Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘GIẢI TRÍ – THƯ GIÃN’ Category

Tặng bạn Đỗ Hữu Thái , một người đam mê cổ vật chân chính 

 

I /  ĐỒ CỔ

Đồ cổ là những sản phẩm văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá khứ lịch sử , bằng nhiều chất liệu khác nhau , được bảo tồn đến nay .

Đồ cổ có rất nhiều loại ,bằng nhiều chất liệu và có giá trị trên nhiều mặt . Từ những đồ cổ được sưu tập , sắp xếp có hệ thống và xác định niên đại hoặc thời đại , người ta có thể thấy được trình độ kỹ thuật , thẩm mỹ , tư tưởng , tình cảm của con người và cộng đồng dân tộc trong mỗi triều đại , thời kỳ lịch sử , có thể hiểu được nền văn hóa , văn minh của dân tộc ấy . Thông thường , đồ cổ có ý nghĩa và giá trị nổi bật trên hai mặt mỹ thuật và kinh tế . về mặt mỹ thuật , đồ cổ đem lại cho chúng ta tình cảm thẩm mỹ , thưởng thức cái đẹp hiếm có do người xưa để lại . về mặt kinh tế , đồ cổ có thể được định giá bằng tiền bạc , bằng vàng với giá trị vật chất lớn , do đó đồ cổ có thể được trao đổi , mua bán như những hang hóa đặc biệt .Thú chơi đồ cổ xuất phát chủ yếu từ yếu tố mỹ thuật của đồ cổ . Nghề buôn đồ cổ xuất phát từ giá trị kinh tế của sản phẩm này . Từ giá trị to lớn của đồ cổ và nhu cầu sử dụng rộng rãi chúng đã nảy sinh nghề làm giả đồ cổ . Thú chơi ấy , các nghề ấy xuất hiện và song song tồn tại ở nước ta , cũng như trên thế giới từ lâu đời .Việc sưu tầm săn lung và buôn bán đồ cổ xưa nay đã đem lại không ít vinh quang , sự giàu có , nhưng cũng xảy ra nhiều bất hạnh , đắng cay cho con người .

Người Việt Nam , từ Huế vào Nam thường gọi các loại mỹ nghệ phẩm được làm khoảng trăm  năm về trước là đồ xưa , còn người Miền Bắc thì gọi chúng là đồ cổ . Bây giờ thuật ngữ đồ cổ đang được dùng rộng rãi trong cả nước , chỉ tất cả các sản phẩm cổ xưa , phần lớn đều quý hiếm , đồ đồng , đồ đá , đồ vàng bạc , đồ gỗ , sách cổ , vv …. Từ trống đồng , tượng đồng , tượng đá , đồ gốm , bàn ghế , hòm tủ , đến câu đối , hoành phi , tranh khắc , tiền cổ …. Còn nghành bảo tàng thì gọi chúng bằng thuật ngữ cổ vật , hiện vật cổ .

1/ Cổ vật bảo tàng .

Cổ vật quốc gia được lưu giữ ở các bảo tàng trong nước .Xin hãy đến Viện bảo tàng Hà Nội , nơi đang lưu giữ bảo quản tới 5.500 cổ vật …. Trong hầm tối – theo đúng nghĩa của từ này . Các nhà chuyện môn cho biết đây là một kho tàng vô giá , có một không hai ở Việt Nam . Người duy nhất đang có trách nhiệm quản lý kho cổ vật này là bà Nguyễn Kim Nguyên , tốt nghiệp khoa Bảo tàng Đại học Lômônôxốp ( Liên Xô cũ ) , chuyên viên cổ vật của viện Bảo tàng Hà Nội . Đến nay , Viện đã có bộ hồ sơ hàng nghìn trang về các cổ vật của mình , do bà Lê Kim Nguyên âm thầm thiết lập trong suốt 4 năm qua .

Mỗi trang hồ sơ ấy mô  tả một cổ vật , bằng 4 tấm ảnh , kèm theo một bảng lý lịch ghi rõ tên cổ vật , nơi xuất xứ , chất liệu kích thước , kiểu thức trang trí . Niên đại , ngày xác định niên đại , người xác định niên đại , vv …chồng tài liệu dày 3300 trang chất cao từ nền nhà lên quá đầu người . Nếu một người xem liên tục có lẽ phải mất một tháng mới hết bộ hồ sơ này , bà Lê Kim Nguyên giải thích : ‘’ Có tất cả 5500 hiện vật , nhưng chúng tôi mới phân loại được 3300 cái ‘’ .

Thực ra , người chuyện viên cổ vật rất đáng khâm phục này chỉ trông coi cổ vật qua ảnh chụp trong bộ hồ sơ lớn đó  , đồng thời cũng là công cụ để bà giới thiệu vốn cổ vật với đồng nghiệp và khách thăm quan , nghiên cứu khi cần thiết . Còn kho đồ cổ thì để ở dưới tầng hầm kiên cố của tòa nhà Bảo tàng . Cửa kho luôn luôn có giấy niêm phong và lần lượt ba lớp khóa . Theo phóng viên tờ tuần báo Thanh Niên Huỳnh Ngọc Chênh ( số 22 (462 ) ra ngày chủ nhật  27 -2-1994 )thì trước đây , người tiền nhiệm của Lê Kim Nguyên đã phải bị tù oan trong Hỏa Lò chỉ vì đánh rơi tượng ngọc bích vào trong một lọ bình mà ba năm sau mới tình cờ phát hiện được .

Kho cổ vật có hang ngàn hiện vật từ tranh , tượng cổ của Trung Quốc , Nhật Bản đến đồ đồng cổ Việt Nam , từ đồ gốm đời Minh , Thanh đến đồ gốm sứ , ngà ngọc đời Lý Trần cho đến các vật dụng cổ của người Châu Âu . Theo Niên đại trong kho này có có mặt đầy đủ các hiện vật từ trước Công Nguyện cho đến đầu thế kỷ XX . Các cổ vật ở đây – dấu tích văn hóa hang nghìn năm của Việt Nam và nhiều dân tộc khác , một di sản quý giá của nhân loại được dồn nén lại trong một diện tích 50m vuông của căn hầm .

Nếu phân loại theo chất liệu , kho cổ vật này có các loại : đồ gốm , đồng , đá ,ngà , ngọc , vàng , bạc , thủy tinh , da , gỗ , giấy ..vv ., phân theo chủng loại , có tới 40 loại , gồm tranh , tượng , chuông , trống , bình , lọ , thạp , thống , chóe , chén , bát , ly , tách , bình vôi , nậm , đồng hồ , bàn là ….vv . , theo quốc tịch , chúng có xuất xứ ở Việt Nam , Trung Quốc , Nhật Bản ,Triều Tiên , Thái Lan , Ấn Độ và một số nước Châu Âu . Các cổ vật được xếp chồng trên các bệ gỗ , được bày la liệt trên sàn hầm , được đựng trong các thùng gỗ , hòm thiếc , giỏ tre ….

Nguyên là những cổ vật trôi nổi , chúng được tập hợp lại một cách khác thường .Loại cổ vật đầu tiên mà Bảo Tàng Hà Nội hiện có là do lượm nhặt được từ đống vật dụng bát nháo . Trong số ấy , quan trọng nhất là nhóm đồ đồng Đức Giang . Người ta định gom lại để đưa đi nấu đồng , nhưng may sao một vài người có trách nhiệm biết được đó là đồ cổ rất quý giá nên nhặt ra và đem về giao cho Bảo Tàng cất giữ .Đồng thời , hàng trăm đồ sành sứ , gốm quý hiếm thời Minh , Thanh và  Lý , Trần cũng được thu lượm theo con đường này .

Một loại tượng bằng đồng , gỗ , sành …. Của nhiều đình ,chùa ,am , miếu  được thu về khi các nơi tôn nghiêm ấy bị sập đổ , bị bom đạn chiến tranh , bị phá dỡ hay biến thành nhà kho , văn phòng hợp tác xã , hoặc tượng bị thu giữ chuẩn bị hủy trong phong trào chống mê tín dị đoan và nhiều hoàn cảnh xót xa khác .

Số khá lớn đồ cổ khác nữa của Bảo tàng Hà Nội do các cơ quan quản lý văn hóa và bảo vệ pháp luật ( Công an , hải quan , quản lý thị trường ) chuyển giao . đó là kết quả điều tra và khám phá các vụ buôn lậu đồ cổ ra nước ngoài . Trong số đồ cổ chuyển giao , có đôn nghê bằng đồng trị giá hàng triệu đô la Mỹ , nhưng năm 1991 bọn buôn lậu đã đem bán cho một người nước ngoài với giá 50.000 USD , cơ quan công an kịp phát hiện và thu lại được . Hoặc như bộ Long Đỉnh Bát Tràng , các đỉnh sứ , lục bình cao 1,40m có niên đại thế kỷ XIV, vv…. Cũng tịch thu được từ bọn buôn lậu .

20 trống đồng Cổ Loa cũng được tàng trữ tại kho cổ vật này . Chúng được tập hợp từ 20 địa điểm khác nhau , vơi những bối cảnh riêng biệt .Đây là bộ sưu tập vô cùng quý giá , khá hoàn chỉnh về trống đồng Cổ Loa ( từ thời An Dương Vương về sau ) mà không nơi nào có được , kể cả viện Bảo Tàng Lịch Sử Việt Nam (Bác Cổ , Hà Nội ) .

Cho đến nay công việc phân loại cổ vật của viện Bảo Tàng Hà Nội mới tiến hành được chưa quá 2/3 số cổ vật chưa lập hồ sơ , phân loại còn hơn 2.000 đơn vị . Hiện trạng đó cần phải khắc phục , nhưng do những  khó khăn thực tế về tài chính và cơ sở vật chất . Thêm vào đó , viện chưa có một địa điểm trưng bày nên cổ vật vẫn bị ‘’giam’’trong hầm kín ! bao trùm lên hết thẩy các trở ngại ấy là yêu cầu bảo vệ an toàn đối với cổ vật quốc gia một khi đem ra trưng bày , giới thiệu rộng rãi .

Bà Lê Kim Nguyên cho biết : cổ vật có giá trị rẻ nhất cũng khoảng  8 triệu đồng . cái đắt nhất cũng tính đến triệu USD . Nhưng theo bà , đồ cổ còn có một giá trị khác , rất cao , không thể định giá bằng tiền bạc . Chúng là nguồn tài liệu ( hiện vật ) hết sức quý  giá cho những người nghiên cứu lịch sử , văn hóa , khảo cổ học .Chúng góp phần quan trọng  cho việc hoàn thành nhiều công trình , đề tài nghiên cứu khoa học về quá khứ .

Vậy thì cổ vật Bảo Tàng cần đem ra giới thiệu cho công chúng , nó không thể bị ‘’ giam ‘’ , nhưng phải giữ gìn và bảo vệ nghiêm ngặt .

2/ Những cổ vật men Celedon ( Xêladong ) ở Hòn Dầm , Phú Quốc .

Khoảng 200 loại đại diện cho 15.359 đơn vị cổ vật ( đồ cổ ) tất cả đều là gốm men Celadon , trục vớt ở biển ven Hòn Dầm . Phú Quốc ( Kiên Giang ) đã được đem triển lãm tại Bảo Tàng Mỹ Thuật Thành Phố Hồ Chí Minh , khai mạc vào ngày 1-9-1993 .

Kho tàng gốm cổ có giá trị này do tỉnh Kiên Giang và luên hiệp Xí Nghiệp trục vớt cứu hộ ( Visal) không có liên doanh với một công ty nước ngoài nào ,  trục vớt tại Hòn Dầm vào năm 1991 . Khu vực tàu chìm tương đối cạn , chỉ khoảng 20m bề sâu , nên việc trục vớt thuận lợi . Đây là cuộc trục vớt đồ cổ tàu đắm tại Hòn Dầm có quy mô và bài bản nhất , cũng là lần vớt triệt để các cổ vật trong con tàu đắm này .

Nói lần vớt quy mô , bài bản và triệt để nhất , bởi trước đó cổ vật ở đây đã được dân vớt khá tự do sau khi phát hiện ra ‘’ kho báu ‘’ .

Trở lại khởi điểm cách đây khoảng 20 năm , có vài ngư dân ở Phú Quốc , có lần đã câu được … cái tô! Lưỡi câu của họ mắc vào cái tô dính hầu (hà ) . Họ cho rằng cái tô đó của ‘’bà’’ của ‘’ cậu ‘’ nên vội khấn vái và thả xuống biển để trả ‘’thần ‘’ .Trong số họ . có người táo tợn hơn mang về nhà , như ông Nguyễn Văn Hoành ( xóm 3 , ấp 1 , xả An Thới , Phú Quốc ) cũng chỉ dám để trên bàn thờ làm đồ thờ .

Thời gian qua đi , câu chuyện những cái tô kỳ lạ như truyền thuyết chắc không còn làm cho ngư dân trong vùng biển Hòn Dầm chú ý , nếu không diễn ra sự  kiện mới . Đó là sự kiện các cổ vật trục vớt ở Hòn Cau , Côn Đảo được đem đấu giá tại Amstredam được 6,7 triệu USD vào năm 1990 , làm xôn xao dư luận . Thế là các thợ lặn ở Phú Quốc thi nhau đến vùng ông Đực vớt đồ tàu đắm .Họ vớt lên rất nhiều đồ gốm và tiền cổ . Đồ vớt được đem bán rẻ như ở chợ An Thới .Cấp ủy xã An Thới thấy vậy , đã kịp thời báo cáo lên huyện . Lãnh đạo huyện không hiểu hết giá trị  các đồ vật ấy ,cho là vật bình thường , nên không đánh thuế và để cho dân vớt bán tùy ý . Ngay cả một số đơn vị , cơ quan ở địa phương cũng đi vớt đồ cổ , bán gây quỹ . Bán 3 lô gốm cổ đi gán nợ , bình quân mỗi cái chỉ 5.000 đồng . mà chủ nợ cũng không nghe !

Đã có bao nhiêu đồ cổ được mò vớt tự phát và mua bán tự do như thế  , đến nay vẫn chưa ai thống kê được .

Đầu tháng 5 năm 1991 , các cơ quan hữu trách của tỉnh Kiên Giang đã kiểm tra đánh giá tình hình nói trên và cho tiến hành trục vớt . Kết quả thật bất ngờ . Trừ những chiếc bị vỡ hỏng  còn lại 15.539 cổ vật gốm Celadon đã được vớt lên nguyên vẹn , cùng với chiếc ngà voi ( sơ chế , đường kính 2,5 cm  dài 20 cm ) 7 cục thiếc lớn , 8 trong 10 đồng tiền cổ còn nguyên (  hình tròn có lỗ vuông ) mang dòng chữ Hoàng Tông thông bảo , Chí Nguyên thánh bảo , Tường Phù thông bảo , Vĩnh Lạc thông bảo đều của Trung Quốc đương thời ) .

Gốm men Celadon ở Hòn Dầm là một loại gốm rất quý thời Tống – có màu xanh lá cây nhạt , có điểm lấm tấm như hạt bụi – gọi chung là gốm Tống .

Thợ gốm Trung Quốc thời nhà Tống ( 980 – 1279 ) phát hiện và sử dụng men ấy để trang các loại tô , bát đĩa , bình chậu , thống …. Thoạt đầu thợ giỏi sản xuất gốm tập trung ở Hồ Nam .Bị quân Kim đánh chiếm , thợ Bắc Tống , nhất là thợ gốm hoàng gia phải chuyển tới Hàng Châu để tiếp tục sản xuất , đồng thời cũng xuất hiện một số lò gốm tại Thổ Cương .

Năm 1279 nhà  Tống bị tiêu diệt ‘’ theo một vài sách kể , thì thợ gốm di thần nhà Tống , không khứng phục nhà Nguyên , đã kéo đi lập nghiệp nơi ba chỗ khác nhau đều có sản xuất Celadon , đó là : Cao Ly Quốc , An Nam Quốc ( vùng Thanh Hóa ) và Xiêm La quốc ( vùng Sanvankhalog ) .

Các loại gốm Tống . do hình dáng và màu men độc đáo , ngay thế kỷ 15 đã được ưa chuộng ở vùng cận Đông  , và sau đó , bắt đầu xuất hiện tại thị trường Châu Âu vào thế kỷ 17 . Ở Pháp dưới thời vua Louis 16 ( 1774- 1791 ) , loại gốm này trở thành món hàng thời trang của giới quý tộc cung đình và thị dân khá giả . Người ta đặt cho nó cái tên Pháp là gốm Celedon ( celadon là tên chàng rất lãng mạn trong cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của nhà văn Honoré d’Urté – ý nói là đồ gốm lãng mạn ) .

