưa .

2/Trường phái sưu tập

Trường phái sưu tập là một khuynh hướng lớn thứ hai ở Việt Nam của giới chuyên chơi đồ cổ  . Chơi đồ cổ theo cách này là người chơi phải tự chọn và quyết định sưu tập hiện vật theo một đề tài mà mình ưa thích .

Đề tài để sưu tập rất nhiều .Chủ nhân , nghệ nhân chỉ có thể chọn một lĩnh vực nào đó , như đề tài gốm Lý , Trần ( theo triều đại lớn ) bình vôi , ấm trà , hoặc gốm men ngọc , gốm hoa lam ( theo loại hình ) , khắc gỗ , khắc đá , tượng gỗ ( chất liệu – loại hình ) ,vv…

Người sưu tập theo trường phái này không đòi hỏi phải có điều kiện kinh tế quá cao , cũng không hẳn phài có kiến thức sâu sắc về lịch sử Trung Quốc như những  chủ nhân thuộc phái cổ đồ .Điều cần thiết nhất là phải bền chí và có nhiều thì giờ . Bởi vì đã là người chơi đồ cổ , nhất là người sưu tập cổ vật thì ai cũng mất thời gian tìm kiếm những thứ vốn vô cùng hiếm hoi , phải đi nhiều nơi , giao thiệp rộng , có những hiện vật xưa rất rẻ như loại bình vôi chẳng hạn . Nhưng khi những vật dụng ấy được tập hợp lại  thành bộ , thành một hệ thống chúng trở nên vô giá !.

Người sưu tập thường có tính kiên trì , ngày nay qua ngày khác , năm nay qua năm khác nhặt nhạnh , tìm kiếm cổ vật , nhất là những đồ thuộc đề tài ưa thích của mình . Tiếp cận thường xuyện với hiện vật , cố gắng tích lũy kiến thức qua sách báo và tiếp xúc trao đổi với các nhà sưu tầm , nghiên cứu khoa học đã thành một nhu cầu của người sưu tập đồ cổ . Điều kiện ấy đã dễ dàng đưa họ bước vào lãnh vực nghiên cứu chuyên sâu .

Phần thưởng quý nhất giành cho người sưu tập là bản thân mình hoàn thành bộ sưu tập độc đáo , được dư luận và đồng nghiệp đánh giá cao , hay tình cờ phát hiện ra những điều bí ẩn trong món đồ cổ do mình có được sau bao năm âm thầm góp nhặt ‘’ đãi cát tìm vàng ‘’ .

Trường phái sưu tập một thời cực thịnh ở miền Nam . Nó ảnh hưởng  phương pháp Âu – Mỹ  . Người sang lập phái này là nhà sưu tập Vương Hồng Sển , giáo sư Dương Minh Thới và kỹ sư Dương Văn Khuê , họa sĩ Nguyễn Văn Rô , nhà văn Ngọc Sơn .vv…là những môn đệ xuất sắc của các lão sư  ấy . Những ai từng tiếp xúc , trao đổi đều cảm nhận ở các vị sự lịch duyệt và uyên bác trong chuyên môn , cũng như trường đời . Chính họ đã sưu tầm , gìn giữ cho Sài Gòn  – Gia Định nói riêng , cho nước nhà nói chung những bộ sưu tập đồ cổ tuyệt kỹ .

Cụ Vương Hồng Sển là người được giới sưu tập quý trọng nhất , do công lao sưu tầm hiện vật và nghiên cứu khoa học . Những công trình nghiên cứu và trước tác của cụ trong nửa thế kỷ nay đã trang bị cho các nhà sưu tập nhiều kiến thức về đồ cổ , đồng thời cũng cổ vũ những thế hệ sau rất mạnh mẽ . Năm 1991 , nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh đã cho ấn hành cuốn sách Khảo Cứu Về Đồ Sứ Cổ Trung Hoa , một trong những cuốn sách có giá trị của Vương Hồng Sển , được các nhà nghiện cứu và sưu tầm gốm sứ đánh giá cao .

Thú chơi đồ cổ , xét cho cùng , là một thú chơi mang tính văn hóa – nó không những có ích cho bản thân , gia đình , mà còn có ích cho xã hội . Không ít bọ sưu tập của tư  nhân đã trở thành nguồn bổ sung cổ vật cho các bảo tàng của nhà nước .

Khi trong nước có nhiều người dân hiểu giá trị quý báu của đồ cổ , say mê đồ cổ và ra sức sưu tầm , bảo quản chúng thì có thể giảm bớt tệ nạn ‘’ chảy máu đồ cổ ‘’ của ta ra nước ngoài .

 

Thạc Sĩ Bùi Văn Vượng

 

 

*MỤC LỤC – GIẢI TRÍ – THƯ GIÃN

 

 

 

Read Full Post »

Vương Hồng Sển

Vương Hồng Sển thích chơi đồ cổ hơn thích viết. Trong bài dưới đây, ông cho hay: “trước năm 1945, tôi không viết chi hết, lấy tôn chỉ văn người hay hơn văn mình, mua sách đọc sướng hơn, và tội gì bôi lọ mấy tờ giấy trắng. Nhưng từ chạy lên Gia Ðịnh, bụng đói tôi mới bắt đầu viết để kiếm thêm miếng cà và miếng cơm. Tóm lại tôi ham đọc văn người để học thêm, và cùng cực khi nào tôi biết chắc một vấn đề nào và cần thiết lắm, khi ấy tôi mới cầm viết.”

