Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘Sưu tập gốm cổ Việt Nam’ Category

*Đồ gốm VN & căn cước văn hóa

*Bình vôi ký kiểu do COPELAND & GARRETT sản xuất

*Bình vôi và câu truyện tập tục Việt

*Sưu tập gốm men trắng thời Lý – Trân 2 thế kỷ XI- XIV

*Bình vôi , ống nhổ

*Ông bà bình vôi

*Sưu tập gốm Chu Đậu cuối thế kỷ 15 đầu thế kỷ 16

*Sưu tập gốm Bát Tràng

*Sưu tập gốm men độc sắc VN

*Sưu tập gốm việt mười thế kỷ đầu công nguyên

 

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN

Advertisements

Read Full Post »

ĐỒ GỐM VIỆT NAM VÀ CĂN CƯỚC VĂN HÓA:

BẰNG CHỨNG TỪ CÁC NHÀ LÝ VÀ NHÀ TRẦN

John S. Guy

Tiến Sĩ, Phụ Tá Quản Thủ, Phòng Ấn Độ, Bảo Tàng Viện Victoria and Albert Museum, London

 

Ngô Bắc dịch

***

Dẫn Nhập

Các đồ gốm men bóng của Việt Nam tượng trưng cho sự biểu lộ tinh tế và bền bỉ nhất của nghệ thuật đồ gốm tại Đông Nam Á, song chúng có lẽ ít được am tường nhất trong số các truyền thống đó.  Sự thiếu sót việc điều nghiên phê phán vào tính chất đặc biệt của đồ gốm Việt Nam là kết quả của một khuynh hướng nhìn chúng, cùng với các khía cạnh khác của sự biểu hiện văn hóa Việt Nam, như là một “chủ nghĩa địa phương kỳ lạ” (curious provincialism), 1 một sự phản ảnh mờ nhạt của văn hóa Trung Hoa. Lịch sử đồ gốm Việt Nam, nói một cách tổng quát, song hành với sự tiến hóa của đồ gốm Trung Hoa từ thời nhà Hán trở đi, về mặt hình dáng và thể điệu.  Tuy nhiên, điều cũng đúng là nhà làm đồ gốm Việt Nam đã đem lại sự biểu lộ các thành tố của căn cước văn hóa mang bản chất Việt Nam.  Sự kiện này được nhận thấy trong sự vận dụng độc đáo các hình dáng đồ gốm và, đáng kể hơn, trong sự phát triển danh biểu trang trí nhằm hội nhập các chủ đề và phần tử họa tiết không có trong truyền thống Trung Hoa.  Hơn nữa, nhiều đề tài vay mượn được tái giải thích với một sự tự tín và tinh tế thường tạo ra các kết quả thấm nhuần với một sự vẻ tươi mát và năng lực không hề có trong nguyên bản Trung Hoa.  Trong bài nghiên cứu này tôi muốn khảo sát danh biểu trang trí của họa kiểu đồ gồm trong thời nhà Lý và nhà Trần, và để lập luận rằng sự lựa chọn và giải thích các chủ đề được nhận thấy trên các sản phẩm đồ gốm của thời kỳ này cấu thành các sự phát biểu có ý thức về căn cước văn hóa Việt Nam.

Sự tiến hóa của đồ gốm men bóng tại Việt Nam phản ảnh các yêu cầu biến đổi của xã hội Việt Nam qua thời gian.  Các sản phẩm sớm nhất được sản xuất để đáp ứng với các nhu cầu của các thành phần Hán hóa của xã hội Việt Nam xuất hiện trong thời chiếm đóng của nhà Hán vào các thế kỷ thứ 1 và 2 sau Công Nguyên.  Các chiếc thuyền [bằng gốm] này , được khai quật từ các ngôi mộ bằng đất nung thời nhà Hán, tương tự như các đồ vật mai táng của Trung Hoa thời nhà Hán.  Bằng chứng đương thời chỉ cho thấy vùng châu thổ sông Hồng và tỉnh Thanh Hóa, ngay sát phía nam, là các miền chính yếu cho sự sản xuất ban đầu các đồ gốm tại Việt Nam.  Vào khoảng giữa thế kỷ thứ 3 sau Công Nguyên, châu thổ sông Hồng đã sẵn hỗ trợ cho khối đông đảo dân cư của Bắc Phần, một khuôn mẫu còn kéo dài đến ngày nay. 2 Một khoảng trống hiện diện trong bằng chứng đồ gốm từ sự sụp đổ của sự kiểm soát trực tiếp của nhà Hán trong thế kỷ thứ 3 sau Công Nguyên cho mãi đến lúc khởi đầu thế kỷ thứ 10.  Mặc dù bằng chứng khảo cổ còn thiếu sót cho đến nay, một số sự phát triển quan trọng trong đời sống văn hóa của miền bắc Việt Nam cho thấy rằng sự sản xuất đồ gốm địa phương đã được duy trì.  Nhu cầu chính yếu cho các sản phẩm đồ gốm men bóng có lẽ phát sinh từ các chương trình xây dựng sâu rộng đề xướng bởi các nhà lãnh đạo để phục vụ cộng đồng tu viện Phật Giáo có ảnh hưởng ngày càng gia tăng.  Sự xây cất các ngôi đền, các tu viện và các ngôi chùa làm phát sinh ra một nhu cầu về mái ngói và gạch tráng men.  Dưới các triều đại nhà Lý và nhà Trần theo dân tộc chủ nghĩa, các sản phẩm dành cho sự sử dụng nội địa đã mang một tầm quan trọng mới, với sự tiến triển của một lối giải thích riêng biệt của Việt Nam về các thể điệu trang trí bằng sắt (iron-decorated) và đơn sắc (monochrome: một mầu) của Trung Hoa.  Từ đầu thế kỷ thứ 14, Việt Nam tiến vào công cuộc mậu dịch đồ gốm quốc tế, sản xuất một thể loại trang trí bằng sắt có viết chữ đẹp và các sản phẩm men trắng và xanh da trời nổi tiếng được tìm thấy tại nhiều địa điểm rải rác từ Nhật Bản sang tới Trung Đông.

Trong các thế kỷ trước khi có sự thống nhất của Trung Hoa dưới các triều đại nhà Tùy và nhà Đường, Việt Nam đã duy trì một sự độc lập cao độ khỏi sự kiểm soát tập trung hóa của Trung Hoa.  Nhà Tùy đã xâm lăng Việt Nam trong năm 602, và với sự thiết lập của nhà Đường, Trung Hoa khẳng quyết một mức độ ảnh hưởng chưa từng có vào công việc của Việt Nam vốn điễn ra liên tục trong ba thế kỷ kế tiếp.  Trong năm 679 miền bắc Việt Nam bị tuyên gọi là Vùng Bảo Hộ An Nam (“Miền Nam Đã Được Bình Định: Pacified South) bởi triều đình nhà Đường và vẫn còn nằm dưới sự kiểm soát trực tiếp của Trung Hoa mãi cho đến lúc kết thúc thế kỷ thứ 9.

Cuộc kháng chiến chống lại sự kiểm soát chính trị và Hán hóa văn hóa vẫn còn là một chủ đề thường trực của lịch sử Việt Nam trong thời kỳ này.  Trong khi các sự phân kỳ văn hóa được coi trọng sâu xa và được nhấn mạnh một cách công khai, một mối quan tâm không muốn mang vẻ “man rợ” (barbarian), tự nó là một khái niệm của Trung Hoa, đã thiết chế các sự khẳng định của Việt Nam về một căn cước văn hóa có bản chất Đông Nam Á. 3 Chính trong khung cảnh này mà khái niệm địa phương hóa của tác giả Wolters đã cung cấp một khí cụ hữu ích cho việc giải thích ý nghĩa đương đại của sự trang trí đồ gốm.  Tác giả Wolters nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc xác định và giải thích các thành tố bản địa, cũng như các thành tố mà, nếu ngoại nhập từ nguyên thủy, đã được “bản địa hóa”.  Tách biệt các thành tố đó cho phép chúng ta phân biệt các đồ gốm Việt Nam ra khỏi các kiểu mẫu Trung Hoa có nghĩa tiến tới gần hơn việc xác định tính chất địa phương của chúng.  Kế đó, bởi việc sử dụng bằng chứng lịch sử, văn chương và khảo cổ tổng quát hơn, chúng ta có thể khởi sự việc giải thích tầm quan trọng và ý nghĩa của các đồ vật này trong xã hội Việt Nam.

Thời Phục Hưng Của Việt Nam:

Các Triều Đại Nhà Lý Và Nhà Trần

Các cuộc đấu tranh của thế kỷ thứ 19 chứng kiến sự xuất hiện của Việt Nam như một vương quốc độc lập, đã kháng cự các mưu toan liên tiếp bởi các nhà lãnh đạo Nam Hán tại Quảng Đông, trong năm 931 và 938, và nhà Bắc Tống trong năm 980 nhằm tái khẳng định sự kiểm soát của Trung Hoa. 4 Trong năm 1009 gia tộc họ Lý dành được sự ủng hộ của quần chúng và đã thiết chế triều đại dân tộc vĩ đại đầu tiên dưới đó các giá trị văn hóa Việt Nam được tái khẳng quyết một cách mạnh mẽ.  Một loạt đáng kể các đồ gốm men bóng đặc biệt đã được sản xuất trong thời kỳ này.  Các sản phầm hồi đầu nhà Lý được tiêu biểu bởi sự trang trí vẽ tay và khắc chạm với một họa kiểu màu nâu trên nền trắng.  Sưu tập lớn nhất của các sản phẩm này được lưu giữ tại Bảo Tàng Lịch Sử Hà Nội, Bảo Tàng Viện Musées Royaux, Brussels, và Bảo Tàng Viện Musée Guimet, Paris. 5 Chúng là các chiếc thuyền bằng đá men bóng, thường có kích thước to lớn, được trang trí với các họa kiểu tỉ mỉ, điển hình được bài trí theo một loạt các giải nằm ngang hay các sọc thẳng đứng (Hình 1 và 2).  Chiếc thuyền được tráng men bóng, trong suốt và họa tiết được khắc sâu trên mặt, lột bỏ lớp men theo cách mài “scraffitto” [? có lẽ do sắp chữ sai, phải là sgraffitto là cách trang trí trên đồ gốm bằng cách cạo hay khắc xuyên qua lớp men bóng để làm bật nền gốm tương phản, chú của người dịch].  Các chủ đề sau đó được sơn bằng một nước men bóng màu nâu.  Các chỗ khắc nơi mà men trong và nâu bổ túc không chạm tới vẫn còn chưa bị phủ men, phơi bày thân gốm màu trắng-xám nhạt.  Đôi khi, kiểu làm này được đảo ngược, phơi bày họa tiết không được phủ men trên nền phủ men bóng màu nâu. (Hình 2)

Kỹ thuật có thể tiến triển từ kinh nghiệm của người làm đồ gốm Việt Nam trong việc chạm nổi đồ gốm vốn được áp dụng theo cổ truyền đối với gạch trang trí và sản xuất ngói, thí dụ như được nhận thấy nơi các sản phẩm của Jizhou [? bên Trung Hoa].  Kinh đô tại Thăng Long (Hà Nội), bắt đầu trong năm 1010 với sự thành lập triều đại nhà Lý, hẳn phải được trang trí tràn ngập với các loại ngói như thế.  Các cuộc khai quật tại Hà Nội hồi đầu thế kỷ [thứ 20, chú của người dịch] này đã phát hiện các viên gạch với các mẫu chạm trỗ, chính yếu là các hình tròn và hình thoi, và các viên ngói, đa số là ngói mái nhà có thân ống tròn, chạm trỗ với các chủ đề về hoa, các con rồng và các con chim phựng.  Ngói hay đá lát phẳng hay đắp nổi cũng được tìm thấy, được trang trí với men trong hay nhiều màu. 6 Động năng để vẽ ra một họa tiết với lưỡi cắt của một dụng cụ bằng tre thay vì với một bút vẽ nhiều phần phát sinh từ kinh nghiệm này.  Sự vận dụng khéo léo bút vẽ Trung Hoa có thể được ước định bị giới hạn vào giới văn nhân trí thức và thư lại và vẫn chưa thành một kinh nghiệm thông thường của các nghệ nhân ngành đồ gốm.

