Feeds:
Bài viết
Phản hồi

Archive for the ‘GIẢI TRÍ – THƯ GIÃN’ Category

*MỤC LỤC – GIẢI TRÍ – THƯ GIÃN

*Nhớ Mãi Nụ Hàm Tiếu

*Đầu xuân nói chuyện Quốc Hoa

*Cảm hứng Thanh Hoa Sứ

*Pho tượng Quan Âm – Lâm Ngữ Đường

*Chuyện phiếm ; từ hàng giả đến người giả

*Kho báu

*Thư giãn với tiểu phẩm 2

*Thư giãn với tiểu phẩm 3

*Thư giãn với tiểu phẩm 1

*Chuyện tán gẫu về chó tây do bác sĩ thú y viết

*Sưu tầm dành khi tán gẫu

*Sách mới ? A dictionary of Womanese

*Gương vỡ , mèo mun và nhiều điều tốt lành

*Sự hấp dẫn của ngừoi đàn ông đáng chán  nhất  thế giới

Read Full Post »

*MỤC LỤC – GIẢI TRÍ – THƯ GIÃN

*Vài giai thoại về vị Hoàng Đế Trung Hoa xuất thân từ ăn mày Chu Nguyên Chương

*LÊ CÔNG KIỀU – Kho Tàng Những Tạo Vật Phù Du

*Làm Đồ Giả Cổ Và Thị Trường Đồ Cổ

*Từ Thú Chơi đến Nghề Buôn Đồ Cổ Của Người Việt

*Cổ bình Hồng Võ …. Vương Hồng Sển

*Đồng tiển cổ truyện ngắn & Tác giả

*Kho cổ vật quý 500 tuổi và vụ trộm kỳ lạ

*Đầu xuân nói chuyện quốc hoa

*Những câu chuyện vàng hời

*Sự thật về hình tượng Lê Văn Tám

*Curator – Họ là ai ?

*Phát hiện kho báu vàng tại Anh

*10 kho báu vô giá của nhân loại

*Kẻ trộm cuỗm tranh khỏa thân 6 triệu đô la

*Ông bình vôi truyện dân gian

*Hành trình khổ đau của một học giả mê gốm sứ Đông Nam Á

*Hành trình khổ đau của một học giả mê gốm sứ ĐNÁ ( phần 2 )

*Hành trình khổ đau của một học giả mê gốm sứ ĐNÁ ( phần 1 )

*Lời nguyền trên kho báu Chăm

*Kho tang ChămPa – thực tế và truyền thuyết

*Truyền thuyết những viên ngọc thời cổ ở Trung Hoa

*Tác phẩm “ võ sĩ vàng “ tiết lộ kho báu của thiên hoàng

*Pho tượng cổ

*Kho báu hội Hoa Mai

*Kho báu của quân Mông cổ

*Nhữngchiếc ấm đất

*Viên phi công và chiếc đĩa cổ

*Chuyện “nổ “ về” đồng tiền cổ “  trị giá 300 tỷ

*Chiếc thống cổ

*Đồ cổ có ma

Truyền thuyết về kho tàng champa ở thành đồ bàn

Read Full Post »

I. Tôi nhớ mãi câu của Tư Mã Quan:

“Học xong mà thành đạt quên cả người thầy dạy mình thì chưa phải là học”

Tôi ngồi dưới mái trường Trung học Mỹ Nghệ thực hành Biên Hòa không đủ bốn năm, mà chỉ học tới năm thứ ba (Đệ Tam Niên) thôi!

Nếu học trọn khóa, lãnh bằng tốt nghiệp, là công thành danh toại, tựa bông hoa tới kỳ nở rộ, khoe sắc hương thơm.Trong khi tôi học hành dang dở, nghề nghiệp chưa thành, tựa nụ hoa chưa nở, nên không tỏa hương sắc – Nụ hàm tiếu.

Tuy vậy, tôi cũng có kỷ niệm về nụ Hàm Tiếu. Xin kể ở đoạn sau.

– Giờ đây có ai hỏi tôi, ngôi trường Trung học Mỹ Nghệ thực hành Biên Hòa giờ ở đâu?

– Tôi xin thưa: Ngôi trường thân yêu ấy hiện nó đang “nằm” trong trái tim tôi.

Vâng. Tôi “lọt” vào “đôi mắt kính” của truờng Mỹ Nghệ thực hành Biên Hòa khóa 1960-1964. Qủa không dễ chút nào ! Cũng “trầy da tróc vẩy”. Bởi một, phải “chọi” với năm, tỉ lệ 1/5. Nghĩa là: khóa học năm ấy! Chỉ tiêu của trường tuyển bốn mươi học sinh, cho lớp đệ nhất niên (đệ thất), nhưng có tới bốn trăm người dự thi và tôi may mắn nằm trong số bốn mươi người trúng tuyển và đậu hạng tư. Với hạng này, tôi được học bổng của tỉnh, mỗi tháng hai trăm đồng “tương đương hai triệu đồng bây giờ”. Cũng cần nói thêm, trường hồi ấy có hai loại học bổng: Của Bộ Quốc Gia giáo dục, mỗi tháng được bốn trăm, cho hai xuất. Hạng nhất và hạng nhì của tỉnh, từ hạng ba tới hạng năm, ba tháng lãnh một kỳ, mỗi lần lãnh tôi được sáu trăm, nếu có tác phẩm bán được, hưởng thêm 30% nữa! Vị chi tôi cũng được 7-8 trăm đồng, đủ trang trải giấy bút, sắm áo quần, giầy dép, cũng bớt gánh nặng cho gia đình!

Học năm đầu đệ nhất, tôi có chuyện vui vui, đáng nhớ! Xin kể – số là một lần có người hỏi thăm tôi bao nhiêu tuổi, và học lớp mấy? Tôi trả lời tôi mười lăm tuổi và học lớp đệ nhất! Họ tròn mắt nhìn tôi, thán phục! Qủa là tuổi trẻ tài cao, mới có tí tuổi này! Mà đã chuẩn bị lấy bằng tú tài kép “ tú tài đôi” (Hồi xưa chúng tôi vẫn gọi thế). Với bằng này thường ở tuổi 18-20. Cấp T.H.P.T, năm đầu là lớp đệ thất ( lớp 7) nhưng với trường nghề như Trường Mỹ Nghệ Biên Hòa lại gọi là đệ nhất, thế mới oái oăm! Tôi có mấy người bạn nữ trường K.T học lớp đệ lục “lớp 6” vẫn đinh ninh rằng tôi chuẩn bị “giựt” bằng tú đôi, rồi khoe với bạn bè, ra vẻ hãnh diện lắm! Ai có ngờ! Đời là thế!

Tôi cứ lặng im như … thóc, chẳng biện bạch chi cả. Kệ! Họ muốn hiểu sao thì hiểu, mình cứ hiên ngang tiến bước…

Chuyện thứ hai cũng đáng nhớ. Đó là giờ văn của Cô NGUYỆT( cô Nguyệt vừa dạy văn vừa dạy toán) đề Cô cho chúng tôi hôm ấy: Tả cây Phượng già trước sân trường. Cây cây phượng này là nguyên nhân, gây ra bao rắc rối, bởi những tay có tâm hồn lãn mạng hay viết vớ vẩn lên thân nó! Nào là hình hai trái tim lồng lên nhau với chữ HL (H.L) y như chữ Hy Lạp ! Mà chỉ có người trong cuộc mới hiểu ! Hoặc hình trái tim có mũi tên đâm vào, lại có vài giọt máu rơi xuống ! Qủa khó hiểu! Mà thôi ! Ai muốn hiểu sao thì hiểu !!!

Còn nhiều câu, nhiều hình đan xen nhau, chi chít! Làm tội cái gốc cây phải “gồng mình cõng” biết bao nhiêu cái đầu hâm nóng….

Cũng có những hình không lành mạnh, bởi cái đầu lệch lạc! Nên ai đó ?! Đã đè lên thân nó câu : “ Người họa sĩ này có bàn tay vẽ rất khéo ! Nhưng có tư tưởng không đứng đắn !”

Bài làm trong giờ xong, nộp cho Cô và Cô hẹn tiết sau trả bài. Chúng tôi chờ đợi trong sự hồi hộp. Hai ngày sau gặp Cô cũng tiết văn. Chúng tôi nhận lại bài, cả lớp ai lấy đã có bài. Bài thằng Lộc ngồi cạnh tôi, được điểm năm, nó không vui, cũng không buồn ! Tính nó là vậy ! Duy có tôi chưa nhận được bài ! Và tôi thấy trên tay Cô còn cầm một bài. Tôi hồi hộp tự hỏi chuyện gì sẽ xảy ra đây ! Thằng Lộc nó bảo” chắc bài của mày rồi! Bài mày làm chắc quá ẹ ! Nên bị Cô giữ lại” Tao nào biết ! Tôi trả lời nó vậy ! Bất ngờ Cô hỏi” em Phát đâu ? Đứng lên Cô coi ?”  Vì mới “ chân ướt chân ráo” nên Cô chưa biết mặt học trò. Tim tôi như muốn nhảy khỏi lồng ngực, đánh như trống… làng ! Phải đợi Cô gọi tới lần thứ ba, tôi mới từ từ đứng lên, mặt xanh như tàu lá (sau thằng Lộc nó bảo tôi vậy). Cô nhìn tôi mỉm cười, vẻ trìu mến, làm tôi hơi an tâm ! Rồi Cô nói: “Bài em làm r..ấ..t” Cô kéo dài chữ rất làm tôi càng điếng hồn! Cả lớp đổ dồn ngó tôi!!! Thú thật, lúc ấy! Phải là tôi Ngộ Không thì tôi đã thăng thiên, hoặc độn thổ ngay lập tức! Rồi Cô nói tiếp: “Bài em làm rất hay, điểm chín, đáng làm bài mẫu! Tôi thở phào nhẹ nhõm, như vừa chút được bao chì nặng trĩu! Tôi liền đá vào chân thằng Lộc một cái!!! Nó trợn mắt ngó tôi…cười! (Tôi thân với thằng Lộc hồi còn tiểu học). Rồi Cô trích một đọan và phân tích câu cú cho cả lớp nghe.

Tôi viết: Cây phượng trong sân trường! không biết nó mọc ở đây, từ bao đời! Và đã trải qua, bao thế hệ học sinh, thầy, cô, tới nay! Chính xác nó được bao nhiêu tuổi đời!?

Tôi chẳng biết! Chỉ biết rằng, cứ nhìn vào “ Dung nhan” về chiều của nó, với cái gốc to bè, sần sùi, đến 3-4 người lớn ôm không xuể, thì có thể đóan nó phải ngoài thất thập (ngoài 70 tuổi). Mà nó lại mọc ngay bìa trường, đứng sừng sững như người mẹ già nua vương những cánh tay khổng lồ ngoằn ngèo như những con rắn lượn! Phủ rợp cả một sân rộng, che nắng cho đàn con đông đúc, vui đùa, thỏa thích. Nhưng trong đám con ấy! Lại có những đứa tinh nghịch, ưa phá phách! Cứ leo lên từng cánh tay mẹ (vì tôi thấy có một sợi dây thừng to bằng cổ tay người lớn, được cột từ cành to cao nhất xuống tận đất ( chắc để học sinh chơi du dây) để bẻ những “ ngón tay” mẹ, mà vứt xuống! (bởi trên sân đầy những cành phượng nhỏ mang chùm hoa đỏ rực, tựa màu máu). Lúc ấy! Chắc “mẹ” đau lắm!? (Bài còn dài xin dừng tại đây!).