“Khi nào…”, vậy mà cũng nhiều khi. Ông Vương để lại không phải ít sách. Sách nào cũng viết bằng một giọng cởi mở, thân mật, “bông thùa”. Ông viết tự nhiên đến nỗi, sau khi trình bày gốc tích chiếc bình “Hồng Võ niên chế”, ông tiện bút dặn dò con: “Ðối với con là Bảo, đây cũng là lời dặn riêng chớ xem thường một vật phải có diễm phúc lạ mới có được trong nhà. Vương Hồng Bảo, con nên nhớ.”!

Cổ bình đặc biệt, mà “tân văn” cũng đặc biệt quá đi chớ.

(Thu Tứ)

 

Cổ bình Hồng Võ…

Ông Châu Nguyên Chương, năm 1368, đánh đuổi được quân Nguyên ra khỏi Trung quốc, lên ngôi hoàng đế, đổi quốc hiệu là Minh, đóng đô ở Kim Lăng (Nam kinh ngày nay), gọi là Ứng Thiên phủ, lấy đất Khai Phong làm Bắc kinh. Ở ngôi được 30 năm (1368-1398). Ấy là Minh Thái tổ (Hồng Võ).

Với chiếc lộc bình “con sáo” còn sót lại này, nếu tôi chứng minh được nó là cổ vật chơn chính, không phải đồ giả hiệu, thì tuổi nó là:

cao niên nhất, lấy năm đầu Hồng Võ mà tính thì được 1971 – 1368 : 603 tuổi.

thấp nhứt, lấy năm chót Hồng Võ (1398) mà tính, thì cũng được: 1971 – 1398 : 573 tuổi.

Nay, thực tế mà nói, cứ tính mỗi năm mướn một người gìn giữ nó, theo giá tiền kim thời, nếu người ấy chịu giữ nó với giá một ngàn đồng một tháng thôi, thì trong 603 năm, tức 7276 tháng, dòng họ người đó, từ ông sơ ông sờ ông sẫm cho đến ngày nay, sẽ lãnh được tiền công là 1000$ x 7276 : 7 triệu 276 ngàn đồng.

Không nữa trong 573 năm, tức 6876 tháng, cũng lãnh 6.876.000 đồng.

Ấy là chưa kể tiền mua bình, và số tiền ấy sanh hoa lợi đến năm nay biết là bao nhiêu mà kể.

Thế mà tôi mua nó ở Sa Ðéc, ngày 24-1-1933 giá có bốn chục đồng (40$00), như vậy, các bạn đã thấy sự ích lợi của thú chơi đồ cổ chưa, và giá thử năm nay tôi bán và tôi thách 10.000.000$ thì cũng chưa phải là điên, vì một tấm tranh cổ đời Minh rõ ràng đấu giá có người mua đến mười triệu bạc kia mà! (Nhưng tôi nói đây là tỷ dụ chơi, xin các ông sở thuế chớ tin rằng thiệt.)

Trong giới chơi đồ cổ, đồ đời Minh đã là hiếm có lắm rồi. Thường thường có thể gặp trong vài viện bảo tàng lớn ở Anh, ở Pháp, ở Mỹ, ở Nhựt, một vài món Minh chính cống, kỳ dư đồ giả hiệu Thành Hóa (1465-1487) vẫn có bán ngờ ngờ, nhưng chính bên Nhựt Bản, tôi cũng chưa từng nghe nói có tàng trữ cổ vật Minh Hồng Võ. Nhưng bán giá bạc triệu không phải dễ, phải đủ bằng chứng, có lẽ họ mới tin, còn mua hay không là việc khác.

Nhưng xin các bạn rán chịu đọc tiếp. Tạm thời, tôi dám tuyên bố: “Bình này quý lắm, đáng gọi là “độc nhất vô nhị”, hoặc “cổ kim hy hữu”.”

Tôi viết đến đây nhớ mấy ông Ðạo Chích, ông nào thính tai, cũng đừng bận rộn rình nhà vô ích, vì lấy ra được thì chiếc bình đã bể và trở nên vô giá trị, thà để vậy cho tôi làm tài liệu viết sách còn hơn.

Và xin cho phép tôi dài dòng thơ thẩn, để rọi sáng vấn đề.

Gốc tích. – Năm 1931, tôi để ý cái lục bình này, tại mé sông Tân Qui, châu thành Sa Ðéc, nơi nhà một ông thợ bạc họ Phạm, nay đã quá cố.

– Năm 1932, tôi theo dõi và hỏi thăm các bạn quen biết nhưng chưa dám giáp mặt ông chủ chiếc bình, tuy đã có xin xem mấy lần.

– Năm 1933 tôi đổi về quê nhà Sóc Trăng, và ngày 24 tháng giêng Tây, tôi đã làm chủ thiệt thọ chiếc bình, khi ấy tôi mới dốc lòng tra tầm lý lịch của nó.

– Ðến năm nay 1971, tôi mới viết ra bài này. Từ trước năm 1945, tôi không viết chi hết, lấy tôn chỉ văn người hay hơn văn mình, mua sách đọc sướng hơn, và tội gì bôi lọ mấy tờ giấy trắng. Nhưng từ chạy lên Gia Ðịnh, bụng đói tôi mới bắt đầu viết để kiếm thêm miếng cà và miếng cơm. Tóm lại tôi ham đọc văn người để học thêm, và cùng cực khi nào tôi biết chắc một vấn đề nào và cần thiết lắm, khi ấy tôi mới cầm viết.