Các sản phẩm khắc màu trắng và nâu trình bày một danh mục hạn chế của các hình thái, phổ thông nhất là một lư (hay vạc) hình ống, cao, có vòng cổ lư với cánh hoa sen đắp nổi bên dưới viền miệng lư, và một lòng lư thấp, rộng với đường viền lăn vòng và một đế phẳng.  Các hình hoa nhỏ đắp nổi là một đặc tính thường lệ và trông giống như các sự trang trí được thấy trên các thí dụ thời Bắc Tống thế kỷ thứ 10. 7 Các đường cong uốn khúc vẽ hoa và lá tỉ mỉ chế ngự các họa kiểu.  Các họa kiểu chẳng hạn như mây và cành thảo mộc uốn khúc biểu lộ một sự tương quan trực tiếp nhất với sự trang trí ngói và gạch Việt Nam (Hình 3).  Một chiếc bình có nắp đậy thu thập được bởi C. Huet tại Đại La (Hà Nội) được trang trí với hoa và lá sen trong một loạt các tấm bảng thẳng đứng (Hình 1).  Lớp men thì mỏng và bóng.  Ống máng hình đầu thú vật xuất hiện trên gờ mái, và được cân bằng bởi tượng đắp theo hình con vẹt, một loại chim được ưa thích của vùng đất nhiệt đới của Việt Nam và là một vật xa xỉ rất được ao ước tại Trung Hoa thời nhà Đường.  Sự phổ thông của chủ đề kể sau được nhận thấy trên một con dao bằng vàng được khai quật tại địa điểm đặt cung điện của nhà Lý tại Hà Nội theo hình dạng con vẹt. 8

Các con chim đuôi dài xuất hiện như một đối tượng được ưa chuộng, và có thể là con công bản xứ của Việt Nam (Hình 4).  Các con chim như thế có nhiều tại Việt Nam, phán đoán theo các sự đề cập thường xuyên đến chúng trong văn chương thời Đường liên quan đến các vùng đất phương nam.  Đuôi của các con chim như thế được ghi chép như một phần trong cống phẩm hàng năm được gửi từ vùng đất đô hộ của nhà Đường ở An Nam đến triều đình tại Tràng An.  Đối với các quan chức nhà Đường phục vụ tại An Nam, tiếng kêu chói tai của con công là một sự nhắc nhở cho sự lưu đày của họ: “Con Chim Việt lay chuyển giấc mơ của bạn về quê nhà”. 9 Nhưng đối với nhà ngoại giao Việt Nam thế kỷ thứ 13 được phái lên phía bắc sang Trung Hoa, con công được gợi lên như một ẩn dụ cho Việt Nam nơi mà ông mong mỏi quay về:

Bạn đang đi theo các con ngỗng băng qua các đèo xuyên núi

Để giáp mặt với tuyết miền bắc.

Nhưng trái tim bạn là hình dáng của con chim Việt

Mong ngóng quay về cành nam. 10

Nhà thơ đang sử dụng một cách ý thức thi pháp hoài niệm tương tự từ thi ca Trung Hoa và đảo ngược chức năng biểu trưng của hình ảnh con công để diễn tả các tâm cảm.  Đối với người Việt Nam mới độc lập, các con chim với màu sắc huy hoàng của Việt Nam có thể được khiêu dẫn để biểu tượng hóa tính độc đáo của đất nước của họ.  Sự mô tả các con chim như thế giữa cành lá thể điệu hóa đã  mang lại một đặc tính sống động và địa phương riêng biệt cho các đồ gốm này.  Chủ đề chim đuôi dài tuy thế là một chủ đề cổ xưa, được tìm thấy trên các trống đồng ban sơ thường có của chủng tộc Việt.  Sự mô tả của nó cũng có thể nhằm vào việc khiêu dẫn tính cổ xưa của dân tộc và văn hóa Việt Nam, và từ đó, tính bền bỉ và dẻo dai của Việt Nam.

Các đề tài phi-Trung Hoa khác cũng xuất hiện trong danh mục trang trí cho đồ gồm Việt Nam từ thế kỷ thứ 11, chẳng hạn nhu con voi.  Các con voi vẫn từng rong ruổi trong các khu rừng Việt Nam trong thiên niên kỷ đầu tiên và ngà của chúng được gửi thường lệ sang Trung Hoa như một cống vật xuất sắc.  Các con voi được thuần phục và tiến vào huyền thoại bình dân như một sinh vật thông thái có khả năng phân biệt được sự thật với sự giả dối.  Một câu chuyện có các gốc rễ từ thời nhà Đường kể lại một con voi đứng gác các ngọn đồi của An Nam chỉ cho phép các khách du hành lương thiện đi qua trong sự an toàn.  Con voi được miêu tả trên chiếc bình thời nhà Lý (Hình 5) mang yên cương của một con vật đã thuần phục, mặc dù không được trang trí một cách huy hoàng như các con voi được chứng kiến bởi một nhà ngoại giao Trung Hoa trong sứ đoàn sang Việt Nam:

Các vòng đeo cổ bằng vàng có  mạng che đầu chúng,

Các tấm khăn thêu phủ xuống từ thân hình chúng … 11

Có lẽ điều đáng lưu ý nhất trong mọi điều là hình dáng chiến sĩ với một tính chất Đông Nam Á đặc sắc.  Một chiếc bình chứa đồ tại Bảo Tàng Lịch Sử ở Hà Nội (Hình 6) được trang trí với hai chiến sĩ, cầm giáo và khiên che, trong các vị thế sống động nhắc nhớ đến các hình thể nhảy múa tế lễ được tìm thấy tại vùng Đông Nam Á lục địa.  Các chiến sĩ mang quần áo ngắn, với các kiểu mẫu uốn khúc như rồng rắn nơi bắp đùi, có lẽ là hình xâm vẽ mà các lời bình luận của Trung Hoa nói tới.  Tục xâm vẽ đã được xác định từ lâu bởi người Trung Hoa như một trong các tính chất chủng tộc để phân biệt của các thị tộc “Bách Việt”, trải dài từ phía nam Triết Giang đên Vân Nam và xuống tận miền bắc Việt Nam. 12 Tác giả Chou Ch’u-fei (Chu Khứ Phi), nơi phần ghi chép trong quyển Ling Wai Tai Ta (Lĩnh Ngoại Đại Đáp) năm 1178 đề cập tới Vệt Nam, nhận xét rằng “hình vẽ trên thân thể của họ trông giống như các họa kiểu trên trống đồng”. 13 Các chiếc khiên chắn của chiến sĩ được trang trí với họa kiểu hình rồng, là các vị thần nước trong văn hóa Việt.  Sự biểu thị tính chất khá ngây thơ các hình dáng này nêu ý kiến rằng chúng có thể tượng trưng cho các dân bộ lạc Việt Nam phi-Hán hóa là những kẻ “kể từ cổ xưa … đã được ghi nhận nhờ hình xâm vẽ và tóc cắt ngắn của họ”. 14 Với sự xuất hiện của họ trong sự trang trí đồ gốm Việt Nam chúng ta cảm nhận một sự khẳng định mạnh mẽ các sự quan tâm văn hóa bản xứ và căn cước chủng tộc.

Một loại thứ nhì của đồ gốm thịnh hành trong các thế kỷ thứ 11 và 12 (nhà Lý) là đồ đá trắng với sự trang trí làm theo mẫu cánh hoa sen.  Nhóm này được tượng trưng bởi các chiếc đĩa bẹt, đôi khi với một chân đế, các chiếc bát có cấu hình cánh hoa sen, các cốc có chân, và các chiếc bình có nắp đậy (Hình 7 và 8).  Trong khi các mô hình Trung Hoa đích xác thường không thấy, nhiều thành phần họa kiểu trong các sản phẩm này có thể được xác định nơi các đồ dùng nhà Bắc Tống trong các thế kỷ thứ 11 và 12. 15 Các đồ gốm này có thể tượng trưng các sản phẩm được sản xuất tại Đông Kinh (Bắc Việt) cho sự sử dụng của giới tinh hoa Việt Nam địa phương là các người, xuyên qua các quan hệ “triều cống” với mẫu quốc Trung Hoa, có thể hấp thụ thị hiếu của triều đình nhà Tống dành cho hàng gốm màu trắng.  Sự thịnh hành chủ đề cánh hoa sen có thể phản ảnh sức mạnh của sự hành đạo Phật Giáo tại triều đình nhà Lý ở Thăng Long (Hà Nội).  Thí dụ, một nhóm các hộp đựng kinh [Phật] bằng sa thạch tráng men trắng của nhà Tống Trung Hoa, được chế tạo một cách công khai dành cho thị trường Nhật Bản, tiêu biểu cho sự liên kết giữa chủ đề hoa sen và đạo Phật. 16

Một cái tô có chân đế hình cánh hoa sen nở (Hình 7), được thu thập tại miền bắc Việt Nam, có một nét sinh động của hình thể làm liên tưởng đến các nguyên mẫu bằng kim loại.  Các nền văn hóa chịu ảnh hưởng của Ấn Độ tại vùng Đông Nam Á lục địa, bao gồm dân Chàm theo Ấn Độ Giáo tại miền trung Việt Nam, xuất sắc với các chiếc thuyền bằng vàng và bạc sử dụng đến chủ đề cánh hoa sen nở.  Trong năm 1044 và một lần nữa trong năm 1069, Việt Nam đã thực hiện các cuộc đột kích bằng đường biển đánh vào xứ Chàm và lục soát kinh đô của người Chàm tại Vijaya, chắc chắn bao gồm trong chiến lợi phẩm của họ các sản phẩm bằng vàng nhờ đó các thợ thủ công của Chàm được ngưỡng mộ một cách lớn lao.  Các hình thể tương tự xuất hiện trong đồ gốm Khmer đương đại và còn kéo dài cho đến cả ngày nay trong việc chế tác đồ vàng và bạc ở vùng Đông Nam Á lục địa, đặc biệt với các bình đựng vôi.  Đồ kim loại của Chàm, bắt nguồn từ Ấn Độ, có thể đã góp phần vào hình thể của các đồ gốm Việt Nam này, cùng với nguồn cảm hứng từ đồ gốm của Trung Hoa thời nhà Tống.  Trong cung cách này, các thành phần văn hóa được hấp thụ bởi Việt Nam từ các biên giới phía nam của nó và xa hơn nữa đã cung cấp ở một số mức độ sự đối cân với văn hóa Trung Hoa với bóng che mà Việt Nam đã cố vươn lên.  Các nỗ lực có ý thức được thực hiện trong các thời nhà Lý tiến tới sự tự túc về văn hóa và để bảo tồn các thành tố về tiếng nói, y phục và các phong tục khác hầu bảo đảm rằng chủng tộc và căn cước văn hóa Việt đã được duy trì. 17

Khay bẹt với hai đường viền cánh hoa sen và một chân đế thấp, thắt eo nhỏ lại (Hình 8) tượng trưng, trong một ý nghĩa, một sự giải quyết của Việt Nam về hai lựa chọn trang trí tranh chấp nhau này, các thành tố chịu ảnh hưởng Ấn Độ bền bỉ kéo dài trong văn hóa Đông Nam Á lục địa, và thành tố Trung Hoa thấm nhập.  Các cơ hội cho sự lưu thông các sản phẩm và tư tưởng giữa Việt Nam và các láng giềng của nó ở phương bắc và phương nam thì đáng cứu xét đến.  Họa kiểu theo mẫu cánh hoa sen, được quen biết trong các truyền thống chế tạo đồ kim loại của Chàm, cũng là một hình thể được tái dụng trong đồ gốm nhà Tống, với các nguồn gốc có thể truy tìm ở đồ kim loại nhà Đường với nguồn cảm hứng tối hậu của Sassanian [chỉ đồ thủy tinh được sản xuất từ thế kỷ thứ 3 đến thế kỷ thứ 7 sau Công Nguyên tại Đế Quốc Sassanian, tức vùng Bắc Iraq, xứ Iran và vùng Trung Á ngày nay, chú của người dịch] hay Soghdian [tức vùng UzbekistanTajikistan ngày nay với các thành phố chính như Samarkand, Panjakent, Fergana, chú của người dịch] được chuyển tiếp xuyên qua Con Đường Tơ Lụa Trung Á Châu. 18 Hoa kiểu cành sen xuyên và khắc ở mặt trong liên hệ với truyền thống Cizhou [?] của Bắc Tống được rút ra một cách trực tiếp nhất từ đồ kim loại nhà Tống.  Phả hệ có thể được truy tìm xuyên qua các sản phẩm kiểu Cizhou [?] thế kỷ thứ 11 đến các chiếc thuyền bằng vàng và bạc thế kỷ 7-8 được khai quật tại kinh đô nhà Đường tại Tràng An.  Tác giả O. Janse đã khai quật được một khay cánh hoa sen thuộc loại này từ một ngôi mộ ở Thanh Hóa cùng với các chiếc bát kiểu thời nhà Tống. 19

Một sự phát triển Việt Nam đặc biệt để đáp ứng với một nhu cầu địa phương là bình đựng vôi được dùng để trữ vôi vỏ sò xay nhỏ được dùng để pha chế cùng với lá trầu.  Các bình vôi có hình dáng bó gối ngồi xổm (squat form) với một lỗ hỗng ở vai bình, đôi khi có một chân đế, và với một quai “giỏ” ngày càng được trang trí tỉ mỉ hơn.  Các thí dụ sớm nhất, các bình bó gối ngồi xổm đơn giản, với các vết tích của vôi vẫn còn hiển hiện, đã được khai quật từ các khung cảnh thế kỷ 10-12.  20 Bình đựng vôi, trong khi vẫn giữ lại tính cách đơn lẻ của nó, phản ảnh mối bận tâm về thể điệu biến đổi, hiển hiện rõ rệt trong luồng chính của sự sản xuất đồ gốm Việt Nam.  Một thí dụ được sưu tập bởi C. Huet tại Thanh Hóa, có niên đại khoảng thế kỷ thứ 13 (Hình 9), được trang trí bởi một hàng đôi của các kiểu mẫu răng cưa chồng lên nhau, họa kiểu được gọi là “trái dứa” (pineapple) được nhận thấy nơi các sản phẩm của Yaozhou [?] và Ding [?] của Jingdezhen (Cảnh Đức Trấn). 21 Tay cầm biến hóa thành một hình thể giống như dây leo cây nho kết cấu một cách kỳ diệu, các tua xoắn của nó vươn tới vai của bình nơi chúng trở nên các hạt cau cách điệu.  Chính hạt cau trộn lẫn với vôi tạo thành thành tố thực chất của miếng trầu được nhai bởi người dân Đông Nam Á.  Lê Tắc, một văn gia Việt Nam hồi đầu thế kỷ thứ 14, ghi chép rằng việc mời trầu các người khách đến thăm đã tạo thành một phần bản chất của lòng hiếu khách của người Việt, y như phong tục tại các nơi khác ở Đông Nam Á.