Trở lại cổ vật gốm Celadon ở Hòn Dầm . Theo kết quả giám định của hội đồng giám định cổ vật thuộc Bộ Văn Hóa – thông tin các đồ gốm này được kết luận  : Chúng xuất xứ từ Thái Lan , do Thái Lan sản xuất vào thời kỳ đầu thế kỷ 15 .

Văn phòng chính phủ nước ta chỉ thị giữ lại cho Bảo Tàng Lịch Sử Trung Ương , Bảo Tàng Mỹ Thuật và Bảo tàng Kiên Giang mỗi nơi 2 bộ  , bao gốm các bộ gốm nguyên vẹn ( lành lân , men bóng , sang ) và tiền cổ vớt ở Hòn Dầm .Tổng số đồ gốm giữ lại là 126 chiếc , tiền cổ không nhiều lắm , được lựa chọn kỹ càng , đánh ký hiệu lưu trữ và dĩ nhiên được bảo vệ lâu dài .Số cổ vật còn lại , chiếm phần lớn , tới hơn 15 nghìn chiếc được đem trưng bày và bán trong nước , nước ngoài .

Kết Quả giám định về xuất xứ đồ gốm cổ ở Hòn Dầm của cơ quan chức năng ngành văn hóa chưa làm cho một số nhà nghiên cứu gốm cổ nhất trí . Người ta còn nghi vấn về xuất xứ các cổ vật này . Trên tờ Nguyệt san Thanh Niên ( số 32 , tháng 11 -1993 ) tác giả Q.H ( khg ký rõ tên ) nêu lên nhận xét và quan điểm của mình về sự ‘’ nghi vấn ‘’ ấy .

‘’ Đồ gốm Tống …. Vào thế kỷ 15 được sản xuất tại 4 nơi : Trung Quốc , Cao Ly ( Triều Tiên ) Savankhalog ( Thái lan ) và Thanh Hóa ( Việt Nam ) . Đồ Tống Thanh Hóa rất mỏng manh . nhẹ làm bắng đất nung , men ngà ngà và bóng , không có ánh kim sa . Cao Ly quốc ở quá xa vùng biển Phú Quốc , như thế đồ cổ vớt được ở Hòn Dầm chỉ có thể là gốm Trung Quốc hoặc Savankhalog .

‘’ Vậy căn cứ vào đâu để phân biệt hai loại đồ gốm cùng cấu trúc , cùng hình dáng , cùng có màu men Celadon đặc trưng này ? Nếu đúng là thuyền Thái Lan , tại sao trên thuyền chỉ có tiền cổ Trung Quốc tương ứng với thời gian tiền ấy được sử dụng ? Theo chúng tôi biết , lúc ấy ở Việt Nam không dung tiền Hán để trao đổi mua bán ! và dẫu sao , thủy thủ nước nào cũng phải ‘’lận lưng’’ vài đồng bạc của mình . Lại nữa , nếu thuyền Thái Lan chở đồ về hướng Phú Quốc , thì chắc chắn không phải để xuất khẩu sang vùng Cận đông  hoặc Phương Tây …Một đoàn du khách nước Đức ( do cán bộ VN hướng dẫn ) đến thăm nơi trưng bày cổ vật Hòn Dầm ( vào ngày 4- 9-1993 ) , nhận xét : ‘’ Đây là đồ cổ Trung Quốc “” .

Toàn bộ gốm cổ này đều bằng chất liệu nặng màu trắng , hoặc phủ một lớp men Celadon có trang trí hoa văn chìm hoặc để trơn ( không tráng men , không hoa văn ) . Chúng đều được nặn bằng một thứ nguyên liệu : sa thạch , có thể chia thành 7 chủng loại  chính , mỗi chủng loại được dung 3 loại nguyên liệu đất khác nhau , tạo thành các sản phẩm có trong lưỡng và kích thước khác nhau . Như vậy , 15.359 món đồ cổ này bao gồm 21 loại khác nhau .

Mặc dù vẫn chưa thống nhất về xuất xứ của ‘’kho báu ‘’ Hòn Dầm , từ Thái Lan hay từ Trung Quốc , nhưng về giá trị của nó thì ai cũng thừa nhận là quý và cổ . Đây là kho cổ vật quý , có thể làm phong phú thêm kho tàng cổ vật của nước ta , mặt khác , đã đem lại số tiền , nhất là ngoại tệ mạnh cho ngân sách nhà nước .

Việc giới thiệu , trưng bày các cổ vật này ( chủ yếu là đồ gốm Celadon ) có ý nghĩa tích cực , góp phần nâng cao kiến thức về một loại đồ cổ rất quý giá : gốm Tống hay gốm men Celadon .

II / THÚ CHƠI ĐỐ CỔ

Một thú chơi sang trọng , thanh tao , thi vị phát sinh trong xã hội loài người ở khắp nơi trên thế giới từ rất lâu đời là thú chơi đồ cổ .

Ngoài Trung Quốc có bản tính hiếu cổ .Các triều vua thời Đường , Tống , Minh , Thanh đều thích sưu tầm cổ vật quý  , như cổ khí , văn vật từ thời Hạ , Thương , Chu … để làm quốc bảo vật . Còn ở phương Tây , các nhà cầm quyền và giới quý tộc phong kiến , ngay từ thế kỷ XV , đã say mê tìm kiếm các loại cổ vật của phương Đông .

Thú chơi đồ cổ ở Việt Nam nảy sinh từ khá sớm .Có lẽ nó có nguyên nhân chủ quan và khách quan sau đây :

1/Nhu cầu thưởng ngoạn , giải trí của vua chúa , của các nhà quyền quý , của các nghệ nhân , trí thức nước ta .

2/sản phẩm thủ công cao cấp của ta rất đẹp , được làm từ rất xa xưa , nhiều loại không thua kém Trung Quốc , Nhật Bản .

3/Nhiều sản phẩm thủ công tuyệt hảo của nước Trung Quốc làng giềng sớm du nhập vào Việt Nam .

Dưới chế độ quân chủ chuyện chế , đồ cổ và các vật quý khác ( vàng , ngọc , ngà …) đều giành riêng cho vua và quan lại cao cấp sử dụng . Ngay cả những của ngon vật lạ , sơn hào hải vị , đặc sản quý đều phải cung tiến vua và triều đình phong kiến theo quy định . Vì vậy , dân gian gọi nhiều loại đặc sản do mình làm ra là ‘’tiến ‘’như  nhãn tiến (nhãn lồng ) vải tiến ( vải thiều ) , vv…Luật lệ cũ của triều đình không cho phép thường dân xây dựng nhà cửa to lớn , không sử dụng đồ vật sang trọng , quý báu như của vua , chúa và những người có phầm hàm , chức tước . Nhân gian nếu có đồ cổ , vật quý đều phải nộp cho triều đình , hoặc phải cúng kiến vào chùa chiền , đền miếu làm đồ thờ cúng .

Trước kia đồ cổ không phải là vật phẩm để chơi cho tất cả mọi người , như quan niệm ngày nay .

Mãi đến cuối thế kỷ XIX , khi d8a6t1 nước ta hoàn toàn rơi vào tay thực dân Pháp , mọi trật tự xã hội và quan niệm truyền thống bị đảo lộn , thay đổi , uy quyền của vua chúa mất dần , nhà nước phong kiến suy yếu , thế lực địa chủ , thương nhân mạnh dần lên .Chính những người mới phất lên thành  giàu sang này đã nghĩ đến việc chơi đồ cổ .Bởi vì bấy giờ mới có điều kiện cả về kinh tế cả về xã hội để họ thực hiện mong ước của mình , cũng là mơ ước lâu đời của người dân .Do có tiền và muốn chơi sang , để chọi lại giới quyền quý xưa , cũng là để giải trí , những người chơi đồ cổ hồi bấy giờ cố công sưu tầm cổ vật quý Việt Nam và tìm mua đồ gốm sứ , hoặc các loại đồ gỗ gia dụng quý giá của Trung Quốc , sản xuất vào các thời Minh – Thanh . Họ bày  biện , trang trí nhà cửa bằng những đồ cổ ấy , nhiều khi được lựa chọn kỹ càng và sắp xếp theo yêu cầu mỹ thuật rất cao , nhằm tạo ra vẻ mỹ cảm đặc biệt hoặc nhấn mạnh sự giàu sang . Từ đó , thú chơi đồ cổ dần dần lan rộng trong nhân dân . Những kiến thức mới về khảo cổ và mỹ thuật được giới trí thức tân học tiếp thu rồi phổ biến trong dân chúng .

Từ cuối thế kỷ XIX đến những năm đầu thế kỷ XX , do kết quả của khảo cổ học , dân tộc học và nghiên cứu văn hóa song song với hoạt động của Viện Viễn Đông Bác Cổ ( Hà Nội ) và Hội Đô Thành Hiếu Cổ ( Huế ) các viện bảo tàng được thành lập ở Bắc Kỳ , Trung Kỳ và Nam Kỳ đã mở các cuộc triển lãm cổ vật giới thiệu những di sản văn hóa của dân tộc cho công chúng thưởng thức .

Tại kinh đô Huế , dưới triều Khải Định ( 1916 – 1925 ) , Viện bảo tàng Khải Định được mở ra . Bảo tàng này đã trưng bày các bảo vật của Hoàng gia , vốn trước đó được cất giữ bí mật .Cần nói them rằng : Khải định là ông vua rất ham thích đồ cổ . Dưới thời ông , các đại thần , quý tộc , hoàng thân quốc thích đều thi nhau chơi đồ cổ . Trong các nội phủ , các dinh thự vàng son , đồ cổ không chỉ để bày biện , trang trí , mà còn được dùng trong cúng tế , yến tiệc và cả trong sinh hoạt hàng ngày . Hơn nữa , ngay tại đất cố đô , nghề buôn đồ cổ được phép hoạt động . Lúc ấy , các nhà buôn đồ cổ tiếng tăm lừng lẫy ở Huế là các ông Tham Hòa , Nghè Hưng , Cửu Sung .

Trong thời gian ấy ở Bắc Kỳ , các nhà chính trị và giới thương gia cũng đua nhau chơi đồ cổ . Những viên quan khét tiếng như khâm sứ Hoàng Cao Khải  , tổng đốc Hoàng Trọng Phu , tổng đốc Nguyễn Văn Định … trưng bày la liệt kỳ trân , bảo vật trong nhà , ngoài sân dinh thự nhằm thỏa mãn thú chơi quyền quý , cao sang một thời .

Ở Hà Nội , trong giới chơi đồ cổ là các thương gia những năm đầu thế kỷ , đến nay người Hà Nội vẫn cón nhắc tới tên tuổi : Ông Hương Ký ( chủ hiệu ảnh Hương Ký ) ông Nguyên Ninh ( chủ doanh nghiệp bánh cốm Nguyên Ninh ), ông Mỹ Thắng ( phố Hàng Bạc ) và hai nhân vật nữ không kém nổi tiếng là bà Bé Tý , cô Tư Hồng . Các ông Hương Ký , Nguyên Ninh , Mỹ Thắng đều rất sành về đồ cổ , có những bộ sưu tập quý hiếm .

Đặc biệt , ở phố Hàng Trống lúc bấy giờ , có nhà buôn đồ cổ lừng tiếng Hàn Liên . Cụ là người kỳ cựu trong nghề buôn bán cổ vật , mà tiếng tăm đã vang khắp nơi trên Đông Dương và tới tận Pari , thủ đô nước Pháp .

Còn trên đất Nam Bộ , thú chơi ‘’đồ xưa’’ cũng lan rộng trong nhân dân từ thành thị đến thôn quê . Ở Sài Gòn thời Pháp thuộc , nổi tiếng sành chơi cổ vật hơn cả bà Đốc Phủ Hà Minh Phải . Trên đất Vĩnh Long cũng có ông Phán Nuôi được người đương thời mệnh danh ‘’ đệ nhất về đồ xưa ‘’ . Tại đường Catinat ( nay là đường Đồng Khởi , TPHCM )  có tiệm Pháp Vũ chuyên bán đồ cổ .Tiệm này chuyên cung cấp các đồ quý lạ cho những người sành điệu . Ở Chợ Lớn bấy giờ cũng có nhà buôn Chánh Đào Ngọc chuyên cung cấp các loại bình thường cho người miệt vườn vùng Lái Thiêu và các tỉnh miền Tây Nam Bộ .

Như vậy , thú chơi đồ cổ cũng như thú chơi non bộ và cá cảnh Việt Nam phát triển rộng rãi từ Bắc đến Nam ăn sâu bắt rễ trong nhân dân , đem lại niềm say mê mỹ cảm rất lành mạnh . Đồ cổ không chỉ đẹp , mà còn quý hiếm , cho nên việc chơi đồ cổ thường đi liền với việc buôn bán đồ cổ . Có thể nói các nhà chơi đồ cổ và các nhà kinh doanh đồ cổ bao giờ cũng là người có công sưu tầm và bảo quản các đồ vật . Tính sôi động của thị trường đồ cổ , phần đông là thị trường ngầm lắt léo và phức tạp sẽ được nói tới ở phần sau . Còn bây giờ ta hãy tìm hiểu thú chơi , kiểu chơi đồ cổ của người Việt Nam .

III/ CÁC TRƯỜNG PHÁI CHƠI ĐỒ CỔ

Nhìn chung ở nước ta có hai trường phái chính : Trường phái cổ đồ và trường phái sưu tập .

1/ Trường phái cổ đồ :

Chơi cổ đồ là dùng đồ cổ để bày theo đúng quy cách mỹ thuật cổ điển . Những người thuộc trường phái này luôn thấm nhuần tư tưởng triết học và quan niệm thẩm mỹ phương Đông cổ .

Cách chơi này phổ biến ở miền Bắc , phần nào chịu ảnh hưởng truyền thống Trung Hoa , nó toát lên phong cách tao nhã , triết lý sâu xa . Nhưng vẫn rất đậm nét ngầm phô trương chủ nhân là người cao sang , giàu có .

Để bày đồ cổ , người ta không đòi hỏi phải có nhiều hiện vật , mà chỉ đòi hỏi phải có vài thứ đồ cổ đích đáng , hội đủ ba điều kiện : ‘’ cổ , quý , kỳ ‘’ . Đồ phải thật sự là cổ , càng xa xưa càng hay . Đồ càng xưa càng quý . Nhưng chúng phải là loại sản phẩm kỳ lạ , tức là chất liệu và tạo dáng phải thật độc đáo . Những đồ cổ đẹp , đơn chiếc , có một không hai thường được người chơi ưa chuộng  nhất .

Món đồ được chọn phải toàn bích , men màu , kích thước , hình dáng phải hoàn hảo , nhìn ngắm kỹ hoặc dùng kính lúp để soi đều không thể chê điểm nào được .

Nghệ thuật trưng bày đồ cổ để thưởng ngoạn đòi hỏi một bối cảnh không gia hài hòa , vừa thoáng đãng , sang sủa , vừa có vật cảnh tạo nền .Thông thường , người ta tạo nền bằng các đồ gỗ cổ hoặc giả cổ tạo tác tuyệt khéo và hài hòa .Nền có tác dụng làm nổi bật các thứ đồ cổ , làm tang them giá trị nhiều mặt cũa chúng .Quan trọng  nhất là chủ nhân phải thông hiểu nghệ thuật trang trí Trung Quốc thời cổ với những bài bản ,  quy tắc của nó ở từng thời đại , thông hiểu phong cách nghệ thuật trang trí cổ Việt Nam , có kiến thức cần thiết về đồ cổ nói chung ,  hay ít ra cũng phải am tường loại đồ cổ mà mình quan tâm .

Người chơi ‘’cổ đồ ‘’thường chỉ đem những món độc đáo và quý giá nhất ( món ruột ) ra bày vào dịp lễ tết , hay những dịp quan trong khác , để giới thiệu với quý khách , bạn bè tri âm , tri kỷ . Chủ nhân cho đốt đỉnh trầm xông hương , tự tay pha trà , chuốc rượu mời khách . trong không khí thân tình và trang trọng ấy , chủ khách cùng nhau thưởng thức đồ cổ , săm soi phẩm bình , có chen thơ phú , xướng họa , tận hưởng cái thú tiêu dao , nhàn tản đầy thi vị như tao nhân mặc khách xưa .

2/Trường phái sưu tập

Trường phái sưu tập là một khuynh hướng lớn thứ hai ở Việt Nam của giới chuyên chơi đồ cổ  . Chơi đồ cổ theo cách này là người chơi phải tự chọn và quyết định sưu tập hiện vật theo một đề tài mà mình ưa thích .