Sang năm thứ hai thì chọn ban, tôi theo bạn chọn điêu khắc đá nhân tạo. Đúng như lời cổ nhân có câu ” Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh” Trường hồi ấy có mấy ban như: Ban đồng do thầy Ung Văn Nam dạy, Ban Xoay do thầy Hai Bồi dạy, Ban Men thầy Nguyễn Văn Nhàn, ban điêu khắc thầy Nguyễn Văn Mậu, đá nhân tạo thầy Cừ, ban khuôn thầy Đinh, năm đầu mọi học sinh đều qua các ban. Năm hai thì chọn ban theo năng khiếu và học lấy một nghề cho thật giỏi, thật tinh thông, thế mới đúng: Nhất nghệ tinh…! Trường đã đi đúng lời cổ nhân dạy!..

Ban khắc có hơn mười bạn. Tôi, Thanh, Lịch, Soi, Lộc, Phép, Phấn, Liễu, Hướng, Tòng, còn mấy người bạn người nam, tôi không nhớ hết tên! Ban này do thầy Cừ và thầy Mậu giảng dạy. Thầy Đinh tuy dạy cùng phòng với hai thầy Cừ và thầy Mậu, nhưng thầy dạy môn khuôn, môn này tôi cũng học qua năm đầu, nhưng không có khiếu, đành trả nghề lại thầy! Em mong thầy lượng thứ cho thằng học trò bất tài này!!!.. vì không theo nổi nghề của thầy!

Với môn khiêu khắc đá nhân tạo, tôi cũng có vài kỷ niệm buồn, vui với các bạn! Chẳng hạn: Học được vài tháng đầu tôi nghe theo lời thầy Cừ bảo: “ Các em phải luôn có óc sang tạo, luôn đổi mới trong tư duy! Nhất là ngành khiêu khắc đá, phải tìm mọi hướng đi nghệ thuật cho riêng mình, như danh họa Picasso, có riêng một trường phái của ông, ngày nay khó có ai sánh kịp! Trước giờ! Điêu khắc chỉ thuần túy nắn một kiểu tròn, góc vuông, tức đồ giặt, rồi sẽ tạo riêng trường phái giặt!!! “ Câu nói của thầy Cừ cứ mãi xoáy vào tâm trí tôi, để rồi tôi đã thực hiện được điều thầy dạy.

Lần ấy! Chúng tôi thực tập, nặn con dơi sống, nó được nhốt trong cái lồng sắt, chúng tôi đứng bao quanh nó, nhìn và nặn, lâu lâu lại đổi chỗ xoay vòng, cốt để hoàn chỉnh tác phẩm.Và kết quả con dơi đá nhân tạo của tôi đã được trưng bầy trên H.T.X, mà bây giờ không biết nó “ bay” về phương mô?! Kể từ H.T.X không còn nữa.

Riêng môn đá nhân tạo, ngoài những chất liệu chính như: Xi măng, bột đá, màu, dụng cụ, dăm bằng sắt dăm lên tác phẩm để tạo sần sùi như đá thiên nhiên ra, còn có một bí quyết! Mà không phải ai cũng có thể làm được: Sư phụ cũng không dạy! Theo tôi! Chỉ có thiên phú, trời cho ai, người ấy được! Đó là chất… mồi hôi tay: “ Nghe có vẻ khôi hài, nhưng đó là sự thật”! Mồ hôi ai mà chẳng có, người thì mồ hôi muối, người mồ hôi dầu, mà đá nhân tạo lại chỉ hợp với người mồ hôi dầu, thế mới lạ kỳ ? Tôi đã bao phen “ghen” với tay Lịch, vì bài nó luôn được điểm cao, mặc dù xét về kỹ thuật tạo hình, tôi không thua hắn! Mà thua hắn về mỹ thuật. Nhìn tác phẩm của hắn luôn bóng láng và hấp dẫn! Vì hắn hay lấy tay xoa xoa lên tác phẩm “ thì ra hắn mồ hôi dầu!” Tôi cũng bắt trước hắn xoa xoa lên tác phẩm đến nỗi rát cả tay, đỏ tấy lên mà chẳng bóng! Trái lại nó cú bạc trắng ra, nhìn cứ như bị mốc! Hóa ra tôi mồ hôi muối!.

II- Nụ Hàm Tiếu:

Vừa rời mái trường Trung học Mỹ Thuật Thực Hành Biên Hòa năm 1963, tôi lên sài gòn kiếm việc và tìm cách học thêm để luyện thi cấp 3, tôi ở trọ nhà một người bà con, ở xóm Chí Hòa, dường Lê Văn Duyệt, nay là đường C.M.T.8. Quận 3, TP.Hồ Chí Minh, đang thất nghiệp đi lang thang trên đường Lê Văn Duyệt ngắm cảnh hai bên đường. Đi gần tới chợ Ông Tạ, tôi thấy trước cửa nhà có treo tấm bảng nhỏ đề vỏn vẹn bốn chữ: Cần người biết vẽ! Mừng quá, như người đang trong cơn khát, được ai cho ly nước uống, tôi liền vào xin việc, chủ tiệm đang lim dim gật, nghe tôi hỏi, anh tỉnh hẳn, nhìn tôi từ đầu tới chân. Biết tôi xin việc, rồi cuộc phỏng vấn chớp nhoáng về nhân thân, tên tuổi, biết tôi vừa dời Trường Trung Học Mỹ Nghệ Biên Hòa ra, và anh cho biết cũng mới tốt nghiệp Trường Bách Nghệ Phú Thọ và thuê phòng này mở phòng vẽ được hai tháng nay. Anh hơn tôi năm tuổi, tên Sơn. Vậy là cùng cảnh ngộ, đồng hội, đồng thuyền, dễ cảm thông!!! Rồi anh hẹn tôi ra nhận việc… để rồi nụ hàm tiếu nó “ mọc lên từ đây …!”.

Phòng vẽ, thì chủ yếu vẽ quảng cáo, bảng hiệu cho mấy quán bar. Vì thời gian ấy (1963) quân Mỹ ồ ạt sang Việt Nam mang theo những đồng đôla xanh, đỏ, rải đi mấy quán có cave “tiếp viên nữ” nên quán xá mọc lên càng nhiều! “ Chúng ta cứ chặc đẹp, tiền chùa mà” Anh Sơn bảo vậy!

Chúng tôi làm ăn với nhau được vài tháng, thì vào một sáng đẹp trời, tiết thu. Hai anh em đang thổi “kèn” và nghĩ ngợi lung tung, thì có một vị khách bước vào, ông khoảng năm mươi tuổi, lịch sự chào chúng tôi và muốn đặt chúng tôi vẽ bức tranh: Nụ hàm tiếu, đồng thời cho biết giá. Sau khi thỏa thuận giá cả, khách đồng ý. Chúng tôi hẹn ngày giao hàng, khách còn hào phóng đặt cọc và nở nụ cười “ hàm tiếu” ( sau này sự việc vỡ lẽ, chúng tôi mới hiểu nụ cười “ chết người ấy”! … cười chế diễu).

Sau khi ông khách ra về, hai thằng tôi nhìn nhau: Tôi hỏi anh Sơn hoa Hàm Tiếu là hoa gì? Anh Sơn lắc đầu!

–         Tôi cũng không biết nữa! Hồi học ở trường có ai dạy vẽ hoa Hàm Tiếu đâu?!

–         Tôi nói – hồi học ở trường em có vẽ khỏa họa bông hoa hồng, hay mình vẽ hoa hồng!?

–         Ừ! Cũng được, anh Sơn gật đầu, và chạy ngay ra chợ Ông Tạ mua một bông hồng to, tươi, nức mùi thơm, kèm theo cái nụ trên cành, rồi anh trao tôi vẽ, mẫu sao vẽ vậy! Sau một ngày vẽ và anh Sơn chỉnh sửa, bức tranh đã hoàn chỉnh, một bông hồng to và cái nụ hoa trên nền vải nhung tím được lồng trong khung gỗ, khổ 30 x 40cm, coi cũng có hồn lắm!!! Và bức tranh được bọc một lớp nhật trình, rất cẩn thận, chúng tôi chờ đợi trong sự hồ hởi! Rồi ngày hẹn cũng tới, khách đến lại vào cái giờ mà chúng tôi cho là “kị”- gặm bánh mì, buộc chúng tôi phải bỏ ra tiếp khách.

–         Khách nhìn chúng tôi, tỏ vẻ thân thiện, miệng luôn nở nụ cười như buổi đầu gặp, tôi liền trao bức tranh cho ông.

–         Ông giỡ lớp giấy bọc ngoài! Ngắm tranh một lúc, ông gật đầu khen “ Tranh vẽ bông hồng với cái nụ phải không? Khá đấy! Rất nổi! Vì hoa màu hồng đỏ, lại đặt lên nền nhung tím sẫm càng bật lên nét đặc trưng của hoa và cái nụ nho nhỏ, vậy cái nào là nụ Hàm Tiếu?!”

–         Hai thằng tôi ngớ người nhìn nhau, sau một giây, tôi chỉ đại vào cái bông hoa và bảo:

–         Dạ! đây là nụ Hàm Tiếu!!!

–         Ông khách phá lên cười dòn dã một hồi, và hai tay vỗ vỗ vào vai hai thằng tôi và nói:

–         Không phải rồi hai chú ơi! Hoa hồng là hoa hồng, nụ hàm tiếu là nụ hàm tiếu! Không thể lẫn lộn nhau được, Rồi ông giải thích cặn kẽ.

–         “Thật ra, khi nói đến nụ hàm tiếu là nói chung cho mọi nụ của các loài hoa chứ không riêng hoa hồng, hoa cúc, hoa mimosa chẳng hạn! Rất tiếc cái nụ này ( ông chỉ vào bức tranh) các chú vẽ nó hãy còn ngậm!!! Chưa hé nở! Vậy nụ hàm tiếu là cái nụ chớm nở! Các văn nhân thi sĩ khi ngắm nụ hoa chớm nở, đều cho là đẹp hơn cả bông hoa đã nở rộ! Vì thế người ta ví người con gái nào có nụ cười chúm chím, cười mỉm chi, khi cười chỉ khoe chút răng, đều cho là đẹp. Cái đẹp ở đây cón ẩn ý là người con gái kín đáo, ý tứ, được giáo dục kỹ lưỡng, nên được gọi là “Nụ Cười Hàm Tiếu”.

–         Hai thằng tôi cúi đầu sượng sùng! Lạnh thinh! Anh Sơn di di chân dưới đất, còn tôi, tay chân lúc ấy cảm thấy sao mà nó thừa đến vô duyên, chẳng biết giấu đâu! Căn phòng gần chục mét vuông, bình thường thấy rộng thênh thang, mà sao lúc này! Nó trở nên chật chội, ngột ngạt, khó thở lạ! Đang gặp nước bí, chưa biết ăn nói thế nào cho khách!!! Thì như hiểu được cảm nghĩ của hai thằng tôi!? Ông lên tiếng phá tan bầu không khí “ đặt quánh” bao trùm chúng tôi!. Ông tế nhị nói: “ Qua biết hai chú mới ra nghề, như mới dời trường lớp phải không? Nên chưa dầy dặn kinh nghiệm trường đời! Thế nên qua muốn thử cho vui thôi! Không ác ý gì đâu, dẫu sao đây cũng là bài học cho hai chú em. Người Pháp có câu : Ecol de lavie “ Trường đời” rất có nghĩa! Nói xong! Ông trả nốt tiền còn lại và lấy bức tranh, còn bắt tay hai thằng tôi vẻ chân tình, thân thiện, rồi chào tạm biệt!

Chúng tôi chưa kịp nói lời tạ lỗi, và cảm ơn vị khách quí, thì bóng ông đã mất hút vào lòng chợ Ông Tạ. Chúng tôi chợt bừng tỉnh! Như một cơn mê! Tiếc ngẩn ngơ!!!

Cho tới nay! Dù đã trải qua mấy chục năm, bao vật đổi, sao dời, biết bao việc đổi thay, nhưng với cái nụ Hàm Tiếu và vị khách quý kia, vẫn không phai mờ trong tâm trí tôi, bởi tôi đã coi ông như một người thầy trong đời, dù ông không dạy như thầy cô dạy trong trường lớp! Nhưng đã có câu: Nhất tự vi sư, bán tự vi sư “Một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy”, nếu không, làm sao chúng tôi biết được nụ hàm tiếu ra sao!? Để nó vẫn “ đeo sát” tôi trong gần nửa thế kỷ nay!!!