Các đồ gốm đơn sắc tráng men bóng trong thời nhà Trần, nổi bật là các đồ tráng men bóng với màu trắng, xanh lục, và màu nâu, điển hình để trơn hay với các chủ đề cánh hoa sen hay các loại hoa khác được đắp hay nhận chìm ở mặt bên trong.  Các phế phẩm của lò nung được báo cáo đến từ cả tỉnh Thanh Hóa lẫn vùng lân cận Hà Nội.  Các men bóng loại màu ngọc bích (celadon) tương đối hiếm trong số sản phẩm đơn sắc của Việt Nam.  Hình 10 biểu thị một chiếc bát với một họa kiểu thảo mộc uốn khúc được chạm khắc làm nhớ lại các sản phẩm trang trí màu nâu được sơn vẽ thời trước đây.  Nó có một men bóng rạn màu ngọc bích và một đáy lõm xiên góc.  Một cốc vại có thành đứng (beaker) trong hình thức một cái bát bố thí Phật Giáo phô bày men bóng trắng kem điển hình trên thân bát bằng sa thạch màu vàng sẫm và một lớp tráng sắt màu nâu-tím được sơn trên chân bát.  Một loại men bóng bằng đồng màu xanh trái táo đặc sắc cũng xuất hiện, đặc biệt được ưa chuộng trên các tách nhỏ và các chiếc lọ bình.  Các sản phẩm đơn sắc Việt Nam khác biệt nhất xuất hiện trong số các sản phẩm phủ men bóng màu trắng, và nổi bật nhờ sự thuần khiết về hình dạng, có nhiều nét tương đồng với sản phẩm một màu thời nhà Tống.

Việc Mua Bán Đồ Gốm Thủa Ban Đầu

Thế kỷ thứ 14 đánh dấu một đường rãnh phân chia trong sự phát triển các đồ gốm Việt Nam, sự chuyển tiếp từ sản xuất nội địa sang sự tham gia vào công việc mậu dịch đồ gốm quốc tế.  Sự thay đổi này được đánh dấu bởi sự phát triển của sự trang trí được sơn vẽ dưới lớp men bóng, khởi thủy trong màu sắt được nung thành màu nâu-đen.  Bằng cớ khả dĩ làm dữ liệu sớm nhất của đồ gốm Việt Nam như một sản phẩm mậu dịch quốc tế là một mảnh của một cái bát thuộc loại này, được sơn băng màu đen sắt dưới lớp men bóng với một huy chương xòe ra hoa cúc ở mặt bên trong và một lớp tráng sắt màu chocolat (nâu kẹo chocolat) trên đáy (Hình 11).  Nó được khai quật tại khu lận cân của Kanzeon-ji, Dazaifu, tỉnh Fukuoka, đảo Kyushu, Nhật Bản, cùng với một bảng bằng gỗ khắc bằng mực Tàu với một niên đại tương ứng với năm 1330 sau Công Nguyên. 23 Sự khám phá này đã xác định một cách an toàn sự sản xuất đồ sa thạch trang trí bằng sắt dưới lớp men bóng, muộn lắm là vào đầu thế kỷ thứ 14.  Các lò nung đảm trách các sản phẩm này vẫn chưa được xác minh một cách chắc chắn.  Di tích của các lò nung được chấm định tại một số địa điểm tại Thanh Hóa, Hà Nội và Hà Nam Ninh, 24 nhưng chúng ta đang chơ đợi tin tức chính xác trên việc xác minh các loại sản phẩm liên kết với mỗi vùng.  Các mảnh vụn của các đồ sa thạch trang trí bằng sắt tương tự với loại xuất cảng ban đầu được báo cáo tim thấy ở Bát Tràng thuộc ngoại ô Hà Nội. 25

Thứ hạng của sản phẩm này rõ ràng là các đồ gốm mậu dịch của Việt Nam nổi bật nhất trong thế kỷ thứ 14.  Nó được đặc trưng bởi một loại bột mịn màu trắng xám giúp cho người trang trí vẽ thẳng vào thân gốm mà không phải trộn bột cho đều màu trên mảnh gỗ mỏng trước tiên.  Toàn thể bề mặt sau đó được phủ bằng một lớp men trong, mà bởi sự thiếu tinh khiết của khoáng chất, có khuynh hướng bị nung thành màu vàng nhạt hay bị nhuốm màu hơi xanh lục.  Nét rạn nhỏ của men bóng thường xảy ra.  Sự trang trí này được hạn chế vào các món hàng có kích cỡ nhỏ: các cái bát, đĩa nông, nhỏ để đựng nước chấm (saucers), đĩa tròn để thức ăn (plates), các cốc vại thành đứng (beakers), các chiếc bình và các cái lọ hay chai. 26 Kiểu trang trí có thể được mô tả là sơ sài và có viết chữ, chủ đề trung tâm điển hình là một cành hoa bung ra được vẽ một cách lỏng lẻo, bao quanh bởi một vòng tròn đơn hay đôi và với một giải vòng tròn cổ điển nhận sâu trên đường viền (Hình 12).  Liệu các sản phẩm này đã được phát triển một cách công khai dành cho sự xuất cảng hay không thì không rõ.  Sưu tập của C. Huet bao gồm một phế phẩm [waster, tức đồ làm sai, bị bỏ, chú của người dịch] của lò nung được cho biết từ Đại La (Hà Nội), dưới hình thức một chồng bát với chủ đề hoa bung ra được vẽ bằng màu xanh da trời nằm dưới men bóng.

Sự xuất hiện của sự trang trí dưới lớp men bóng trong đồ gốm Việt Nam phải được nhìn dưới ánh sáng của sự phát triển tại Trung Hoa.  Việc vẽ dưới men bóng bằng màu nâu sắt và xanh đồng đã được áp dụng một cách thành công trong sự trang ttrí các sản phẩm của Changsha (Trường Sa) [thủ phủ của tỉnh Hồ Nam bên Trung Hoa, chú của người dịch] muộn lắm là trong thế kỷ thứ 9, như được thấy tại các bình đựng nước được khai quật tại Ningbo (Ninh Ba) thuộc tỉnh Chiết Giang hồi năm 1973, là các sản phẩm hầu như chắn chắn được dành cho sự xuất cảng, 27 và kỹ thuật mau chóng lan truyền đến các lò nung của Quảng Đông.  Các thí dụ về sản phẩm của Trường Sa đã được tìm ra từ đảo Java [thuộc Nam Dương ngày nay, chú của người dịch] cho đến Ba Tư dọc theo các hải lộ lớn. 28 Các lò nung ở vùng phụ cận của Quảng Châu và Quanzhou [? Tuyền Châu] đề rõ ràng đã sản xuất ra các đồ gốm được trang trí bằng sắt dưới lớp men bóng dành cho thị trường xuất cảng. 29 Sự lưu thông thương mại thường trực giữa các hải cảng này và các hải cảng của Bắc Việt sẽ tạo sự dễ dàng cho việc sẵn sàng chuyển giao các kỹ thuật như thế.  Dù thế, bất kể các sự tương đồng về kỹ thuật, không có nguyên mẫu thể điệu cụ thể nào cho sản phẩm được trang trí bằng sắt riêng biệt của Việt Nam đã được xác định, khiến liên tưởng mạnh mẽ đến sáng kiến của Việt Nam trong loại thiết kế đồ gồm này.

Đồ Gốm Màu Xanh Da Trời và Trắng của Việt Nam

Trong nửa sau của thế kỷ thứ 14, màu xanh thẫm như chất cobalt đã bắt đầu được sử dụng trong sự trang trí đồ gốm, báo hiệu một kỷ nguyên mới trong đồ gốm Việt Nam.  Khởi thủy màu xanh cobalt đi theo thiết kế tương tự với sản phẩm trang trí băng sắt.  Đôi khi hai màu được dùng phối hợp với nhau.  Nguồn gốc của cobalt không được hay biết nhưng có thể ức đóan rằng nó đã đến từ các nhà nhập cảng Trung Đông hoạt động tại Quảng Châu hay có thể còn trực tiếp từ các thương thuyền Hồi Giáo trên đường đến miền nam Trung Hoa.  Các nguồn bản địa Trung Hoa, chẳng hạn như các nguồn được khám phá tại Vân Nam, mới chỉ bắt đầu cung cấp cho Cảnh Đức Trấn sau năm 1426.  Sau đó Việt Nam có thể đã khai thác nguồn nguyên liệu này, sông Hồng cung cấp một chiếc cầu thiên nhiên giữa Vân Nam và Bắc Việt.

Sự kiện rằng các sản phẩm trang trí màu xanh cobalt bên dưới men bóng của Việt Nam được sản xuất trong thế kỷ thứ 14 đã được xác định từ các nguồn mậu dịch.  Một mảnh vỡ của một cái bát, được trang trí bằng màu xanh cobalt dưới lớp men bóng với chùm hoa sơ sài bung ra ở mặt trong và một chân trộn màu sơn màu nâu, được tìm thấy năm 1980 tại Nakijin Gusuku,  thuộc Ryukyus, đảo Okinawa, Nhật Bản.  Hoạt động mậu dịch được ghi chép từ Ryukyus với Việt Nam từ năm 1363.  Vị trí tòa lâu đài từ đó mảnh vỡ này được khai quật đã bị phá hủy trong năm 1416, cung cấp một niên đại sau cùng vào đầu thế kỷ thứ 15.  Kiểu vẽ liên hệ một cách trực tiếp với các sản phẩm được trang trí màu nâu sắt mà chúng ta hay biết đã được sản xuất khoảng gần một thế kỷ trước đó, và thí dụ này, với sự chắc chắn hợp lý, có thể được quy cho nửa sau của thế kỷ thứ 14.

Một biến cố trọng đại trong các quan hệ Trung Hoa – Việt Nam có thể đã gây ra một làn sóng mới của các ảnh hưởng của Trung Hoa được nhận thấy trong đồ gốm Việt Nam thế kỷ thứ 15 là sự xâm lăng của quân đội nhà Minh triều Yunglo (Vĩnh Lạc) sang chiếm đóng Việt Nam từ 1407 đến 1427.  Về mặt văn hóa, sự chiếm đóng đã có một hậu quả tàn phá, khi các kẻ chiếm đóng, tuyên bố một chính sách tích cực Hán hóa, đã mưu tính chuyển biến Việt Nam thành một tỉnh của Trung Hoa.  Các thư viện và văn khố được nói là đã bị chuyển về Trung Hoa và được giả định đã bị tiêu hủy.  Các đền đài gắn liền với các thành quả của các triều đại nhà Lý và nhà Trần bị phá hủy trong một mưu toan nhằm xóa bỏ các thành quả và căn cước của nền văn hóa Việt Nam.  Việt Nam đã kháng cự một cách hữu hiệu các mưu toan của Trung Hoa nhằm tái thiết lập sự kiểm soát chính trị thường trực.  Tuy nhiên, sự kháng cự lại sự thẩm nhập văn hóa tế nhị hơn vào xã hội Việt Nam bởi các giá trị, ý niệm và tín ngưỡng Trung Hoa có ít hiệu quả hơn.  Bằng chứng của ảnh hưởng văn hóa này, bị oán ghét như xảy ra đối với các bộ phận trong giới ttrí thức Việt Nam, được chứng tỏ trong nhiều khía cạnh của sự biểu lộ văn hóa và xã hội Việt Nam.  Sự mạo hiểm thành công của Việt Nam vào sự chế tạo và xuất cảng đồ gốm mậu dịch có phẩm chất, trực tiếp cạnh tranh với sản phẩm Trung Hoa, được tô điểm bởi mối quan hệ này.

Sự sản xuất mở rộng của sản phẩm màu xanh da trời và màu trắng chịu ảnh hưởng bởi Trung Hoa trong thế kỷ thứ 15 có thể được giải thích bằng sự tiếp cận với thị trường.  Thời kỳ 1436 đến 1465 được đánh dấu bởi sự ngăn chặn tích cực công cuộc mậu dịch hải ngoại bởi triều đình Trung Hoa.  Có thể rằng các thương nhân Trung Hoa tại Bắc Việt hay các nhà kinh doanh tại miền nam Trung Hoa với các sự liên kết chặt chẽ với Bắc Việt đã tích cực cổ vũ cho sự sản xuất các đồ gốm mậu dịch Việt Nam trong các thời kỳ mậu dịch Trung Hoa bị ngăn cấm.  Các sản phẩm như thế sẽ sẵn sàng được bán cho các thị trường Trung Hoa trước đây nếu được trang trí theo thể điệu Trung Hoa (Hình 13 và Hình 14).