Đề tài để sưu tập rất nhiều .Chủ nhân , nghệ nhân chỉ có thể chọn một lĩnh vực nào đó , như đề tài gốm Lý , Trần ( theo triều đại lớn ) bình vôi , ấm trà , hoặc gốm men ngọc , gốm hoa lam ( theo loại hình ) , khắc gỗ , khắc đá , tượng gỗ ( chất liệu – loại hình ) ,vv…

Người sưu tập theo trường phái này không đòi hỏi phải có điều kiện kinh tế quá cao , cũng không hẳn phài có kiến thức sâu sắc về lịch sử Trung Quốc như những  chủ nhân thuộc phái cổ đồ .Điều cần thiết nhất là phải bền chí và có nhiều thì giờ . Bởi vì đã là người chơi đồ cổ , nhất là người sưu tập cổ vật thì ai cũng mất thời gian tìm kiếm những thứ vốn vô cùng hiếm hoi , phải đi nhiều nơi , giao thiệp rộng , có những hiện vật xưa rất rẻ như loại bình vôi chẳng hạn . Nhưng khi những vật dụng ấy được tập hợp lại  thành bộ , thành một hệ thống chúng trở nên vô giá !.

Người sưu tập thường có tính kiên trì , ngày nay qua ngày khác , năm nay qua năm khác nhặt nhạnh , tìm kiếm cổ vật , nhất là những đồ thuộc đề tài ưa thích của mình . Tiếp cận thường xuyện với hiện vật , cố gắng tích lũy kiến thức qua sách báo và tiếp xúc trao đổi với các nhà sưu tầm , nghiên cứu khoa học đã thành một nhu cầu của người sưu tập đồ cổ . Điều kiện ấy đã dễ dàng đưa họ bước vào lãnh vực nghiên cứu chuyên sâu .

Phần thưởng quý nhất giành cho người sưu tập là bản thân mình hoàn thành bộ sưu tập độc đáo , được dư luận và đồng nghiệp đánh giá cao , hay tình cờ phát hiện ra những điều bí ẩn trong món đồ cổ do mình có được sau bao năm âm thầm góp nhặt ‘’ đãi cát tìm vàng ‘’ .

Trường phái sưu tập một thời cực thịnh ở miền Nam . Nó ảnh hưởng  phương pháp Âu – Mỹ  . Người sang lập phái này là nhà sưu tập Vương Hồng Sển , giáo sư Dương Minh Thới và kỹ sư Dương Văn Khuê , họa sĩ Nguyễn Văn Rô , nhà văn Ngọc Sơn .vv…là những môn đệ xuất sắc của các lão sư  ấy . Những ai từng tiếp xúc , trao đổi đều cảm nhận ở các vị sự lịch duyệt và uyên bác trong chuyên môn , cũng như trường đời . Chính họ đã sưu tầm , gìn giữ cho Sài Gòn  – Gia Định nói riêng , cho nước nhà nói chung những bộ sưu tập đồ cổ tuyệt kỹ .

Cụ Vương Hồng Sển là người được giới sưu tập quý trọng nhất , do công lao sưu tầm hiện vật và nghiên cứu khoa học . Những công trình nghiên cứu và trước tác của cụ trong nửa thế kỷ nay đã trang bị cho các nhà sưu tập nhiều kiến thức về đồ cổ , đồng thời cũng cổ vũ những thế hệ sau rất mạnh mẽ . Năm 1991 , nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh đã cho ấn hành cuốn sách Khảo Cứu Về Đồ Sứ Cổ Trung Hoa , một trong những cuốn sách có giá trị của Vương Hồng Sển , được các nhà nghiện cứu và sưu tầm gốm sứ đánh giá cao .

Thú chơi đồ cổ , xét cho cùng , là một thú chơi mang tính văn hóa – nó không những có ích cho bản thân , gia đình , mà còn có ích cho xã hội . Không ít bọ sưu tập của tư  nhân đã trở thành nguồn bổ sung cổ vật cho các bảo tàng của nhà nước .

Khi trong nước có nhiều người dân hiểu giá trị quý báu của đồ cổ , say mê đồ cổ và ra sức sưu tầm , bảo quản chúng thì có thể giảm bớt tệ nạn ‘’ chảy máu đồ cổ ‘’ của ta ra nước ngoài .

 

Thạc Sĩ Bùi Văn Vượng

 

 

*MỤC LỤC – GIẢI TRÍ – THƯ GIÃN

 

 

 

Advertisements

Read Full Post »

DANH MỤC TỔNG HỢP

*MỤC LỤC – GIẢI TRÍ – THƯ GIÃN

1/TRUYỆN NGẮN PHIẾM LUẬN VỀ CỔ VẬT

2/ TRUYỆN SƯU TẦM DỊCH , TRUYỆN TÁN GẪU

Read Full Post »

Vương Hồng Sển

Vương Hồng Sển thích chơi đồ cổ hơn thích viết. Trong bài dưới đây, ông cho hay: “trước năm 1945, tôi không viết chi hết, lấy tôn chỉ văn người hay hơn văn mình, mua sách đọc sướng hơn, và tội gì bôi lọ mấy tờ giấy trắng. Nhưng từ chạy lên Gia Ðịnh, bụng đói tôi mới bắt đầu viết để kiếm thêm miếng cà và miếng cơm. Tóm lại tôi ham đọc văn người để học thêm, và cùng cực khi nào tôi biết chắc một vấn đề nào và cần thiết lắm, khi ấy tôi mới cầm viết.”

“Khi nào…”, vậy mà cũng nhiều khi. Ông Vương để lại không phải ít sách. Sách nào cũng viết bằng một giọng cởi mở, thân mật, “bông thùa”. Ông viết tự nhiên đến nỗi, sau khi trình bày gốc tích chiếc bình “Hồng Võ niên chế”, ông tiện bút dặn dò con: “Ðối với con là Bảo, đây cũng là lời dặn riêng chớ xem thường một vật phải có diễm phúc lạ mới có được trong nhà. Vương Hồng Bảo, con nên nhớ.”!

Cổ bình đặc biệt, mà “tân văn” cũng đặc biệt quá đi chớ.

(Thu Tứ)

 

Cổ bình Hồng Võ…

Ông Châu Nguyên Chương, năm 1368, đánh đuổi được quân Nguyên ra khỏi Trung quốc, lên ngôi hoàng đế, đổi quốc hiệu là Minh, đóng đô ở Kim Lăng (Nam kinh ngày nay), gọi là Ứng Thiên phủ, lấy đất Khai Phong làm Bắc kinh. Ở ngôi được 30 năm (1368-1398). Ấy là Minh Thái tổ (Hồng Võ).

Với chiếc lộc bình “con sáo” còn sót lại này, nếu tôi chứng minh được nó là cổ vật chơn chính, không phải đồ giả hiệu, thì tuổi nó là:

cao niên nhất, lấy năm đầu Hồng Võ mà tính thì được 1971 – 1368 : 603 tuổi.

thấp nhứt, lấy năm chót Hồng Võ (1398) mà tính, thì cũng được: 1971 – 1398 : 573 tuổi.

Nay, thực tế mà nói, cứ tính mỗi năm mướn một người gìn giữ nó, theo giá tiền kim thời, nếu người ấy chịu giữ nó với giá một ngàn đồng một tháng thôi, thì trong 603 năm, tức 7276 tháng, dòng họ người đó, từ ông sơ ông sờ ông sẫm cho đến ngày nay, sẽ lãnh được tiền công là 1000$ x 7276 : 7 triệu 276 ngàn đồng.

Không nữa trong 573 năm, tức 6876 tháng, cũng lãnh 6.876.000 đồng.

Ấy là chưa kể tiền mua bình, và số tiền ấy sanh hoa lợi đến năm nay biết là bao nhiêu mà kể.

Thế mà tôi mua nó ở Sa Ðéc, ngày 24-1-1933 giá có bốn chục đồng (40$00), như vậy, các bạn đã thấy sự ích lợi của thú chơi đồ cổ chưa, và giá thử năm nay tôi bán và tôi thách 10.000.000$ thì cũng chưa phải là điên, vì một tấm tranh cổ đời Minh rõ ràng đấu giá có người mua đến mười triệu bạc kia mà! (Nhưng tôi nói đây là tỷ dụ chơi, xin các ông sở thuế chớ tin rằng thiệt.)

Trong giới chơi đồ cổ, đồ đời Minh đã là hiếm có lắm rồi. Thường thường có thể gặp trong vài viện bảo tàng lớn ở Anh, ở Pháp, ở Mỹ, ở Nhựt, một vài món Minh chính cống, kỳ dư đồ giả hiệu Thành Hóa (1465-1487) vẫn có bán ngờ ngờ, nhưng chính bên Nhựt Bản, tôi cũng chưa từng nghe nói có tàng trữ cổ vật Minh Hồng Võ. Nhưng bán giá bạc triệu không phải dễ, phải đủ bằng chứng, có lẽ họ mới tin, còn mua hay không là việc khác.

Nhưng xin các bạn rán chịu đọc tiếp. Tạm thời, tôi dám tuyên bố: “Bình này quý lắm, đáng gọi là “độc nhất vô nhị”, hoặc “cổ kim hy hữu”.”

Tôi viết đến đây nhớ mấy ông Ðạo Chích, ông nào thính tai, cũng đừng bận rộn rình nhà vô ích, vì lấy ra được thì chiếc bình đã bể và trở nên vô giá trị, thà để vậy cho tôi làm tài liệu viết sách còn hơn.

Và xin cho phép tôi dài dòng thơ thẩn, để rọi sáng vấn đề.

Gốc tích. – Năm 1931, tôi để ý cái lục bình này, tại mé sông Tân Qui, châu thành Sa Ðéc, nơi nhà một ông thợ bạc họ Phạm, nay đã quá cố.

– Năm 1932, tôi theo dõi và hỏi thăm các bạn quen biết nhưng chưa dám giáp mặt ông chủ chiếc bình, tuy đã có xin xem mấy lần.

– Năm 1933 tôi đổi về quê nhà Sóc Trăng, và ngày 24 tháng giêng Tây, tôi đã làm chủ thiệt thọ chiếc bình, khi ấy tôi mới dốc lòng tra tầm lý lịch của nó.

– Ðến năm nay 1971, tôi mới viết ra bài này. Từ trước năm 1945, tôi không viết chi hết, lấy tôn chỉ văn người hay hơn văn mình, mua sách đọc sướng hơn, và tội gì bôi lọ mấy tờ giấy trắng. Nhưng từ chạy lên Gia Ðịnh, bụng đói tôi mới bắt đầu viết để kiếm thêm miếng cà và miếng cơm. Tóm lại tôi ham đọc văn người để học thêm, và cùng cực khi nào tôi biết chắc một vấn đề nào và cần thiết lắm, khi ấy tôi mới cầm viết.

Như đối với chiếc lục bình này, tôi biết đã khá nên xin chất vấn hải nội quân tử, chờ được dạy thêm.

Ðối với con là Bảo, đây cũng là lời dặn riêng chớ xem thường một vật phải có diễm phúc lạ mới có được trong nhà. Vương Hồng Bảo, con nên nhớ.

Kích thước. – Chiếc bình đo bề cao 0m 45

Kinh tâm trên miệng 0m 15 (đo phủ bì).

Kinh tâm nơi đáy (đít): 0m 17.

Nơi hông, chỗ rộng hơn hết, đo được 0m 21.

Giá mua: bốn chục bạc, bạc năm 1933 (kinh tế khủng hoảng, giá lúa 0$90 một tạ).

Ngày mua và nơi mua: Mua ngày 24-1-1933 ở Sa Ðéc, nhờ ông phủ Võ Văn Nhiễu chở về giùm.

Số mục lục: 64 VHS. (Xem hình nơi tập H.C.Ð.S. số 4) pl 28-29 fig 28A-28B).

Hình dáng. – Hình dáng rất thanh và cân xứng, không lỏng chỏng, không ô dề, chuộng bề thế vững chắc. Nói theo giọng chuyên môn Âu-Mỹ, bình này quả có một vẻ chơn thật bình thường (honnête et simple), rất cổ điển, y như muốn nhái một bình đời Thương qua Hán, bằng đồng đen. Quả hình dáng có duyên, không hào nháng se sua, cũng không quá cổ lỗ, thấy chiếc bình đủ tin đứng trước một cổ vật đặc sắc, có chơn giá trị.

Từ trên tả xuống: trên vành miệng có một viền hồi văn đắp nổi (xem Pl. VIII, kiểu hồi văn A), đây là những kiểu đầu như ý (modèle de tête de sceptre), đặt kế nhau theo thể cách giao liên, cái này nối tiếp cái kia, thành một đường dài y một kiểu, ta gọi những đầu như ý liên tiếp ấy là “dây hoa sòi” hay “dây sòi”. Theo sách, “sòi” là hình đầu chiếc nấm linh chi, mỹ thuật hóa thêm cho đẹp. Sòi, nay còn thấy thêu trên gấm Trung Hoa hoặc vẽ trên trang sách quí hay trên cổ những chóe Khang Hy, nét vẽ đan thanh, chỉ chừa nhiều khoảng trống để khoe sắc đẹp của da trắng sành trứng diệc (blanc “oeuf de héron”).

Tiếp theo miệng bình, và trên cái hông bình, có một khúc thắt nhỏ lại, quen gọi “cái cổ của chiếc lộc bình”. Nơi khúc cổ ấy, hai bên tả hữu, có đắp nổi hai nhánh mai, nhánh màu đen luốt luốt, bông năm kiếng trắng bạch, cả hai nhánh đắp dộng đầu, cuống trở lên, đọt và hoa trở xuống, kiểu ấy gọi “mai chiếu thủy”. Dưới cái cổ, tiếp hai đường viền hồi văn màu đồng đen, chỉ đắp nổi, đường viền trên là hồi văn chữ S nằm trái trả.

Ðường viền dưới nhái trở lại dây sòi “đầu như ý” y một kiểu với hồi văn đắp trên miệng (xem Pl. VIII, kiểu hồi văn B).

Dưới hai đường hồi văn màu đồng đen này là tới cái hông bình. Hông này, một phía không vẽ vời, cốt để khoe men đẹp và cái đẹp của da rạn, vừa rạn da rắn (craquelé en peau de serpent), vừa men màu hột vịt lộn (couleur “oeuf pourri”).

Phía bên kia của chiếc bình, vẽ tích “mẫu đơn điểu”, nhưng cách vẽ cũng không giống các cổ bình tôi thường thấy. Trên cổ bình, thường ký niên hiệu “Thành Hóa” thường vẽ kiểu “mẫu đơn trĩ”; nhưng trên chiếc bình “Hồng Võ” này, con điểu ấy không phải là chim trĩ nữa, mà là một con chim “kỳ cục”, có mỏ dài màu trắng, trên đầu có chóp mao, còn lông cánh thì xệ xệ, lông đuôi thì tỉa lớn sợi và xụ xuống, trông không biết đó là chim gì, đến nỗi các anh em giới chơi đồ xưa ở Sa Ðéc, luôn và ba tôi, đều tặng cho nó là “bình con sáo của bác thợ Thiệu”. Duy ai nấy đều nhìn nhận nét bút công phu, và màu xanh lơ thiệt đúng là màu xanh sau cơn mưa (vũ quá thiên thanh) của đời Minh vậy. Ngày này, học thêm chút ít, thấy trong sách Cảnh Ðức trấn đào lục chép Hồi Thanh làm ra màu “vũ quá thiên thanh” phải đợi đến niên hiệu Chánh Ðức (1506-1521) mới mua được nhiều của người Hồi Hồi, nhưng thuyết này không đủ chứng minh đời Hồng Võ chưa có Hồi Thanh do các cuộc trao đổi đi sứ đem về, nhưng ít thôi, và đồ ngự dụng mới được dùng đến.

Nay tôi xem kỹ, con chim lạ ấy đậu trên một gốc tùng, tùng thiên niên thọ đã cằn cỗi và nhiều chỗ, nhánh đã mục nay chỉ còn dấu khuyết trên da. Chung quanh và dưới con chim trĩ, có bốn bông mẫu đơn thật lớn, nhờ mấy đóa mẫu đơn này, tôi mới dám chắc đó là kiểu “mẫu đơn trĩ”, tượng trưng cho sự phú quí, vì thuở nay ai cũng biết: mẫu đơn là phú quí chi hoa, và trĩ (sau này biến thành phụng) là chúa các loài điểu.

Dưới chân bức họa “hoa điểu”, sát tới đụng chân bình, là một viền hồi văn màu đồng đen, cao đến hơn năm phân Tây, hồi văn này chạm sâu vào da bình, kiểu sóng bủa có vòi, chạy giáp vòng quanh chiếc bình. Ðây là kiểu “thủy ba dợn sóng”. (Ba là “hoa”, vì kỵ húy tên bà phi, vợ ông Minh Mạng, nên ngoài Huế có tục lệ nói “ba” thay vì “hoa” (xem Pl. VIII, kiểu hồi văn C).