Nhân kỷ niệm 105 năm thành lập trường Cao đẳng Mỹ thuật Trang trí Đồng Nai, tôi viết lên những dòng này! Kính dâng lên vong linh các thầy cùng bạn thân yêu, như thắp lên nén hương lòng vậy!

Đồng Nai, ngày 07 tháng 3 năm 2008

Read Full Post »

Rồng đá, rùa đá bị chặt đầu: Hé lộ những ân oán lịch sử
Có những lời nguyền lịch sử tưởng mãi vùi sâu vào quên lãng. Nhưng có những phát hiện ngẫu nhiên trong lòng đất lại hé lộ những ân oán qua các vụ chặt đầu linh vật (?!).

Gần đây, khi thành nhà Hồ được UNESCO công nhận là di sản thế giới, khi kiểm lại kho báu di sản, các nhà khảo cổ mới thấy ngoài tòa thành đá đẹp nhất Đông Nam Á, các hiện vật phát lộ ngày một nhiều theo các cuộc khai quật khảo cổ, trong số đó có một cặp rồng đá lớn và độc nhất vô nhị, nhưng lại… mất đầu!

Rồng đá bị chặt đầu tại thành nhà Hồ.

Đôi rồng đá này được dân địa phương tìm thấy cách đây 74 năm khi một người nông dân xứ Thanh đang cày ruộng phát hiện được. Nơi tìm thấy rồng đá là giữa trung tâm Hoàng thành của thành Tây Đô này. Nhưng lạ một nỗi, cả đôi rồng đều bị chặt đầu. Không thể là một sự ngẫu nhiên. Từ bấy đến nay, quanh đôi rồng đá có bao sự tích truyền miệng.

Nhiều phóng viên đã lặn lội về tận nơi tìm hiểu thực hư. Nhưng có lẽ mỗi một người đều được giải đáp theo một cách.

Phải chăng rồng bị chặt đầu là do một nhóm người đập nát đầu rồng để tìm ngọc quý giấu trong đôi mắt? Chẳng thể có lý, khi mà chưa một rồng đá nào ở Việt Nam lại được yểm vàng bạc châu báu trong đôi mắt cả, kể cả những đôi rồng đá ở điện Kính Thiên và đền An Dương Vương. Mà những tay ăn trộm cổ vật thì quá khôn ranh, phải tìm đến đúng địa chỉ có cổ vật. Đó là các loại mộ táng, nhất là loại mộ gạch cách đây gần 2.000 năm có các đồ tùy táng quý, kể cả vàng, ngọc. Phần nhiều những mộ này khi khai quật khảo cổ thì đều đã bị đào trộm từ xa xưa mà dấu vết còn nguyên cả một ngách đào từ đỉnh gò mộ xuyên thẳng xuống.

Có thuyết lại cho rằng là do dân làng Xuân Giai ở ven cổng Nam tin rằng, làng hay bị cháy là do đầu rồng quay về hướng làng mà phun lửa, nên phải chặt đầu rồng? Cũng không có khả năng này, vì nếu thế thì nhiều ngôi làng sẽ bị cháy và nhiều rồng đá bị chặt đầu. Mà xem ra, chuyện rồng bị chặt đầu là chuyện hy hữu và chuyện rồng phun lửa đốt làng cũng không phải là tích chuyện phổ biến trong dân gian. Vả lại, chuyện chặt đầu một linh vật như thế, hẳn không phải người trong một làng mà dám làm như vậy.

Truyền thuyết cũng chỉ là truyền thuyết mà nhiều khả năng là truyền thuyết mới có sau khi rồng được đưa lên mặt đất, khó có thể coi là sự thật lịch sử. Mà sử cũ cũng không có dòng nào nói về chuyện chặt đầu rồng hiếm có này.

Đôi rồng đá mang đặc trưng của rồng thời Trần-Hồ, với thân hình uốn khúc, có bờm uốn lượn, bốn chân, ba móng. Chiều dài toàn thân khoảng hơn 3 mét. Rồng được đặt ở thềm bậc của cung điện, nhưng là cung điện nào trong thời đại ngôi thành đá này còn là chốn kinh đô? Cũng còn phải chờ thêm các cuộc khai quật mới trả lời được. Chỉ biết rằng, theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư thì khi đó, trong Hoàng thành có lầu son, gác tía điệp trùng như: điện Hoàng Nguyên, cung Nhân Thọ, cung Phù Dực, Đông Cung, Thái Miếu. Đôi rồng đá khi đó là biểu tượng của một triều đại ngắn ngủi, kéo dài có 7 năm (1400-1407) dưới sự trị vì của Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thương. Một thời điểm có nhiều cải cách cấp tiến như sử dụng tiền giấy, chế độ hạn nô, hạn điền, thi cử, chọn hiền tài…, nhưng cũng là thời điểm đầy những sự kiện bi thương. Lòng người chưa yên, phương Bắc nhà Minh đang rình rập.

Đôi rồng đá bị chặt đầu tại thành nhà Hồ, Thanh Hóa.

Có thể đôi rồng đá bị chặt đầu ngay sau khi triều đại Hồ Hán Thương bị sụp đổ. Ai là người oán ghét triều đại này đến nỗi “giận cá chém thớt”, chém luôn cả biểu tượng của một triều đại? Mọi chuyện dường như có nguyên do từ cuộc “chính biến” năm Kỷ Mão 1399 tức là trước khi Hồ Quý Ly lên ngôi một năm. Khi đó, Thượng tướng quân Trần Khát Chân mưu giết Hồ Quý Ly, nhưng việc bị bại lộ (về sau Trần Khát Chân được Vua Lê Thánh Tôn phong làm Trung thần Nghĩa sĩ). Ông bị hành hình trên núi Đốn Sơn cạnh thành nhà Hồ. 370 người gồm các tướng theo ông và gia quyến bị giết đến nỗi mà thư tịch ghi lại: “con gái bắt làm nô tỳ, con trai từ 1 tuổi trở lên bị chôn sống hoặc bị dìm nước”. Cuộc trả thù còn kéo dài vài năm nữa. Đó cũng là một dấu lặng buồn của lịch sử giống như  Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ cũng bị “tru di tam tộc” trong vụ án oan Lệ Chi Viên, sau vụ án Trần Khát Chân 43 năm.

Những người dám cả gan chặt đầu một linh vật, biểu tượng triều đại, có thể là những người thoát được cuộc trả thù năm Kỷ Mão. Họ đã tìm về mảnh đất còn lưu dấu hình bóng một vương Triều, để chặt đầu rồng và có những lời nguyền lịch sử. Sau đó, lịch sử đã sang trang. Thành nhà Hồ đã trở thành phế tích, đôi rồng đá chứng nhân của lịch sử cũng bị vùi trong lòng đất dễ đến hơn 500 năm.
Những tưởng rồng đá bị chặt đầu đã là chuyện lạ, nhưng ngay cả rùa đá cũng bị chặt đầu. Có lẽ trong tâm thức người xưa, hai con vật thuộc diện “tứ linh” (Long, Ly, Quy, Phượng) mang một ý nghĩa biểu tượng sâu sắc, cho một sự suy thịnh của một vương triều. Vì thế, chém đầu các con vật thiêng này gần như là một cuộc đòi nợ “ân oán” nào đó mà sử sách không ghi lại một dòng nào, nhưng chứa đầy những thông điệp lịch sử không thành văn.

Một tượng rùa đá khá to sẽ mãi mãi chìm trong lòng đất và mang theo bao uẩn khúc của lịch sử, nếu như vào ngày 15/11/2004, các chiến sĩ thuộc Đơn vị E600, Bộ Tư lệnh Cảnh Vệ đã phát hiện ở độ sâu 1,3 m trong lúc đào móng xây dựng doanh trại ở cạnh vườn Bách Thảo Hà Nội. Rùa đá kích thước khá lớn: chiều dài mai rùa đã là 2,01 m. Chiều rộng mai là 1,58 m, chiều cao thân rùa là 43 cm. Tượng rùa là phần bệ để đỡ một tấm bia đá bị mất từ trước.  Một chân đế phẳng có độ dày khoảng 27 cm làm nền cho tượng. Phần thân rùa còn nguyên vẹn, mai có hình gần bầu dục, hơi cong vồng.

Rùa đá bị chặt đầu phát hiện ở gần vườn Bách Thảo, Hà Nội.

Đáng ngạc nhiên là tượng rùa bị chặt đầu và chặt một bên chân sau. Vẫn còn thấy 3 chân còn lại, có 5 móng nhọn sắc, quặp xuống và phần đuôi tròn uốn lượn, nằm vắt lên mai rùa. Rùa bị chặt đầu và chân một cách có chủ ý, vết chặt còn gọn và sắc. Người chặt đầu rùa chắc là phải có ân oán gì đó sâu nặng lắm mới “ra tay” một cách ghê gớm nhường vậy?!.

Đi tìm niên đại của rùa Bách Thảo là một công việc khó khăn, vì rùa đã bị mất đầu, vốn là bộ phận lưu dấu nhiều họa tiết tạo hình đọng lại dấu ấn thời gian. Nhưng qua so sánh với 82 tấm bia ở Văn Miếu khắc tên của 130 vị Tiến sĩ, có thể thấy rùa đá này giống với rùa của bia năm 1466 và 1478 ở đặc điểm chân có 5 móng thò ra ngoài, mai rùa hình bầu dục, cong vồng, phần đuôi cong uốn lượn… Rùa Bách Thảo cũng có nét giống với rùa trên bia đá Lam Kinh, Thanh Hóa. Vì thế, có thể đoán định “ngày sinh” của rùa vào khoảng thời Lê Sơ là hợp lý. Đi tìm lý do nào khiến rùa bị chặt đầu đã hấp dẫn các nhà khảo cổ để giải tỏa nỗi oan khiên, dễ đến khoảng 500 năm cho rùa.

Vị trí rùa được tìm thấy chỉ cách điện Kính Thiên thời Lê khoảng 700 m, liệu có liên quan gì đến Hoàng thành Thăng Long? Đây cũng là địa giới của thôn Khán Sơn xưa, bị phá từ cuối thế kỷ XIX để làm vườn Bách Thảo. Trước đây thôn có một ngôi chùa tên là Khán Sơn tự, có mặt trên bản đồ Hồng Đức từ năm 1490. Liệu đây có phải là rùa đội bia đá chùa Khán Sơn?

Vậy rùa đá có tội gì mà bị chặt đầu? Có lẽ câu trả lời nằm ở chỗ phải có những người ghét cay ghét đắng nhà Lê mới tìm đến để trả thù biểu tượng trường tồn của triều đại này. Họ hoặc con cháu họ bị oan khiên lớn lắm trong thời Lê thì mới tìm về để chặt đầu một vật vô tri vô giác là tượng đá?.

Thực ra, các nhà khoa học còn biết đến 2 con rùa đá bị chặt đầu nữa nằm ngay ở trong khuôn viên Văn Miếu Quốc Tử Giám. Đó là năm 1976, tìm được trong lòng hồ Văn Miếu tượng rùa đá có chiều dài 1,15 m, cũng bị chặt đầu. Năm 1990, lại tìm thêm được một rùa đá nữa dài 1,36 m và đầu cũng bị chặt. Hai con rùa đá này trên lưng vẫn còn được khoét rãnh để đặt bia. Rõ ràng đây là những rùa đá đội bia tiến sĩ. Tiếc rằng bia không còn nữa, vì thế khó đoán niên đại rùa.
Việc khai quật được thêm 2 rùa đá bị chặt đầu ở Văn Miếu, đã cho thấy xưa nay nhiều người quan niệm Văn Miếu chỉ có 82 tấm bia còn nguyên đặt trên lưng 82 con rùa là không chính xác.