Danh mục các hình dạng đồ gốm và các chủ đề thiết kế được sử dụng trong sự trang trí của chúng phát lộ một chiều hướng mới trong đồ gốm Việt Nam, tách rời khỏi các sự phát biểu bị địa phương hóa tiến tới một sự thích nghi gia tăng với các mô thức và quy ước Trung Hoa.  Một sự biến đổi trong thái độ xuất hiện, tách rời khỏi một ước mong, hay nhu cầu, để đưa ra các sự phát biểu công khai của căn cước văn hóa hướng tới một nỗ lực có ý thức nhằm sử dụng ngôn ngữ trang trí của nghệ nhân đồ gốm Trung Hoa nhằm dành lợi thế thương mại.  Các lò nung Việt Nam đã lao vào sự sản xuất thương mại và sự xuất cảng các sản phẩm tráng men bóng từ thế kỷ thứ 14, trong sự cạnh tranh trực tiếp với Trung Hoa là các kẻ theo truyền thống khống chế thị tường đồ gốm mậu dịch béo bở tại Đông Nam Á và xa hơn nữa. 30

Tuy nhiên, chính đồ gốm của các triều đại nhà Lý và nhà Trần, ngay trước kỷ nguyên sản xuất mậu dịch, phát lộ các lời phát biểu mạnh mẽ nhất về căn cước văn hóa của Việt Nam.  Sự kiện rằng điều này phải là như thế không có gì lấy làm ngạc nhiên, bởi kỷ nguyên này trong truyền thống được gắn liền với một sự phục hưng của văn hóa Việt Nam.  Việt Nam thời nhà Lý đã tái thiết định nền độc lập và triều đại nhà Trần đã kháng cự một cách hữu hiệu các mưu toan xâm lăng liên tiếp bởi các nhà cai trị triều Nguyên [Trung Hoa].  Cuộc chiếm đóng ngắn ngủi nhưng tàn phá hồi đầu nhà Minh đã xóa bỏ nhiều thành quả của thời nhà Lý và nhà Trần và ngày nay bằng chứng đồ gốm tồn tại cung cấp một trong ít ngả đường của cái nhìn thấu triệt vào căn cước văn hóa Việt Nam trong thời kỳ này./-

_____

CHÚ THÍCH

1. M. Goloubew “La Province du Thanh Hóa et sa ceramique”, Revue des Arts Asiatiques, Vol. VII, No. 2 (1931-32), trang 115.

2. J Holmgren, Chinese Colonization of Northern Vietnam: Administrative Geography and Political Developments in the Tongking Delta, First to Sixth Centuries A. D., Canberra, Australian National University Press, 1980, trang 7.

3. Xem A. B. Woodside, Vietnam and the Chinese Model, Cambridge, Harvard University Press, 1971 để có một cuộc thảo luận về các tình trạng mơ hồ về thái độ trong sự nhận thức của Việt Nam đối với sự hiện diện của Trung Hoa, và O. W. Wolters, History, Culture, and Region in Southeast Asian Perspectives, Singapore, Institute of Southeast Asian Studies, 1982, các trang 73-82.

4. Xem K. Gardiner, “Vietnam and Southern Han”, Phần I và II trong tập Papers on Far Eastern History 23 (1981), các trang 64-110, và 28 (1983), các trang 23-48. [tức chuyên san Asian Studies Review của Đại Học Quốc Gia Úc Đại Lợi, chú của người dịch].

5. Tôi muốn bày tỏ sự biết ơn đến Bà Janine Schotsmans, Quản Thủ Viên, Bảo Tàng Viện Musées Royaux d’Art et d’Histoire, Brussels, về việc bà đà tử tế cung cấp các ảnh chụp đồ gốm từ sưu tập Clément Huet Collection, và Giáo Sư Trần Quốc Vượng, về các ảnh chụp đồ gốm từ Bảo Tàng Lịch Sử Hà Nội.

6. Trần Quốc Vượng và Nguyễn Vĩnh Long, Hanoi, From the Origins to the 19th century, Hà Nội, Vietnamese Studies no. 48, 1977, các trang 23 và 31.

7. So sánh, M. Tregear, Song Ceramics, London, Thames & Hudson, 1981, trang 11.

8. Trần Quốc Vượng, đã dẫn trên, trang 24.

9. Xem E. H. Schafer, The Vermillion Bird, T’ang Images of the South, Berkeley, University of California, 1967, trang 237.  Tác phẩm này cung cấp một sự khiêu gợi phong phú và giàu tưởng tượng trong sự nhận thức của Trung Hoa về Việt Nam, phần lớn dựa trên thi ca nhà Đường và các nguồn tài liệu văn chương khác.

10. O. W. Wolters, đã dẫn trên, trang 78.

11. E. Schafer, đã dẫn trên, trang 236.

12. Tục xâm, vẽ mình như thế được thực hành sâu rộng trong số các người dân của vùng Đông Nam Á lục địa, xem J. S. Guy, Palm-leaf and Paper: Illustrated Manuscripts of India and Southeast Asia, Melbourne, National Gallery of Victoria, 1982, trang 62.

13. Chou Ch’u-fei, Ling Wai Tai Ta (1178), ấn bản Shanghai, 1935-7, trang 18.  Được trích dẫn trong J. K. Whitmore, trong cùng tuyển tập này.

14. E. Schafer, đã dẫn trên, trang 53.

15. So sánh Y. Mino, Freedom of Clay and Brush through Seven Centuries in Northern China: Tz’u-chou Type Wares, 960-1600 A.D., Indianapolis Museum of Arts, 1980.

16. So sánh, S. Hayashiya và H. Trubner, Chinese Ceramics from Japanese Collections: T’ang through Ming Dynasty, New York, Asia Society, 1977, trang b11.

17. K. Taylor, “A Brief Summary of Vietnamese History”, trong Southeast Asian Ceramic Society, Vietnamese Ceramics, Singapore, 1982, trang 15.

18. Xem W. Willetts, “Bridges: Internal and External Formal Relationships in Vietnamese Ceramics of the 11th – 16th Centuries”, trong Southeast Asian Ceramic Society, đã dẫn trên, trang 10.

19. O. R. Janse, Archaeological Research in Indochina, 3 tập, Boston, Harvard University Press, 1947-51, Bruges, St. Catherine Press, 1958, Vol. 3, các hình 80-82.

20. C. Huet, “Les pots a chaux les pipes a eau”, Bulletin des Musees’ Royaux d’Art et d’Histoire 4 (1941), trang 75.

21. So sánh Southeast Asian Ceramic Society, Song Ceramics, Singapore, 1983, hình 99.

22. O. W. Wolters, “Assertions of cultural well-being in 14th century Vietnam”, Journal of Southeast Asian Studies, Vol. 10, No. 2 (1979), trang 443.

23. Tôi biết ơn sâu xa ông Meitoku Kamei của Bảo Tàng Kyushu Historical Museum về việc cung cấp cho tôi thông tin này và các ảnh chụp các khám phá mới đây về đồ gốm Việt Nam tại Nhật Bản.

24. Được báo cáo gần đây bởi Trần Khánh Chương, Viện Mỹ Thuật [Institute of Fine Arts], Hà Nội, trong một bài viết chưa ấn hành.

25. Thông tin cá nhân từ Giáo Sư Phạm Huy Thông, Giám Đốc Viện Khảo Cổ, Hà Nội, Tháng Mười 1981.

26. So sánh Southeast Adian Ceramic Society, Vietnamese Ceramics, các bảng chụp  72-80, 83.

27. Australian Art Exhibitions Corporation, The Chinese Exhibition, Melbourne, 1976, trang 213.

28. Xem J. S. Guy, Oriental Trade Ceramics in Southeast Asia Ninth to Sixteenth Centuries, Kuala Lumpur, Oxford University Press, đang in.

29. So sanh P. Hughes-Stanton và Rose Kerr, Kiln Sites of Ancient China, London, Oriental Ceramic Society, 1981, các bảng chụp 167, 213.

30. Muốn biết về sự phân phối đồ gấm mậu dịch Việt Nam, xem J. Guy, “Vietnamese Trade Ceramics”, trong Southeast Asian Ceramic Society, Vietnamese Ceramics, các trang 28-35.

CÁC HÌNH CHỤP

https://i2.wp.com/i648.photobucket.com/albums/uu210/gioo2/baidich2009/baidich2010/GuyS1.jpg
Hình 1: Bình có nắp đậy trang trí bằng men bóng trong và màu nâu.  Cao 22.2cm.  Thế kỷ 10-12.
Xuất xứ Đại La.  Musées Royaux d’Art et d’Histoire, Brussels, Collection Huet.

https://i1.wp.com/i648.photobucket.com/albums/uu210/gioo2/baidich2009/baidich2010/GuyS2.jpg
Hình 2: Bình đựng, trang trí với tràng hoa cúc chạm khắc trên nền men bóng màu nâu. Thế kỷ 10-12.  Bảo Tàng Lịch Sử, Hà Nội.

https://i2.wp.com/i648.photobucket.com/albums/uu210/gioo2/baidich2009/baidich2010/GuyS3.jpg
Hình 3: Mảnh vỡ của một cái bình với men bóng trong màu nâu.  Cao 22cm.  Thế kỷ 10-12.
Xuất xứ: Đại La.  Musées Royaux d’Art et d’Histoire, Brussels, Collection Huet.

https://i2.wp.com/i648.photobucket.com/albums/uu210/gioo2/baidich2009/baidich2010/GuyS4.jpg
Hình 4: Bình đựng có nắp đậy, trang trí với hình chim và cành lá chạm khắc với men bóng trong trên nền men bóng trong và màu nâu. Thế kỷ 10-12.
Bảo Tàng Lịch Sử, Hà Nội.

https://i0.wp.com/i648.photobucket.com/albums/uu210/gioo2/baidich2009/baidich2010/GuyS5.jpg
Hình 5: Con voi.  Chi tiết phóng lớn từ một chiếc bình trang trí với men bóng trong và màu nâu.  Thế kỷ 10-12.  Bảo Tàng Lịch Sử, Hà Nội.

https://i2.wp.com/i648.photobucket.com/albums/uu210/gioo2/baidich2009/baidich2010/GuyS6.jpg
Hình 6: Bình đựng trang trí với men bóng trong và màu nâu.  Thế kỷ 10-12.  Bảo Tàng Lịch Sử, Hà Nội.

https://i1.wp.com/i648.photobucket.com/albums/uu210/gioo2/baidich2009/baidich2010/GuyS7.jpg
Hình 7: Ly (cốc) có chân theo hình hoa sen.  Sa thạch men bóng. Thế kỷ 11-12.  Musées Royaux d’Art et d’Histoire, Brussels.

https://i1.wp.com/i648.photobucket.com/albums/uu210/gioo2/baidich2009/baidich2010/GuyS8.jpg
Hình 8: Đĩa với trang trí chạm khắc và chạm nổi cánh hoa sen.  Men bóng trong và nâu sắt.  Đường kính 9cm.  Thế kỷ 11-12.
Xuất xứ: Hà Nội.  Sưu tập tư nhân.  Singapore.

https://i0.wp.com/i648.photobucket.com/albums/uu210/gioo2/baidich2009/baidich2010/GuyS9.jpg
Hình 9: Bình đựng vôi.  Sa thạch men bóng.  Cao 18cm.  Khoảng thế kỷ 13.  Musées Royaux d’Art et d’Histoire, Brussels, Collection Huet.

https://i2.wp.com/i648.photobucket.com/albums/uu210/gioo2/baidich2009/baidich2010/GuyS10.jpg
Hình 10: Bát với men màu ngọc bích (celadon).  Đường kính 13.5cm.  Thế kỷ 12-13.  Xuất xứ: Thanh Hóa.
Musées Royaux d’Art et d’Histoire, Brussels, Collection Huet.

https://i2.wp.com/i648.photobucket.com/albums/uu210/gioo2/baidich2009/baidich2010/GuyS11.jpg
Hình 11: Các mảnh vỡ của một cái bát trang trí với màu đen dưới lớp men bóng, khai quật tại Dazaifu, Kyushu, Japan.  Thế kỷ 14.
Kyushu Historical Museum, Dazaifu, Fukuoka.

https://i0.wp.com/i648.photobucket.com/albums/uu210/gioo2/baidich2009/baidich2010/GuyS12.jpg
Hình 12: Đĩa với trang trí màu nâu nằm dưới lớp men bóng.  Đường kính 27.5cm.  Thế kỷ 14.  Sưu tập tư nhân.  Úc Đại Lợi.

https://i2.wp.com/i648.photobucket.com/albums/uu210/gioo2/baidich2009/baidich2010/GuyS13.jpg
Hình 13: Đĩa trang trí bằng màu thiên thanh dưới lớp men bóng với hình vẽ hai con cá.  Thế kỷ 15.  Sưu tập của ông F. W. Bodor, Sydney.

https://i2.wp.com/i648.photobucket.com/albums/uu210/gioo2/baidich2009/baidich2010/GuyS14.jpg
Hình 14: Chai trang trí bằng màu xanh da trời dưới lớp men bóng.  Cao 54cm.
Sản phẩm Việt Nam có ghi niên đại sớm nhất, với một sự biên chú tương ứng năm 1450.  Cao 54cm.
Bảo Tàng Topkapu Sarayi Museum, Istanbul [Thổ Nhĩ Kỳ].