Sau rốt, nơi sát đáy bình, có chừa một viền trơn kiểu “lá hẹ nổi”. Ðây là đường viền chót, nhái viền đồng đen thường gặp trên các cổ đổng đời Hán (206 tr. T.l. – 220 sau T.l.).

Chiếc bình này chứng tỏ đời Minh còn chuộng kiểu bình xưa đời thượng cổ, đều làm bằng đồng, sau vì chiến tranh lấy đồng đúc binh khí, nên mới tìm ra đất nung, gốm và sành, làm đồ từ khí thay thế đồ bằng đồng.

Trên chiếc bình tôi đang tả, dưới đít, chỗ nào men đen cái viền “nhái da đồng”, chỗ nào màu đen không phủ khắp thì lộ ra một màu đo đỏ như màu gạch tôm, nói cách khác, như màu gạch đỏ bầm, đây là một triệu chứng sót lại của các cổ vật bằng đất nung đời Tống đời Nguyên tồn tại (Song 960-1279; Yuan 1279-1368).

Từ nãy giờ, tôi tả dông dài chiếc bình Hồng Võ, mà nào có thấy bằng chứng gì là Hồng Võ đâu? Và đây là bằng chứng ấy: Số là nơi đít bình, khi lật lên xem, sẽ thấy giữa một khoảng trắng da sành rạn ổ nhện, có hình một con dấu to, nét chạm rất sâu, vuông vức như vầy, màu da đồng đen (hình dưới là rập lại y kiểu nơi đáy bình) (xem Pl. IX).

Trong lòng chiếc bình, có tráng men, màu trắng, da trổ rạn da rắn từ trên miệng xuống đến cổ, còn trong bụng chiếc bình không thấy da trổ rạn nữa.

Bốn chữ trong con dấu trên đây, nhiều người đọc, chữ được chữ không và vẫn làm cho giới anh em chơi đồ cổ ở Sa Ðéc đều ngã lòng, vì vậy chiếc bình ế độ mới lọt về tay tôi. Có phần hay không là vậy.

Bây giờ tôi xin để y câu chuyện cắt nghĩa bốn chữ ấy, và bắt qua thuật chuyện cách mua chiếc bình như thế nào:

Cách mua chiếc bình. – Tôi đã nói trước đây rằng trước năm đảo chánh 1945, đồng bạc Ðông Dương rất có giá trị. Nhứt là khoảng 1932-1933, kinh tế khủng hoảng, có người trọn đời không thấy tờ giấy bạc một trăm đồng, gọi <169>giấy xăng<170>. Còn dân đen, nói gì, trọn năm không kiếm đâu ra bốn đồng rưỡi bạc (4$50) đóng thuế thân, phải ở tù lên ở tù xuống.

Lúc ấy, năm 1932 tôi làm thơ ký hạng 3 của chánh phủ Pháp, lương mỗi tháng 81$78 (có vợ không con). Tôi truất ra 40$ mua cái lục bình. Nay bình trị giá sáu, bảy triệu đồng. Nhưng chiếc bình này quí hơn chiếc Mercédès nhiều. Mercédès giá trên mười triệu mà nhiều người có; chiếc bình từ Minh Hồng Võ, lẽ nào giá trị kém chiếc xe bao giờ!

Giá thử năm 1932, tôi không mua chiếc lục bình này, thì số bạc 40$ kia, tôi cũng xoay xở tiêu pha mất hết rồi. Hoặc tôi có khôn khéo dùng số bạc ấy cho vay đặt nợ, bòn tro đãi trấu, thì cũng chưa ắt kết quả có đến số bạc do chiếc bình đẻ ra trong óc tưởng tượng của tôi, không khác bài toán “Con bán sữa và bình sữa”, của ngụ ngôn Pháp!

Bí quyết của nghệ thuật chơi cổ ngoạn là đó. Nhưng ngày nay dở tập hồ sơ cũ, (có cả mảnh lưu chiếu bưu phiếu 40$40, số 104, série 006,983 đề ngày 19-11-1932 gởi cho một bạn ở Sa Ðéc nhờ mua một chiếc bình), tôi thấy lại cả cái rị mọ dễ ghét chầu xưa của tôi mà không khỏi buồn cười.

Tôi cần phải thuật các chi tiết lại đây, mặc dầu dài dòng, để các bạn hiểu đôi chút về tánh gàn của một tên chơi đồ cổ, vừa có dịp so sánh đời sống miền Nam trong hai khoảng năm 1932 và năm 1971, khác nhau xa thế nào.

Sơ khởi, lúc tôi đổi về làm việc tại Tòa Bố Sa Ðéc, từ năm 1928 đến năm 1932, tôi đã nghe danh chiếc lục bình này và đến xem tận mắt tại nhà chủ cũ của nó là ông họ Phạm (nay đã mất). Ông cũng là chủ cũ của cái tô Bá Nha Tử Kỳ có bài thơ nôm mà tôi sẽ nói nơi sau trong tập này, và cũng là chủ cũ của cái thố có nắp, di vật của chúa Nguyễn Ánh, tôi sẽ nói nơi sau, lại cũng là chủ cũ của bộ chén trà năm Giáp Tý (1804) tôi sẽ nói qua tập số 7 “Thú chơi ấm chén”. (Tóm lại những món quí của ông, sau đều về tay tôi cả.)

Nhắc lại khi thấy chiếc lục bình, tôi ưng bụng ngay, và định mua, nhưng các bậc đàn anh dẫn đường cho tôi, đều khuyên nên chậm chậm, một là để đủ thời giờ xem đi xét lại, hai là có sợ mất mát gì đâu mà hòng lật đật, vì buổi ấy tiền bạc trong nước kiếm không ra, tôm tươi một đồng bạc bốn thùng thiếc, “ăn đến kiết”, và bắp trái trên cây, một trăm trái bán có hai cắc bạc; nay tội gì xuất ra bốn chục đồng bạc (40$00) mua một cái lục bình mà nội chợ không ai thèm ngó!

Tháng tư năm 1932, tôi đổi về làm việc sở quản thủ địa bộ ở quê nhà, tại Sóc Trăng, tuy xa cách Sa Ðéc, nhưng không quên cái bình.

Lúc ấy, tôi bèn gởi thơ cho một ông bạn rất tốt (nay đã mất) và rất sành sỏi về đồ xưa, là ông Trương Văn Hanh, nhà ở đầu cầu Vĩnh Phước, mé sông Tân Qui, cùng một xóm với ông thợ Thiệu. Trong thơ của tôi (lúc ấy tôi chưa có tật giữ bản sao thơ gởi đi) tôi nhờ nài chiếc lục bình, nhưng thơ thứ 1 đề ngày 15-XI-1932, ông Trương viết như vầy và tôi xin chép lại cho thấy giọng văn của ông: “Tôi có được thơ cậy hỏi lục bình con sáo từ 40$ đổ xuống mà tôi thì trả có 30$, nên va còn dụ dự, vì thiệt vốn va tính cho tôi nghe thì là 32$. Tôi tính để trả cho y 35$ là cùng mà thôi, thế thì phải được vì năm nay không còn chờ chi là cao giá, và lúc này y cũng cần tiền hơn.

“Vậy chừng mua được, mới làm sao? Phải gởi cách nào? Muốn vậy thì mua được trong tay; xin gởi ngay 40$ và chỉ cách gởi gắm đồ ấy. Có lẽ tôi mua dưới 40$, theo y nói thì bốn chục cũng chưa đắc ý bán, vì vốn đã 32$, mà đã ba năm rồi, lời có mấy đồng còn chê ít, nhưng mà không ai mua chi cho mắc hơn mình mà sợ…

Ký tên: T.V.H.”

Tiếp theo bức thơ 15-XI-32 trên đây, tôi có nhận một bức khác có kèm thơ của chủ cũ chiếc bình, cả hai thơ ấy, tôi xin sao lục ra đây, y nguyên văn:

1) Thơ đánh dấu a). – “Sadec le 16 novembre 1932

Lời cho chú Tư rõ (ông Hanh thứ tư), Cái lục bình, xin chú làm ơn vui lòng trả lời với người đó. Xin chú cắt nghĩa giùm nó đã hay mà lại xưa lắm, như họ muốn dùng, tôi định chắc 40$00.

Ký tên: Thiệu”

2) Thơ đánh dấu b). – “Cùng hiền hữu yêu dấu,

Sớm mai này, mới được tin của M. Thiệu nói vậy đó, liệu sao? Như mọi khi thì không mắc lắm, mà lúc này thì tự ý, tôi đã trả rồi 35$00, y nói để tính rồi trả lời, nên y trả lời vậy, nghĩa là nhứt định 40$00. Hôm qua, tôi tính thế nào cũng mua được 35$00, nên mới gởi thơ nói chắc dưới 40$00. Nay mới đặng tin của y nói vậy, nên xin gởi theo cho mà coi. Tùy ý muốn sao cũng được hết. Hễ là 40$00 thì giờ nào cũng được.

Ít lời cùng hiền đệ đặng hay,

Ký tên: Hanh”

3) Thơ đánh dấu c). – “Sadec le 16 novembre 1932

(tiếp theo)

Thơ vừa rồi đã niêm phong lại chờ gởi đi, kế gặp dịp may, có người điềm chỉ rằng: Tại Cao Lãnh, có nhà Tư Chương, lúc trước sắm đồ cũng mấy ngàn, nay vì kinh tế nên tính bán hết. Tay này cũng biết chơi lắm, tôi có đến nhà một khi, nhà ấy ở gần nhà Hội đồng Vinh, nhớ in là hiền hữu có đi một chuyến với tôi là phải? Như bụng còn muốn sắm nữa, bề nào cũng nhọc công, vậy tốt hơn là lên một chuyến mà lựa thì chắc ý lắm. Liệu sao tự ý rồi trả lời tôi biết.

Ký tên: Hanh”

Tiếp được mấy bức thơ trên, tôi trả lời như sau:

“Sóc Trăng 19-XI-1932

Trương huynh ông,

Hai ngày được liên tiếp của ông hai bức thơ nói về một chuyện, thế đủ rõ tấm lòng sốt sắng với tôi là bao. Cái thạnh tình ấy, tôi xin đa tạ.

Lẽ đáng thì tôi không nên đeo đuổi theo cái lục bình mà làm nhọc ông, nhưng cũng vì cái ham cái muốn đồ cổ khiến tôi bất kể phép lịch sự và xin ông vụ tất việc này một phen nữa.

Sau đây, tôi gởi số bạc 40$00 (mandat bưu điện số 104 ngày 19-11-1932).

Xin ông tùy nơi người chủ bán, chớ người mua vẫn trông cậy vào ông. Ðược rẻ hơn thì may, bằng không thì giá đó cũng vừa, vì tôi muốn lắm. Nhưng xin ổng cho thêm cái chưn tiện bằng cẩm lai.

Như ông mua được rồi thì hãy đem về nhà ông, hoặc đóng vào thùng sẵn để đó cho tôi, rồi mười bữa nửa tháng, có dịp có người đi Sa Ðéc, tôi sẽ cậy ghé lấy, chớ gởi theo nhà thơ, tôi không yên dạ.

Còn việc ông cho hay mấy món nơi nhà ông Tư Chương, hiện nay đổ đường lên mua đồ cổ thì không thể được, để có dịp nào thuận tiện, tôi sẽ thơ cho ông hay.

Thơ chẳng hết lời, kính chúc Trương huynh ông vạn an.

Nay kính,

Ký tên: Sển”

Sau đó lục bình đem được về Sóc Trăng, nhờ ông bạn đồng liêu cũ, nay đã quá vãng, ông Võ Văn Nhiễu, chở về giùm. Lúc ấy tôi ở chung với ba tôi, số 33 đường Hai Bà Trưng, ngay chỗ rạp chiếu bóng bây giờ. Phố tấp nập, người qua kẻ lại rần rần, anh em bạn đến nhà chơi không thiếu một ai, nhưng đều không biết giá trị cái bình: kẻ chê “con sáo vẽ kỳ cục”, người nói nước men không giống các bình đã thấy v.v…, và phần đông bắt bẻ sao trên miệng có một vết màu không y như da sành chung quanh.

Tôi nghe mãi muốn điên đầu… Lúc ấy, tại châu thành Sóc Trăng, ở tiệm bán sắt hiệu Vĩnh Sanh, ở xéo xéo phố ba tôi ở, có một ông tài phú người Quảng Ðông, tên là Trần Phụng Hữu, có tiếng là người hay chữ nhứt trong vùng. Lúc còn ở Trung Hoa, ông đã đỗ tú tài Hán văn, sau bị lùng bắt vì có tên trong đảng đối lập chánh phủ, nên ông trốn qua Nam ở lâu năm trong sốc Thổ, mai danh ẩn tích, rồi mới ra làm thơ ký bút toán cho hãng Vĩnh Sanh này.

Một hôm, tôi rước ông đến nhà, nhờ đọc giùm bốn chữ cổ tự nơi đáy chiếc bình “con sáo”, bốn chữ con dấu tôi đã rập lại nơi đoạn trên. Ông Trần Phụng Hữu trở ngược đầu chiếc bình, nhìn một hồi lâu, xoay qua trở lại đủ hướng mà không đọc được đủ bốn chữ kia. Ông tức lòng vì mình đã xưng đậu Tú tài bên Tàu, nay không đọc được chữ cổ, bèn rút bút máy, viết lia lịa một bức thơ vắn tắt, đề ngày 30-1-1933, gởi qua Hương cảng cho nhóm văn hữu quen bên ấy, nhờ đọc giùm. Thơ của ông có kèm cái rập hình con dấu, tôi đã nhờ người phiên âm và dịch lại Việt văn như sau:

“Thử tứ tự nãi hệ cổ bình để sở tạc chi tự dĩ ký niên hiệu chi ý HỒNG VÕ CHẾ.

Tam tự thượng vị tri thực phủ.

Thử tự kỳ vi vấn các xã huynh năng tả triện tự giả hoặc năng tường xuất mổ tự kỳ trịch phản, thị tri. Thị hà.”

Dịch. – “Bốn chữ này là chữ tạc ở đít cái bình xưa để ghi lấy niên hiệu chế ra cái bình này trong năm thuộc trào vua Hồng Võ. Ba chữ còn chưa biết thật không.

Xin gởi mấy chữ này hỏi chư ông là người thường viết lối chữ “triện” hoặc biết rõ lối chữ ấy ở đâu (đời nào) xin trả lời cho biết. Cám ơn.”

Kế đó, ông Trần Phụng Hữu nhận được thơ trả lời, và ông vẫn giao hết cho tôi giữ làm tài liệu, ngót mấy lần biến cố, tôi vẫn giữ được y và nay xin chép ra sau bản phiên âm và bản dịch văn xuôi:

Phiên âm. – “Phụng Hữu tiên sanh giám: kim nhật thần tiếp bút đại hàm kính thừa dĩ vấn “Triện” thơ chi tự.

Tra “Thiên tự văn” tứ thể “triện” thư nội, NIÊN THỈ MỖI THÔI chi niên tự, dữ tự tương đồng.

Tra biệt thư tả niên tự hữu dĩ “HÒA” dĩ “NGƯU” giả, đại ý niên tự, vô nghi.

Chất chi ngâm hữu, ý kiến giai đồng, diệc dữ “HỒNG VÕ NIÊN CHẾ” độc đắc khứ, tha vi Minh trào niên chế vô nghi, cố giã.”

Dịch xuôi. __ “Cùng ông Phụng Hữu,

Sớm mai này nhận được thơ của ông hỏi về lối chữ “Triện”.

Xét trong “Thiên tự văn” có bốn lối viết chữ “triện”. Có câu “Niên thỉ mỗi thôi” (thì giờ tên tuổi đi mau như tên bắn), thì chữ Niên ấy cũng giống như chữ Niên này.

Xét trong sách khác có viết chữ Niên, thì có chỗ dùng chữ Hòa và chữ Ngưu làm ra chữ Niên. Ðại ý chữ ấy là chữ Niên, không còn nghi ngờ gì nữa.

Tôi đã hỏi anh em bạn tôi đều cùng ý kiến với tôi mà đọc là HỒNG VÕ NIÊN CHẾ, thế thì món đồ đó chế ra hồi trào vua này, không còn nghi ngờ nữa được.”

Thế là từ đó tôi có tài liệu vững chắc, chứng minh lục bình con sáo chế tạo vào niên hiệu vua Minh Thái tổ Hồng Võ: Câu “Tra biệt thư tả niên tự hữu dĩ hòa dĩ ngưu giả, đại ý niên tự vô nghi” (Xét trong sách khác có viết chữ niên thì có chỗ dùng chữ hòa và chữ ngưu làm ra chữ niên, không còn nghi ngờ gì nữa.)