Thực ra nếu tra cứu thư tịch cổ, số năm có khoa thi, số năm tổ chức khắc bia thì con số bia và rùa còn nhiều hơn thế. Trải bao năm tháng, bia và rùa cũng tản mát các nơi. May mà 2 rùa đá bị chặt đầu vớt được dưới hồ Văn Miếu, mới nâng tổng số rùa đá lên đến 84 con. Ngày nay, đến Văn Miếu, khách tham quan có thể thấy có 2 con rùa đá để ngay cạnh cổng đi vào khu nhà bia. Vẫn đội mưa nắng vì không có mái che như 82 con rùa đá khác. Cũng một chút ngậm ngùi cho số phận đôi rùa này, người đời giận nhau mà rùa bị chém đầu, nay lại còn không được nằm trong nhà bia như đồng loại.

Bia thì bị vứt, cho đến nay không tìm được. Rùa đội bia cũng mang vạ lây. Có thể đây là cách trả nợ ân oán giữa các triều đại. Khi mà người ta còn thấy một số bia Văn Miếu cũng bị đục bỏ một số chữ, thường là có tên các chúa Trịnh và một số tên các vị tiến sĩ. Một giả thuyết cho rằng khi Vua Minh Mạng nhà Nguyễn Bắc tuần năm 1821, đã ra lệnh đục những chữ liên quan đến chúa Trịnh. Chắc là vị vua này vẫn còn nhớ đến thuở Trịnh – Nguyễn phân tranh thuở nào hay cho rằng chúa Trịnh không thể sắp ngang hàng với vua Lê, kể cả trên bia đá?
Vì thế chuyện rùa bị chặt đầu, nhiều khả năng liên quan đến các ân oán triều đại. Có thể chính rùa đá Bách Thảo cũng là một trong số nhiều rùa vốn đội bia tiến sĩ Văn Miếu, vì thời thế đổi thay mà phải chịu cụt đầu và lưu lạc tới tận thôn Khán Sơn xưa.

Trong tương lai, có thể khảo cổ học sẽ phát hiện ra các tượng rùa đá nữa, vốn là linh vật đội bia Văn Miếu, bị chặt đầu và còn vùi trong đất, vì số lượng bia Văn Miếu vẫn còn chưa đủ so với sử sách ghi lại. Còn nhiều vấn đề ân oán nữa mà chính sử  không ghi, nhưng một điều  cho thấy rằng việc chặt đầu các linh vật như rồng đá, rùa đá cũng là những thông điệp lịch sử quan trọng để nghiên cứu sự thăng trầm của lịch sử cũng như bài học cho các thế hệ sau.

* Ảnh minh họa của Viện Khảo cổ học

Theo PGS.TS Trịnh Sinh (An Ninh Thế Giới)

 

 

 

Read Full Post »

VÀI GIAI THOAI VỀ VỊ HOÀNG ĐẾ TRUNG HOA XUẤT THÂN TỪ ĂN MÀY – CHU NGUYÊN CHƯƠNG

Minh Thái Tổ – Chu Nguyên Chương là người tay không dựng nghiệp lớn, đánh đuổi được người Mông Cổ, giành lại quyền tự chủ của người Hán. Bản thân không có một tấc đất nương thân, nhưng qua tự lực phấn đấu mà khai sáng được giang sơn Đại Minh gần 300 năm. Vì vậy, trong dân gian không chỉ ở Trung Hoa lúc đương thời, mà ở nhiều nước trong khu vực châu Á xưa cũng như nay vẫn còn lưu truyền nhiều giai thoại lạ lùng về ông.

Chén men đỏ dưới men vẽ hoa dây hoa mẫu đơn thời Hồng Vũ  – Bảo Tàng Cung Điện Quốc Gia Đài Loan.

 

I – Vị hoàng đế xuất thân từ ăn mày

Có thể nói, Chu Nguyên Chương là vị Hoàng Đế có một xuất thân khiêm nhường nhất trong lịch sử Trung Hoa. Xuất thân trong một gia đình bần nông, cha mẹ là những nông dân nghèo. Năm 16 tuổi, ông đi chăn gia súc thuê và không lâu sau thì bị chủ đuổi vì lén thui một con gia súc trong đàn để ăn. Năm 1344, một bệnh dịch tấn công làng nơi ông ở và giết chết cha mẹ cùng những người anh lớn chỉ trong vòng vài tuần. Chẳng bao lâu sau, ông phải tá túc làm sư ở một chùa để tránh nạn hạn hán và đói kém, nhưng chùa cũng không thể đủ sức nuôi hết các sư trong chùa, do đó ông lại phải rời chùa để kiếm sống trong 3 năm bằng cách đi ăn mày. Sau đó, ông lại trở về chùa làm sư trong 3 năm nữa. Chính trong thời gian này ông mới bắt đầu học đọc và viết. Cho đến một ngày khi một trong những sư sãi báo với chính quyền rằng ông có những mối liên hệ với một nhóm  băng đảng phản loạn mang tên Hồng Cân ( Khăn đỏ) khiến ông bỏ trốn và tham gia với chính nhóm phản loạn đó chiến đấu chống lại triều đình nhà Nguyên.

Trước khi nhà Minh được sáng lập, Trung Hoa nằm trong tay Nhà Nguyên (1271 – 1368), do người Mông Cổ cai trị. Dù đã Trung Quốc hóa, triều Nguyên vẫn là triều đại của kẻ chinh phục ngoại tộc, do đó trong thời kì này, xã hội Trung Quốc tồn tại hai mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn dân tộc và mâu thuẫn giai cấp. Theo nhiều nhà nghiên cứu, sự kỳ thị của người Mông Cổ với người Hán chính là nguyên nhân số một dẫn tới sự chấm dứt của triều đại này. Sự kỳ thị này dẫn tới nhiều cuộc nổi dậy của nông dân buộc nhà Nguyên phải rút lui về các thảo nguyên Mông Cổ. Tuy nhiên, một số nhà sử học như J.A.G Roberts (giáo sư ngành Lịch sử thuộc Đại học Huddersfield) lại chưa chấp nhận giả thuyết trên. Bên cạnh đó, còn có nhiều nguyên nhân khác dẫn đến sự suy thoái của triều Nguyên như dưới thời Nguyên Huệ Tông, tiền giấy được phát hành quá nhiều khiến gia tăng lạm phát lên gấp mười lần. Ðặc biệt cuối đời Nguyên, người Mông Cổ ngày càng xa xỉ, trong khi đó nông nghiệp trở nên trì trệ, đê điều hỏng nặng không sửa chữa, các loại thiên tai thường xuyên xảy ra, dịch bệnh lan tràn, do đó nhân dân càng khốn khổ. Trong hoàn cảnh ấy, các hình thức tôn giáo như đạo Di Lặc, đạo Bạch Liên và Minh giáo đang âm ỉ lưu truyền rộng rãi trong nhân dân, nhất là ở vùng lưu vực sông Hoàng Hà

Năm 1351, đê Hoàng Hà nhiều lần bị vỡ, nhà Nguyên bất đắc dĩ phải điều 15 vạn dân phu đi đắp đê. Nhân cơ hội ấy, giáo trưởng đạo Bạch Liên là Hàn Sơn Đồng cùng đồ đệ của mình là Lưu Phúc Thông mưu tính việc khởi nghĩa. Ðể tranh thủ sự đồng tình của quần chúng, Lưu Phúc Thông phao tin rằng Hàn Sơn đồng là cháu 8 đời của Tống Huy Tông từ Nhật Bản đem quân về đánh đổ triều Nguyên. Nhưng trong khi chuẩn bị khởi nghĩa thì kế hoạch bị bại lộ. Hàn Sơn Ðồng bị bắt và bị giết chết. Tuy vậy, Lưu Phúc Thông vẫn tiếp tục lãnh đạo khởi nghĩa.
Ðược tin Lưu Phúc Thông dựng cờ khởi nghĩa, nhân dân nhiều nơi nổi dậy hưởng ứng, trong đó có những nhóm tương đối lớn như lực lượng của Từ Thọ Huy ở Hồ Bắc, Quách Tử Hưng ở An Huy. Quần chúng khởi nghĩa đều chít khăn đỏ làm hiệu nên gọi là quân Khăn đỏ ( Hồng Cân quân ). Khẩu hiệu đấu tranh của họ là đánh đổ nhà Nguyên, khôi phục nhà Tống.

Lúc đầu lực lượng khởi nghĩa của Lưu Phúc Thông đã giành được thắng lợi to lớn, đã tôn con Hàn Sơn Ðồng là Tiểu Minh Vương Hàn Lâm Nhi lên làm vua, và đặt tên nước là Ðại Tống. Nhưng đến năm 1363, Lưu Phúc Thông bị Trương Sĩ Thành, một thủ lĩnh nông dân đã thuần phục nhà Nguyên, đánh bại.

Khi quân khăn đỏ của Lưu Phúc Thông đang tiến quân thuận lợi ở miền bắc thì nghĩa quân do Từ Thọ Huy lãnh đạo cũng thu được nhiều thắng lợi ở vùng lưu vực Trường Giang. Năm 1360, Từ Thọ Huy bị một viên tướng của mình là Trần Hữu Lượng giết chết. Trần Hữu Lượng tự xưng là vua, đặt tên nước là Hán. Năm 1362, một tướng khác của Từ Thọ Huy là Minh Ngọc Trân không phục Trần Hữu Lượng cũng xưng vương ở vùng Tứ Xuyên Vân Nam, đặt tên nước là Hạ.

Cũng trong thời kì này, lực lượng quân khăn đỏ do Quách Tử Hưng lãnh đạo không ngừng phát triển. Trong hàng ngũ họ Quách có một nhân vật về sau trở nên rất quan trọng, đó là Chu Nguyên Chương. Chu Nguyên Chương tham gia lực lượng khởi nghĩa do Quách Tử Hưng lảnh đạo năm 1352, đến năm 1355, Quách Tử Hưng chết, Chu Nguyên Chương trở thành người lãnh đạo chính của nghĩa quân. Chu Nguyên Chương là thủ lãnh duy nhất trong số các nhóm quân Hồng Cân là người có thể hiểu được ý nghĩa của việc đói khát. Ông không phí phạm bất cứ cái gì, ngay cả khi đã trở thành một thủ lãnh khu vực. Khi bộ đồ mặc ngoài đã quá cũ và rách ông vẫn dùng nó thay làm lớp áo phía trong, khi nó mòn thêm lần nữa ông lại thay vào lớp bên trong nữa cho đến khi nó không thể được dùng trở lại nữa. Khi một yên ngựa được trang hoàng bằng vàng và ngọc được đưa đến ông , ông từ chối và nói: “Tôi chịu trách nhiệm lãnh đạo vùng này, tôi cần binh lính và người dân, lúa gạo và quần áo hơn tất cả những cái khác, tất cả những của cải không phải là ước nguyện của tôi.”
Năm 1356, Chu Nguyên chương thành lập chính quyền ở Kim Lăng ( Nam Kinh ), được Tiểu Minh Vương Hàn Lâm Nhi  tiến phong làm Ngô quốc công, rồi đến năm 1364 thì xưng làm Ngô vương. Sau khi lần lượt đánh bại các toán quân của Trần Hữu Lượng, Trương Sĩ Thành… đến năm 1367, Chu Nguyên Chương đã thâu tóm hết miền Nam Trung Hoa rộng lớn.
Ngay năm đó, Chu Nguyên Chương sai tướng đem quân đánh miền bắc, đồng thời truyền hịch nói rõ mục đích của việc tiến quân là để đánh đuổi giặc Hồ, khôi phục Trung Hoa, lập lại cương kỉ cứu vớt nhân dân, khôi phục uy nghi cho quan lại người Hán.
Trong khi quân Bắc tiến không ngừng thu được thắng lợi, năm 1368, Chu Nguyên Chương lên ngôi hoàng đế ở Kim Lăng, đặt tên nước là Minh. Mùa thu năm đó, quân đội của Chu Nguyên Chương tấn công Ðại Ðô, triều đình nhà Nguyên vội vàng chạy lên phía Bắc, ra khỏi Trường Thành. Nền thống trị của nhà Nguyên ở Trung Quốc kết thúc. Tiếp đó, Chu Nguyên Chương tiêu diệt thế lực cát cứ của Minh Ngọc Trân và các lực lượng còn lại của triều Nguyên, đến năm 1387 thì hoàn toàn thống nhất Trung Hoa

II – Vị Hoàng đế khiêm nhường

Cuộc nổi dậy thành công và nhà Minh được thành lập năm 1368. Chu Nguyên Chương lên ngôi Hoàng đế, tức là Minh Thái Tổ. Ông lấy niên hiệu là Hồng Vũ, đặt quốc hiệu là Minh, xác lập quyền thống trị quốc gia cho gia tộc họ Chu. Ông đã đặt tên tân triều đại Minh của ông với hai lý do

  1.  Để biểu thị sự tôn trọng tất cả các chỉ huy của các nhóm quân phản loạn Hồng Cân – “Tiểu Minh Vương”. Bằng cách này tất cả những người phục tùng Tiểu Minh Vương cũng sẽ sẵn lòng đi theo nhà Minh của Chu Nguyên Chương.
  2. Minh là một Hán tự được  kết hợp từ hai chữ nhật và nguyệt – mặt  trời và mặt trăng. Các học giả Trung Hoa tin tưởng rằng các nhà cai trị đất nước luôn luôn tôn thờ mặt trời và mặt trăng , như vậy từ Đại Minh đã được dùng cho ý nghĩa tôn thờ này. Bằng cách này ông đã có thể chiếm được sự ủng hộ của các học giả cũng như nhiều giới khác .