CÁC HÌNH CHỤP


Hình 1
: Bình có nắp đậy trang trí bằng men bóng trong và màu nâu.  Cao 22.2cm.  Thế kỷ 10-12.
Xuất xứ Đại La.  Musées Royaux d’Art et d’Histoire, Brussels, Collection Huet.


Hình 2
: Bình đựng, trang trí với tràng hoa cúc chạm khắc trên nền men bóng màu nâu. Thế kỷ 10-12.  Bảo Tàng Lịch Sử, Hà Nội.


Hình 3
: Mảnh vỡ của một cái bình với men bóng trong màu nâu.  Cao 22cm.  Thế kỷ 10-12.
Xuất xứ: Đại La.  Musées Royaux d’Art et d’Histoire, Brussels, Collection Huet.


Hình 4
: Bình đựng có nắp đậy, trang trí với hình chim và cành lá chạm khắc với men bóng trong trên nền men bóng trong và màu nâu. Thế kỷ 10-12.
Bảo Tàng Lịch Sử, Hà Nội.


Hình 5
: Con voi.  Chi tiết phóng lớn từ một chiếc bình trang trí với men bóng trong và màu nâu.  Thế kỷ 10-12.  Bảo Tàng Lịch Sử, Hà Nội.


Hình 6
: Bình đựng trang trí với men bóng trong và màu nâu.  Thế kỷ 10-12.  Bảo Tàng Lịch Sử, Hà Nội.


Hình 7
: Ly (cốc) có chân theo hình hoa sen.  Sa thạch men bóng. Thế kỷ 11-12.  Musées Royaux d’Art et d’Histoire, Brussels.


Hình 8
: Đĩa với trang trí chạm khắc và chạm nổi cánh hoa sen.  Men bóng trong và nâu sắt.  Đường kính 9cm.  Thế kỷ 11-12.
Xuất xứ: Hà Nội.  Sưu tập tư nhân.  Singapore.


Hình 9
: Bình đựng vôi.  Sa thạch men bóng.  Cao 18cm.  Khoảng thế kỷ 13.  Musées Royaux d’Art et d’Histoire, Brussels, Collection Huet.


Hình 10
: Bát với men màu ngọc bích (celadon).  Đường kính 13.5cm.  Thế kỷ 12-13.  Xuất xứ: Thanh Hóa.
Musées Royaux d’Art et d’Histoire, Brussels, Collection Huet.

 


Hình 11
: Các mảnh vỡ của một cái bát trang trí với màu đen dưới lớp men bóng, khai quật tại Dazaifu, Kyushu, Japan.  Thế kỷ 14.
Kyushu Historical Museum, Dazaifu, Fukuoka.


Hình 12
: Đĩa với trang trí màu nâu nằm dưới lớp men bóng.  Đường kính 27.5cm.  Thế kỷ 14.  Sưu tập tư nhân.  Úc Đại Lợi.


Hình 13:
Đĩa trang trí bằng màu thiên thanh dưới lớp men bóng với hình vẽ hai con cá.  Thế kỷ 15.  Sưu tập của ông F. W. Bodor, Sydney.


Hình 14
: Chai trang trí bằng màu xanh da trời dưới lớp men bóng.  Cao 54cm.
Sản phẩm Việt Nam có ghi niên đại sớm nhất, với một sự biên chú tương ứng năm 1450.  Cao 54cm.
Bảo Tàng Topkapu Sarayi Museum, Istanbul [Thổ Nhĩ Kỳ].

—–

Nguồn: John S. Guy, Vietnamese Ceramics and Cultural Identity: Evidence from the Ly and Trần Dynasties, trong sách biên tập bởi David G. Marr và A. C. Milner, Southeast Asia in the 9th to 14th Centuries, Research School of Pacific Studies, Australian National University và Institute of Southeast Asian Studies, Singapore, 1986, các trang 255-269.

Ngô Bắc dịch và phụ chú

Ngô Bắc là bút hiệu của Ngô Ngọc Trung
Tốt nghiệp Học Viện Quốc Gia Hành Chánh,
và đại học Luật Khoa Sài Gòn, 1972

Với tư cách là chuyên viên nghiên cứu tại
Văn Khố Đông Dương (Indochina Archives),
của viện Institute For East Asian Studies, UC Berkeley,
trong suốt thập niên 1990, ông đã thực hiện nhiều
công trình nghiên cứu về Việt Nam như
Hạ Tầng Cơ Sở Của Giao Thông Và Viễn Thông Việt Nam,
Ngư Nghiệp Và Thủy Hải Sản Việt Nam,
Triển Vọng Xuất Cảng Các Loại Cây Kỹ Nghệ Của Việt Nam,
Vấn Đề Chuyển Giao Công Nghệ, Giáo Dục Việt Nam,
Bang Giao Hoa Kỳ – Việt Nam …

Ông cũng là một trong những người tham gia việc biên soạn
bộ Bách Khoa Tự Điển Encyclopedia of the Vietnam War,
A Political, Social, And Military History,

do nhà xuất bản ABC – CLIO, Inc phát hành năm 1998

29/08/2010

 

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN

Read Full Post »

BÌNH VÔI KÝ KIỂU DO COPELAND & GARRETT SẢN XUẤT

PHILIPPE TRUONG

Trong các món đồ sứ do vua Minh Mạng đặt làm tại Anh, ngoài bộ Spode có các dòng lạc khoản “Minh Mạng… niên tăng họa”, còn có những bình vôi mang hiệu đề Copeland & Garrett. Theo lời bà Pam Wooliscroft, quản thủ Bảo tàng Công ty Spode thì xưởng Copeland & Garrett không bao giờ chế tạo bình vôi hoặc một vật gì có hình dáng tương tự như thế. Điều này chứng minh rằng các cổ vật này là những món hàng ký kiểu do một phái đoàn đến từ Đại Nam đặt làm và đã được mang khỏi Copeland & Garrett nên Bảo tàng Công ty Spode không còn lưu giữ bình vôi nào.

Hiện có năm chiếc bình vôi do triều đình Đại Nam ký kiểu từ xưởng Copeland & Garrett đã được các nhà sưu tầm và nghiên cứu cổ vật giới thiệu hay đề cập trong các bài khảo cứu của mình. Song thật không may là hai trong số những chiếc bình vôi ấy hiện không ai còn biết rõ tung tích. Kiểu dáng của các bình vôi này tương tự những bình vôi dùng tại Việt Nam dưới triều Nguyễn: thân hình cầu, trên đỉnh đắp nổi hình tròn dẹp, có núm nhỏ, qua hình cung, ở hai đầu quai có đắp nổi hình ngọn lửa.


Được chế tác bởi một loại sành sứ mới sáng tạo, gọi là New Fayence(1) tại Spode vào năm 1826, các bình vôi ký kiểu này được trang trí theo phương pháp in chuyển họa. Việc phát minh kỹ thuật in chuyển họa đã biến đổi nghề làm gốm thủ công thành một công nghệ. Kỹ thuật chuyển họa xuất hiện vào năm 1756 do John Sadler và Guy Green sáng chế ở Liverpool, sau khi trải qua nhiều công đoạn cải tiến, phát triển.


Trong giai đoạn đầu (1780 – 1800), lò Spode sử dụng những hoa văn sao chép theo các hình mẫu của Trung Quốc nhằm thỏa mãn thị hiếu của khách hàng. Đây cũng là thời kỳ thực nghiệm nên những hoa văn trang trí trên đồ gốm chuyển họa đều khá đơn giản. Bước sang giai đoạn thứ hai (1800 – 1815), nhờ sự phát minh máy in trên giấy Fourdrinier, kỹ năng in khắc được cải tiến. Nhờ đó, những người thợ in khắc có thể hình thành hoa văn bằng các chấm nhỏ và đường vạch, tạo nên những độ sâu với những sắc thái khác nhau, hình dung được những đám mây trên trời. Thời kỳ này, Staffordshire trở thành trung tâm sản xuất đồ gốm in chuyển họa.

Nhiệm vụ của người thợ in khắc là thiết kế một đồ án trang trí thích hợp hoặc sửa đổi một họa tiết có sẵn cho phù hợp với hình dáng của món đồ sứ. Sau đó họ sao chép đồ án này lên một tấm đồng đỏ cán mỏng và dùng acid để khắc lên tấm đồng những đường vạch hoặc chấm tròn nhỏ. Một khi nhiệm vụ vất vả này hoàn thành (một tấm đồng cho mỗi kích thước hoặc hình dáng của món đồ sứ) thì lúc đó tấm đồng mới sẵn sàng để dùng cho việc in chuyển hoa văn giấy. Màu lam cobalt luôn được dùng để in các đồ án bởi vì vào thời kỳ này đây là màu duy nhất có thể chịu được sức nóng của lò nung men mà không bị phai màu. Lúc đầu, cobalt được nhập khẩu từ Đức, nhưng về sau thì được khai thác từ xứ Cornwall. Cobalt được trộn lẫn với bột đá lửa và dầu tạo thành một loại mực sền sệt để in. Trước tiên người ta đặt những tấm đồng ở trên bếp lò để làm cho chúng nóng lên và dùng con dao trộn sơn dầu phết mực lên trên tấm kim loại đó tạo thành các chi tiết của hình khắc. Rồi thì người ta cạo sạch bề mặt tấm đồng bằng một miếng vải nhung kẻ. Giấy dùng để in rập hoa văn được làm ướt bằng xà phòng và nước rồi được đặt lên trên tấm đồng để sao các hoa văn khắc in trên tấm đồng. Sau đó, người ta ép và đặt tấm đồng lên trên bếp lò để làm cho nó nóng trở lại nhằm làm cho tờ giấy vừa được sao chép hoa văn bong ra. Người thợ cắt tỉa các hoa văn sao in trên tờ giấy và đặt nó lên các vị trí thích hợp trên những món đồ sứ sẽ được chuyển họa. Mặt giấy có mực in vừa được sao từ tấm đồng sẽ tiếp xúc với xương đất mộc của món đồ sứ. Sau đó, người ta dùng một cuộn vải flanen để chà nhẹ lên mặt sau tờ giấy để lưu lại các họa tiết trên nền một xương gốm. Đường viền của các họa tiết và hoa văn sẽ được in riêng rẽ, thường thì gồm hai hoặc nhiều mảnh hơn ghép lại, vì thế, người ta có thể thấy rõ các chỗ đấu nối họa tiết. Tiếp theo, bằng cách rửa món đồ trong nước lạnh, lập tức, tờ giấy sẽ nổi lên mặt nước để lại hoa văn được in trên món đồ sứ. Để lưu giữ hoa văn đã in lên món đồ một cách bền chắc, người ta đem món đồ ấy hấp trong một lò kín. Công đoạn cuối cùng là phủ lên trên hoa văn vừa in một lớp men trong để bảo vệ. Người ta cẩn thận nhúng mỗi món đồ vào trong nước men lỏng sao cho lượng nước men dư thừa trên món đồ là không đáng kể, rồi đem nung món đồ lần thứ hai trong một lò nung để làm chảy lớp men phủ.

Dưới chiếc bình vôi(2) nguyên của Bảo tàng Khải Định (Bảo tàng CVCĐ Huế hiện nay) có ghi hiệu đề New Blanche ở giữa, cùng với dòng chữ Copeland & Garrett viết theo hình tròn và hình vương miện ở trên. Hiệu đề này được sử dụng vào khoảng thời gian giữa các năm 1838 và 1847. New Blanche là một loại đồ sành dùng tại xưởng Copeland & Garrett. Theo ghi chép của xưởng này vào năm 1839, thì thành phần cấu tạo của New Blanche gồm 1/3 đất sét, 1/3 đất kaolin và 1/3 đá lửa. Hình trang trí trên chiếc bình vôi này vẽ một con chim phượng đậu trên cái kệ, cạnh một chiếc bình, một chậu hoa và một mâm trái cây. Được đặt tên là kiểu thức Macau, hoa văn này được chép theo kiểu Trung Quốc, xuất hiện trên đồ sứ xuất khẩu châu Âu, và vào năm 1839, lần đầu tiên tên hoa văn này ghi chép trong các tài liệu lưu trữ của xưởng Copeland & Garrett. Vì nét tương đồng giữa kiểu thức trang trí này với các đồ Spode mang hiệu đề “Minh Mạng…niên tăng họa”, nên sứ bộ Đại Nam đã chọn bình vôi ấy. Theo sổ sách lưu trữ của Bảo tàng Khải Định trước đây, bình vôi này được tìm thấy (hoặc mua) tại Huế trước khi đưa vào Bảo tàng Khải Định (số kiểm kê MKD 653).

Môt bình vôi khác(3) nay thuộc sưu tập của Bảo tàng CVCĐ Huế (Ảnh 01) được trang trí bằng men nhiều màu, đề tài hoa điểu. Mặt trước vẽ một con chim trĩ và bông hoa (hoa văn số B.587); mặt kia vẽ một con chim công (hoa văn số B.588). Cách vẽ chim và bông hoa theo kiểu phương Tây. Theo sổ sách của xưởng Copeland & Garrett thì hai hoa văn trang trí số B.587 và B.588 được sáng tạo năm 1839. Chữ B ghi trước số hoa văn chứng minh là hoa văn này được dùng dưới men.