Như đối với chiếc lục bình này, tôi biết đã khá nên xin chất vấn hải nội quân tử, chờ được dạy thêm.

Ðối với con là Bảo, đây cũng là lời dặn riêng chớ xem thường một vật phải có diễm phúc lạ mới có được trong nhà. Vương Hồng Bảo, con nên nhớ.

Kích thước. – Chiếc bình đo bề cao 0m 45

Kinh tâm trên miệng 0m 15 (đo phủ bì).

Kinh tâm nơi đáy (đít): 0m 17.

Nơi hông, chỗ rộng hơn hết, đo được 0m 21.

Giá mua: bốn chục bạc, bạc năm 1933 (kinh tế khủng hoảng, giá lúa 0$90 một tạ).

Ngày mua và nơi mua: Mua ngày 24-1-1933 ở Sa Ðéc, nhờ ông phủ Võ Văn Nhiễu chở về giùm.

Số mục lục: 64 VHS. (Xem hình nơi tập H.C.Ð.S. số 4) pl 28-29 fig 28A-28B).

Hình dáng. – Hình dáng rất thanh và cân xứng, không lỏng chỏng, không ô dề, chuộng bề thế vững chắc. Nói theo giọng chuyên môn Âu-Mỹ, bình này quả có một vẻ chơn thật bình thường (honnête et simple), rất cổ điển, y như muốn nhái một bình đời Thương qua Hán, bằng đồng đen. Quả hình dáng có duyên, không hào nháng se sua, cũng không quá cổ lỗ, thấy chiếc bình đủ tin đứng trước một cổ vật đặc sắc, có chơn giá trị.

Từ trên tả xuống: trên vành miệng có một viền hồi văn đắp nổi (xem Pl. VIII, kiểu hồi văn A), đây là những kiểu đầu như ý (modèle de tête de sceptre), đặt kế nhau theo thể cách giao liên, cái này nối tiếp cái kia, thành một đường dài y một kiểu, ta gọi những đầu như ý liên tiếp ấy là “dây hoa sòi” hay “dây sòi”. Theo sách, “sòi” là hình đầu chiếc nấm linh chi, mỹ thuật hóa thêm cho đẹp. Sòi, nay còn thấy thêu trên gấm Trung Hoa hoặc vẽ trên trang sách quí hay trên cổ những chóe Khang Hy, nét vẽ đan thanh, chỉ chừa nhiều khoảng trống để khoe sắc đẹp của da trắng sành trứng diệc (blanc “oeuf de héron”).

Tiếp theo miệng bình, và trên cái hông bình, có một khúc thắt nhỏ lại, quen gọi “cái cổ của chiếc lộc bình”. Nơi khúc cổ ấy, hai bên tả hữu, có đắp nổi hai nhánh mai, nhánh màu đen luốt luốt, bông năm kiếng trắng bạch, cả hai nhánh đắp dộng đầu, cuống trở lên, đọt và hoa trở xuống, kiểu ấy gọi “mai chiếu thủy”. Dưới cái cổ, tiếp hai đường viền hồi văn màu đồng đen, chỉ đắp nổi, đường viền trên là hồi văn chữ S nằm trái trả.

Ðường viền dưới nhái trở lại dây sòi “đầu như ý” y một kiểu với hồi văn đắp trên miệng (xem Pl. VIII, kiểu hồi văn B).

Dưới hai đường hồi văn màu đồng đen này là tới cái hông bình. Hông này, một phía không vẽ vời, cốt để khoe men đẹp và cái đẹp của da rạn, vừa rạn da rắn (craquelé en peau de serpent), vừa men màu hột vịt lộn (couleur “oeuf pourri”).

Phía bên kia của chiếc bình, vẽ tích “mẫu đơn điểu”, nhưng cách vẽ cũng không giống các cổ bình tôi thường thấy. Trên cổ bình, thường ký niên hiệu “Thành Hóa” thường vẽ kiểu “mẫu đơn trĩ”; nhưng trên chiếc bình “Hồng Võ” này, con điểu ấy không phải là chim trĩ nữa, mà là một con chim “kỳ cục”, có mỏ dài màu trắng, trên đầu có chóp mao, còn lông cánh thì xệ xệ, lông đuôi thì tỉa lớn sợi và xụ xuống, trông không biết đó là chim gì, đến nỗi các anh em giới chơi đồ xưa ở Sa Ðéc, luôn và ba tôi, đều tặng cho nó là “bình con sáo của bác thợ Thiệu”. Duy ai nấy đều nhìn nhận nét bút công phu, và màu xanh lơ thiệt đúng là màu xanh sau cơn mưa (vũ quá thiên thanh) của đời Minh vậy. Ngày này, học thêm chút ít, thấy trong sách Cảnh Ðức trấn đào lục chép Hồi Thanh làm ra màu “vũ quá thiên thanh” phải đợi đến niên hiệu Chánh Ðức (1506-1521) mới mua được nhiều của người Hồi Hồi, nhưng thuyết này không đủ chứng minh đời Hồng Võ chưa có Hồi Thanh do các cuộc trao đổi đi sứ đem về, nhưng ít thôi, và đồ ngự dụng mới được dùng đến.