Sau khi lên ngôi Hoàng đế, Chu Nguyên Chương vẫn giữ lối sống khiêm nhường như xưa. Một lần ông thấy hai thái giám trẻ tuổi trong cung đình mang những đôi ủng đi mưa mới và đi bộ tung tăng băng qua những đống bùn. Ông đã phạt họ với  lý do những người thợ làm giày đã phải tốn rất nhiều thời gian để làm đôi ủng đi mưa. Nếu những người hầu không quan tâm chăm sóc những đôi ủng là họ đã đi ngược lại ý chỉ của Hoàng Đế, ông sẽ phạt đánh gậy họ để họ nhớ không bao giờ quên. Lại một chuyện khác, có lần ông thấy một cung  nữ ném bỏ đi một đoạn lụa, ông đã triệu tật tất cả các cung nữ lại và khiển trách. Ông tính toán cho họ thấy phải tốn biết bao nhiêu thời gian để làm ra một cuộn lụa, bắt đầu từ việc sinh ra một con tằm, tằm nhả tơ cho đến khi hoàn thành được sản phẩm và rồi sau đó ông ra ý chỉ nếu việc này còn tái phạm thì sẽ không tha thứ mà sẽ bị chặt đầu. Liên quan đến các vật dụng nghi thức cho Hoàng Đế, ông đã ra lệnh phải hết sức tiết kiệm tiền bạc và phải tính toán kỹ lưỡng. Chẳng hạn nếu cái kiệu khiêng cần làm bằng kim loại vàng thì thay vào đó chúng được làm bằng đồng. Long sàng của Hoàng Đế chỉ là một giường bình thường với một khác biệt duy nhất là được khảm một con rồng bằng vàng.

Đồ án trang trí hoa cúc trên một đĩa thời Minh Hồng Vũ – Collection of Montague Meyer. Photo Sotheby’s

Một điều thú vị nữa chính là dưới thời Hồng Vũ, đồ gốm trong cung đình mặc dù vẫn được sản xuất nhưng không có sản phẩm nào được mang hiệu đề Hồng Vũ cả. Để chứng minh thêm rằng dưới thời Hồng Vũ không có đồ gốm sứ nào mang hiệu đề niên hiệu Hồng Vũ, viện bảo tàng Nam Kinh đã khai quật mở rộng địa điểm cung điện của hoàng đế Hồng Vũ tại Nam Kinh và tìm thấy hàng ngàn mảnh vỡ, nhưng không có cái nào được mang hiệu đề niên hiệu Hồng Vũ muốn tìm kiếm. Những món đồ cổ mang hiệu đề Hồng Vũ hiện nay được tìm thấy thực chất là do một nghệ nhân gốm sứ tên Yin-Chou-Sun làm. Yin-Chou-Sun chuyên làm nhái đồ gốm sứ thời đầu Minh vào năm 1937 – 1939. Ông ta đề dòng chữ ” Đại Minh Hồng Vũ niên Chế “‘ lên đồ gốm và trở nên rất nổi tiếng . Vậy nên một món sành sứ với hiệu đề Hồng Vũ thì  có lẽ đến 99,999 % nó là đồ giả. Cách hay nhất và đơn giản nhất để nhận dạng gốm sứ thời Hồng Vũ chính là gốm sứ sẽ mang phong cách nhà Nguyên, nhưng khác với phong cách truyền thống Nguyên. Điều này cũng được phản ánh trong các chính sách pháp trị thời Hồng Vũ, như là luật thuế thời ấy chỉ là ” những luật lệ thuế nhà Nguyên cải tiến ” những chính sách này có một chút xíu phong cách của nhà cai trị Minh.

III – Một vài luồng ý kiến khác về thân phận hoàng đế Chu Nguyên Chương

                                                                                     Xông trầm hình cầu thời Minh Tuyên Đế

 

 Vật dụng kê bút thời Minh Tuyên Đế sản xuất tại nam Giang Tây, mang ký tự Ả Rập nhưng lại có hình dáng liên hệ đến “Ngũ Đại Sơn” của Đạo giáo.

 

Nhiều nguồn cho rằng Hoàng đế Chu Nguyên Chương có xuất thân từ Hồi giáo. Yusuf Chang (Yusuf  là tên thường thấy của người Ả Rập, Chang là họ Trung Quốc), một người Hoa Đạo Hồi tại Đài Loan thừa nhận rằng mình là con cháu xa của Chu Nguyên Chương khi tổ tiên ông đã cưới một vị công chúa nhà Minh. Ông đã trình bày nhiều bằng chứng gây sửng sốt để dẫn chứng cho những  bí mật của tìn ngưỡng đạo hồi trong dòng tộc Đại Minh như sau :

  1. Khi Chu Nguyên Chương còn trẻ gia đình của ông chết vì dịch bệnh và ông đã chôn họ bằng cách cuốn họ trong vải trắng, cuốn người chết bằng vải trắng là phong tục của Đạo Hồi.
  2. Những cận thần gần gũi nhất của Chu Nguyên Chương là những người Đạo Hồi.
  3. Chu Nguyên Chương đã thông qua một đạo luật nghiêm khắc cấm rượu. Có lần Hoàng Đế đã ra lệnh xử tử con của một vị cận thần vì vi phạm luật này. Uống rượu cũng bị nghiêm cấm tại thế giới Hồi Giáo.
  4. Hoàng hậu Ma (vợ Chu Nguyên Chương) là một người Hồi Giáo. Đích thân bà nấu tất cả những bữa ăn cho Chu Nguyên Chương ngay cả sau khi ông trở thành Hoàng Đế.
  5. Màu biểu trưng hoàng gia của triều đại Minh là màu xanh lá, đây cũng là màu biểu trưng của Đạo Hồi .
  6. Chu Nguyên đã ra lệnh xây một ngôi đền Hồi Giáo tại Nam Kinh ngay khi ông lên ngôi và đích thân viết một bài thơ ca tụng Đạo Hồi và giáo chủ Mohamet. Bài thơ này được những người theo Đạo Hồi gọi là “syahada”  – tức tự bạch về lòng kiên trung của họ Chu về Đạo Hồi .
  7. Nhiều người Hồi Giáo đã lên được những thứ bậc cao dưới triều đại nhà Minh. Một ví dụ cụ thẩ nhất là đô đốc Trịnh Hòa. Yusuf Chang công bố rằng Trịnh Hòa được Hoàng Đế nhà Minh gởi đi để thực hiện nhiệm vụ giáo đồ nhân danh ông , bởi vì Hoàng đế không thể làm như thế, và vì ông muốn dấu kín bí mật tín ngưỡng của mình đối với số đông những người không phải là Đạo Hồi. Đạo Hồi cho phép thực hiện theo cách nhân danh này .
  8. Triều Đại nhà Minh đã thiết lập nhựng mối giao hảo tốt với nhiều quốc gia Hồi Giáo.
  9. Lịch Hồi Giáo là lịch được công nhận là lịch chính thức dưới triều đại nhà Minh.

Khánh Hòa – Thúy Nga – Hòa Bình

Việc sử dụng các bài viết trên xin vui lòng liên hệ  : 

thuyngastocks@yahoo.com    –      khanhhoastocks@yahoo.com

 

*MỤC LỤC – GIẢI TRÍ – THƯ GIÃN

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

Read Full Post »

Một bài viết về phố Lê Công Kiều – TPHCM  của DENNIS COLEMAN mời các bạn xem .

ĐỒ ĐỒNG BẮT MẮT  , chao đèn và đồng hồ Pháp trường phái Art nouveau , cổ vật Việt Nam hay Trung Quốc ….nếu bạn đang để mắt tìm vài món trang trí hoặc chỉ thuần túy rong chơi ngắm nghía thì đường Lê Công Kiều đúng là nơi vậy gọi , nhưng chớ để cuốn mình theo cơn cám dỗ . Còn nếu tính đến chuyện mua bán nghiêm túc thì hãy tâm niệm câu “” tiền trao cháo múc ‘’ để cẩn trong trong giao dịch , nhất là với giới du khách lượn qua nơi đây để mua sắm trong phút chốc .

Con đường chẳng dài gì . ta có thể đi lướt qua trong vòng mười  phút hoặc chìm đắm trong một cuộc sục sạo lâu lắc hơn …Tôi đã gây dựng được quan hệ giao thương tốt đẹp với một số chủ tiệm ở đây và đối với lưu khách ngắn ngày tôi có lời khuyện chung là cứ thưởng thức cái kho tàng này – giồng như cái thú khám phá kho đồ cũ của bà ngoại  – nhưng việc mua sắm thực thụ để giành cho những ai có thời gian thâm nhập khu này .

Nguyên tắc một   : tránh những tiệm chèo kéo nồng nhiệt  hoặc trưng bày hàng loạt vật phẩm giống nhau . Tôi dám chắc với bạn những món ‘’đồ cổ’’ này có thâm niên chưa tới một năm . Những chủ tiệm điềm đạm và kín đáo thường có những đồ vật giá trị . Đây là những người nên tạo quan hệ mua bán . hãy thử vào tiệm số 21 có chiếc Vespa hồng dựng  trước cửa hoặc đi xuôi chừng mười tiệm , các thiên thần tình yêu đội đèn sẽ chào đón quý khách trong một tiệm tí xíu bề bộn gần ngôi trường học .

Nguyên tắc hai : nên hiểu biết chút đỉnh về những món bạn đang tìm kiếm hoặc nhờ sự giúp đỡ của ai đó am hiểu . Đi cùng một người bạn VN hoặc phiên dịch cũng tốt  , miễn sao người ấy hiểu biết hoặc đành giá được chút đỉnh các món đồ .

Chỉ cần vài câu hoi mào đầu là có thể phân biệt vàng thau .Bất cứ người bán nào khi được hòi về tuổi tác các pho tượng deco hoặc đồ thủy tinh mà trả lời bằng câu ‘’ chừng mấy trăm năm ‘’ thì theo tôi nên khẩn trương giã từ . Tương tự người nào dám quả quyết mớ hộp quẹt Zippo là kỷ vật chiến tranh thì cũng khó có thể coi là nghiêm túc .Những câu phán ẩu về về xứ sở và nguồn gốc ly kỳ của hiện vật cũng nên bỏ ngoài tai . chỉ nên quan tâm đến những thương nhân nào có thể nói về nguồn gốc của đồ vật một cách chi tiết hơn bình thường .