Câu này quan trọng nhất, đại khái nói đời xưa viết chữ Niên khác với chữ Niên ngày nay, và chữ Niên đời trước là do chữ Hòa (một giống lúa) ráp với chữ Ngưu, hiểu rằng “con trâu làm được hột lúa trong thời gian MỘT NĂM”.

Chữ Niên (dĩ hòa dĩ ngưu) này, bọn giả tạo không biết, nên đó là một triệu chứng chắc chắn món đồ này là thiệt.

Kết luận. – Như các bạn đã thấy, trong vụ mua được lục bình con sáo, chẳng phải tại tôi giỏi, nhưng mà tôi may thời.

Nghệ thuật chơi cổ ngoạn là nhiều khi do một sự tình cờ.

a) Chiếc bình, nếu còn trong tay người chủ cũ, thì bất quá, nếu cất giữ được, thì chịu phận thiệt thòi không ai biết; hoặc giả nếu lấy ra dùng thường rủi ro đã bể, và mảnh vụn nát vứt đi, còn ai đọc chữ “niên dĩ hòa dĩ ngưu” cho?

b) Tôi tiếc không hỏi được lý lịch của chiếc bình, khi trước ông Sáu Thiệu tìm được ở đâu, xóm nào, nhà ai, mà có chứa món này và có lẽ còn nhiều món lạc loài đáng tiếc khác. Công việc ngày nay là nên tìm cho ra manh mối đó.

c) Nếu bình này, lối 1932, ở Sa Ðéc có người biết giá trị của nó, thì làm sao về tới tay tôi? Trong nghề chơi cổ ngoạn, nhiều khi người đi trước không biết và người đi sau lại được của quí, cho nên có câu “của tìm người” là vậy.

d) Cái gan lớn của tôi lúc đó là nhà không đủ tiền đi chợ hằng ngày mà vừa thấy là định tâm mua cho được. Nếu tôi có trù trừ dụ dự là vì kiêng kính bạn tác, không dám mua mắc là sợ mích lòng các bậc đàn anh đang dạy mình chơi đồ xưa, và những cái lẩn thẩn tôi đã nói nơi đoạn trước cho thấy thuở ấy, đồng bạc rất có giá trị, khi xài ra ke re cắc rắc, đếm từ đồng, bớt từ xu, không như bây giờ phung phí hời hợt, vì tờ giấy một trăm, tội nghiệp, giá trị không bằng một đồng xu Tây hồi đó. Gói xôi một xu trước ăn no bụng, gói xôi hai chục nay không đủ nhét kẽ răng.

e) Lục bình con sáo, sau khi giảo nghiệm bốn chữ niên hiệu, đã trở nên quí, như nàng quốc sắc, nhờ có người cất nhắc mới đẹp mặt nở mày. Trong khi ấy, vì thiếu đỡ đầu, cô gái đẹp phải đi gánh nước mướn; cũng như chiếc dĩa xưa lọt vào tay thằng lắc bầu-cua-cá-cọp.

f) Tuy tông tích đã thất lạc, nhưng nhờ khảo nghiệm được bốn chữ chính cống “Hồng Võ niên chế”, nên nay lục bình con sáo trở nên một vật dùng để so sánh và định tuổi các vật khác sẽ gặp (élément de datation), nhờ sự giảo tự đáng tin của các chuyên gia đọc rành chữ triện ở Hương cảng, thêm nhờ sự lạc tinh (patine) của chiếc bình. Nếu bình còn mới, chưa lạc tinh, thì không làm vật chứng minh được.

Trong cái lục bình này, tôi tóm tắt lại những cái khéo của nó: Về men, dưới đáy, men trắng và rạn nhỏ, trong lòng men trắng rạn da rắn lớn miếng, ngoài bình men màu vàng sậm rạn da rắn to, cổ và giữa hông cũng như phần chót gần đít bình, luôn hai nhánh mai, thì men da đồng đen, chỗ xanh lam thì xanh màu “vũ quá thiên thanh”, chỗ men nổi trắng như hoa mai hay kiếng hoa mẫu đơn thì màu trắng bạch gọi “duyên phấn”, tóm lại bình này không phải bình “trắng xanh” (bleu et blanc), mà là bình “ngũ thái” (cinq couleurs), hội đủ các tài hay và sự thành công của các bí thuật đời Minh vậy.

Thêm nữa, vẽ cây tùng cằn cỗi, lá tủa đơn sơ xen với bốn đóa mẫu đơn tách xanh trắng phân minh; trên cây tùng vẽ một con chim giống lạ, có lẽ là chim của Trung Hoa, nước ta không có, gọi con sáo là gọi gượng chớ không biết chim gì.

Màu da đồng đen là nhái lại các cổ bình đời Thương đời Hán.

Dưới đáy, nơi men không ăn tới, thì da đất trỗ màu đỏ điệu céladon xưa.

Hai bên hông, nơi có đắp nhánh mai da đồng đen, hoa mai năm kiếng trắng điệu Bạch Ðịnh (blanc de Foukien).

Quả là một độc bình lạ lùng. Từ ngày tôi gặp, và mỗi lần tìm một món khó định tuổi, nhưng gần giống màu sắc, kiểu vở, tôi đều đem lại đọ với bình này mà đánh giá và định tuổi vật kia.

Xin cho tôi căn dặn đôi lời:

1) Ngày nay, thị trường đồ cổ tràn ngập đồ giả hiệu, phần nhiều rất khéo và thường ký nhái hiệu Thành Hóa (1465-1487), chớ không bao giờ dám đề Hồng Võ, vì sợ lộ tẩy sớm. Những đồ giả Thành Hóa ấy cũng đắp bông nổi nhánh mai hoặc mặt bợm (thao thiết) màu đồng đen, hai bên cổ chiếc bình. Vành miệng cũng thường nhái da đồng. Phải cẩn thận và cho tinh mắt, không nên nghe lời tán tụng của con buôn mà mua đồ báo đời, chỉ mất tiền mà không dụng vào đâu.

2) Nhờ chữ “Niên” viết theo lối xưa, bọn giả tạo không biết được, mà tìm ra sự chơn chánh của cổ bình này.

3) Thường thường khi đổi thay một triều đại, thì triều đại sau bỏ hết các kiểu vở của triều đại trước, nước nào cũng vậy và đời nào cũng thế.

Vua Hồng Võ lập nhà Minh. Các lò gốm của Nguyên để lại đều bị dẹp hoặc bị đốt phá. Thường các vua khai quốc chỉ lo về binh bị, không đủ thời giờ lo việc chấn hưng mỹ thuật, văn hóa.

Vào đời Minh, vua Thái tổ mất (1398). Con trưởng là Tiêu, được phong thái tử, ông này mất sớm, con là Kiến Văn (Huệ đế) bị chú là Yên vương (tên Lệ) đánh đuổi giành ngôi, xưng Thành tổ (Vĩnh Lạc 1403-1424). Vì vua Huệ đế bôn đào, không biết sống chết, vua Thành tổ sai thái giám Trịnh Hòa giả danh đi buôn đồ gốm đồ sành để tìm vua Huệ đế đặng trừ hậu hoạn, cũng vì dịp ấy mà đồ gốm đồ sành xuất dương ra nước ngoài, nay nhiều nhứt là ở Istanbul nơi viện Topkapyl của Thổ-nhĩ-kỳ. Vua Thành tổ đồng thời với Hồ Quý Ly, và thành nhà Hồ là kiểu mẫu Minh vậy. (Trịnh Hòa dẫn thuyền kéo cờ Minh đi khắp biển trong 30 năm từ 1405 đến 1433; được người Trung Hoa xuất ngoại nhớ ơn thờ làm ông Bổn (Bổn đầu công) (xem lại tập 4 tr. 254).

Hồ Quý Ly (1400-1407) chống Minh nhưng cự không lại, để bị bắt và làm mất nước, tài có dư mà không có thời, nên tội cũng nhiều.

4) Bình Hồng Võ niên chế này, theo tôi, là vật chế riêng với tất cả sự khéo léo đặc sắc thuở ấy (Mạt Nguyên Khai Minh), để chứng tỏ sự mở màn của một đời thái bình thạnh trị. Vì sao lọt được khỏi Trung Hoa để vào vùng Sa Ðéc? Hay là cố vật buổi lưu vong nhóm di thần nhà Minh Trần Thắng Tài, Dương Ngạn Ðịch? (Hậu nhựt tri).

5) Bình này có lẽ là “unique” từ trong xứ đến nước ngoài.

(Xem hình trong H.C.Ð.S. số 4 pl 28-29, fig 28A, 28B).


11-XI-1971

*MỤC LỤC – GIẢI TRÍ – THƯ GIÃN


Read Full Post »

Đồng Tiền Cổ

Phạm Xuân Hiếu

 

An vừa vào nội thành, đang ngơ ngác hỏi thăm địa chỉ ông đồ Tú, thì bất chợt cơn mưa ào ào chạy qua đường phố nắng như đổ lửa. Hơi nóng hầm hập bốc lên. Quần, áo ướt sũng. Mồ hôi quyện nước mưa, chảy dòng trên khuôn mặt lưỡi cầy xạm nắng. An bước vội vào cửa hàng bán đồ cổ. Ông đồ Tú, chủ tiệm đang ngồi trên ghế, thấy khách vội đặt quyển sách xuống bàn đứng lên.

An nhìn quanh, lúng túng không biết ngồi hay đứng cho hợp với mình. Ông đồ như đọc được tâm trạng của khách, đưa tay về phía chiếc ghế cổ, mặt đá củ cải nhẵn trơn ý nói: cứ tự nhiên. An rón rén ngồi đối diện với ông qua cái bàn mặt đá trắng, ngượng ngùng nhìn người sũng nước, nhìn gian nhà cổ kính bày trang trọng: lọ to, lọ bé nhiều mầu sắc, dáng kiểu khác nhau tầng tầng, lớp lớp đẹp hoa cả mắt. Những chiếc tủ trạm, khảm xếp từng hàng kê dưới đại tự, câu đối sơn son thếp vàng rực rỡ. Giữa nhà: tượng A Di Đà, Phật Bà trăm tay, phật Thích Ca vàng óng ngồi uy nghiêm trên các bệ. Ông Thiện, ông Ác cầm chuỳ, bát xà mâu mắt xếch ngược nhìn An như hút hồn. Tất cả xa lạ với hoàn cảnh của An. Ông đồ Tú pha xong ấm nước, nâng chén trà vẽ tích Đào Tuyết Tầm Mai đang bốc khói đưa về phía An:

– Anh xơi nước!

Thái độ nhẹ nhàng nhiệt tình của ông chủ kiến An thấy đỡ rụt rè vì cả đời An chưa bao giờ được bước vào nơi nào sang trọng như thế này. Để chuẩn bị cho chuyến đi, ở nhà An đã mặc bộ quần áo đẹp nhất. Cắt tóc chải đầu cho ra dáng lịch sự, thế mà trời không chiều lòng. Giữa đường gặp trận mưa làm An nhếch nhác. An đã cố diện cho oách nhưng cũng không giấu được bản chất anh chàng chân quê, quanh năm cúi mặt vào đất với cây trồng.

Ông đồ Tú, vốn là người buôn bán đồ cổ lâu năm nên ông rất hiểu những người từ nông thôn đến. Họ bao giờ cũng rụt rè, khép nép nên rất cần bầu không khí tự nhiên. Ông cảm thông với họ khi phải bán những món đồ đã gắn bó với cuộc đời của mình. Ông lặng lẽ nhìn khói tỏa ra từ miệng chén trà, bình thản chờ đợi.

An uống xong chén nước nóng thì mạnh dạn hơn, đưa tay vào túi ngực lấy ra gói giấy, bên trong bọc vải:

– Thưa ông cháu có thứ này, muốn ông xem mua cho.

An vừa nói, vừa lấy ra hai đồng tiền cổ mầu vàng định đặt vào tay ông Đồ Tú nhưng ông ra hiệu để xuống bàn. Ông không bao giờ cầm những đồ vật đưa trao tay, nhỡ chẳng may rơi hỏng thì rất phiền phức, nhất là những cổ vật do những người khách lạ mang đến.

Ông đồ Tú nhìn qua một lượt hai đồng tiền sáng loáng đặt trên mặt bàn đá trắng, sấp giọng chén nước rồi dò hỏi:

– Hai đồng này là thế nào?.

An ngây người.

– Tôi muốn hỏi những đồng này là của ai? Ông từ tốn nhắc lại.

– Của cháu. An rụt rè đáp.

Lúc này, ông Tú mới cầm tiền lên xem qua rồi đặt trên mặt bàn dùng ngón trỏ búng một cái. Nó quay tròn một vòng xoáy tít, ánh vàng, ánh bạc loang loáng ẩn hiện. Ông mang kính lúp ra soi từng chi tiết nhỏ. Kinh nghiệm cho ông biết đồng tiền này không giống tiền cổ bình thường, không phải loại tiền của các triều đại vua quan đúc ra để làm đơn vị chi tiêu. Nó được một giới nào đó đúc cho một trường phái nào đó, phục vụ thế giới riêng như cõi tâm linh chẳng hạn. Chất liệu là đồng pha vàng, tỉ lệ khoảng 40%. Hai đồng tiền đúc rất mỏng, có hình tròn đường kính bằng nhau là 4,5 cm, giữa đục ô vuông thông thuỷ âm dương 0,5 cm. Mỗi đồng một điển tích, các mặt đúc khác nhau.

Cẩn thận xem từng đồng tiền cổ, đôi mắt ông Tú có lúc sầm xuống, lúc lại sáng lên như phát hiện được điều gì. Đồng thứ nhất, mặt dương đúc hai con: một Rồng, một Phựơng (Long Phượng kỳ duyên) đường nét rất tinh xảo, đối xứng nhau qua trục thông thuỷ, lại như đang đuổi nhau, múa lượn vòng tròn. Mặt sau là bốn chữ nổi

“chiêu tài tiến bảo”. Nghĩa là những người hiền tài được trọng dụng, tiến cử vào những vị trí quan trọng, đảm soát các việc về tài mậu, chính lược trong triều. Đồng thứ hai, mặt dương đúc nổi 12 con giáp: Tý, Sửu, Dần, Mão… Mỗi con nằm trong một vòng tròn nhỏ trông rất sinh động. Mặt sau có 4 chữ nổi “xuất nhập bình an” ứng cho cả năm, mười hai tháng là mười hai con giáp, tháng nào làm ăn, buôn bán cũng suôi sẻ, gặp nhiều may mắn. Tuy tỉ lệ vàng pha lẫn đồng không cao nhưng với kỹ nghệ đúc tinh vi cũng đủ thấy giá trị của đồng tiền không hề thấp. Cả hai đồng chôn lâu ngày cũng không bị hỏng, chỉ bị chút ôxy hoá nổi ten thời gian.

Sau khi nghiên cứu kỹ, ông nhìn An rồi cả quyết:

– Tôi bảo đảm với anh, đồng tiền này được chôn cất ở đâu đó, như là yểm bùa. Chắc anh mới đào được?

An giật mình, bụng bảo dạ ông này tinh thật, mình nên nói để ông ấy còn phân giải hay dở. Chuyện này không đùa, nhỡ may lại thành họa thì tiêu đời. Nghĩ thông, An thú thực :

– Thưa ông, sự tình là thế này. Cháu có thế nào cứ kể thế để ông nghe. Lành dữ ra sao xin ông thật bụng cho cháu biết. Số là khu nhà cháu ở dưới chân quả núi Hoàng Linh, phía trước là bãi biển Bạch Dương chạy dài tít tắp, phía sau liền kề với đất liền. Trong khu vườn có khoảng đất rộng chỉ trồng riêng một cây nhãn gốc to mấy người ôm không hết. Nghe chuyện lưu truyền thì cây nhãn đã mấy trăm tuổi mà chưa bao giờ có quả, lá xanh quanh năm phủ kín cả một vùng. Chim, sóc các loài thường về trú ngụ đêm, ngày tạo nên không gịan hoang sơ kỳ thú. Đã nhiều lần cháu định chặt mà không chặt được. Chắc nhiều đời cũng như vậy nên cây nhãn vẫn tồn tại đến ngày nay. Đêm đêm vợ cháu hay mơ. Một đêm chắc vào giữa tháng Tám trời mưa to, cháu đang say giấc ở gian ngoài, bỗng nghe thấy tiếng vợ la ở gian trong: “Bắt lấy, bắt lấy”. Cháu choàng tỉnh dậy quát: “Bắt gì, bắt gì đêm hôm này?” Vợ cháu ú ớ: “Em thấy có một đàn lợn lông vàng như lông hổ, con to, con bé, con mẹ con con kéo nhau đến đào phá khu vườn nhà mình. Em với chiếc đòn gánh phang què một con. Nó bị thương chui vào cây nhãn. Em đuổi theo, túm được một chân, lôi mãi không ra nên gọi anh trợ giúp.