Nay tôi xem kỹ, con chim lạ ấy đậu trên một gốc tùng, tùng thiên niên thọ đã cằn cỗi và nhiều chỗ, nhánh đã mục nay chỉ còn dấu khuyết trên da. Chung quanh và dưới con chim trĩ, có bốn bông mẫu đơn thật lớn, nhờ mấy đóa mẫu đơn này, tôi mới dám chắc đó là kiểu “mẫu đơn trĩ”, tượng trưng cho sự phú quí, vì thuở nay ai cũng biết: mẫu đơn là phú quí chi hoa, và trĩ (sau này biến thành phụng) là chúa các loài điểu.

Dưới chân bức họa “hoa điểu”, sát tới đụng chân bình, là một viền hồi văn màu đồng đen, cao đến hơn năm phân Tây, hồi văn này chạm sâu vào da bình, kiểu sóng bủa có vòi, chạy giáp vòng quanh chiếc bình. Ðây là kiểu “thủy ba dợn sóng”. (Ba là “hoa”, vì kỵ húy tên bà phi, vợ ông Minh Mạng, nên ngoài Huế có tục lệ nói “ba” thay vì “hoa” (xem Pl. VIII, kiểu hồi văn C).

Sau rốt, nơi sát đáy bình, có chừa một viền trơn kiểu “lá hẹ nổi”. Ðây là đường viền chót, nhái viền đồng đen thường gặp trên các cổ đổng đời Hán (206 tr. T.l. – 220 sau T.l.).

Chiếc bình này chứng tỏ đời Minh còn chuộng kiểu bình xưa đời thượng cổ, đều làm bằng đồng, sau vì chiến tranh lấy đồng đúc binh khí, nên mới tìm ra đất nung, gốm và sành, làm đồ từ khí thay thế đồ bằng đồng.

Trên chiếc bình tôi đang tả, dưới đít, chỗ nào men đen cái viền “nhái da đồng”, chỗ nào màu đen không phủ khắp thì lộ ra một màu đo đỏ như màu gạch tôm, nói cách khác, như màu gạch đỏ bầm, đây là một triệu chứng sót lại của các cổ vật bằng đất nung đời Tống đời Nguyên tồn tại (Song 960-1279; Yuan 1279-1368).

Từ nãy giờ, tôi tả dông dài chiếc bình Hồng Võ, mà nào có thấy bằng chứng gì là Hồng Võ đâu? Và đây là bằng chứng ấy: Số là nơi đít bình, khi lật lên xem, sẽ thấy giữa một khoảng trắng da sành rạn ổ nhện, có hình một con dấu to, nét chạm rất sâu, vuông vức như vầy, màu da đồng đen (hình dưới là rập lại y kiểu nơi đáy bình) (xem Pl. IX).

Trong lòng chiếc bình, có tráng men, màu trắng, da trổ rạn da rắn từ trên miệng xuống đến cổ, còn trong bụng chiếc bình không thấy da trổ rạn nữa.

Bốn chữ trong con dấu trên đây, nhiều người đọc, chữ được chữ không và vẫn làm cho giới anh em chơi đồ cổ ở Sa Ðéc đều ngã lòng, vì vậy chiếc bình ế độ mới lọt về tay tôi. Có phần hay không là vậy.

Bây giờ tôi xin để y câu chuyện cắt nghĩa bốn chữ ấy, và bắt qua thuật chuyện cách mua chiếc bình như thế nào:

Cách mua chiếc bình. – Tôi đã nói trước đây rằng trước năm đảo chánh 1945, đồng bạc Ðông Dương rất có giá trị. Nhứt là khoảng 1932-1933, kinh tế khủng hoảng, có người trọn đời không thấy tờ giấy bạc một trăm đồng, gọi <169>giấy xăng<170>. Còn dân đen, nói gì, trọn năm không kiếm đâu ra bốn đồng rưỡi bạc (4$50) đóng thuế thân, phải ở tù lên ở tù xuống.

Lúc ấy, năm 1932 tôi làm thơ ký hạng 3 của chánh phủ Pháp, lương mỗi tháng 81$78 (có vợ không con). Tôi truất ra 40$ mua cái lục bình. Nay bình trị giá sáu, bảy triệu đồng. Nhưng chiếc bình này quí hơn chiếc Mercédès nhiều. Mercédès giá trên mười triệu mà nhiều người có; chiếc bình từ Minh Hồng Võ, lẽ nào giá trị kém chiếc xe bao giờ!

Giá thử năm 1932, tôi không mua chiếc lục bình này, thì số bạc 40$ kia, tôi cũng xoay xở tiêu pha mất hết rồi. Hoặc tôi có khôn khéo dùng số bạc ấy cho vay đặt nợ, bòn tro đãi trấu, thì cũng chưa ắt kết quả có đến số bạc do chiếc bình đẻ ra trong óc tưởng tượng của tôi, không khác bài toán “Con bán sữa và bình sữa”, của ngụ ngôn Pháp!

Bí quyết của nghệ thuật chơi cổ ngoạn là đó. Nhưng ngày nay dở tập hồ sơ cũ, (có cả mảnh lưu chiếu bưu phiếu 40$40, số 104, série 006,983 đề ngày 19-11-1932 gởi cho một bạn ở Sa Ðéc nhờ mua một chiếc bình), tôi thấy lại cả cái rị mọ dễ ghét chầu xưa của tôi mà không khỏi buồn cười.