Sau khi cân nhắc  thận trọng mới nên tiến đến đánh giá món hàng mình muốn mua  có đúng là món họ trình bày hay không  , để mua với một giá phải chăng và cũng nên quan tâm đến việc khai hải quan và các thông số tương thích về điện chẳng hạn .

Với những ai mê các món kiểu Pháp và kiểu Victoria thì sẽ không tránh khỏi bị mê hoặc bởi các ngọn đèn dầu tinh xảo  , các chân nến và chụp đèn đủ màu sắc và đường nét . Chúng được đội trên đầu các thiên thần tình yêu hoặc gắn trong các chùm trang trí trần nhà khiến ai đó cảm thấy có sứ mạng phải giải thoát chúng khỏi chốn bụi băm này để đưa về một nơi lộng lẫy nào đó ở Sài Gòn hay ngoại quốc  . Điều kỳ diệu là một số chụp đèn thủy tinh , màu hồng hoa anh thảo . màu xanh vỏ chanh tao nhã hay màu trắng đục mờ , đã sống sót qua chiến tranh điêu tàn và bao bàn tay phũ phàng sẵn sang khoái trá quẳng đi những tạo vật đẹp đẽ chỉ đơn thuần vì chúng đã trở nên cũ kỹ .

Tuy nhiên nếu săm soi kỹ lưỡng , nhất là với con mắt nhà nghề như anh chàng Piers Allbrook bạn tôi  , thì thường thấy các món đồ là một sự giao duyên giữa tân và cựu .

Thử bắt đầu với ‘’’ đồ đồng ‘’ một từ được dùng rất dễ dãi  , mà khởi thủy nghĩa là hợp kim của đồng đỏ với thiếc nhưng thường được pha nhiều hợp chất khác . đây không phải điểm trọng tâm , mà vấn đề ta quan tâm nhiều hơn là nó được tạo hình thế nào và gọt giũa ra sao . Chính những nhà buôn có uy tín cũng thú nhận rắng mấy bức tượng đồng thiên thần tính ái và chân đuốc cổ điển thường chẳng thuộc thời art deco của Pháp mà được chế tạo trong vùng .Nhữn món nguyên thủy sẽ có dáng vẻ đồng nhất , tinh xảo và mềm mại hơn . Đồ đồng tốt thường có đường khắc sắc sảo , minh bạch và không có đường ráp như trường hợp các món đồ thời nay được đổ khuôn hai nửa ráp lại .

Có những món xem kỹ thấy được làm từ khuôn riêng và rỗng ruột , được hàn theo kiểu hiện đại , khác với kiểu hàn đổ khuôn ép trước kia . Miết ngón tay lên bề mặt hoặc nhìn dưới ánh mặt trời sẽ thấy được cách chế tạo này .Nhớ luôn luôn nhìn dưới đế món hàng , nhưng nếu muốn làm thế với một cái chân đèn cao vài bộ , chóa thủy tinh thì trí thông minh va phép lịch sự sẽ mách bạn phải nhờ họ tháo cái bòng đèn ra trước kẻo phải móc túi đền cho một mớ mảnh vụn ! Xem xét đồ xưa từ dưới đế , ngoài chuyện khám phá về tuổi tác còn đem lại cho ta nhiều thông tin xác thực khác .Những chiếc bù loong  hay đinh vít thời nay gần dưới đế là chứng cứ rành rành ! Một điểm nữa  : các bức tượng đồng thủ công khác với tượng sản xuất trong xưởng ở chỗ chúng có những vết khiếm khuyết rất riêng giống như những người thợ đã tạo ra chúng .

Cũng như đồng , đồ thủy tinh cũng đòi hỏi phân tích cẩn thận . Mặc dù nhiều món thủy tinh giả cổ ngày nay chỉ đơn thuần thuộc loại thô , các nghệ nhân ngày càng lão luyện trong việc sáng tạo những kỹ thuật phục chế . Tất cả thủy tinh làm bằng tay đều mang dấu ấn của que sắt kẹp trong quá trình thổi thủy tinh  – dấu ấn này không nói lên tuổi tác mà chủ yếu là chất lượng .

Nếu bạn đang nghiêm túc mua một món đồ thủy tinh kiểu deco thì hãy tìm kiếm dấu ấn những năm tháng phai mòn dưới đế . Những tỉ lệ kích thước quá hoàn hảo chứng tỏ sản phẩm được chế tạo hàng loạt chứ không phải làm thủ công từng chiếc .

Cón nếu nói về những bảo vật cao cấp như thủy tinh Galle and Daum thì cái giá không bao giờ dưới mức năm con số 0 nếu bạn muốn có được sản phẩm của những nghệ nhân trường phái Art Nouveau  này . Những chiếc đèn thủy tinh Galle dùng đá chạm hoặc kỹ thuật ghép lớp , ghép hoa văn thành lớp rồi cắt bằng acid để phơi ra mẫu thiết kế hình hoa lá hoặc phong cách mơ màng đến bất ngờ  . Cón rất nhiều điều để tìm hiểu nếu bạn đam mê thủy tinh nhưng nếu chỉ muốn tìm một tạo vật đáng mặt và đáng tiền thì Lê Công Kiều có khá nhiều .

Trừ phi bạn đang chuẩn bị lấy học vị khảo cổ hoặc nghiền ngẫm những cuốn như ‘’ Các kho tàng ở Hội An “” catalogue của Butterfield  năm  2000 hoặc ‘’ gốm Việt Nam ‘’ ( song ngữ Việt Anh , nhà sản xuất bản mỹ thuật , 1996 ) hoặc hoàn toàn sành sõi qui định hải quan khi định mang các món đồ ra khỏi Việt Nam ( giả sử như đó là ‘’hàng xịn ‘’ ) , còn lại thì không nên động đến mảng cổ vật này . nếu món đó có chút gì đó hao hao giống với bảo vật thì bạn có khả năng phải trình với bộ văn hóa ở Hà Nội để xin chứng nhận , đóng thuế hoặc có cả nguy cơ bị thu hồi . Những món bằng ngà cũng nằm trong danh sách hàng hóa bất hợp pháp cho nên nếu không muốn mua phải hàng nhái làm bằng nhựa thông hoặc xương bo thì bạn cũng  không nên động đến mảng này .

Những ai nhớ nhung sài Gòn xưa có thể sục sạo trong đống ảnh đen trắng để tìm vài tấm mang về nhà treo lưu niệm trên tường .Nhiều bức có ca chữ viết phía sau  – có khi là một chút vết tích về số phân những con người xa xứ nay gọi là Việt Kiều .

Dù sao đi nữa , hãy sắm vai khách mua thân thiện để thưởng thức dãy kho tàng thích thú này .

 

DENNIS COLEMAN

 

 

Đúng như lời DENNIS COLEMAN nói  hãy sắm vai khách mua thân thiện để thưởng thức dãy kho tàng thích thú này … từ phố LCK này ta cũng có thể học hỏi được rất nhiều từ cách mua bán , giá cả hoặc những kinh nghiệm của họ  ,  nếu bạn là khách quen tại một cưa hàng náo đó , bạn có thể thoải mái lục lọi  , hoặc ngồi nói chuyện với họ hàng giờ mà có khi chẳng phải mua món gì cả  , vẫn niềm nở vẫn ần cần tiếp đón bạn một cách nhiệt tình  , đôi khi họ mua được những món đồ đúng với sở thích của mình , họ gọi điện thoại  nhắn tin hoặc để dành khi nào mình đến thì giới thiệu cho mình , đó cũng là một lợi thế khi là một khách quen của họ …..về giá cả thì ta cứ thoải mái trả giá  , vừa túi tiền ta đúng giá của họ thì ok …nhưng nếu bạn là dân mới tới phố lần đầu thì bạn cũng nên thận trong với những giá cả họ phán ra , bạn sẽ rất ngại khi phải trả giá một món đồ nếu chưa mua quen ở phố này , tình trạng nói thách của họ với giá nào của bạn trả cũng có thể …..bị hớ  , bây giờ ngoài dãy phố LCK  có nhiều cửa hàng đã mọc lên thêm trên con đường Nguyễn Thái Bình   một con đường cắt ngang đầu phố LCK …

Phố Lê công Kiều bây giờ chẳng còn nhộn nhịp như xưa nữa  , chắc có lẽ do tình hình kinh tế suy thoái  nên túi tiền của những người thích đồ xưa , đồ cũ ……cũng co lại  .Một buổi chiều tháng tư lang thang ngoài phố lê Công Kiều , con  đường tuy chẳng dài bao nhiêu ta có thể nhìn thấy từ đầu đường đến cuối đường một cảnh vật thật vắng vẻ và buồn ảm đạm , khg một bóng du khách hay những người khách thích thú với những  món đồ xưa cũ thường hay lùng sục tại các vỉa  hè phố LCK , chỉ thấy chủ cửa tiệm với những cái ngáp dài , đôi mắt mơ màng nhìn …. đâu đó , nhưng chính vì thế mà ta có thể mua được những món đồ ưng ý với một giá rẻ bất ngờ ….

Khanhhoathuynga .

*MỤC LỤC – GIẢI TRÍ – THƯ GIÃN

Read Full Post »

Tặng em Nguyễn Chí Hiền người đam mê cổ vật với hoài bão lớn .

 

Đồ cổ , như ta đã biết , được làm ra từ hàng trăm năm về trước , càng lâu đời càng quý , lâu đời và chất liệu độc đáo , làm đơn chiếc , hiếm thấy lại càng quý giá hơn .Một pho tượng cổ , một bức tranh cổ có thể trị giá bằng cả một tòa nhà . Một bộ tam đa cổ ( ba ông ) bằng gốm có thể bán tới 4-5 cây vàng .

Do đồ cổ là thứ hàng xưa đều rất đắt nên người ta tìm mọi cách để làm giả . Làm giả đồ cổ trở thành một loại nghề nghiệp hốt bạc , khá phổ biến ở Việt Nam , cũng như trên thế giới .Những vật dụng được sản xuất hôm nay không thể coi là đồ cổ , nếu làm giống như đồ cổ thì chỉ là thứ đồ giả cổ .Tuy giả cổ , song chúng rất được giá . Đương nhiên , làm đồ giả cổ phải rất công phu , như đồ gỗ , đồ gốm , đồ đồng giả cổ  chẳng hạn . Hiện nay , nghề làm đồ giả cổ phát triển mạnh . đem lại nguồn thi khá lớn cho ngân sách nhà nước , giải quyết công ăn việc làm cho hàng triệu lao động trong cả nước , có ý nghĩa tích cực về đời sống kinh tế – xã hội , đáp ứng nhu cầu ngày càng tang của người tiêu dung trong và ngoài nước .Điều đó giải thích vì sao hàng giả cổ chẳng những không bị cấm mà còn khuyến khích sản xuất , trong khi các loại hàng giả khác đều bị cấm sản xuất và buôn bán .

Tuy vậy , lợi dụng tính hợp pháp của việc sản xuất , kinh doanh các mặt hàng giả cổ , một số người đã làm đồ cổ giả để đánh lừa khách hàng . Bằng các thủ pháp kỹ thuật , họ làm cho đồ giả ‘’ có màu thời gian ‘’ , biến đồ giả thành đồ cổ thật và bán cho những khách hàng cả tin với giá cắt cổ . Việc sản xuất , kinh doanh kiểu ấy được coi là hoạt động phi pháp , cần phải nghiêm trị , bởi vì nó làm phương hại đến lợi ích chính đáng của người tiêu dung , gây hậu quả xấu về kinh tế , xã hôi .

1/ ĐỒ GIẢ CỔ VÀ ĐỒ CỔ – THẬT GIẢ LẪN LỘN

Trên thế giới , việc làm đồ cổ giả đã diễn ra khá phổ biến ở bất cứ thời kỳ nào . Không hiếm những người thành thạo trong lĩnh vực này , mà một đại diện trong số họ V.Migio ( Meegere ) .