An dừng lời nhìn ông Đồ Tú dò xét ý tứ, thấy khuôn mặt ông vẫn bình thản, ánh mắt nhìn An vẻ khích lệ nên tiếp tục mạch chuyện :

– Lại có đêm mưa phùn gió bấc, vào khoảng 2-3 giờ sáng, cháu dạy đi giải, thấy bóng người con gái áo trắng thướt tha bay lượn trên không rồi chạy lướt vào thân cây nhãn. Mấy lần cháu đuổi theo nhưng chân cứ đứng chôn một chỗ, muốn gọi mà không cất lên lời. Nhiều lần như vậy nhưng cháu không dám kể với ai. Vợ chồng chỉ rì rầm bàn nhau tính chuyện bán đất, bán nhà đi nơi khác. Rồi không biết chuyện đồn đại từ đâu mà người ta cứ nói nhà cháu có ma nên không ai dám mua. Chào mãi nguời đến chỉ xem qua rồi lắc đầu, người nhận mua chạy mất hút, mặc dù giá bán rẻ hơn vùng bên cạnh.

– Thế diện tích khu ấy rộng không?- Ông Đồ Tú ngắt lời.

– Dạ, cả khu rộng gần ba ngàn mét vuông.

– Rộng đấy- ông Đồ gật gù- Thế rồi sao lại có đồng tiền này?.

– Sau cái đêm nằm mơ thấy lợn thì vườn sắn ngô thường bị muông thú đào bới lung tung. Vợ chồng cháu sinh lo vì từ trước tới nay không có tình trạng như thế. Gần gốc cây Nhãn đùn lên một cái hang như hang chuột miệng hang to lắm. Một hôm thằng Mẫn chú em vợ đến chơi nhìn thấy cái hang bảo: “Anh ơi! Vườn nhà anh có con cầy để em đào bắt làm bữa nhậu? ”Cháu mừng quá: “Chú muốn làm gì thì làm, để nó dũi hỏng hết cả vườn”. Hai hôm sau chú ấy mang lưới đến quây quanh miệng hố rồi đào bắt cầy. Khi những nhát mai đào xuống gần một mét thì nghe “kịch” một tiếng, Mẫn buột miệng kêu to: “Vỡ rồi”, rồi cúi xuống đưa hai tay bới đất. Một cái lọ sành vỡ làm đôi, lộ ra một cái hộp bằng đồng có hoa văn nổi: đàn voi mâù trắng, trên nắp có núm tròn. Khi mở hộp ra bên trong chỉ có hai đồng tiền. Đó là hai đồng tiền cháu mang đến đây.

Nghe xong câu chuyện, ông Đồ Tú đưa tay vỗ nhẹ vào trán rồi phán:

– Như thế là rõ, trong khu vực vườn thế nào cũng còn chôn nhiều thứ. Các cháu muốn đào bới phải rất cẩn thận, nếu không mất hết. Trước mắt cháu về đào lại chỗ chôn đồng tiền nhưng phải đào sâu hơn, sau đó thế nào báo cho bác biết. Lòng đầy băn khoăn nhưng trông nét mặt đăm chiêu vẻ như suy tính điều gì lung lắm của ông đồ Tú, An không dám hỏi thêm.

Như lời dặn, đêm hôm sau hai vợ chồng An chờ qua giờ Tý mới mang cuốc xẻng hì hục đào lại cái hố có đồng tiền. Khi đào sâu thêm chừng nửa mét đất thì lưỡi xẻng chạm vào một lớp gạch xây. An lật từng viên gạch lên thì đến lớp cát đổ đầy căn hầm xây gạch nhỏ. Sau khi bới hết cát bên trong An bê lên một chiếc vại bằng sành to, bên trong là chiếc chum sứ vẽ tứ linh nhiều mầu xanh, đỏ có nắp được gắn kín bằng một lớp keo đen. Chiếc chum An bê ngay vào trong nhà. Người vợ định mở ra xem nhưng An đưa tay giữ lại:

– Thầy dặn là khi đào được bất cứ vật gì có nắp cũng không được mở ra xem ngay mà phải làm lễ cúng Thổ Công, Long Mạch, Thần Tài chu đáo truớc.

Vậy là vợ chồng An không dám mở ra, phải chờ đến ngày mai mới có chợ để mua lễ vật. Cả đêm vợ chồng An không ngủ, thao thức mừng vui đoán già đoán non, xem trong đó đựng gì?: Tiền, vàng, ngọc bích… Mỗi người theo đuổi một giấc mơ sắp giầu to. Vợ mơ có tiền mua sắm giường, tủ, bát đĩa đồ dùng trong nhà. Chồng mơ sẽ xây nhà mái bằng có đèn chùm lấp lánh. Chung quy đều mơ được đổi đời không phải lam lũ, vất vả, mà sắp giầu thật rồi chỉ sáng mai thôi. Sáng mai mở nắp chum vợ chồng sẽ giầu to, sẽ làm lễ tạ được lộc, mời bên nội, bên ngoại, đại diện họ hàng, làng xóm cùng người bạn chiến trường năm xưa ở đồi bên đến dự. Uống với bạn đến say mềm trong tiệc vui, An lơ mơ đi vào buồng nói với vợ:

– Nhà bạn tôi, cô biết rồi đấy, hoa mầu mấy vụ thất thu, hai đứa con tàn tật không đi học được, nợ đìa ra. Cô xem có giúp được gì không?

Vợ An ngẩn người lặng thinh sau câu nói thăm dò của chồng, rồi như hiểu ra cái đạo làm người “lá lành đùm lá rách”. Chị quay ra rồi lại quay vào:

– Tuỳ anh! hay biếu bác ấy ít tiền để đưa cháu út đi phẫu thuật chỉnh hình đội chân, đong thêm ít gạo gọi là chút lộc trời cho, rồi còn bên nội, bên ngoại mỗi nhà hưởng một chút.

Hai vợ chồng vui vẻ lấy tiền vàng trong chum ra phân phát cho mọi người. Ai nấy đều hỉ hả. Nhìn đống tiền có vơi đi nhưng hai vợ chồng An vẫn thấy nhẹ lòng. Tỉnh giấc, An thấy vợ mình vẫn rì rầm cầu, trời khấn phật phù hộ độ trì… Thầm mong trời chóng sáng,

Tiếng gà vừa gáy, vợ An dạy đi chợ mua lễ vật về thắp hương. Khi ba nén nhang trên bàn thờ vừa cháy hết, vợ chồng An người giữ chum, người mở nắp. Một mùi hăng hắc rất khó chịu bốc lên, làm An choáng váng mặt mũi tối xầm. Sau một hồi trấn tĩnh, An nhìn vào trong chum chỉ thấy toàn nước lệt xệt mầu vàng đen. Vợ nhìn chồng, mặt buồn thiu, không có kim cương, vàng bạc, đá quý. An thất vọng ngồi im, nghĩ rằng đó là nước bẩn nên mang ngay ra đầu hồi nhà đổ xuống gốc cây na cho bõ tức. Đất sủi bọt. Một làn khói xanh xanh bốc lên. An mang chiếc chum vào nhà đặt trước mặt vợ, nghĩ sao lại giơ lên định đập cho đỡ vướng mắt nhưng vợ nhanh tay giữ lại: “Anh đập phí cái chum vẽ đẹp lại bẩn nhà, để đấy cho em đựng muối”

Chuyện nhà An hở ra. Nhiều người đến hỏi thăm, mấy người đòi mua chum. Họ tự đặt giá, từ thấp lên cao. An không biết bán giá bao nhiêu? Nên chưa ai mua được. Rồi việc gì đến tất sẽ đến. Một buổi trưa, hai người lạ ăn mặc khác người trong vùng: một thanh niên, một trung tuổi, béo lùn đeo kính trắng, xin phép vợ chồng An được ngắm chiếc chum. Ông nhìn hoa văn, hoạ tiết rồi nhẹ nhàng chỉ cho anh thanh niên vết sần (cốt gọt), vết xước trên lớp men dầy, khô lì do chôn lâu ngày, rồi đặt chiếc chum trên bàn nhìn hai vợ chồng thư thả:

– Anh chị để cho chúng tôi cái chum này bao nhiêu?

Hai vợ chồng An người nọ nhìn người kia, mãi sau vợ An mới ngập ngừng:

– Nhiều người trả lắm rồi nhưng em không bán, nếu bác mua đắt em để cho.

Ông khách thăm dò:

– Đắt là bao nhiêu?

Không ai trả lời, ông khách như đọc được tâm trạng đôi vợ chồng nghèo khó qua kinh nghiệm nhiều năm mua đồ nên ra một “chiêu” quyết định. Ông giở gói khăn mùi xoa thơm phức mùi nước hoa xoè ra ba cây vàng:

Anh chị để cho tôi cái chum, nếu anh chị không thích lấy vàng, chúng tôi sẽ trả bằng tiền.

Thật là đúng sách, lần này thì vợ chồng An không cưỡng nổi ba lá vàng 999 óng ánh đặt trên bàn, mắt hoa lên, không ngờ lại được nhiều vàng đến thế! Vợ An vui vẻ:

– Thôi để cho hai bác.

Chiếc chum được anh thanh niên bê đi ngay. Cầm vàng trên tay An bảo vợ:

– Cầu vàng được vàng, cô mau đi lễ tạ các cụ đi.

Người đàn bà cả đời khổ sở có biết vàng là gì, nay được cầm nhiều vàng sung sướng quên cả khổ đau, quá khứ. Nụ cười mãn nguyện trên khuôn mặt rám nắng tưởng như trên đời này cái gì cũng nhỏ bé.

– Dạ dạ, vâng vâng em đi ngay.

Vâng vậy chứ vợ An không đi chợ mà mang vàng vào trong buồng loay hoay tìm chỗ cất. Nhà không có tủ, không hòm, chỉ có mấy thùng giấy đựng linh tinh, quần áo vắt trên giây, tìm đâu ra chỗ cất cho yên tâm. Cầm ba lá vàng trong tay lúng túng đặt vào thùng lại lấy ra, gói vào quần áo cũng không yên tâm. Cuối cùng thì vợ An chạy ra bếp lấy cái thuổng khoét một lỗ nhỏ ở góc nền nhà đặt ba lá vàng gói kỹ, phủ đất, đè thùng gạo lên trên.

Mấy ngày liền An không thấy vợ đi chợ mua lễ vật liền hỏi:

– Cô định bao giờ lễ tạ? Người vợ vênh mặt gắt lại chồng:

– Từ từ đã, làm gì mà rối lên, mấy hôm em bận.

An biết thừa chẳng bận gì, ngoài đi mua sắm những thứ linh tinh vài bộ quần áo bà ba mỏng dính, chiếc gương to, hộp son phấn dấu ở đầu giường, vô tình An lật chăn nhìn thấy điên tiết mắng:

– Cô điên rồi sao? Tiền để tôi mua cái xe, xây nhà cô đi mua những thứ sa xỉ này đẹp với ai?

Hai vợ chồng cãi nhau một hồi không ai chịu ai, mỗi người theo đuổi một cách nghĩ riêng của mình. Cuối cùng số vàng phải chia đôi mỗi người cầm một nửa. An lên tỉnh mua ngay một chiếc xe máy mới, lượn đi cả ngày. Việc hứa hẹn làm lễ tạ mời họ hàng hai người không ai bàn đến nữa.

Chuyện đồn xa. Mấy ngày sau liên tục có nguời đến hỏi thăm mua nhà, mua đất. Nhiều người tiếc chiếc chum bán rẻ, rồi hỏi xem chỗ nọ, chỗ kia làm đầu óc vợ chồng anh nông dân cả đời không có khách sang bây giờ cứ bấn cả lên, chẳng hiểu ra làm sao? An tự dưng trở thành thượng khách, ngày nào cũng có người mời đi uống rượu. Nhiệt tình nhất là tay hàng xóm thường đi cùng với một người lạ mặt chỉ gạ mua cây na. Lúc đầu An không đồng ý vì không hiểu họ mua làm gì. Mấy hôm sau họ lại đến, ba ngươi đang thảo luận thì vợ An từ dưới bếp mang nước lên xen vào:

– Các anh trả bao nhiêu? Mà các anh mua làm gì cây na chết naỳ?

Người lạ mặt trả lời thủng thẳng:

– Chúng tôi mua cây khô lấy dáng về cắm hoa giấy làm cây cảnh chơi quanh năm trong nhà, chị có thấy ở thành phố người ta hay chơi không? Tôi xin trả anh chị 100 ngàn và đánh cả gốc đi để anh chị trồng cây khác cho tiện.

Cả vụ na may ra bán được vài chục ngàn, nay cây đă chết để vô dụng lại có người mua đắt thế nên vợ chồng An đồng ý ngay. Sáng sớm hôm sau, năm ngươi trên một xe tải nhỏ đỗ ngoài cổng nhảy xuống đào cây na và lấy cả đất cho vào mấy bao tải mang đi vội vã.

***

Hai ngày sau, ông Đồ Tú đi cùng đứa cháu gái tìm đến nhà An, vì lâu ông không thấy có tin tức An hồi âm. Sau khi nghe kể lại mọi chuyện, ông ra ngắm vườn, nhìn cây nhãn cổ thụ, ngắm phong thuỷ rồi xem hố đất mới bị đào đem đi. Ông thở dài gọi vợ chồng An lại dặn:

– Khu đất này còn nhiều điều bí ẩn các cháu không đuợc bán bất cứ thứ gì thêm. Các cháu có biết tốp người mua cây na không? Họ đã lừa vợ chồng cháu lấy chỗ đất đổ nước bẩn ấy, quý lắm đấy. Các cháu có biết đó là nước gì không?

Vợ chồng An ngơ ngác

– Dạ thưa, không

– Vàng đấy! Vàng được cất giấu theo thể phân kim dạng hoá lỏng mà bọn cháu không biết, cũng như rất nhiều người không biết. Họ lấy đất về dùng hoá chất thu vàng lại, chỗ ấy phải được đến mấy chục cây vàng chứ chả chơi!

Vợ chồng An nghe ông Đồ Tú nói mà không ai bảo ai, đều sụp cả xuống vì tiếc của. Ông Đồ Tú lẳng lặng bỏ về, sau phút giây bàng hoàng, An vùng dậy đuổi theo ông giữ tay ở đầu ngõ, thì thầm:

– Liệu khu vườn này còn nhiều vàng không?

Ông Đồ Tú nhìn An, nhìn gia cảnh rồi nhẹ nhàng:

Lộc trời vô tận, muốn có được phải có tâm, có tài, muốn giữ được phải có đức, có phúc. Anh chị suy ngẫm lại! Tại sao lộc đến, lộc lại đi? Chuyện này tôi sẽ giải thích sau. Mọi ý nguyện tôi chỉ mong giúp anh chị rước được tài lộc, tránh hậu hoạ. Tin hay không thì tùy, cố mà nhớ những điều tôi dặn… kẻo phúc họa khó lường.

An nhìn theo bóng hai ông cháu dắt tay nhau khuất sau hàng rào dâm bụt, rồi trở lại kéo vợ vẫn còn ngồi gục đầu, ôm gối đứng dậy thở dài:

– Thôi! Tiếc làm gì của không mất mồ hôi. Vào dắt cho tôi con trâu. Tôi ra đồng cày cho xong chân ruộng cạn, kẻo chính Ngọ đến nơi rồi.Trong chuồng, con trâu đen bóng đang cọ sừng vào cột phì phì ra vẻ đồng tình.

Phạm Xuân Hiếu

Truyện ngắn này được Nhà thơ -Dịch giả

NGỌC CHÂU chọn giới thiệu trên vandanviet.net

© Tác giả giữ bản quyền.

TỪ MÊ CỔ VẬT ĐẾN MÊ VĂN

(Đọc tập truyện ngắn “Người đàn bà và chiếc chén bạc” của Phạm Xuân Hiếu- nxb Hội nhà văn 2011)

CAO NĂM

Mươi năm trước, nói “Hiếu đồ cổ” giới sưu tầm, kinh danh cổ vật Hải Phòng không mấy người không biết; nhưng dăm năm lại đây, nhắc đến biệt danh đó phải nói luôn biệt danh nữa “Hiếu nhà văn”, thì không cần lời giải thích nào, người nghe cũng hiểu ngay là Phạm Xuân Hiếu. Không phải vì cách đây ba năm anh đã trở thành hội viên Hội nhà văn Hải Phòng, mà bởi lẽ không mấy người “chơi cổ vật” lại “chơi văn” kiểu Phạm Xuân Hiếu.