Tôi cần phải thuật các chi tiết lại đây, mặc dầu dài dòng, để các bạn hiểu đôi chút về tánh gàn của một tên chơi đồ cổ, vừa có dịp so sánh đời sống miền Nam trong hai khoảng năm 1932 và năm 1971, khác nhau xa thế nào.

Sơ khởi, lúc tôi đổi về làm việc tại Tòa Bố Sa Ðéc, từ năm 1928 đến năm 1932, tôi đã nghe danh chiếc lục bình này và đến xem tận mắt tại nhà chủ cũ của nó là ông họ Phạm (nay đã mất). Ông cũng là chủ cũ của cái tô Bá Nha Tử Kỳ có bài thơ nôm mà tôi sẽ nói nơi sau trong tập này, và cũng là chủ cũ của cái thố có nắp, di vật của chúa Nguyễn Ánh, tôi sẽ nói nơi sau, lại cũng là chủ cũ của bộ chén trà năm Giáp Tý (1804) tôi sẽ nói qua tập số 7 “Thú chơi ấm chén”. (Tóm lại những món quí của ông, sau đều về tay tôi cả.)

Nhắc lại khi thấy chiếc lục bình, tôi ưng bụng ngay, và định mua, nhưng các bậc đàn anh dẫn đường cho tôi, đều khuyên nên chậm chậm, một là để đủ thời giờ xem đi xét lại, hai là có sợ mất mát gì đâu mà hòng lật đật, vì buổi ấy tiền bạc trong nước kiếm không ra, tôm tươi một đồng bạc bốn thùng thiếc, “ăn đến kiết”, và bắp trái trên cây, một trăm trái bán có hai cắc bạc; nay tội gì xuất ra bốn chục đồng bạc (40$00) mua một cái lục bình mà nội chợ không ai thèm ngó!

Tháng tư năm 1932, tôi đổi về làm việc sở quản thủ địa bộ ở quê nhà, tại Sóc Trăng, tuy xa cách Sa Ðéc, nhưng không quên cái bình.

Lúc ấy, tôi bèn gởi thơ cho một ông bạn rất tốt (nay đã mất) và rất sành sỏi về đồ xưa, là ông Trương Văn Hanh, nhà ở đầu cầu Vĩnh Phước, mé sông Tân Qui, cùng một xóm với ông thợ Thiệu. Trong thơ của tôi (lúc ấy tôi chưa có tật giữ bản sao thơ gởi đi) tôi nhờ nài chiếc lục bình, nhưng thơ thứ 1 đề ngày 15-XI-1932, ông Trương viết như vầy và tôi xin chép lại cho thấy giọng văn của ông: “Tôi có được thơ cậy hỏi lục bình con sáo từ 40$ đổ xuống mà tôi thì trả có 30$, nên va còn dụ dự, vì thiệt vốn va tính cho tôi nghe thì là 32$. Tôi tính để trả cho y 35$ là cùng mà thôi, thế thì phải được vì năm nay không còn chờ chi là cao giá, và lúc này y cũng cần tiền hơn.

“Vậy chừng mua được, mới làm sao? Phải gởi cách nào? Muốn vậy thì mua được trong tay; xin gởi ngay 40$ và chỉ cách gởi gắm đồ ấy. Có lẽ tôi mua dưới 40$, theo y nói thì bốn chục cũng chưa đắc ý bán, vì vốn đã 32$, mà đã ba năm rồi, lời có mấy đồng còn chê ít, nhưng mà không ai mua chi cho mắc hơn mình mà sợ…

Ký tên: T.V.H.”

Tiếp theo bức thơ 15-XI-32 trên đây, tôi có nhận một bức khác có kèm thơ của chủ cũ chiếc bình, cả hai thơ ấy, tôi xin sao lục ra đây, y nguyên văn:

1) Thơ đánh dấu a). – “Sadec le 16 novembre 1932

Lời cho chú Tư rõ (ông Hanh thứ tư), Cái lục bình, xin chú làm ơn vui lòng trả lời với người đó. Xin chú cắt nghĩa giùm nó đã hay mà lại xưa lắm, như họ muốn dùng, tôi định chắc 40$00.

Ký tên: Thiệu”

2) Thơ đánh dấu b). – “Cùng hiền hữu yêu dấu,

Sớm mai này, mới được tin của M. Thiệu nói vậy đó, liệu sao? Như mọi khi thì không mắc lắm, mà lúc này thì tự ý, tôi đã trả rồi 35$00, y nói để tính rồi trả lời, nên y trả lời vậy, nghĩa là nhứt định 40$00. Hôm qua, tôi tính thế nào cũng mua được 35$00, nên mới gởi thơ nói chắc dưới 40$00. Nay mới đặng tin của y nói vậy, nên xin gởi theo cho mà coi. Tùy ý muốn sao cũng được hết. Hễ là 40$00 thì giờ nào cũng được.

Ít lời cùng hiền đệ đặng hay,

Ký tên: Hanh”

3) Thơ đánh dấu c). – “Sadec le 16 novembre 1932

(tiếp theo)

Thơ vừa rồi đã niêm phong lại chờ gởi đi, kế gặp dịp may, có người điềm chỉ rằng: Tại Cao Lãnh, có nhà Tư Chương, lúc trước sắm đồ cũng mấy ngàn, nay vì kinh tế nên tính bán hết. Tay này cũng biết chơi lắm, tôi có đến nhà một khi, nhà ấy ở gần nhà Hội đồng Vinh, nhớ in là hiền hữu có đi một chuyến với tôi là phải? Như bụng còn muốn sắm nữa, bề nào cũng nhọc công, vậy tốt hơn là lên một chuyến mà lựa thì chắc ý lắm. Liệu sao tự ý rồi trả lời tôi biết.

