Feeds:
Bài viết
Phản hồi

Archive for the ‘Gốm sản xuất ở Trung Bộ’ Category

*Lò gốm Châu Ổ Mỹ Thiện Quảng Ngãi bên bờ diệt vong sau cơn bão lũ

*Quảng Ngãi phát hiện dấu tích lò nung gốm cổ

*Bình vôi và câu truyện tập tục Việt

*Bất ngờ gốm Gò sành Quảng Ngãi

*Hồi sinh Pháp Lam Huế

*Hàng tráng men: Pháp Lam và Pháp Lam Huế

*Gốm cổ Quảng Đức : Hình ảnh tham khảo

*Gốm cổ Champa Bình Định

*Làng gốm cây me Bình Định

*Chủ nhân gốm Gò Sành là ai ?

*Đèn gốm làng nghề Thanh Hà –Hội An

*Thấy gì từ những bộ sưu tập gốm sứ ở Tây Nguyên

*Gốm Quảng Đức –Phú Yên

*Gốm Thanh Hà Quảng Nam

*Gốm Phước Tích

*Gốm Gọ – Bình Thuận

*Gốm Gò Sành – Gốm Chăm Cổ

*Gốm Chăm Bàu Trúc

*Lò gốm Châu Ổ Mỹ Thiện Quảng Ngãi….

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN

Read Full Post »

Bất ngờ gốm cổ Gò Sành Quảng Ngãi

TTCT – Ngày 20-9-2010, khi đào đất xây hầm biogas tại vườn nhà, ông Đặng Ngọc Anh (ở khu Gò Sành, thôn Phú Bình, xã Tịnh Châu, Sơn Tịnh, Quảng Ngãi) đã phát hiện một hầm gốm phế phẩm của một lò gốm cổ.

Ông Đặng Ngọc Anh lau chùi những hiện vật gốm được ông phát hiện – Ảnh: Huỳnh Văn Mỹ
Nồi cực nhỏ và cối – chày giã muối nói lên sự tinh xảo của người thợ gốm xưa

Như một sự trùng hợp khá lý thú, năm 1974, bom Mỹ rải xuống khu đất cũng có tên Gò Sành ở thôn Phụ Quang, xã Nhơn Hòa, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định cũng tình cờ làm phát lộ một lò gốm cổ với khá nhiều hiện vật gốm có giá trị. Nhưng gốm Gò Sành Bình Định là một dòng gốm Chăm cổ có niên đại từ khoảng cuối thế kỷ 13 đến thế kỷ 15-16, còn gốm Gò Sành Quảng Ngãi được xem là sản phẩm hỗn dung của hai cư dân Việt – Chăm ở khoảng thế kỷ 15-16, là chứng liệu cho những kiến giải lịch sử hấp dẫn.

Đã hơn một tuần kể từ ngày tìm thấy những hiện vật gốm cổ xưa, ông Đặng Ngọc Anh vẫn còn lộ vẻ xúc động. Dù rất bận bịu với công việc, ông Anh cùng vợ – bà Tạ Thị Tường Vi – vẫn tranh thủ giờ nghỉ để chùi rửa, kỳ cọ hàng trăm mảnh vỡ từ những hiện vật gốm được ông lấy lên từ hầm đào.

“Vợ chồng tui biết đây là những thứ cần cho các nhà nghiên cứu nên khi vừa đào gặp chúng là tui liền báo với xã. Nói thiệt, lấy chúng lên tốn công lắm. Vậy nhưng cả nhà tui ai cũng vui khi huyện, tỉnh đến, khen đây là những của quý cần đưa vào bảo tàng để mấy nhà nghiên cứu tìm hiểu thêm về lịch sử miền đất này…” – ông Anh nói.

Một dòng gốm đặc thù

“Khu đất này được gọi tên là Gò Sành từ lâu đời bởi ở đây có rất nhiều mảnh sành. Mà sành là loại gốm được nung ở nhiệt độ rất cao nên đồ sành chắc, cứng, màu sẫm đen hơn đồ gốm rất nhiều…” – ông Võ Thân, 68 tuổi, ở kề nhà ông Anh trên khu đất Gò Sành, giải thích. Ông Thân cũng cất giữ một số mảnh sành cùng vài chiếc lọ bể mà ông thu được ở độ sâu 1,5m khi đào giếng hồi năm 1986.

Từ lời người xưa lưu lại, cư dân Phú Bình cho rằng những mảnh sành này là từ những sản phẩm gốm được lớp cư dân đến trước – người Chăm – làm nên.

Gò Sành rộng hơn 1ha, nằm sát bên là Gò Gốm, cả hai đều là khu dân cư, cách Châu Sa – khu thành cổ Champa đã được xếp di tích quốc gia – chừng 500m về hướng đông nam. Từng chứng kiến cuộc khai quật khảo cổ học ở Gò Gốm hồi năm 2008, với chỉ một vỏ lò gốm được phát hiện nhưng không có hiện vật gốm nào cả, ông Anh và những người xung quanh càng muốn biết về lai lịch gốm Gò Sành.

Với cách đào thận trọng, trong hai ngày rưỡi, ông Anh cùng những người giúp việc đã đưa lên hơn 20 hiện vật còn khá nguyên vẹn cùng hàng trăm mảnh vỡ lớn nhỏ từ các hiện vật gốm.

Niêu nhỏ, bình vôi, cối giã muối – chày, nhiều nhất là các loại lọ, hũ với nhiều kích cỡ. Những chiếc niêu nhỏ miệng chỉ rộng chừng 8cm, cao khoảng 6cm, dày chỉ 2mm vẫn rắn chắc, gõ nghe keng vang như kim loại. Những chiếc lọ, hũ có xương gốm dày đến 4cm được nung chín đều khắp, những sắc màu đa dạng của các hiện vật đã nói lên tay nghề tinh xảo của người thợ gốm Gò Sành xưa.