Có dịp đến nhà anh, từ cửa vào trong nhà, hết phòng ngoài vào phòng trong đều thấy những đồ cổ đặt trong tủ kính, xếp ngăn nắp quanh phòng, toàn những cổ vật có niên đại hàng trăm tuổi. Còn văn chương, tôi không nhớ nhầm thì truyện ngắn đầu tiên của Phạm Xuân Hiếu đăng báo trung ương là “Viên phi công và nhà khảo cổ”, tôi đọc trên chuyên đề Văn nghệ Công an cách đây dăm năm. Sau đó anh liên tục xuất hiện trên Văn nghệ Công an, Văn nghệ Trẻ, Đại biểu nhân dân, Cửa biển… Mỗi khi có truyện đăng, anh lại mua vài chục tờ báo, hoặc pho-to mấy chục bản mang tặng bạn bè. Không phải anh khoe, cái biệt danh “Hiếu đồ cổ” thời nay đủ nổi danh, cần gì khoe; cái chính là tặng báo cho bạn bè để cùng đọc cho vui. Vẫn chuyện “chơi văn”, không biết có ai như Phạm Xuân Hiếu, một hôm tình cờ nhận được cuốn sách dầy cộp, đóng bìa cứng, ruột cũng in giấy cứng màu đen giống bìa, còn chữ thì màu trắng tinh, nhưng chỉ in đúng ba truyện ngắn anh mới đăng báo “Bạch Ngọc Mô Ni Linh Ngân”, “Lão Sìn và khỉ con”, “Người đàn bà và chiếc chén bạc” với dòng chú ngoài bìa khá độc đáo “sách chỉ in một bản”. Đến anh cũng bất ngờ, mấy ngày sau khi nhận sách qua bưu điện, Phạm Xuân Hiếu mới biết người làm sách tặng mình là một bạn đọc mê văn nhà cổ vật, nên làm cuốn sách khá độc đáo, như một thứ “đồ chơi” tặng tác giả làm kỷ niệm. Quả là một cách yêu văn chương độc đáo, nếu không muốn nói là “độc nhất vô nhị” ở ta. Lại vẫn chuyện “chơi văn”, không biết đã có ai như Phạm Xuân Hiếu bỏ ra mấy chục triệu đồng in tập truyện ngắn đầu tay 1.000 bản, dầy 248 trang mà giá bìa tới 70.000 đồng/cuốn, chỉ sách tặng đã hàng trăm cuốn. Nhưng “Người đàn bà và chiếc chén bạc” đúng là cuốn sách sang trọng và đẹp, từ cái bìa đến giấy và chữ in ấn, trình bày, có lẽ là “độc nhất vô nhị” trong số những tập truyện ngắn của tác giả trong nước gần đây tôi biết.

Nhưng cũng mới là “cái vỏ”, dù “cái vỏ” cũng rất đáng khích lệ để có ngày càng nhiều sách thực sự là ấn phẩm văn hóa, quan trọng vẫn là “cái ruột”. Đây là lần đầu tôi đọc tập truyện ngắn của một tác giả hầu như chỉ viết về cổ vật, một đề tài khá mới. Có truyện như dãi bày tâm trạng người say mê cổ vật, bỏ ra bao ngày đi tìm thứ đồ cổ nào đấy, nhưng không thấy, thì bỗng lại nghe tin chỗ ấy chỗ nọ có đồ cổ đang rao bán. Có người do tình cờ mang bán cây lại bán cả cái chậu quý, mãi lúc người mua cây mang về, bán chỉ riêng cái chậu đã hàng nghìn đôla mới ngã ngửa (Chiếc thống cổ). Lại có người khi chia tay không có gì tặng bạn, lúc bạn xuống thuyền vội dúi vào tay cho bạn hai thứ “nhẹ tênh”. Nhưng cả người cho và người được cho đều không biết đấy là vật quý; mãi khi kê khai các thứ mang theo mới bất ngờ khi nghe người thẩm vấn hỏi: “Nhà anh nhiều đồ cổ, sao lại vượt biên?”. Thì ra bạn anh vô tình cho đôi bát và đôi đũa có từ thời nhà Tống; còn anh cũng là bước đường cùng, nghe ông kia gạ mua là bán ngay hai thứ ấy để mong được “đổi đời” (Bóng câu). Cũng là tình cờ rồi hối tiếc cả đời là vợ chồng nhà kia trong vườn có cây na, tự dưng có khách đến hỏi mua với giá quá hời lại đánh cả gốc, bốc cả đất mang đi thì bán ngay. Có biết đâu góc vườn vợ chồng anh bên dưới chỗ nào cũng đất vàng đất bạc, chỉ ít đất dưới gốc na mà người mua mang về dùng hóa chất cũng thu được “mấy chục cân vàng” (Đồng tiền cổ). Hầu như truyện nào trong “Người đàn bà và chiếc chén bạc” đọc cũng thấy khó tin, nhưng ngẫm ra lại thấy thật, vì ngoài đời nhan nhản chuyện mua bán cổ vật có khi còn hơn thế. Một viên phi công Mỹ bị pháo phòng không ta bắn rơi máy bay, trốn vào hang núi. Ở hang tám ngày, nhịn đói, nhịn khát vẫn không chịu ra hàng; nhưng lúc tình cờ phát hiện ra cạnh chỗ nằm có cái giếng nhỏ nước trong veo và trên miệng giếng lại nhìn thấy có chiếc bát, chiếc đĩa, thì với con mắt một sinh viên tốt nghiệp khoa khảo cổ học trước khi bị gọi vào lính sang Việt Nam, tên phi công nhận ngay ra đó là loại bát đĩa quý chỉ dành riêng cho vua chúa, có niên đại trên dưới nghìn năm. Thế là hắn bỗng như có sức mạnh, quên mình là một phi công đang lẩn trốn, trở lại là người đam mê sưu tầm, nghiên cứu cổ vật, cầm luôn chiếc bát, đĩa và quyết định ra khỏi hang, đầu hàng Cộng sản. Rồi khi quan hệ hai nước Việt- Mỹ trở lại bình thường thì viên phi công Mỹ ngày nào, với lòng kính phục, mến yêu nền văn hóa, lịch sử dân tộc Việt, lại nhiệt tình sang Việt Nam giúp khảo sát cổ vật ở ngay chính vùng đất viên phi công trốn ngày nào (truyện ngắn “Viên phi công và nhà khảo cổ”). Thông qua cổ vật, hay rộng ra là văn hóa, có thể làm cho con người hiểu nhau, cảm thông nhau, xích lại gần nhau hơn. Vợ chồng nhà kia sống hạnh phúc, chị vợ không bao giờ nghĩ anh trước khi đến với chị lại đã một lần yêu. Đến một hôm, anh chồng đi chơi về bảo với vợ là anh nhìn thấy đôi đũa ngà và chiếc chén bạc nhà mình bị mất, hiện đang ở nhà cô Lâm Phi, người bạn lâu ngày mới gặp lại. Thế là hôm sau chị vợ bắt chồng đưa đến tận nơi xem có đúng chén, đũa nhà mình thì cho cô ta “một trận”, rồi đòi lại. Đến nơi, đúng là đôi đũa và chiếc chén đang được Lâm Phi bày trang trọng trên bàn. Lời qua tiếng lại giữa hai người đàn bà, rồi cuối cùng lại chính Lâm Phi kể lại mối tình giữa cô và anh từ năm cô học lớp 10, hay cùng các bạn ở trường mang lá ngụy trang đến trận địa phòng không của đơn vị anh. Một lần cô và anh đi qua chỗ đổ rác, tình cờ anh nhìn thấy giữa đống đĩa bát, đèn dầu méo mó có mấy chiếc chén vất đi. Anh chọn được sáu chiếc chén làm bằng kim loại nhưng đen xỉn và bết vôi vữa, bất chấp lời gàn của cô. Về nhà anh thích thú mang chén đi đánh rửa và bảo cô giúp một tay, nhưng cô không những từ chối mà trong thâm tâm còn cho là anh ẩm ương. Cả khi anh gói mấy chiếc chén vào cái khăn mùi xoa mới mua mang đến tặng thì cô vẫn coi đó là mấy chiếc chén bẩn, chỉ đáng vất, và cô liền giật cái gói anh cầm trên tay ném đi. Tình yêu của họ cũng dừng ở đó. Mấy chục năm sau gặp lại thì Lâm Phi chỉ còn là một người đàn bà mà chính cô cũng không ngần ngại dãi bày tâm trạng trước vợ chồng anh: “Cuộc sống của em không thiếu vật chất, nhưng tổn thất tinh thần, bị trói buộc như cá chậu, chim lồng, vô vị như xác không hồn”. Trong khi trống vắng tâm hồn, cô tình cờ gặp lại anh, đến nhà anh chơi, giật mình nhận ra những chiếc chén bạc mà lẽ ra là của mình, nhưng đã để tuột khỏi tay. Thế là cô nhất định lấy bằng được một chiếc chén đem về, như muốn sống lại thời quá khứ, như muốn được sẻ chia tình cảm với anh như những tháng năm tuổi trẻ. Truyện viết về cổ vật, lòng say mê cổ vật, nhưng lại thấm đẫm nhân tình với những bổng trầm cung bậc và số phận ngặt nghèo, với cái kết có hậu, đậm tính nhân văn (Người đàn bà và chiếc chéc bạc).

Hầu hết truyện ngắn Phạm Xuân Hiếu trong tập này đều được viết kiểu như thế: kể câu chuyện của người mê cổ vật, yêu cổ vật đến mất ăn mất ngủ, sẵn sàng đánh đổi không chỉ tiền bạc mà cả sự hiểm nguy để có bằng được thứ cổ vật mà mình yêu thích. Nhưng đằng sau câu chuyện săn tìm cổ vật là con người, số phận của cả người đi tìm mua đồ cổ và người đang giữ đồ cổ, với những hoàn cảnh, những tâm trạng nhiều khi khá phức tạp, éo le chứ không phải lúc nào cũng là một bên có tiền, một bên cần tiền, nên dẫu cao giá thế nào cũng mua, thấp giá thế nào cũng bán. Có lẽ bản thân cổ vật và những cuộc kiếm tìm đồ cổ của người say mê cổ vật đã có cái gì như sự ly kỳ, nên hầu hết truyện ngắn trong tập ít nhiều mang tính ly kỳ, dẫu không đến mức “giật gân” nhưng đôi khi cũng hồi hộp đến nghẹt thở, như truyện ngắn “Chiếc bát Thập Ngũ Kê”… Yêu cổ vật, mê cổ vật về cơ bản chính là yêu văn hóa, và vì yêu văn hóa đến say mê nên mới trằn trọc nghĩ suy tìm cách giữ gìn, bảo tồn cổ vật, chứ còn chỉ lấp dưới danh nghĩa đồ cổ để kiếm tiền thì sớm muộn cũng bị vạ vào thân. Những truyện ngắn trong “Người đàn bà và chiếc chén bạc” vì thế mang đậm chất nhân văn, lại đôi khi như một hồi chuông cảnh báo về ý thức bảo tồn, lưu giữ cổ vật. Cách viết của Phạm Xuân Hiếu cũng không cầu kỳ, làm duyên làm dáng mà thiên về lối tự sự ở ngôi thứ nhất (tôi), chân thật và am tường, mà có lẽ không phải người say mê đồ cổ, không có kiến thức cần thiết về cổ vật cũng khó có thể viết nên những trang truyện gợi và sâu như trong “Người đàn bà và chiếc chén bạc”. Tuy thế, nếu anh bớt đi một chút sự chân thật, gia tăng chút nữa chất hư ảo và tạo dựng tính cách nhân vật phong phú, truyện viết đa thanh và nhịp độ nhanh hơn thì còn có sức cuốn hút người đọc./.

C.N

*MỤC LỤC – GIẢI TRÍ – THƯ GIÃN

Read Full Post »

Kho cổ vật quý 500 tuổi và vụ trộm kỳ lạ

Tượng tròn tạc bằng đá xanh – tượng đặc trưng thời Mạc. Những pho tượng này được cho là tạc vua Mạc Đăng Dung và các vị quan.

Kho cổ vật quý 500 tuổi và vụ trộm kỳ lạ

Thứ Sáu, ngày 04/02/2011, 03:30
(Tin tuc 24h) – Trong số những di vật thời Mạc lưu giữ trong chùa, có lẽ nổi tiếng nhất phải kể đến chiếc khánh đá, bởi nó liên quan đến một vụ trộm kỳ lạ.

Cách từ đường họ Mạc xóm Kiều Thôn vài trăm mét, là ngôi chùa Phúc Linh của làng Nhân Trai, thuộc xã Đại Hà (Kiến Thụy, Hải Phòng). Ngôi chùa nhỏ, nằm giữa cánh đồng này còn lưu giữ vô số cổ vật liên quan đến Vương triều Mạc.

Ngôi chùa khá khiêm tốn trên một gò đất, cổ kính, cũ kỹ, song lại có cái cổng khổng lồ, cao bằng ngôi nhà 2 tầng, trông rất không phù hợp. Người trông giữ ngôi chùa cổ từ thời Trần này là cụ Bùi Hữu Tấc.

Kho cổ vật quý 500 tuổi và vụ trộm kỳ lạ, Tin tức trong ngày, tin tuc, trieu mac, khanh da, rong da, tuong phat

Rồng đá trông như đám mây là đặc trưng thời Mạc.

Ngay từ cổng chùa đã thấy những hiện vật liên quan đến triều Mạc. Cổng chùa đặt 4 linh vật là rồng đá, chạm trổ rất tinh tế, trong đó có 2 con rồng thời Trần và 2 con rồng thời Mạc. Rồng thời Mạc rất đặc trưng, cách điệu như một đám mây, nên gọi là “vân hóa rồng”.

Trong khuôn viên chùa, có hai rùa đá cõng bia có tuổi 500 năm. Hai rồng đá thời Mạc vốn nằm chỏng chơ ngoài vườn vừa được khiêng vào sân chùa đặt chồng lên nhau.

Trong một tháp mộ vẫn còn pho tượng gỗ (đoán là từ thời Mạc) bị thủng lỗ chỗ ở bụng. Theo ông Tấc, những vết thủng ở pho tượng là do một quan Pháp bắn. Ông Tây này say rượu mò vào chùa, thấy tượng ngồi trong tháp mộ cứ trợn mắt nhìn, tức mình, ông ta xả nguyên một băng đạn.

Kho cổ vật quý 500 tuổi và vụ trộm kỳ lạ, Tin tức trong ngày, tin tuc, trieu mac, khanh da, rong da, tuong phat

Pho tượng trong tháp mộ bị quan Pháp bắn thủng bụng, cổ.

Nhiều bức tường của ngôi chùa này được xây bằng gạch vồ, to bản, là gạch đặc trưng của thời Mạc. Hàng ngói lợp ở mái sau của ngôi chùa cũng có độ dày đặc biệt, chưa từng thấy xuất hiện ở nơi khác. Đây cũng được coi là loại ngói đặc trưng của nhà Mạc.

Đáng chú ý nhất là những pho tượng tròn – tượng đặc trưng thời Mạc, có rất nhiều ở trong chùa Phúc Linh. Những pho tượng gỗ được sơn thếp cẩn thận, trong đó, có một pho được cho là hiện thân của Thái hoàng Thái hậu Nguyễn Thị Ngọc Toàn, vợ hoàng đế Mạc Đăng Dung. Những pho tượng này được làm bằng chất liệu gỗ lim nên rất bền. Mặc dù những pho tượng đã “ngồi” đó hơn 400 năm, song vẫn chưa hề bị mối mọt xâm hại.

Kho cổ vật quý 500 tuổi và vụ trộm kỳ lạ, Tin tức trong ngày, tin tuc, trieu mac, khanh da, rong da, tuong phat

Tượng Thái hoàng Thái hậu Nguyễn Thị Ngọc Toàn (vợ Hoàng đế Mạc Đăng Dung).

Ngay cạnh chính điện là những pho tượng đá xanh đặc biệt nhất. Những pho tượng này đã bị người đời sau quét sơn xanh đỏ lòe loẹt. Hai hàng tả hữu là quan lại, người hầu đứng uy nghiêm. Pho tượng ngồi trên ngai trạm trổ rồng là vua Mạc Đăng Dung.