Ký tên: Hanh”

Tiếp được mấy bức thơ trên, tôi trả lời như sau:

“Sóc Trăng 19-XI-1932

Trương huynh ông,

Hai ngày được liên tiếp của ông hai bức thơ nói về một chuyện, thế đủ rõ tấm lòng sốt sắng với tôi là bao. Cái thạnh tình ấy, tôi xin đa tạ.

Lẽ đáng thì tôi không nên đeo đuổi theo cái lục bình mà làm nhọc ông, nhưng cũng vì cái ham cái muốn đồ cổ khiến tôi bất kể phép lịch sự và xin ông vụ tất việc này một phen nữa.

Sau đây, tôi gởi số bạc 40$00 (mandat bưu điện số 104 ngày 19-11-1932).

Xin ông tùy nơi người chủ bán, chớ người mua vẫn trông cậy vào ông. Ðược rẻ hơn thì may, bằng không thì giá đó cũng vừa, vì tôi muốn lắm. Nhưng xin ổng cho thêm cái chưn tiện bằng cẩm lai.

Như ông mua được rồi thì hãy đem về nhà ông, hoặc đóng vào thùng sẵn để đó cho tôi, rồi mười bữa nửa tháng, có dịp có người đi Sa Ðéc, tôi sẽ cậy ghé lấy, chớ gởi theo nhà thơ, tôi không yên dạ.

Còn việc ông cho hay mấy món nơi nhà ông Tư Chương, hiện nay đổ đường lên mua đồ cổ thì không thể được, để có dịp nào thuận tiện, tôi sẽ thơ cho ông hay.

Thơ chẳng hết lời, kính chúc Trương huynh ông vạn an.

Nay kính,

Ký tên: Sển”

Sau đó lục bình đem được về Sóc Trăng, nhờ ông bạn đồng liêu cũ, nay đã quá vãng, ông Võ Văn Nhiễu, chở về giùm. Lúc ấy tôi ở chung với ba tôi, số 33 đường Hai Bà Trưng, ngay chỗ rạp chiếu bóng bây giờ. Phố tấp nập, người qua kẻ lại rần rần, anh em bạn đến nhà chơi không thiếu một ai, nhưng đều không biết giá trị cái bình: kẻ chê “con sáo vẽ kỳ cục”, người nói nước men không giống các bình đã thấy v.v…, và phần đông bắt bẻ sao trên miệng có một vết màu không y như da sành chung quanh.

Tôi nghe mãi muốn điên đầu… Lúc ấy, tại châu thành Sóc Trăng, ở tiệm bán sắt hiệu Vĩnh Sanh, ở xéo xéo phố ba tôi ở, có một ông tài phú người Quảng Ðông, tên là Trần Phụng Hữu, có tiếng là người hay chữ nhứt trong vùng. Lúc còn ở Trung Hoa, ông đã đỗ tú tài Hán văn, sau bị lùng bắt vì có tên trong đảng đối lập chánh phủ, nên ông trốn qua Nam ở lâu năm trong sốc Thổ, mai danh ẩn tích, rồi mới ra làm thơ ký bút toán cho hãng Vĩnh Sanh này.

Một hôm, tôi rước ông đến nhà, nhờ đọc giùm bốn chữ cổ tự nơi đáy chiếc bình “con sáo”, bốn chữ con dấu tôi đã rập lại nơi đoạn trên. Ông Trần Phụng Hữu trở ngược đầu chiếc bình, nhìn một hồi lâu, xoay qua trở lại đủ hướng mà không đọc được đủ bốn chữ kia. Ông tức lòng vì mình đã xưng đậu Tú tài bên Tàu, nay không đọc được chữ cổ, bèn rút bút máy, viết lia lịa một bức thơ vắn tắt, đề ngày 30-1-1933, gởi qua Hương cảng cho nhóm văn hữu quen bên ấy, nhờ đọc giùm. Thơ của ông có kèm cái rập hình con dấu, tôi đã nhờ người phiên âm và dịch lại Việt văn như sau:

“Thử tứ tự nãi hệ cổ bình để sở tạc chi tự dĩ ký niên hiệu chi ý HỒNG VÕ CHẾ.

Tam tự thượng vị tri thực phủ.

Thử tự kỳ vi vấn các xã huynh năng tả triện tự giả hoặc năng tường xuất mổ tự kỳ trịch phản, thị tri. Thị hà.”

Dịch. – “Bốn chữ này là chữ tạc ở đít cái bình xưa để ghi lấy niên hiệu chế ra cái bình này trong năm thuộc trào vua Hồng Võ. Ba chữ còn chưa biết thật không.

Xin gởi mấy chữ này hỏi chư ông là người thường viết lối chữ “triện” hoặc biết rõ lối chữ ấy ở đâu (đời nào) xin trả lời cho biết. Cám ơn.”

Kế đó, ông Trần Phụng Hữu nhận được thơ trả lời, và ông vẫn giao hết cho tôi giữ làm tài liệu, ngót mấy lần biến cố, tôi vẫn giữ được y và nay xin chép ra sau bản phiên âm và bản dịch văn xuôi:

Phiên âm. – “Phụng Hữu tiên sanh giám: kim nhật thần tiếp bút đại hàm kính thừa dĩ vấn “Triện” thơ chi tự.