Dưới đáy bình vôi có ghi hiệu đề Copeland & Garrett, bao quanh chữ late Spode và tên chất liệu New Fayence trong một dải ruy băng. Hiệu đề này, in màu xanh lá cây hoặc màu nâu, được sử dụng giữa các năm 1833 và 1847.

Bình vôi(4) của nhà sưu tầm Trần Đình Sơn (Ảnh 02) thì được trang trí kiểu thức hoa văn B.466 một cách tỉ mỉ và tương xứng. Hoa văn này được sáng tạo vào năm 1838. Có hai chiếc lá bao quanh miệng bình vôi và hai vòng hoa trang trí quanh thân bình. Một dãy hồi văn chữ chi viền quanh vai và quai bình. Các hoa văn trên chiếc bình vôi này hẳn nhiên được thực hiện theo kiểu thức châu Âu.

Bảo tàng Lịch sử Việt Nam thành phố Hồ Chí Minh hiện đang lưu giữ một bình vôi(5) (Ảnh 03), cũng do xưởng Copeland & Garrett chế tạo. Chiếc bình vôi này cũng được trang trí theo lối in chuyển họa nhiều màu với kiểu hoa văn châu Âu: một bó hoa đặt trên chiếc lưới màu xanh (tượng trưng cho vườn hoa) được vẽ trên phần trên thân bình và hai cánh hoa lá ở phần dưới thân bình. Một dãi hoa văn màu xanh viền quanh quai bình và đế bình. Kiểu hoa văn này được ghi trong sổ sách của xưởng Spode năm 1839 với mã số B 593. Hiệu đề in màu xanh dưới chiếc bình vôi này là New Fayence ở giữa, kèm theo dòng chữ Copeland & Garrett viết theo hình tròn và hình chiếc vương miện. Hiệu đề này là kiểu hiệu đề nối tiếp hiệu đề có trên chiếc bình vôi của Trần Đình Sơn, xuất hiện khoảng giữa các năm 1838 đến 1847.

Dưới đáy của một chiếc bình vôi(6), nguyên của nhà sưu tầm người Bỉ, ông Clément Huet, cũng có in hiệu đề Copeland & Garrett và Saxon Blue trong một dãi ruy-băng. Hiệu đề này rất hiếm gặp và được ghi khi thợ gốm dùng kỹ thuật in chuyển họa dưới lớp men chảy. Hoa văn trang trí trên bình vôi này là một bó hoa.

Căn cứ vào các kiểu thức hoa văn và hiệu đề thì những bình vôi này do xưởng Copeland & Garrett sản xuất vào giữa các năm 1839 và 1847. Trong thời gian ấy chỉ có một sứ bộ duy nhất sang Luân Đôn để ký kiểu đồ sứ. Đó là sứ bộ do Tôn Thất Thuyền và Trần Việt Xương làm chánh sứ và phó sứ.

Cuối năm 1839, sau chiến thắng của quân Anh tại Trung Quốc, vua Minh Mạng đã tìm cách đối phó với các nước phương Tây bằng đàm phán ngoại giao. Vua cử một sứ bộ sang Pháp và Anh để thăm dò tình hình, lấy cớ đi mua hàng hóa. Việc sứ bộ Đại Nam đến Pháp đã làm nhiều người chú ý. Các hội truyền giáo lợi dụng dịp này để tố cáo việc  cấm đạo Thiên Chúa và giết hại giáo sĩ của vua Minh Mạng. Cả tòa thánh Vatican cũng gửi thư phản đối. Vua Louis Philippe của nước Pháp, vì phải đối mặt với những khó khăn trong nước nên không tiếp kiến sứ bộ Đại Nam.

Sau thất bại ở Pháp, sứ bộ lên tàu sang Anh (tháng 02 năm 1840). Họ được Thủ tướng Anh, Tử tước Melbourne, tiếp đãi nhưng họ không thu được nhiều thành công hơn. Trong thời gian lưu tại Luân Đôn, phái đoàn Đại Nam, theo lệnh vua Minh Mạng, đã ký kiểu các bình vôi tại thương quán Luân Đôn. Thời gian lưu lại của họ quá hạn chế nên họ không kịp nhận những chiếc bình vôi đã ký kiểu. Sau đó, những món hàng này được gửi đến Toàn quyền Ấn Độ để chuyển đến Huế. Năm 1845, viên Toàn quyền Ấn Độ cử một sứ bộ đến tạ ơn sự giúp đỡ(7) của vua Thiệu Trị (1841 – 1847). Lần đầu tiên các tài liệu đề cập đến việc triều đình nhận tặng phẩm. Một trong những lý do của việc này là sự có mặt của những bình vôi Copeland & Garrett ở trong số quà tặng. Hai năm sau người Anh lại đến Việt Nam và vua Thiệu Trị từ chối không cho yết kiến.

Vậy thì bình vôi Copeland & Garrett là những đồ sứ ký kiểu đầu tiên mà vua triều Nguyễn ký kiểu tại châu Âu. Sự chọn lựa lò Copeland & Garrett, một xưởng Anh quốc, chứng minh rằng đồ gốm sành sứ Anh được vua Minh Mạng chú trọng hơn đồ Pháp.

P.T.

Chú thích:

(1) Theo sách hướng dẫn làm đồ sành sứ của Spode vào năm 1826, thì thành phần cấu tạo của đồ New Fayence gồm:

– 65,31% đất sét xanh.

– 17,56% kaolin.

– 13,06% đá lửa.

– 04,05% đá Cornwall.

Tỷ lệ này không được xác định một cách cố định. Sau khi nung thì New Fayence trở thành trắng ngà và thường được trang trí bằng cách chuyển họa tô màu.

(2) Bình vôi, Anh quốc, niên đại khoảng năm 1840, Copeland & Garrett (Stroke-on-Trent, Staffordshire) chế tác theo kỹ thuật sành sứ men màu chuyển họa. Đường kính: 11cm, cao 18cm. Hiệu đề: NEW BLANCHE (ở giữa) COPELAND & GARRETT (ở trên, viết theo hình tròn) và một chiếc vương miện. Chiếc bình này nguyên là của Bảo tàng Khải Định, số kiểm kê MKD 653 (Dẫn theo: Jabouille P. & Peysonnaux J.H., “Sélection d’objets d’art et meubles conservés au Musée de Khải Định”, B.A.V.H., 1929, April-June, pl. XXX – 4.

(3) Bình vôi, Anh quốc, niên đại khoảng năm 1840, Copeland & Garrett (Stroke-upon-Trent, Staffordshire) chế tác theo kỹ thuật sành sứ men màu chuyển họa. Đường kính: 11cm, cao 16,5cm. Hiệu đề: LATE SPODE (ở giữa) COPELAND & GARRETT (ở trên, viết theo hình tròn), NEW FAYENCE (trong một ruybăng), Hiện vật của Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế, Số kiểm kê BTH.1679.S-1.GM-4639.

(4) Bình vôi, Anh quốc, niên đại khoảng năm 1840, Copeland & Garrett (Stroke-upon-Trent, Staffordshire) chế tác theo kỹ thuật sành sứ men màu chuyển họa. Hiệu đề: LATE SPODE (ở giữa), COPELAND & GARRETT (ở trên, viết theo hình tròn) và NEW FAYENCE (ở dưới, trong một ruybăng). Hiện vật của sưu tập Trần Đình SơnThành phố Hồ Chí Minh.

(5) Bình vôi, Anh quốc, niên đại khoảng năm 1840, Copeland & Garrett (Stroke-upon-Trent, Stafordshire) chế tác theo kỹ thuật sành sứ men màu chuyển họa. Cao: 18cm, Hiệu đề: Hình một vương miện và NEW FAYENCE (ở giữa), COPELAND AND GARRETT (viết theo hình tròn), Hiện vật của Bảo tàng lịch sử Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh, Số kiểm kê BTH 15182.

(6) Bình vôi, Anh quốc, niên đại khoảng năm 1840, Copeland & Garrett (Stroke-upon-Trent, Staffordshire) chế tác theo kỹ thuật men lam chảy chuyển họa. Cao: 18,50cm. Hiệu đề: một vương miện ở giữa; chữ COPELAND & GARRETT (ở trên, viết theo hình tròn), SAXON BLUE (ở trên, trong một ruybăng), nguyên thủy thuộc sưu tập của Clément Huet (Bruxelles, B) (Dẫn theo: HUET Clément, Les pots à chaux, les pipes à eaux, Bulletin des Musées Royaux d’Art et d’Histoire, Bruxelles, 1941, Tome 4, p. 80, pl. 11).

(7) Vào năm 1824, một con tàu Anh xuất phát từ Quảng Đông bị đắm, vua Thiệu Trị đã tạo điều kiện giúp đỡ và cho tàu Việt Nam đưa họ trở lại Ấn Độ.

Nguồn từ http://www.covathue.com/cac%20bai%20viet/Binhvoikykieu.html

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN

Read Full Post »

Bình vôi và câu truyện tập tục Việt

ĐẦU NĂM MUA MUỐI, CUỐI NĂM MUA VÔI

Câu tục ngữ này gắn với hai tập tục: Phiên chợ đầu năm người ta đi chợ thể nào cũng mua một ít muối về nhà và phiên chợ cuối năm, người ta mua vôi về để cho ông bình vôi ăn no nê, đầy đặn.
Sâu xa hơn ở vế thứ nhất,  tập tục mong muốn vào đầu năm, mua muối là đưa về nhà sự mặn mà quanh năm trong các quan hệ ứng xử, quan hệ làm ăn. Dẫu muối còn nhiều, nhưng vẫn nhắc nhau mua một bát. Điều đặc biệt ở đây là: với những vùng có thói quen đong các thứ bằng bát sát miệng (bằng miệng) như gạo, thóc, đậu, kê, vừng thì muối bao giờ cũng đong có ngọn, chứ không gạt miệng sợ về sẽ mất lộc, mất mặn mà.
Vế thứ hai, tại sao cuối năm lại mua vôi hay tôi vôi?
Xưa các cụ làm nhà vật liệu phải tích cóp hàng năm trời hoặc mấy năm trời trong đó có cả vôi làm vữa xây.Và việc tôi vôi chỉ dám thực hiện vào cuối năm. Đầu năm phải kiêng vì tôi vôi rã ra hết thì không may mắn. Hơn nữa “Bạc như vôi” là câu nói cửa miệng của các cụ ngày xưa .
Ở nông thôn, nhà nào cũng rắc vôi bột ở 4 góc vườn rồi vẽ hướng ra phía cổng để xua đuổi ma quỷ. Vì thế, dân gian có câu: “Đầu năm mua muối, cuối năm mua vôi”. Tuy nhiên cũng có ý cho rằng, cuối năm mua vôi để tô điểm thêm cho ngôi nhà thêm mới, thêm đẹp để đón xuân.
Tập tục người Việt: vào dịp đầu năm cái gì cũng phải đầy đặn, sung mãn để có lộc cả năm. Ông bình vôi là vật thiêng, nhưng khổ nỗi: vôi được quan niệm là bạc. Nên, dân gian vẫn có câu: “bạc như vôi” nên cuối năm người ta mua vôi để tránh sự bạc bẽo. Nên “đầu năm mua muối, cuối năm mua vôi” là vậy.
Ngày xưa, dân ta thường ăn trầu và có rất nhiều người nghiện trầu. Miếng trầu là đầu câu chuyện, cũng là mở đầu cho những cuộc tình duyên, kết bạn, làm quen, gắn bó… Miếng cau nhai với lá trầu cần phải có một chút vôi trắng muốt quệt vào mới đủ, mới đậm đà, ngon miệng và say. Và cũng phải có chút vôi trắng ấy mới có được cái màu đỏ làm hồng môi nhau. Cái màu đỏ này tượng trưng cho lòng chung thuỷ, lòng tin yêu nhau của đôi trai gái. Vì thế mà vôi cũng là yếu tố vô cùng quan trọng của miếng trầu. Giá trị của “vôi” ngày được khẳng định với những ý nghĩa khác nhau cùng sự trường tồn của thời gian.
Gắn với tục ăn trầu và những kiêng kị quanh vôi và bình vôi của người Việt. Xưa, có tục kiêng: người đàn ông dưới 40 tuổi không tôi vôi vì… sợ sớm bạc đầu.
Ông bình vôi là công cụ để vôi ăn trầu bằng sành sứ, hiện nay chưa thấy hiện vật này ở thời kỳ Đông Sơn. Chiếc bình vôi xưa nhất chưa xác định được, nếu có chỉ ở thời kỳ Bắc thuộc. Ba tiếng “Ông – Bình – Vôi” là từ Hán Việt hóa (có gốc từ tiếng Hán đã được Việt hóa đến mức thuần Việt).
Hiện nay, trong các lò gốm ở những nơi làm sành sứ mới đúc được ông bình vôi, còn những nơi làm nồi không đúc được. Và, không phải ai cũng đúc được. Người ta cũng chỉ đúc ông bình vôi vào những tháng nhuận của năm nhuận, nhưng người thợ cả phải sạch sẽ, không tang chế thì mới nặn thành công ông bình vôi.
Khi mua ông bình vôi, người ta mang theo một vuông vải đỏ hoặc nâu, mua xong gói ghém cẩn thận, bỏ vào thúng mủng đội lên đầu chứ không được cắp nách hoặc bỏ tay nải để xách. Lên xuống đò phải để chỗ cao ráo. Khi đưa về nhà thường đặt chỗ kín đáo, gần đầu giường, gần cửa buồng vì trong dân gian có câu chuyện kể: Kẻ trộm vào nhà thường hay nút miệng ông bình vôi lại hoặc quay miệng vào vách thì cả nhà sẽ ngủ yên, không ai nói mơ, nếu có biết trộm thì cũng ngọng nghịu, khhông la làng được.
Khi cho ông bình vôi ăn phải e dè, thận trọng. Khi dùng dao vôi để lấy vôi, nhất thiết không được ngoáy chìa vôi vào lòng ông vì nếu thế sẽ bị bệnh cồn cào ruột gan mà dùng chìa đưa thẳng rồi rút ra, Nên vì thế, miệng ông cứ mỗi ngày một đầy, thành vành khuyên, hôm trở trời tự lóc ra, người ta dùng dao khứa chân rồi đem xâu vào dây treo trước cửa mạch (cửa phụ nữ và ma quỷ hay ra vào) để trừ tà.
Một khi ông bình vôi đã đặc ruột, người ta rước ông cùng xâu miệng lên chùa để dưới chân cây hương, dưới gốc mít, gốc đa. Lâu ngày lăn lóc, sương đọng vào bụng ông, gặp con sài đẹn, hay bị sơn ăn thì người ta lấy nước đó mà uống, mà bôi. Ai bị sâu răng thì mua ngọc trai tán nhỏ hòa vào nước này uống sẽ khỏi.
Ông bình vôi là một vật thiêng, ông luôn cần no đủ. Nhưng ông lại ăn ít vì ruột càng ngày càng đặc lại. Xưa có những nhà chuyên bán vôi ăn trầu, họ trải lá chuối vào rổ, bỏ vôi vào, hai đầu hai rổ đem bán. Khi bán, dùng chiếc que to hơn cái đũa cả để lấy vôi phết vào lá cho khách hàng mang về. Bán thì ít, cho thì nhiều, nhưng vẫn vui vẻ.
Gọi là cuối năm nhưng không ấn định ngày nào để mua vôi. Tùy thuộc vào phiên chợ nào cho thuận tiện trong khoảng mươi ngày cuối tháng Chạp theo chợ phiên (chợ phiên thường có nhiều loại: tháng 3 phiên, tháng 5 phiên, tháng 6 phiên, tháng 9 phiên hay tháng 12 phiên). Không mua chợ này thì mua chợ khác.
Tập tục người Việt: vào dịp đầu năm cái gì cũng phải đầy đặn, sung mãn để có lộc cả năm. Ông bình vôi là vật thiêng, nhưng khổ nỗi: vôi được quan niệm là bạc. Nên, dân gian vẫn có câu: “bạc như vôi” nên cuối năm người ta mua vôi để tránh sự bạc bẽo. Nên “đầu năm mua muối, cuối năm mua vôi” là vậy.
Cuộc Sống Việt _ Theo Vitinfo.com.vn
VÀI BÌNH VÔI GỐM QUẢNG ĐỨC SƯU TẬP