Theo ông Tấc, những pho tượng đá xanh đã có mặt ở đây từ thời Mạc. Tượng vua Mạc vốn ngồi trên một bệ tượng bằng khối đá khổng lồ, nặng cả chục tấn. Tuy nhiên, do quá trình bồi lấp, người đời sau lại không đủ điều kiện kỹ thuật nâng khối đá lên, nên khối đá đã chìm sâu dưới lòng đất. Người đời sau cứ xây gạch chồng lên khối đá để nâng tượng, nên bệ tượng bằng đá và bức tượng vốn dính liền mỗi ngày càng thêm rời xa nhau.
Kho cổ vật quý 500 tuổi và vụ trộm kỳ lạ, Tin tức trong ngày, tin tuc, trieu mac, khanh da, rong da, tuong phat

Vua Mạc Đăng Dung ngồi trên ghế tạc hình rồng.

Qua quan sát, có thể nhận thấy những pho tượng này được chạm khắc từ đá xanh, loại đá phổ biến ở vùng Thanh Hóa, Nghệ An. Những pho tượng đều rất đẹp, còn nguyên vẹn và trông giản dị như người thật. Ông Bùi Hữu Tấc bảo: “Mấy bố GS bụng to như cái trống tìm về chùa mấy lần để nghiên cứu và đều khẳng định những pho tượng này có niên đại từ thời Mạc, mang đặc trưng điêu khắc của thế kỷ 16”.

Trong số những di vật thời Mạc lưu giữ trong chùa, có lẽ nổi tiếng nhất phải kể đến chiếc khánh đá, bởi nó liên quan đến một vụ trộm kỳ lạ.

Cách đây 20 năm, sau khi các nhà khoa học đạp xe về nghiên cứu và khẳng định trong chùa lưu giữ toàn cổ vật quý thời Mạc, thì bắt đầu xuất hiện trộm đến nhòm ngó. Tuy nhiên, chúng chỉ ăn cắp được những thứ lặt vặt, còn những cổ vật bằng đá, toàn nặng cả tấn, thì không thể bê nổi. Những pho tượng gỗ quý, đặc biệt là tượng Thái hoàng Thái hậu Nguyễn Thị Ngọc Toàn, dễ bị mất trộm, được cất giữ trong nhà kho, khóa kỹ.

Kho cổ vật quý 500 tuổi và vụ trộm kỳ lạ, Tin tức trong ngày, tin tuc, trieu mac, khanh da, rong da, tuong phat

Loại ngói dày rất đặc biệt.

Trong số cổ vật thời Mạc, có chiếc khánh đá là nhẹ nhất, nên đã bị trộm nẫng. Nhìn chiếc khánh đá ước chừng nó nặng 70-80kg. Chiếc khánh đá còn rất mới, chữ nho rất nét, ghi niên đại chạm khắc thời Mạc.

Cuối năm 1992, ông Tấc bị đánh thức lúc nửa đêm về sáng bởi tiếng lạch cạch. Ông thức dậy, thấy cửa chùa mở toang. Kiểm kê đồ vật, thấy chiếc khánh đá đặt cạnh chính điện bị mất. Ông gõ chuông ầm ĩ, song trời rét mướt, chẳng thấy ai dậy.

Ông Tấc cầm đèn pin và chiếc gậy chạy dọc cánh đồng, thì phát hiện 4 tên trộm đang loay hoay khiêng chiếc khánh đá. Khi ông đến gần, 4 thằng nhìn ông chằm chằm, chả lộ chút vẻ sợ hãi nào. Ông cũng chả dám tiến đến chỗ chúng, vì có thể mất mạng như chơi. Ông cứ đứng từ xa rồi hết khuyên răn đến chửi rủa lũ phá đình, phá chùa, rằng “lũ ăn trộm của Thánh thì trước sau cũng bị Thánh vật”.

Kho cổ vật quý 500 tuổi và vụ trộm kỳ lạ, Tin tức trong ngày, tin tuc, trieu mac, khanh da, rong da, tuong phat

Chiếc khánh đá suýt bị mất trộm.

Nhưng điều lạ xảy ra: 4 thằng loay hoay mãi mà không nhấc nổi chiếc khánh đá. Chiếc khánh đá cứ nằm trơ trơ trên bờ ruộng. Loay hoay một lúc không bê lên được, một thằng bảo: “Khéo Thánh vật thật”, thế là chúng để lại chiếc khánh đá bỏ đi.

Ông Tấc bốc những cục đất ải lấp chiếc khánh đá lại để ngụy trang rồi về chùa ngủ. Sớm hôm sau, ông huy động thanh niên ra đồng khiêng về. Lạ thay, chỉ cần 2 người khiêng chiếc khánh đá chạy phăm phăm. Để chống trộm, ông Tấc đã dùng dây xích to tướng treo chiếc khánh đá lên, rồi khóa xích lại.

Kho cổ vật quý 500 tuổi và vụ trộm kỳ lạ, Tin tức trong ngày, tin tuc, trieu mac, khanh da, rong da, tuong phat

Rùa đá cõng bia trong chùa Phúc Linh.

Những ngày lang thang ở các đền chùa, đình miếu quanh xã Ngũ Đoan và các xã lân cận của vùng từng là Vương triều Dương Kinh khi xưa, tôi được tận mắt rất nhiều di vật từ thời Mạc có độ tuổi 400 đến 500 năm. Đây là những di vật cực kỳ quý giá, tuy nhiên, những di vật này đang bị đối xử không công bằng. Phần lớn các di vật nằm dầm mưa dãi nắng ngoài vườn, ngoài sân hoặc không được cất giữ cẩn thận, có thể bị bọn trộm khiêng đi bất cứ lúc nào.

Hy vọng, khu trưng bày cổ vật thời Mạc nhanh chóng được xây dựng ở Dự án Khu tưởng niệm Vương triều Mạc tại xã Ngũ Đoan, để đưa những cổ vật này về trưng bày, vừa để tôn vinh thời thịnh trị của 5 đời vua Mạc vừa để nhân dân được chiêm ngưỡng những cổ vật quý.

Do thời gian làm vua rất ngắn, không để lại nhiều dấu ấn gì ngoài một số việc như: cho đúc tiền Thông Bảo, truy tôn Mạc Đăng Dung là Kiến Thủy Khâm Ninh Văn Hoàng Đế, xây cung điện ở Cổ Trai, lấy Hải Dương làm Dương Kinh, tổ chức thi tuyển chọn người có tài (thi Hội năm 1529), sửa định binh chế, điền chế, lộc chế và đặt các vệ phủ, các vệ sở trong ngoài, các ty sở thuộc, hiệu ty, tên quan và số lại viên, số người, số lính của các nha môn… Tuy nhiên, vẫn phỏng theo quan chế triều trước với bổ sung không đáng kể nên người ta biết đến ông phần nhiều như là một người tiếm ngôi, mặc dù trong giai đoạn từ đời Lê Uy Mục đến đời Lê Cung Hoàng thì nhà Hậu Lê đã cực kỳ suy tàn, khởi nghĩa và nổi loạn nổi lên ở nhiều nơi, triều chính thối nát dẫn đến việc các ông vua này phải dựa vào thế lực ngày càng tăng của Mạc Đăng Dung nhằm duy trì quyền lực đã gần như không còn của mình và cuối cùng là việc phải nhường ngôi cho ông.

 

*MỤC LỤC – GIẢI TRÍ – THƯ GIÃN

Read Full Post »

Đầu Xuân Nói Chuyện Quốc Hoa

Tản mạn: Đức Chính

Quốc hoa là gì nhỉ? Hình như nhiều người cho đó là câu hỏi vớ vẫn, nhưng bình tâm tâm ngẫm xét lại xem: quốc hoa hơn loài hoa khác điểm gì. Quốc hoa không là thứ đua đòi danh tiếng, nó phải là loài hoa đi vào hồn dân tộc và gắn bó với sự thăng trầm của dân tộc. Trong dòng tư duy triết lý ẩn tàng trong quốc hoa bộc lộ ra dân tộc tính thuần chất của hầu hết mọi người cùng chung sống trên một mảnh đất được gọi là quốc gia.

Quốc hoa không thể gượng ép trao cho, nó hình thành từ trong tâm tư của người dân khi nhớ tưởng đến nó và nó phải là một biểu hiện tâm linh đặc thù của một dân tộc. Gía trị tâm linh đó không thể là dòng triết lý hay tín ngưỡng du nhập, càng không phải là tư tưởng riêng cho một nhóm người. Quốc hoa phải là loài hoa để mọi người không phân biệt tuổi tác, tín ngưỡng, địa vị xã hội cùng cảm nhận linh hồn của nó.

Gần đây có trào lưu phong hiệu quốc hoa quốc tửu. Một số đông bầu chọn hoa sen. Hoa sen là loài hoa cao quý, nhưng dòng tư tưởng đó du nhập từ Thiên Trúc qua nhiều ngã, trong đó không ít sự pha trộn dòng triết học Trung Hoa. Đành rằng sự du nhập đó đã trải qua nhiều thế hệ, ăn sâu vào lòng người, nhưng trong chừng mực nào đó gần như mặc nhiên coi là biểu tượng Phật giáo. Nên hay chăng gán ép người theo Cơ Đốc chấp nhận một quốc hoa mà trong đức tin của họ không hòa đồng được với những nét sâu xa thâm trầm mà hoa sen vốn có. Hay là vì tên gọi một loài quốc hoa khiến họ thành một bộ phận tách rời sống trong lòng một dân tộc. Linh hồn của một quốc hoa là để mọi người trong một dân tộc cùng hoài cảm như nhau: vậy hoa sen có nên là quốc hoa hay không? Chúng ta cứ suy tư mà tự trả lời.

Cũng có bài báo nêu cây lúa. Lúa ư! Đáng trân trọng lắm đấy chứ, nhưng xưa nay nào ai đã bẻ một nhánh lúa đòng đòng trưng trong nhà đâu mà gọi là hoa. Hơn nữa, dòng tư tưởng gắn với cây lúa không mang đậm triết lý sống. Vậy có nên chọn một loài cây có tâm linh thiếu nồng thắm như thế làm quốc hoa chăng?

Thế còn cây mai vàng. Ở đây nói đến loài mai vàng chưng tết, không nói đến loài mai mơ đặc nét Trung Hoa.

Có thể lắm chứ. Ngày xuân trong buổi họp mặt gia đình mà thiếu cây mai hình như không khí kém đi phần thiêng liêng của tinh thần gia tộc. Ai cũng cố tìm cho mình một canh mai vàng thật đẹp trong buổi đầu xuân, cầu mong một điều may mắn (mai trại là may) như một tâm nguyện của người dân xứ nghèo muôn đời lo chiến tranh loạn lạc. Cây mai hình như có một linh hồn, người Việt xa xứ thường cố tìm một cành mai để kỹ niệm ngày tết riêng của dân tộc mình thay vì nhánh đào đỏ thắm. Nhiều Việt Kiều lớn tuổi ngắm cành mai vàng qua ngày rụng từng cánh mà rưng rưng nước mắt nhớ về kỹ niệm ấu thơ, nhớ về quê hương. Cây mai vàng không được thêu dệt nhiều huyền thoại tâm linh chép thành sách như người Trung Hoa hay thêm thắt cho tín ngưỡng của mình, nhưng ngay chính nó có một thứ triết lý ‘vô ngôn’ chỉ những người vì hoàn cảnh xa quê cha đất tổ mới cảm được. Há thứ triết lý đó chẳng phải quá sức thâm trầm vượt ngoài ngữ nghĩa. Chỉ có trực tâm hoài cảm mới thấu được đạo lý “nguồn cội” của cành mai vàng vào đầu xuân nơi xứ lạnh.

Nếu cây đào còn mang dấu ấn của Trung Hoa, cây mai vàng hình như chỉ có ở Việt Nam đưa vào hàng hoa kiểng. Xứ Châu Phi không thiếu loài mai vàng nhưng họ có trân trọng  như người Việt chúng ta đâu. Người Nhật đặc trưng với quốc hoa Anh Đào vì chính họ và chỉ riêng họ biết nâng niu loài hoa ấy. Cây mai vàng của chúng ta có nét thuần túy dân tộc riêng như Anh Đào, có một tâm linh huyền diệu như thế, sao không là quốc hoa?

Hoa Champa (hoa sứ) là quốc hoa của Chiêm Thành nhưng dân tộc này chẳng bao giờ gọi nó là quốc hoa. Chí sau này các nhà nghiên cứu mới nói thế. Chẳng qua vì loài hoa đó gắn với dân tộc Chăm như cành mai vàng gắn với người Việt. Cả hai đều là sự hòa quyện linh hồn vào dân tộc, cả hai không là thứ gượng ép áp đặt. Quốc hồn quốc túy là thứ tự sinh ra và tiệm biến trong lòng dân tộc, nó không vay mượn hay ‘chế biến’ mà thành. Hãy cho bất cứ người dân Việt nào khi ngắm quốc hoa đều thấy hồn mình trong đó và kiêu hãnh đó là loài hoa đặc thù của dân tộc mình. Đáng buồn nhất là một ngày nào đó có du khách nước ngoài bảo loài hoa X gì đó là quốc hoa của dân tộc Y từ hàng thế kỷ rồi, chứ không gượng ép được chọn hồi thế kỷ 21. Hoa mai vàng chưa có dân tộc nào chọn làm quốc hoa và chắc chắc chẳng có dân tộc nào gửi nhiều tâm khảm vào loài mai vàng bằng dân tộc Việt. Mai vàng là quốc hoa được chăng?

Chuyện quốc hoa dần sang quốc tửu! Tôi chẳng muốn nói có cần hay không cần chọn một loại quốc tửu, chỉ muốn nói khi nhấp ly quốc tửu đó tâm linh người Việt thế nào? Nào ai cùng tôi rót ba ly rượu nếp tiêu biểu ba miền: rượu làng Vân, rượu Bàu Đá, rượu Gò Đen. Ai sành rượu xin mời phân biệt đúng tên từng loại rượu. Có lẽ người có khả năng này chỉ đếm trên đầu ngón tay, nếu không muốn nói không có, thế thì lạm bàn quốc tửu có quá lời chăng? Cũng như ai nhấp thử một ly rượu đủ sức nói đúng cách chế biến men, phân biệt được lửa già lửa non, trái gió hay không  trái gió khi nấu, … Có cao nhân như thế kẻ hèn này xin nâng chén tôn làm thầy. Tôi nói ý này chỉ với mục đích: hãy nghiên cứu cho kỹ rồi bàn về quốc tửu. E rằng rất nhiều kẻ huyên hoang cổ động quốc tửu này quốc tửu nọ nhưng thú thưởng rượu chẳng biết được bao nhiêu.

* MỤC LỤC – TIN TỨC THỜI SỰ NGÀNH GỐM 

MỤC LỤC – KIẾN THỨC MỸ THUẬT VN KỶ NIỆM THĂNG LONG 1000 NĂM

*MỤC LỤC – GIẢI TRÍ – THƯ GIÃN

Read Full Post »

Cảm hứng “Thanh Hoa Sứ”

Không chỉ người chơi đồ cổ thấy được cái đẹp của sứ xanh trắng (sắc màu men và họa tiết hoa văn…) và sưu tầm mà cả nhà thiết kế trang phục thời trang cũng lấy cảm hứng từ vẽ đẹp này cho các bộ sưu tập của họ!

Trung Quốc Thanh Hoa Sứ

Sứ xanh trắng Delft Hòa Lan

Ngói gốm xanh trắng Bồ Đào Nha

Thời trang xanh trắng biểu diễn tại Olympic 2008


Bộ sưu tập thời trang xuân hè 2009 của  John Galliano’s Christian Dior lấy cảm hứng từ sứ xanh trắng (John Galliano’s Christian Dior Spring/Summer 2009 Haute Couture collection )


John Galliano không phải là nhà thiết kế duy nhất lấy cảm hứng sáng tạo từ sứ xanh trắng. Roberto Cavalli tại trình diễn thời trang xuân hè 2005 đã giới thiệu “bộ sưu tập sứ” – “porcelain collection” từ rất sớm. Victoria Beckham đã ghi nhận lại như vậy!


Các người mẫu nổi tiếng Chiling Lin, Bing Bing Fan and Fei Fei Dai trong y phục in họa tiết thanh hoa.
The Chinese celebs, Chiling Lin, Bing Bing Fan and Fei Fei Dai dress’d in Qing Hwa prints


Nhà thiết kế thời trang Trung Quốc Gou Pei trong trình diễn thời trang cao cấp Thu Đông 2010 lại tiếp tục với niềm cảm hứng từ đồ sứ Thanh Hoa. Trang trí tóc dáng hình chiếc quạt gợi nhớ các nàng công chúa thời Thanh.


Thời trang Gucci tung ra giỏ xách Rồng Thượng Hải tại hôm lễ khai mạc Shanghai Expo






 


more!

KHTN Sưu Tầm & Dịch

 

*MỤC LỤC – GIẢI TRÍ – THƯ GIÃN

Read Full Post »

« Newer Posts - Older Posts »