Tra “Thiên tự văn” tứ thể “triện” thư nội, NIÊN THỈ MỖI THÔI chi niên tự, dữ tự tương đồng.

Tra biệt thư tả niên tự hữu dĩ “HÒA” dĩ “NGƯU” giả, đại ý niên tự, vô nghi.

Chất chi ngâm hữu, ý kiến giai đồng, diệc dữ “HỒNG VÕ NIÊN CHẾ” độc đắc khứ, tha vi Minh trào niên chế vô nghi, cố giã.”

Dịch xuôi. __ “Cùng ông Phụng Hữu,

Sớm mai này nhận được thơ của ông hỏi về lối chữ “Triện”.

Xét trong “Thiên tự văn” có bốn lối viết chữ “triện”. Có câu “Niên thỉ mỗi thôi” (thì giờ tên tuổi đi mau như tên bắn), thì chữ Niên ấy cũng giống như chữ Niên này.

Xét trong sách khác có viết chữ Niên, thì có chỗ dùng chữ Hòa và chữ Ngưu làm ra chữ Niên. Ðại ý chữ ấy là chữ Niên, không còn nghi ngờ gì nữa.

Tôi đã hỏi anh em bạn tôi đều cùng ý kiến với tôi mà đọc là HỒNG VÕ NIÊN CHẾ, thế thì món đồ đó chế ra hồi trào vua này, không còn nghi ngờ nữa được.”

Thế là từ đó tôi có tài liệu vững chắc, chứng minh lục bình con sáo chế tạo vào niên hiệu vua Minh Thái tổ Hồng Võ: Câu “Tra biệt thư tả niên tự hữu dĩ hòa dĩ ngưu giả, đại ý niên tự vô nghi” (Xét trong sách khác có viết chữ niên thì có chỗ dùng chữ hòa và chữ ngưu làm ra chữ niên, không còn nghi ngờ gì nữa.)

Câu này quan trọng nhất, đại khái nói đời xưa viết chữ Niên khác với chữ Niên ngày nay, và chữ Niên đời trước là do chữ Hòa (một giống lúa) ráp với chữ Ngưu, hiểu rằng “con trâu làm được hột lúa trong thời gian MỘT NĂM”.

Chữ Niên (dĩ hòa dĩ ngưu) này, bọn giả tạo không biết, nên đó là một triệu chứng chắc chắn món đồ này là thiệt.

Kết luận. – Như các bạn đã thấy, trong vụ mua được lục bình con sáo, chẳng phải tại tôi giỏi, nhưng mà tôi may thời.

Nghệ thuật chơi cổ ngoạn là nhiều khi do một sự tình cờ.

a) Chiếc bình, nếu còn trong tay người chủ cũ, thì bất quá, nếu cất giữ được, thì chịu phận thiệt thòi không ai biết; hoặc giả nếu lấy ra dùng thường rủi ro đã bể, và mảnh vụn nát vứt đi, còn ai đọc chữ “niên dĩ hòa dĩ ngưu” cho?

b) Tôi tiếc không hỏi được lý lịch của chiếc bình, khi trước ông Sáu Thiệu tìm được ở đâu, xóm nào, nhà ai, mà có chứa món này và có lẽ còn nhiều món lạc loài đáng tiếc khác. Công việc ngày nay là nên tìm cho ra manh mối đó.

c) Nếu bình này, lối 1932, ở Sa Ðéc có người biết giá trị của nó, thì làm sao về tới tay tôi? Trong nghề chơi cổ ngoạn, nhiều khi người đi trước không biết và người đi sau lại được của quí, cho nên có câu “của tìm người” là vậy.

d) Cái gan lớn của tôi lúc đó là nhà không đủ tiền đi chợ hằng ngày mà vừa thấy là định tâm mua cho được. Nếu tôi có trù trừ dụ dự là vì kiêng kính bạn tác, không dám mua mắc là sợ mích lòng các bậc đàn anh đang dạy mình chơi đồ xưa, và những cái lẩn thẩn tôi đã nói nơi đoạn trước cho thấy thuở ấy, đồng bạc rất có giá trị, khi xài ra ke re cắc rắc, đếm từ đồng, bớt từ xu, không như bây giờ phung phí hời hợt, vì tờ giấy một trăm, tội nghiệp, giá trị không bằng một đồng xu Tây hồi đó. Gói xôi một xu trước ăn no bụng, gói xôi hai chục nay không đủ nhét kẽ răng.

e) Lục bình con sáo, sau khi giảo nghiệm bốn chữ niên hiệu, đã trở nên quí, như nàng quốc sắc, nhờ có người cất nhắc mới đẹp mặt nở mày. Trong khi ấy, vì thiếu đỡ đầu, cô gái đẹp phải đi gánh nước mướn; cũng như chiếc dĩa xưa lọt vào tay thằng lắc bầu-cua-cá-cọp.

f) Tuy tông tích đã thất lạc, nhưng nhờ khảo nghiệm được bốn chữ chính cống “Hồng Võ niên chế”, nên nay lục bình con sáo trở nên một vật dùng để so sánh và định tuổi các vật khác sẽ gặp (élément de datation), nhờ sự giảo tự đáng tin của các chuyên gia đọc rành chữ triện ở Hương cảng, thêm nhờ sự lạc tinh (patine) của chiếc bình. Nếu bình còn mới, chưa lạc tinh, thì không làm vật chứng minh được.