Louise Allison Cort giám định viên của VBT smithsonian, Washington, D.C trong bài viết báo cáo ngày 3 tháng 06 , 2007 ghi chép như sau:

Di chỉ lò gốm vùng Quảng Đức, thuộc huyện lỵ Tuy An cách Tuy Hòa về phía bắc 30 km. Trong cuộc khảo sát khu vực các lò gốm chúng tôi được nghe một người thợ gốm già (83 tuổi) thuật lại rằng thợ gốm Chăm đã làm gốm tại đây từ 500 năm trước; có ba thế hệ thợ gốm từ Chaozhou, Quảng Đông đến đây khoảng thế kỷ 17, 18 và thợ gốm người Việt Nam từ Bình Dịnh đến đây lập nghiệp từ tk 18. Hiện nay vẫn còn hai xưởng gốm hoạt động. Theo nhân viên VBT Phú Yên đi theo đoàn nói, thuyền duyên hải sẽ vận chuyển gốm thành phẩm về phương Nam đến Nha Trang và theo phương Bắc đến Bình Định. Người thợ gốm già cũng nói đến những bình cắm hoa thì theo thuyền đến Huế.

nguyên văn:

The Quang Duc kiln site in Tuy An district, 30 kilometers north of Tuy Hoa. During a visit to the kiln on 3 June, we were told by an elderly potter (age 83), that Cham potters had worked there 500 years ago; Chinese potters from Chaozhou, Guangdong province, were here in the 17th–18th century, for three generations only; ethnic Vietnamese (Kinh) potters came three hundred years ago, in the 18th century, from Binh Dinh. Two workshops still operate. According to museum staff, the products used to be shipped by coastal boat south to Nha Trang and north to Binh Dinh province. The elderly potter also spoke of making flower pots to send by boat to Hue.

Theo tôi, bình vôi Quảng Đức có cái mang nhiều phong cách trang trí Trung Hoa là do ảnh hưởng của ba thế hệ thợ gốm từ Chaozhou, Quảng Đông đến đây khoảng thế kỷ 17, 18…

Tại VBT smithsonian có một số bình vôi gốm Quảng Đức được ghi niên đại thế kỷ 18 – giữa tk 20 là khoảng thời gian thợ gốm VN sản xuất tại Quảng Đức chứ không định rỏ chính xác niên đại.

Read Full Post »

Sưu tập gốm men trắng thời Lý Trần thế kỷ XI – XIV

Bát chén Lý trắng (Gọi là đồ đời Lý, nhưng ta gồm cả nơi đây đồ gốm đời Trần. Bởi vì đồ đời Trần tiếp tục cái truyền thống đặc sắc của đồ đời Lý .Cho đến đời Hậu Lê, sự phát triển đặc sắc của đồ gốm Chu Đậu, Bát Tràng mới thực sự trở nên cá biệt, tạo những chiều hướng khác)cùng các bình ấm rất đẹp, một vẻ đẹp thanh nhã mà cao sang, càng nhìn càng ưa. Bình và ấm vẫn theo truyền thống Việt Nam, quai cầm chỉ có tính cách trang trí, không thực dụng. Nước men rất mịn, mầu trắng tuyền, nhìn mát rượi, thảng hoặc có món men trắng trắng ngà hay men trắng thoáng ẩn sắc xanh dương. Có chén nhỏ mà lòng chén tráng men trắng, nhưng bên ngoài lại tráng men nâu. Bình men trắng thường cao khoảng 16 – 22cm, đôi khi có phác họa một vài cánh hoa mầu xám nhạt.

Có loại bình Lý trắng (cao 15cm) có quai cầm là hình một con cá bống nhỏ mầu trắng, mắt đen, rất linh động, nắp bình vẽ hoa cúc, thân bình vẽ cành trúc, cành mai mầu xám nhạt. Những bình khác có quai cầm hình xoắn ốc hay hình một con rồng chui từ trong thân bình ra rồi lại chui vào tạo thành quai cầm để lại chui sang mé bên kia cất cao đầu trở nên vòi rót. Rồng đây không phải là con rồng Trung Hoa, mà là một con rắn mình trơn, có kỳ trên lưng, đầu giống như hình linh vật Naga hay Makara của Ấn Độ. Miệng bình thường khá nhỏ, chỉ có thể dùng làm nậm rượu hay bình nước, chứ không thể thành ấm trà.

Có những tô Lý trắng ám họa hình ảnh của văn hóa Ả Rập, hình ảnh trăng lưỡi liềm và các vì sao cùng với 2 đoản đao bắt chéo…Có những bát, trong lòng toàn là biểu tượng Phật Giáo như chữ Vạn, như hình ảnh bát bửu, hay trong lòng chén, lòng đĩa là cả một bông hoa sen, bông hoa cúc đang nở, có lu nhỏ cao 25cm rộng 18cm mà nắp lu là cả một bông sen và miệng lu cũng chạm nổi những cánh sen đang nở…Có tô đường kính 12cm, đáy tô là một bông cúc nở, qu anh lòng tô là những nhành lá và hoa cúc. Bình ấm rất đẹp, nhiều cái hình quả dưa, quả bầu, hình con tôm càng cưỡi trên long con cá chép…

 

Phụ lục Biên luận của Bùi Ngọc Tuấn – Nguồn Newvietart

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Bình vôi, ống nhổ


hotanphan
(Xuân MTTN 2008) – Theo nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới, Việt Nam không phải là nước độc nhất, cũng không phải là nước đầu tiên có tập quán ăn cau trầu. Tuy nhiên có thể khẳng định, tục ăn cau trầu ở nước ta cũng đã có từ rất lâu đời.

Hồ Tấn Phan – Xuân Miền Trung Tây Nguyên 2008

Theo Truyện trầu cau trong  Lĩnh Nam chích quái, tục ăn cau trầu ở nước ta đã có từ thời Hùng Vương. Nhưng phổ biến thì phải đến thời tiền Lê. Tác giả Mã Đoan Lâm viết trong Văn hiến thông khảo: Năm Thuần Hóa thứ nhất (900), vua Tống sai sứ sang truyền phong cho Lê Hoàn chức đặc tiến, khi về sứ thần là Tống Cảo thuật lại rằng: “….Lê Hoàn cầm cương ngựa, cùng sứ giả cùng đi, rồi lấy trầu mời trên lưng ngựa, đấy là phong tục mời khách quý…”.

Người Tây phương vào cuối thế kỷ trước, khi đến nước ta đã rất ngạc nhiên khi thấy tục lệ này. Cristophoro Borri -Giáo sĩ Dòng Tên người Ý đã viết trong cuốn Xứ Đàng Trong năm 1621: “Ở xứ Đàng Trong còn một trái khác đặc biệt của xứ này người Bồ gọi là “areca” (cau). Cây nó mọc thẳng như cây dừa, rỗng ở trong và chỉ đâm lá ở chóp đỉnh, lá tựa lá dừa; ở giữa các tàu lá, nảy các ngành nhỏ có trái. Trái có hình thù và kích thước của trái hồ đào, sắc xanh cũng như vỏ hồ đào, còn ruột thì trắng và cứng như trái dẻ, chẳng có mùi vị gì hết. Trái này không ăn một mình, nhưng ăn với lá trầu không, thứ cây rất thông dụng ở khắp Ấn Độ, lá như lá thường xuân ở châu Âu và thân bám vào cây chống như giống cây thường xuân. Người ta hái lá cắt thành từng miếng nhỏ và trong mỗi miếng để một miếng cau, như vậy mỗi trái có thể làm thành bốn hay năm miếng.

Người ta còn thêm vôi với cau. Vôi ở xứ này không làm bằng đá như vôi châu Âu, nhưng bằng vỏ sò hến. Vì trong nhà có những người chuyên lo việc bếp núc, chợ búa và các việc khác, nên ở Đàng Trong mỗi nhà đều có một người không có việc gì khác hơn là việc têm trầu, những người dùng vào việc này thường là đàn bà, nên gọi là các bà têm trầu. Những miếng trầu đã têm sẵn thì để vào trong hộp và suốt ngày người ta nhai trầu, không những khi ở trong nhà mà cả khi đi lại trong phố chợ, cả lúc nói, ở mọi nơi, mọi lúc. Và sau khi đã nhai trầu lâu và nghiền trong miệng, người ta không nuốt mà nhả ra, chỉ giữ hương vị và phẩm chất tăng thêm sức mạnh cho dạ dày một cách kỳ lạ.

Trái này được têm thành miếng rất thông dụng đến nỗi khi tới thăm ai, người ta đem theo một túi đầy trầu và mời người mình tới thăm, người chủ nhà lấy một miếng cho ngay vào miệng. Trước khi người khách từ biệt ra về, chủ nhà sai người têm trầu của nhà mình đem ra một túi để mời người khách đến thăm mình, như để đáp lại sự lịch thiệp mình đã nhận được. Do đó, vì cần phải có sẵn cơi trầu cau, và có liên tục, nên cau cũng là một nguồn lợi lớn ở xứ này, có vườn cau thì cũng như ở xứ chúng ta có ruộng nho và ruộng ô liu. Họ cũng hút thuốc lá, nhưng thuốc lá không thông dụng bằng trầu cau”.

Cristophoro Borri mô tả tỷ mỷ, nhưng vẫn còn thiếu nhiều, kể cả những cái cơ bản như bình vôi, ống nhổ. Cau, trầu, vôi vẫn còn đó, nhưng là cau, trầu, vôi hậu sinh. Cau, trầu, vôi mà Cristophoro Borri thấy đã đi vào thế giới sắc không.

Theo bước chân công chúa Huyền Trân, 700 năm trước, một đợt lưu dân Việt đi vào hai châu Ô, Lý đổi thành châu Thuận, châu Hóa, rồi phủ Thuận Hóa. Trong hành trang của những người rời quê cũ vào miền đất mới có cả văn hóa cau trầu đã tồn tại hàng ngàn năm rồi, không những nó trở thành một tập quán, mà tinh thần của nó đã ăn sâu vào tâm thức của con người.