Năm 1947 , tãi Amsterdam , thay vì lãnh án tù chung thân về tội thông đồng với phát xít Đức chống lại lợi ích quốc gia , V.Migio chỉ bị tòa kết án một năm tù vì tội mạo chữ ký của danh họa Hà Lan Van Vermeer . Nguyên do là V.Migio đã từng bán cho Gocring một tên trùm phát xít Đức bức kiệt tác Chúa Cứu Thế và con dâm  phụ  do Van- Vec-mia  sang tác từ thế kỷ XVII . Nhưng trước tòa V-Migio đã chứng minh bằng tài nghệ của mình – kiệt tác mà ông bán cho Gocring chỉ là một bức tranh giả của kiệt tác kia … và đến lúc ấy , người ta mới biết rằng : từ năm 1936 đến khi phải ra tòa , V-Migio đã làm và bán trót lọt  8 bức tranh giả cổ , mỗi bức 60- 120 nghìn livres , cho một số nhà bảo tàng lớn và giới sưu tập tranh chuyên nghiệp .

Để qua được con mắt các nhà chuyên môn , nói cách khác là ‘’ qua mắt thiên hạ ‘’, là V-Migio phải bỏ ra  ba năm khổ luyện tay cọ cho nét vẽ giống hệt bút pháp của Van Vermeer . Sau đó , ông sưu tầm những tranh cùng cỡ , cùng thời với tranh của Van Vermeer , đem tẩy rửa sạch lớp sơn dầu cũ cho thật khéo để có các tấm vải nền cùng thời với vải nền các tranh vẽ vào thế kỷ XVII . Tranh giả khi vẽ xong lại phải làm lại cho cũ đi , giới làm đồ giả gọi  ‘’ nhuốm màu thời gian ‘’ . Tranh sơn dầu cũ thường có vết ran . V.Migio đã dung loại dầu đặc biệt để pha sơn , để sao cho khi sấy nóng tranh không đổi màu mà vẫn rạn mặt , đó là cách làm giả rất tinh vi của ông .

Người ta thán phục V.Migio bởi  các tranh giả cổ của ông tinh xảo và hoàn thiện đến mức , những chuyện viên sừng sỏ trong nghề giám định , có sự giúp sức của các thiết bị hiện đại , chuyện dụng trong thẩm định cũ , mới cũng phải bó tay . Những người làm đồ cổ giả cỡ như V.Migio tuy không nhiều , nhưng ở đâu và thời nào cũng có . Một lần , có nhà nghiên cứu đem đến một bức tranh có chữ ký của Picasso để hỏi nhà danh họa có phải tranh của ông không . Picasso nhìn kỹ tác phẩm rồi thốt lên : đúng là chữ ký của ông , nhưng chính ông cũng không biết đấy có phải tranh của mình hay tranh giả !

Những người làm tranh giả , tranh cổ giả và đồ cổ giả nói chung , phần lớn đếu là nghệ nhân vô danh , đầy tài năng ,am tường về đồ cổ . Họ có tài , lại thừa hưởng kho kinh nghiệm quý báu trong các nghề thủ công truyền thống do các thế hệ trước tích lũy , lưu truyền .Trong số họ phải kể đến các chuyên gia phục chế cổ vật của các viện bảo tàng . Nghề phục chế cổ vật có vai trò quan trọng trong việc trả lại cho hiện vật bộ mặt ban đầu của nó , nhân bản cổ vật quý hiếm để trưng bày , nhằm bảo vệ cổ vật gốc trước nạn đánh cắp gia tăng , đồng thời để cung cấp bản sao cổ vật cho các bảo tàng và có thể bán cho các nhà sưu tầm .

So với đồ cổ thật , sản phẩm được làm giả vừa phải đúng về chất liệu , kích cỡ , trọng lượng , vừa phải có ‘’ màu thời gian ‘’ và phải hệt như bản gốc ngay cả những vết sứt sẹo , rạn nứt nhỏ nhất .

Ở Việt Nam , nghề làm đồ cổ giả cũng có lịch sử lâu đời , với không ít nghệ nhân vô danh và lưu danh .

Năm 1903 , thành lập trường Mỹ Nghệ Thực Hành  Biên Hòa , người Pháp đặt vào đó hy vọng đào tạo những lớp thợ giỏi để có thể sản xuất hàng loạt đồ gốm giả cổ Trung Quốc , bởi họ biết rõ thế mạnh của các nghệ nhân Việt Nam ( khéo tay , cần cù , óc sáng tạo , tính nhạy bén tiếp thu cái mới … ) Thế nhưng phải mất 18 năm nghiên cứu , thực nghiệm với sự hỗ trợ của chuyên viên cao cấp người Pháp về gốm  , trường này mới tìm ra kỹ thuật sản xuất gốm cổ – đó là cách chế men gốm cổ , loại đất sét làm xương gốm và độ lửa nung gốm cần thiết xưa .

Đầu những năm 60 của thế kỷ XX , hang Thành Lễ , một cơ sở tư nhân chuyên sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ tại Thủ Dầu Một ( Sông Bé ) đã khá nổi tiếng , cũng bắt đầu chập chững đi tìm kỹ thuật làm đồ gốm giả cổ .Phương pháp tìm tòi , thể nghiệm của hang Thành lễ được tiến hành như sau :

-Bước đầu tiên là sưu tầm , hãng cử người đi khắp nơi săn lung , tìm mua các loại đồ gốm cổ của Việt Nam và của Trung Quốc .

-Bước hai – nghiên cứu và thẩm định , khi có số lượng đồ cổ cần thiết , hãng mới mời chuyên viên về gốm ( đa số đã tốt nghiệp Phân ban Gốm của trường Mỹ Nghệ Thực hành Biên Hòa ) và các họa sĩ có tài đến xem xét kỹ lưỡng kiểu dáng , hoa văn , họa tiết , thẩm định chất liệu gốm ( xương gốm , men , độ nung .. .) xác đinh niên đại và xuất xứ từng loại , từng thứ cổ vật .

-Bước cuối cùng là thử nghiệm , sản xuất . Khi đã nghiên cứu , phân tích mọi mặt , nắm vững về chất liệu và kỹ thuật hãng bắt tay vào sản xuất thử nghiệm và thử mãi đến khi thành công mới tiến hành sản xuất hàng loạt để bán ra thị trường . Ở cơ sở Thành Lễ , việc nghiên cứu gốm cổ tiến hành trên cả hai mặt , đó là tìm hiểu các kiến thức gốm trong sách vở , tài liệu va phân tích sâu sắc từ trên sản phẩm gốm xưa, đem kết quả thu được đưa vào thử nghiệm sản xuất .

Do tiến hành nghiên cứu , sản xuất rất công phu , có phương pháp khoa học như thế , nên trước năm 1975 hãng Thành Lễ đã làm ra nhiều chủng loại gốm giả cổ : đồ đất nung , gốm thô , gốm men ngọc , men hoa nâu , men Celadon .vv…Nghĩa là , Thành Lễ trên thực tế đã làm được hàng loạt đồ cổ giả như đồ cổ thời Lý , Trần , Lê , Nguyễn của Việt Nam , cũng như giả đồ cổ các đời Xuân – Thu chiến quốc , Khang Hy , Càn Long … của Trung Quốc .

Sự kinh doanh  đồ cổ  kéo theo việc săn tìm đồ cổ . Kinh doanh đồ cổ phát triển rầm rộ còn lôi cuốn những người làm đồ giả cổ và cả đồ cổ giả . Ngoài kết quả sản xuất đồ gốm giả cổ của cơ sở Thành Lễ , các nghệ nhân có tay nghề cao ở nhiều địa phương trong nước đã tìm cách làm ra các đồ gỗ giả cổ , các sản phẩm khắc đá , đúc đồng giả cổ …. Được khách hàng rất ưa chuộng .

Tuy kỹ thuật làm cho các sản phẩm giả cổ có ‘’ màu thời gian ‘’ nhiều khi rất thô sơ , nhưng nhờ khéo tay , một số ‘’ nghệ nhân ‘’ đã làm cho đồ giả y như đồ cổ thật .Hoạt động này đã gây rất nhiều khó khăn trong  xã hội , làm cho người mua bị mắc lừa , thậm chí ngay cả các chuyên viên giám định đồ cổ ở các cửa khẩu cũng không phân định rạch ròi đâu là đồ cổ , đâu là đồ cổ giả , nếu họ thiếu kinh nghiệm và sự thận trọng cần thiết .

Mấy năm gần đây , tham gia vào  việc làm đồ cổ giả còn có một số xí nghiệp , công ty và một số cơ quan nhà nước . Các cơ sở sản xuất gốm sứ Bát Tràng đua nhau làm đồ gốm sứ giả cổ . Một số hộ đúc đồng Ngũ Xá ( Hà Nội ) làm nhiều đồ đồng giả cổ . Nhìn chung các đơn vị chế tạo đồ giả cổ đang cố gắng thực hiện chương trình nghiên cứu một cách nghiêm túc về đồ cổ .Mục đích cuối cùng của họ là làm được các loại sản phẩm hoàn hảo . Để làm được các sản phẩm giả cổ chất lượng cao , các nghệ nhân , các chuyên gia đang cố gắng kế thừa những kinh nghiệmcổ truyền , kết hợp kinh nghiệm quý báu ấy với các thành tực khoa học – kỹ thuật hiện đại , khắc phục dần nhược điểm , yếu kém trong nghề làm đồ giả cổ ở nước ta .Chúng tôi xin nhấn mạnh rằng  : sản xuất các mặt hàng giả cổ hiện đang là thế mạnh của ngành thủ công mỹ nghệ Việt Nam , xuất khẩu và tiêu thụ hàng giả cổ trên thị trường trong nước đã thu cho ngân sách nhà nước khoản tiền lớn .Nhưng , ngay ở lĩnh vực sản xuất kinh doanh này rõ ràng vẫn có sự lấn cấn ít nhiều giữa giả và thật . Hơn nữa , một số người đã và đang chế tạo ra những đồ cổ giả rồi tung vào ‘’thị trường ngầm ‘’ càng làm cho tình hình quản lý , mua bán đố cổ phức tạp hơn .

2/KỸ THUẬT LÀM ĐỒ CỔ GIẢ – ĐỒ ‘’ THẬT GIẢ ‘’ TRÊN THỊ TRƯỜNG

Đồ cổ vốn đắt giá . Vì thế , đồ cổ giả thường đem lại những khoản lợi kếch xù cho người làm ra và người kinh doanh nó . Song công việc làm đồ cổ giả đến mức tinh xảo và hoàn thiện thì không phải là dễ dàng . Quá trình tìm đạt các yếu tố cần và đủ để món đồ giả được chấp nhận như đồ cổ thật là quá trình đầy gian nan , tốn phí nhiều thời gian , công sức , tiền bạc … kinh nghiệm trong lĩnh vưc  này vì vậy luôn luôn là bí quyết , bí mật , nhiều khi vĩnh viễn thất truyền .

Đồ cổ tức là các vật dụng ,   hiện vật xưa , phải lâu đời , phải mang cái màu đặc trưng “’màu thời gian ‘’ . Vậy mà những đồng tiền cổ thời Hồng Đức , tiền đồng thời Minh Mạng , thới Vạn Lịch … đậm nét dấu vết tàn phá của thời gian , được bày bán trong các hộp nhỏ hoặc trong tủ kính dọc đường Đồng Khởi ( TPHCM ) thường là ‘’ đồ cổ ‘’ mới làm hôm qua !Giới làm đồ cổ giả ( đồ dởm ) biết cách tạo ra ‘’màu thời gian ‘’ đơn giản mà rất nghệ thuật , đống và thau hóa ra màu rỉ xanh đặc biệt , kẽm hóa ra màu xám , xỉn , đồng đỏ hóa đồng đen , giấy mới tinh hóa thành giấy cũ ố vàng … Thực sự kỹ thuật này không có gì phức tạp .