Trong cái lục bình này, tôi tóm tắt lại những cái khéo của nó: Về men, dưới đáy, men trắng và rạn nhỏ, trong lòng men trắng rạn da rắn lớn miếng, ngoài bình men màu vàng sậm rạn da rắn to, cổ và giữa hông cũng như phần chót gần đít bình, luôn hai nhánh mai, thì men da đồng đen, chỗ xanh lam thì xanh màu “vũ quá thiên thanh”, chỗ men nổi trắng như hoa mai hay kiếng hoa mẫu đơn thì màu trắng bạch gọi “duyên phấn”, tóm lại bình này không phải bình “trắng xanh” (bleu et blanc), mà là bình “ngũ thái” (cinq couleurs), hội đủ các tài hay và sự thành công của các bí thuật đời Minh vậy.

Thêm nữa, vẽ cây tùng cằn cỗi, lá tủa đơn sơ xen với bốn đóa mẫu đơn tách xanh trắng phân minh; trên cây tùng vẽ một con chim giống lạ, có lẽ là chim của Trung Hoa, nước ta không có, gọi con sáo là gọi gượng chớ không biết chim gì.

Màu da đồng đen là nhái lại các cổ bình đời Thương đời Hán.

Dưới đáy, nơi men không ăn tới, thì da đất trỗ màu đỏ điệu céladon xưa.

Hai bên hông, nơi có đắp nhánh mai da đồng đen, hoa mai năm kiếng trắng điệu Bạch Ðịnh (blanc de Foukien).

Quả là một độc bình lạ lùng. Từ ngày tôi gặp, và mỗi lần tìm một món khó định tuổi, nhưng gần giống màu sắc, kiểu vở, tôi đều đem lại đọ với bình này mà đánh giá và định tuổi vật kia.

Xin cho tôi căn dặn đôi lời:

1) Ngày nay, thị trường đồ cổ tràn ngập đồ giả hiệu, phần nhiều rất khéo và thường ký nhái hiệu Thành Hóa (1465-1487), chớ không bao giờ dám đề Hồng Võ, vì sợ lộ tẩy sớm. Những đồ giả Thành Hóa ấy cũng đắp bông nổi nhánh mai hoặc mặt bợm (thao thiết) màu đồng đen, hai bên cổ chiếc bình. Vành miệng cũng thường nhái da đồng. Phải cẩn thận và cho tinh mắt, không nên nghe lời tán tụng của con buôn mà mua đồ báo đời, chỉ mất tiền mà không dụng vào đâu.

2) Nhờ chữ “Niên” viết theo lối xưa, bọn giả tạo không biết được, mà tìm ra sự chơn chánh của cổ bình này.

3) Thường thường khi đổi thay một triều đại, thì triều đại sau bỏ hết các kiểu vở của triều đại trước, nước nào cũng vậy và đời nào cũng thế.

Vua Hồng Võ lập nhà Minh. Các lò gốm của Nguyên để lại đều bị dẹp hoặc bị đốt phá. Thường các vua khai quốc chỉ lo về binh bị, không đủ thời giờ lo việc chấn hưng mỹ thuật, văn hóa.

Vào đời Minh, vua Thái tổ mất (1398). Con trưởng là Tiêu, được phong thái tử, ông này mất sớm, con là Kiến Văn (Huệ đế) bị chú là Yên vương (tên Lệ) đánh đuổi giành ngôi, xưng Thành tổ (Vĩnh Lạc 1403-1424). Vì vua Huệ đế bôn đào, không biết sống chết, vua Thành tổ sai thái giám Trịnh Hòa giả danh đi buôn đồ gốm đồ sành để tìm vua Huệ đế đặng trừ hậu hoạn, cũng vì dịp ấy mà đồ gốm đồ sành xuất dương ra nước ngoài, nay nhiều nhứt là ở Istanbul nơi viện Topkapyl của Thổ-nhĩ-kỳ. Vua Thành tổ đồng thời với Hồ Quý Ly, và thành nhà Hồ là kiểu mẫu Minh vậy. (Trịnh Hòa dẫn thuyền kéo cờ Minh đi khắp biển trong 30 năm từ 1405 đến 1433; được người Trung Hoa xuất ngoại nhớ ơn thờ làm ông Bổn (Bổn đầu công) (xem lại tập 4 tr. 254).

Hồ Quý Ly (1400-1407) chống Minh nhưng cự không lại, để bị bắt và làm mất nước, tài có dư mà không có thời, nên tội cũng nhiều.

4) Bình Hồng Võ niên chế này, theo tôi, là vật chế riêng với tất cả sự khéo léo đặc sắc thuở ấy (Mạt Nguyên Khai Minh), để chứng tỏ sự mở màn của một đời thái bình thạnh trị. Vì sao lọt được khỏi Trung Hoa để vào vùng Sa Ðéc? Hay là cố vật buổi lưu vong nhóm di thần nhà Minh Trần Thắng Tài, Dương Ngạn Ðịch? (Hậu nhựt tri).

5) Bình này có lẽ là “unique” từ trong xứ đến nước ngoài.

(Xem hình trong H.C.Ð.S. số 4 pl 28-29, fig 28A, 28B).


11-XI-1971

*MỤC LỤC – GIẢI TRÍ – THƯ GIÃN


Read Full Post »

Older Posts »