Khi vào đây, nền văn hóa cau trầu Việt gặp nền văn hóa cau trầu Chăm. Có nhà nghiên cứu cho rằng, có thể người Chăm đã biết ăn cau trầu trước người Việt. Theo truyền thuyết dân tộc Chăm, có hai bộ tộc: bộ tộc dừa ở phía bắc  (trong đó có TT-Huế ngày nay) và bộ tộc cau ở phía nam. Trong cuốn Lịch sử vương quốc Chăm, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội xuất bản năm 2004, tác giả Lương Ninh cho biết: Khi còn vương quốc Chăm, mỗi lần nhà vua xuất hành, theo nghi thức của triều đình, có 50 thị vệ và 10 thị nữ bưng những mâm vàng đựng cau trầu theo hầu.

Tục ăn cau trầu của người Chăm đã còn lưu lại trên nhiều dấu vết, và ngày nay người ta vẫn còn gặp những đồ dùng như hộp đựng trầu và bình vôi bằng đồi mồi khảm vàng bạc, dao bửa cau, buồng cau, lá trầu bằng vàng… Thế nhưng, liên quan đến tục ăn cau trầu được khắc lên bia đá thì chỉ có ở làng Lai Trung (thuộc xã Quảng Vinh, huyện Quảng Điền, tỉnh TT-Huế). Tấm bia này nói đến việc một vị quan “hầu trầu” (danay pinang) xây dựng đền tháp tôn thờ thần Civa.

Cho đến nay, chúng ta khó mà biết được một cách tường tận việc ăn cau trầu của các tiền nhân từ 700 năm trước, lúc họ vừa mới bước chân đến Huế. Nhưng đến thế kỷ 19, chúng ta có thể biết được toàn cảnh của một xã hội cau trầu, từ cung đình cho đến cùng đinh. Vào lúc đó, tục ăn cau trầu ở Huế có những nét đặc biệt mà nơi khác không có. Cau trầu liên quan đến quan hôn tang tế, sinh lão bệnh tử thì ở đâu cũng có, nhưng ở Huế còn có ăn cau trầu trong cung đình.

Về ăn cau trầu trong cung đình, trước hết phải nói việc ăn cau trầu của vua. Hàng năm, bộ Hộ thường tiến vào Đại Cung một số tiền để lo việc mua cau trầu cho vua ngự dụng. Ví dụ như Minh Mạng năm đầu tiên (1820) là 40 quan, đến năm Minh Mạng thứ 5 là 80 quan, và qua các thời có gia, giảm chút ít. Đó là một số tiền rất lớn nếu so với lương lính lúc đó, mỗi tháng mỗi người nhận khoảng 1 quan.

Đồ dùng trong việc ăn cau trầu của vua giao cho phủ Nội vụ chế tạo. Bình vôi, ống nhổ, cơi trầu, hộp trầu được làm bằng vàng, bạc hoặc đồng, chạm trổ công phu. Khay, hộp được chế tạo bằng đồi mồi hay gỗ quý. Đặc biệt có một số đồ dùng như bình vôi, ống nhổ được đặt làm từ bên Tàu, bên Tây.

Việc chầu hầu vua ăn cau trầu cũng là quan, binh, nhưng khác với phong tục của người Chăm. Ở triều nhà Nguyễn, những quan, binh này chẳng qua cũng chỉ là những thị thần, không có vai trò gì quan trọng trong triều đình. Thường chuyên trách công việc này có Viện Thượng trà được tuyển chọn kỹ từ từ 60 -100 người, được xếp vào biền binh chính ngạch. Thời thường các viên chức Viện Thượng trà phải chầu hầu bên vua, kể cả những dịp gặp ngày tự, hưởng, khánh hạ, triều hội, hoặc khi vua ngự trên điện. Khi vua giá hạnh các địa phương xa, các viên chức Viện Thượng trà cũng phải chỉnh tề trang phục xa giá để kịp thời dâng tiến các vật hạng ngự dụng.

Trong cung đình, cau trầu cũng có liên quan đến quan hôn tang tế. Ví như mỗi lần có một công chúa hạ giá, của hồi môn do phủ Nội vụ chu biện có: Bình vôi bằng sứ 1 cái, Hộp trầu thuốc bằng vàng (nặng 20 lạng) 1 bộ, Hộp trầu thuốc bằng bạc (nặng 16 lạng) 1 bộ, Hộp trầu thuốc bằng đồi mồi khảm vàng (vàng 7 tuổi rưỡi, nặng 2 đồng 5 phân) và khay bạc (3 lạng 7 đồng 2 phân), Hộp trầu bằng bạc hạng nhỏ có cơi một cái, Hộp trầu bằng bạc hạng nhỏ (bạng 20 lạng 2 đồng 5 phân, giá 162 quan) 1 cái, Hộp trầu khảm xà cừ 2 cái, Hộp trầu bằng đồi mồi 1 bộ, Hộp trầu bằng thau 2 bộ, Khay trầu bằng ngà bốn góc bịt vàng (vàng 7 tuổi rưởi 1 lạng và các vật liệu giá 100 quan) 1 cái, Ôậng nhổ bạc khảm vàng (vàng 4 lạng, bạc 20 lạng) 1 cái, Ôậng nhổ bạc khảm vàng (vàng 7 tuổi rưởi 6 đồng, bạc 4 lạng 8 đồng 5 phân, giá 92 quan 9 tiền 26 đồng) 1 cái, Ôậng nhổ bằng thau khảm vàng 1 cái, Ôậng nhổ bằng thau 6 cái, Âu đựng trầu bằng vàng (nặng 36 lạng 7 đồng cân) 1 cái, Chậu đựng trầu bằng thau 1 cái.

Trong dân gian thì hầu như mọi người đều ăn cau trầu. Tất cả làm nên một văn hóa cau trầu rất phong phú. Tục ăn cau trầu cũng đã ghi một ấn tượng đến tình yêu trong xã hội: tình yêu giữa ông bà và con cháu, giữa cha mẹ với con cái; tình yêu nam nữ, tình yêu vợ chồng… Những tình yêu đậm đà đó được thể hiện bằng những cái hôn đằm thắm, da diết… Và xin nói rõ, đây là hôn hít bằng mũi. Mùi vị của những người mình yêu thật sâu lắng, không thể nào quên…

Thời gian cứ trôi qua, trôi qua…, cuộc sống rồi cũng thay đổi, tục ăn cau trầu gần như lùi vào dĩ vãng, chỉ còn lại một ít hình ảnh lễ nghi, hoặc hình ảnh của một thế hệ gần đất xa trời, hay một ít vật dụng như những “ông” bình vôi nằm dưới gốc cổ thụ phảng phất chút khói hương…

Thế nhưng, thật ngạc nhiên và xúc động, như một phép lạ, nhiều năm trở lại đây, dưới dòng sông Hương và các dòng sông khác của Huế ồ ạt “xuất hiện” không biết cơ màn nào là bình vôi và ống nhổ, đủ chủng loại, đủ đẳng cấp. Mỗi cái có một “linh hồn”, thực thực, hư hư, và tất cả gần như còn giữ nguyên hơi thở của cuộc sống. Quá khứ xa xăm hàng ngàn năm trước đã thức dậy,  và chúng đã nói với chúng ta không biết bao nhiêu điều tưởng chừng như ảo mộng…

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Ông bà bình vôi

BÌNH VÔI VIỆT NAM

binhvoi

Bình vôi là những chiếc bình bằng gốm sứ hay đồng thường có thân hình cầu dùng để đựng vôi đã tôi phục vụ cho tập tục ăn trầu của người Đông Nam Á. Đối với người Việt, bình vôi được gọi trang trọng là Ông bình vôi, được coi là một thành viên rất gắn bó trong gia đình. Những bình vôi không còn sử dụng nữa vẫn được lưu giữ trong nhà, hay gửi ở đình làng …

Ăn trầu là một tập tục xuất hiện từ rất lâu đời ở khu vực Đông Nam Á. Hơn thế nữa, miếng trầu còn là chiếc cầu nối trong các mối quan hệ xã hội ở mọi cấp độ. Chính vì vậy mà người xưa có câu : “Miếng trầu là đầu câu chuyện”, và cũng chính là lý do ra đời của hàng loạt các vật dụng cần thiết phục vụ cho tập quán này. Bình vôi là một trong số các vật dụng ấy. Bình vôi thường có hình cầu, trên thân bình có một lỗ nhỏ, tuy nhiên, cũng có loại bình vôi có nắp đậy, dùng để chuyên vôi mới tôi. Bình vôi có thể được làm từ các chất liệu như bằng gốm sứ hay bằng đồng. Kích thước của bình vôi cũng rất đa dạng và phong phú, có chiếc là bình cá nhân, kích cỡ vừa phải, nhưng có những chiếc bình thuộc nghi lễ, thường có kích cỡ rất lớn.

Tất nhiên, bình vôi không chỉ đơn thuần là một vật chứa vôi phục vụ tập tục ăn trầu cổ xưa, mà còn có mối liên hệ khăng khít với truyền thống và văn hoá. Trước tiên ta hãy xem xét đến cách mà người Việt thường gọi bình vôi. Khi nói tới bình vôi, người Việt thường dùng đại từ Ông thay vì dùng lượng từ Cái thông thường. Khi gọi bình vôi là Ông bình vôi là người ta đã sử dụng biện pháp nhân cách hoá chiếc bình. Vì vậy, Ông bình vôi được coi là một thành viên trong gia đình. Ông bình vôi tiêu biểu cho nhiều truyền thống lâu đời và mang nhiều ý nghĩa sâu sắc.

Bình vôi có nắp thường xù xì và vì thế nên rất hiếm khi bị vỡ, nhưng một khi đã vỡ là mang một điềm báo về sự chẳng lành. Người ta không bao giờ vứt bình vôi mà thường giữ trong nhà, gửi trong làng hoặc đền thờ thành hoàng làng. Những bình vôi không dùng nữa thường được xếp quanh gốc tre đầu làng.

Để lấy được vôi trong bình người ta dùng một chiếc chìa vôi nhỏ đưa qua cái miệng nhỏ trên thân bình, mỗi khi chiếc chìa vôi đi qua miệng bình, hoặc cũng do chủ ý của người sử dụng mà vôi bị quệt lại miệng bình, và như thế theo thời gian miệng bình dày lên hình thành cổ bình, thậm chí lấp kín miệng bình, đó là lúc chiếc bình không còn sử dụng được nữa. Thật đúng với nhận xét một nhà thơ Việt Nam vào những năm 1940:

“Đời người có thể kéo dài hàng trăm năm,

Giống như bình vôi vậy.

Càng sống lâu, càng giàu kinh nghiệm,

Càng sống lâu, càng thấy mình nhỏ bé”

Mặc dù ăn trầu là một tập tục của cả vùng Đông Nam Á, nhưng bình vôi gốm của Việt Nam không phải là một mặt hàng phục vụ cho các thị trường mậu dịch gốm thế kỷ 15. Chỉ có một số rất ít được xuất khẩu. Một số rất ít bình vôi được tìm thấy tại di chỉ tàu đắm như tại di chỉ tàu đắm Pandanam ở Philippines, đồng thời cũng có thể tìm thấy tại các di chỉ Cù Lao Chàm ở Việt Nam. Ở cả hai di chỉ này, có một số bình vôi còn đang đựng vôi, điều đó giúp khẳng định đây là vật dụng cá nhân của các thuỷ thủ trên tàu. Trong trường hợp này, bình vôi giúp xác định được nguồn gốc của thuỷ thủ trên tàu.

Lại có một chiếc bình vôi mất quai khác được tìm thấy ở Indonexia, và thường bị nhầm là bình nhỏ nước. Trên thực tế, bình vôi cũng thường dùng làm bình nhỏ nước. Trong nhiều năm gần đây, các nhà quí tộc ở Nhật Bản sưu tầm bình vôi và sử dụng bình vôi làm bình chuyên nước và là đối tượng đàm đạo trong trà đạo. Khi nghi lễ trà đạo kết thúc, bình vôi không được dùng để chứa vôi mà được dùng để cắm hoa.

Thời hiện đại có rất nhiều người Việt Nam trở thành nhà sưu tập bình vôi, cùng với nhịp độ tăng trưởng của kinh tế, cùng những chương trình tái thiết đất nước, bình vôi được tìm thấy ở rải rác khắp đất nước. Bình vôi rất đa dạng phong phú về kiểu dáng và lối trang trí. Có chiếc có quai xách, có chiếc không có quai xách. Hoạ tiết trang trí cũng rất đa dạng mô phỏng theo cành và cây cau, dây trầu không…

Cổ ngữ Việt Nam có câu “Bỏ thuốc tậu trâu, Bỏ trầu tậu ruộng” để nhắc nhở những ai quá nghiền trầu và thuốc. Nhưng thuốc hiện nay đã trở nên không còn được say mê ưa chuộng như xưa kia nữa, và thời thế đã thay đổi. Hình ảnh về một cụ già ngồi têm trầu trong đình làng Đồng Kị năm 1994 với vật dụng đựng vôi là một lon Côca cho thấy rằng, dường như khi không có bình vôi thì bất cứ thứ gì cũng có thể thay thế được. Những thay đổi ở Việt Nam diễn ra gần đây đã làm sống dậy những truyền thống cổ xưa. Đây cũng chính là lúc nhà nước khuyến khích các thợ gốm duy trì sản xuất ra các vật dụng văn hoá truyền thống như bình vôi.

Bài đăng trên Netdepviet.org

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Older Posts »