Để có ‘’ màu thời gian ‘’, biến vật mới thành cũ , người ta chỉ việc ngâm đồ kim khí vào a- xít trong một thời gian cần thiết , lâu hay mau tùy ý . Không cần cọ rửa kỹ , rồi để chừng vài giờ , vật kim khí bị ăn mòn ít nhiều ấy sẽ có màu xỉn và trở nên u ám như đã chon vùi hàng thế kỷ .

Muốn có một văn bản cổ ư ? người ta dung loại giấy dó thủ công , đem viết bằng bút long , mực tàu một bài văn bản cổ bằng chữ Hán hoặc chữ Nôm ,hoặc kiếm loại giấy khá dày ( chọn giấy sản xuất thủ công càng tốt ) đem viết một văn tự chuyển nhượng nào đó bằng loại ngòi bút cũ như loại ngòi là tre , ngòi búp đa , ngòi viết rông (rond) , với mực gói pha và kiểu  chữ  gô –tích ( gothique ) chứ tuyệt đối không dung bút bi , bút dạ là các loại bút viết và loại mực mới xuất hiện gần đây . Văn bản được nhúng qua nước Javel cho phai nhạt bớt màu giấy mực mới , rồi phơi khô .Xong đem nhuộm ‘’ màu thời gian ‘’bằng … nước trà đặc . cần cho chỗ đậm nhạt chỗ nhạt chỉ việc tạo bằng cách điểm xuyết cho văn bản vài giọt javel vài giọt nước trà .Để tạo giấy nhăn nheo , người ta kiên trì ngồi xếp lại thành tập rồi mở ra hàng trăm lần . Muốn cho nó mềm nhũn thì lấy ống sắt mà cán .

Văn bản thời trước , nhất là thời Pháp thuộc ,thường có dấu rỉ sắt đinh ghim . Người ta dùng kim ghăm , kẹp sắt ngâm acid loãng rồi đem ghim tập văn bản đã xử lý trên . Còn con dấu và chữ ký chỉ là việc vặt vãnh của những người có tay nghề làm giả . Các văn bản cổ giả như vậy dễ dàng gây cho ta niềm tin rằng chúng vừa được lấy ra từ một ván khố cổ của kho lưu trữ nào đó và đấy là một tài liệu gốc!

Các tranh giả mới vẽ , mới sao chép hôm qua mà trông như đã để hàng trăm năm trong các bảo tàng hay trong các bộ sưu tập tư nhân .Kỹ thuật khá đơn giản : cho tranh vào lò sấy như lò bánh mì . Chừng vài giờ sau thì cả khung gỗ , cả mặt tranh đều có những vết rạn đầy nghệ thuật . Bụi thời gian ư ? có gì khó . Qua một số công đoạn kể trên , tức khắc nó được liệt vào loại tranh cổ . Còn giá bán tranh thì tùy đối tượng cần mua .

Đồ gốm , sứ cũng không thoát khỏi cảnh bị làm giả . Làm một chiếc bát cổ , lọ cổ rạn vỏ trứng , rạn vảy rắn , rạn hột mè cũng không phải là chuyện khó . Người ta làm cho nó nóng nguội đột ngột là men bị rạn ngay . Rồi đem ngâm nó vào nước trà đặc . Cách này có  thể tạo ra các đồ gốm men rạn y như đồ được làm từ thời Lý , Trần , Lê vậy .Chỉ có điều làm gốm men rạn giả , sau khi tạo vết rạn trong môi trường nhiệt bất thường , người ta nhúng nó trong chậu mực xanh để mực ngấm vào sâu trong men gốm theo các vết rạn nứt , rồi mới nhúng vào nước trà để tạo ‘’ màu thời gian ‘’ .

Nhiều loại tượng gỗ , tượng đá , tương đồng cổ được làm giả không chỉ bằng trình độ cao về kỹ thuật mà còn bằng các thủ thuật . Chẳng hạn trường hợp pho tượng cổ Chăm bằng đá được làm giả bằng  xảo thuật :những công đoạn cuối cùng hoàn chỉnh pho tượng cổ giả vừa hoàn thành , người nghệ nhân suy nghĩ một lát và bỗng cầm búa chặt mạnh vào cổ pho tượng , làm nó gãy đôi , đầu một nơi , thân một nơi .Bạn đọc đừng vội ngạc nhiên . Ông ta  làm như thế là làm theo yêu cầu của chủ hàng . Cách đây vài năm , chính ông đã sơ ý làm vỡ một pho tượng giả cổ do mình tạo .Chưa kịp gắn lại thì có một du khách mua ngay phần thân tượng  . Gần đây , người khách ấy quay lại cửa hàng bỗng thấy đầu tượng .ông ta thích quá mau ngay đầu tượng với giá đắt gấp ba lần thân tượng trước đó . Thế là mỗi pho tượng do nghệ nhân này làm xong , chủ cửa hàng đều đề nghị ông đập gãy đôi , gãy ba , gãy bốn …

Đó là kiểu khá phổ biến trong kinh doanh đồ giả cổ ở thị trường nước ta hiện nay ,tìm đủ cách , dung cả kỹ thuật lẫn xảo thuật để bán đồ giả với giá của đồ cổ thật .

Người kinh doanh đồ cổ giả không chỉ lừa những kẻ ‘’gà mờ’’. Họ còn qua mắt người sành chơi đồ cổ .

Người sành đồ cổ , sính đồ cổ hay có cái hiếu kỳ muốn cho món đồ cổ của mình có lai lịch , càng ly kỳ càng tốt .

Họ còn phân biệt đồ cổ và đồ cổ giả theo những nguyên tắc  nhất định .Tính hiếu kỳ và các nguyện tắc ấy không phải là bí mật tuyệt đối , giới làm đồ cổ giả cũng nắm vững và tìm ra đối sách hữu hiệu .Các chủ hiệu đồ cổ , nhất là những tay bán đồ cổ dởm cũng dán cho hàng mình môt lai lịch , thậm chí còn ‘’sáng tác’’ra lai lịch ly kỳ nữa .Có tới hàng ngàn ví dụ thực tế về điều ấy , như một bình vôi vô danh ( thuộc loại vứt gốc đa , sau miếu , lăn lóc không ai thèm nhặt ) đã được bán với giá bằng cả một căn nhà khang trang , nhờ được gắn một lai lịch ‘’  bình vôi của Ngài Ngự ‘’ – bà Từ Cung Thái Hậu thời nhà Nguyễn (! ). Một viên ngọc ( hay đá ? ) màu trắng đục , bên trong có hai vân đá quấn lấy nhau , được chủ buôn gắn cho cái lai lịch ‘’ viên ngọc rắn ‘’ . Ly kỳ hơn nữa , người ta bảo : đem ngâm viên ngọc ấy trong sữa của bà mẹ có con so sẽ thấy ngọc trong hơn và hai con rắn cựa quậy ( ! ) . Rắn có ngọc là phi lý và phản khoa học . Song có nhiều người chơi đồ cổ cố tin vào câu chuyện hoang đường ấy . Theo họ , con gì cũng có ngọc , miễn là tu luyện lâu năm , kể cả con người . Ở Hà Nội , không mấy ai chơi đồ cổ lại không nhớ câu chuyện hoang đường gắn liền với ông Hoàng Cao Khải có ‘’huệ nhỡn ‘’đã biết trước trong đầu cậu bé ( đầu to khác thường ) có viên ngọc to …bằng trứng gà con so (!) .

Người sính đồ cổ thì mê đồ cổ . Đã mê thì dễ tin . Dễ tin thì dễ bị lừa gạt . Cái lô-gich nghìn đời vẫn thế .

Hiện nay , thật khó đoàn định chính xác số lượng , chủng loại đồ cổ giả đã và đang lưu hành trên thị trường , khó có thể thống kê số đồ giả được coi như các bảo vật đã được sưu tập trong các gia đình hay đang trôi nổi trên thương  trường trong và ngoài nước . Chỉ biết rằng , sản xuất và kinh doanh đồ cổ giả , dù công khai hay ngấm ngầm , thì từ lâu đã thành nghề và nghiệp sống còn của không ít người .

Bên cạnh lấy tân làm cổ , còn có nghề tân trang – lấy cổ làm tân . Thượng vàng hạ cám , bất cứ cái gì cũ làm cho mới thì đều có giá . Đó là những nghề tân trang đồng hồ , máy hát , ti vi , tủ lạnh , máy giặt , ô tô , xe máy , xe đạp , dây chuyền công nghệ và thiết bị cũ , kể cả con người ( như tân trang sắc đẹp , chỉnh hình ) mà phần lớn đều mới xuất hiện ở Việt Nam .Nếu như những năm trước việc tân trang đồng hồ cũ hỏng thành đồng hồ mới ( đồng hồ dởm , đồng hồ cốp ) dễ thu lợi thì bây giờ  , khi thị trường TP HCM rộ lên việc mua bán cao giá đồng hồ cổ , đồng hồ cũ của Thụy Sĩ , của Pháp , đã kéo theo sự phát triển việc làm đồng hồ cổ giả , tức là làm cho đồng hồ mới có hình thức tương tự biến thành đồng hồ cổ , như chúng ra đời hàng trăm năm trước .

Ngành bảo tồn bảo tàng có khoa phục chế , dạy cho người ta các phương pháp làm đồ cổ giả .Nhưng trong giới sản xuất , chế tác đồ cổ giả , ngoài các chuyên gia và nghệ nhân giỏi , rất am tường đồ cổ cả về lý thuyết lẫn thực hành , còn khá nhiều người không hề qua trường lớp nào , không được kế thừa kinh nghiệm gia truyền , nhưng tay nghề của họ có khi rất cao , sản phẩm của họ có thể qua mặt các chuyên gia trong ngành giám định cổ vật . Quả thật , những tay nghề cỡ ấy rất đáng khâm phục , song xét về mặt kinh tế – xã hội thì không khuyến khích các hoạt động của họ , bởi nó gây nên và để lại hậu quả tiêu cực nhiều khi hết sức phức tạp .

Ngăn chặn và làm giảm hẳn nạn làm đồ giả , cần có nhiều biện pháp quản  lý , kiểm tra . Giám định là một biện pháp kiểm tra hữu hiệu trong việc chặn đứng nạn ‘’chảy máu đồ cổ ‘’ , phân định đâu là đồ cổ thật , đâu là đồ cổ giả .

 

Thạc Sĩ Bùi Văn Vượng .

 

 

Xin  giải thích theo cách hiểu của tôi :

– Đồ cổ : đồ nguyên bản có tuổi (original )

– Đồ giả cổ : là đồ sao chép chính xác từ nguyên vật liệu đến hình dáng của món đồ nguyện bản ( theo luật định của Việt Nam phải được sự đồng ý của chủ sở hữu món đồ cổ đó mới được tái bản và món đồ đó được gọi là đồ giả cổ và phải xin phép cơ quan quản lý cổ vật )

– ĐỒ CỔ GIẢ  : là đồ giả cổ nhưng không được sự đồng ý hoặc chủ sở hữu không biết đến việc sao chép lại món đồ cổ đó hoặc không xin phép cơ quan quản lý cổ vật

-Đồ phỏng cổ : cũng là đồ sao chép nhưng không chính xác từ nguyên vật liệu cho đến hình dáng do đó không cần xin phép chủ sở hữu món đồ đó .

Do vậy về giá cả đồ phỏng cổ không đắt bằng đồ giả cổ , đồ cổ và ĐỒ CỔ GIẢ có thể bạn sẽ mua ngang giá vì bị lừa .

tùy theo sự hiểu biết và cảm nghĩ của mỗi người mà có thể diễn đạt ngôn ngữ có khác biệt và gây nhầm lẫn đôi chút

 

Khanhhoathuynga .

*MỤC LỤC – GIẢI TRÍ – THƯ GIÃN

Read Full Post »

Older Posts »