Tiến sĩ Đoàn Ngọc Khôi, giám đốc Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Quảng Ngãi, nhận xét: “Đến nay có thể nói chưa có cuộc khai quật khảo cổ học nào được thực hiện ở Nam Trung bộ – từ Đà Nẵng đến Bình Thuận – thu được những loại hiện vật gốm như ở hố đào dân dụng của ông Đặng Ngọc Anh. Đây đúng là một dòng gốm mới được phát hiện lần đầu”.

Hố đào xây hầm biogas của nhà ông Anh – nơi phát hiện những hiện vật gốm cổ quý giá – Ảnh: Huỳnh Văn Mỹ

Thông điệp từ quá khứ

Tiến sĩ Khôi cho rằng bước đầu có thể nói những hiện vật gốm này có niên đại muộn nhất là ở thế kỷ 16 và là những phế phẩm – những sản phẩm gốm không đạt chuẩn – của một lò gốm cổ, và điều chắc chắn là lò gốm cổ chưa được phát hiện nằm không xa hố phế phẩm này.

* Với niên đại vừa nêu, theo ông, ai là chủ nhân tạo tác những sản phẩm gốm này?

– Từ các loại hình sản phẩm gốm thu được có thể nhận ra kỹ thuật chế tác cũng như công dụng của chúng. Ở đây phần nhiều sản phẩm gốm được làm bằng tay như các loại bình vôi, nồi nhỏ có nắp đậy, các lọ (vò) nhỏ; còn các sản phẩm như hũ lớn – mà phần lớn bị vỡ – được làm bằng bàn xoay.

Các loại vò nhỏ, thân cao (đều được làm bằng tay) thường được dùng ở các nghi lễ, các khu mộ (như đựng tro cốt). Các loại bình, hũ nhỏ, nồi nhỏ có trang trí hoa văn hình ngọn lửa, hình đầu gà, tất thảy đều mang đậm yếu tố bản địa Chăm. Những sản phẩm gốm khác như nồi lớn, hũ lớn đáy bằng được làm bằng bàn xoay cho thấy yếu tố du nhập kỹ thuật gốm Việt.

Đây là một phát hiện mới, sinh động, cho thấy có yếu tố tiếp xúc giữa hai cộng đồng cư dân Việt – Chăm, một sự hòa hợp của hai cộng đồng cư dân, phản ánh giai đoạn cư dân Đại Việt mở rộng vào phương Nam từ nửa sau thế kỷ 15, mà ở vùng đất này là việc thiết lập nên Tam ty ở thành Châu Sa. Bởi vậy, thật lý thú có thể nói những sản phẩm gốm này do cư dân Chăm hay cư dân Việt làm đều được.

* Ông có thể nói đâu là điểm nhấn từ các hiện vật gốm được phát hiện tình cờ này?

– Gốm là vật dụng thiết thân trong đời sống con người, là tư liệu thông tin về một giai đoạn lịch sử, qua tư liệu gốm ta nhận thức được những vấn đề về đời sống, văn hóa, lịch sử của các cộng đồng cư dân địa phương, phác dựng được bức tranh lịch sử trong một giai đoạn lịch sử nhất định. Điểm nhấn từ phát hiện này là giúp giải mã về sự tiếp biến, dung hợp giữa hai cộng đồng cư dân cùng sống, cùng tồn tại trên một dải đất phản ánh đúng như trong lịch sử hai cộng đồng dân tộc Việt – Chăm.

Lịch sử không phải là không gian phẳng mà là không gian cắt lớp, ở đó có những lớp văn hóa kế tục, đan xen, tiếp biến và phát triển. Những sản phẩm gốm cổ mang hai dấu ấn Chăm – Việt vừa mới được phát hiện này đã khẳng định sự cộng cư, cộng sinh cùng phát triển trong một giai đoạn lịch sử của hai cộng đồng Việt – Chăm trong hành trình mở đất phương Nam của cư dân Việt hồi thế kỷ 15-16.

Có thể đó là những sản phẩm gốm do cư dân Chăm làm ra để trao đổi với cư dân Việt trong vùng hay ngược lại. Chính những hiện vật gốm được tìm thấy lần này là minh chứng sống động cho vấn đề.

* Với phát hiện tình cờ chứa nhiều thông tin như thế, đâu là việc phải làm sắp tới của ngành chức năng, mà chủ yếu là các cuộc khai quật khảo cổ học trong khu vực, thưa ông?

– Đúng là không thể chậm thêm nữa. Sắp tới, Bảo tàng Tổng hợp Quảng Ngãi sẽ lên kế hoạch tổ chức các cuộc khai quật trong khu vực Gò Sành để làm sáng tỏ thêm về lò gốm cổ được cho là có thể nằm ở khu vực này.

Với màu da trông như mảng tường được ốp đá rửa loại mịn, đây là chiếc bình đẹp nhất được ông Anh thu được từ hố đào – Ảnh: Huỳnh Văn Mỹ

“Những hiện vật gốm cổ vừa được gia đình ông Đặng Ngọc Anh tìm thấy có nhiều ý nghĩa, chứng minh rằng văn hóa không có sự đứt quãng, mà là sự tiếp thu, phát triển liền lạc, các yếu tố bản địa và du nhập luôn hòa hợp cùng nhau”.

Tiến sĩ ĐOÀN NGỌC KHÔI

* MỤC LỤC – TIN TỨC THỜI SỰ NGÀNH GỐM 

MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN

Read Full Post »

Bình vôi và câu truyện tập tục Việt

ĐẦU NĂM MUA MUỐI, CUỐI NĂM MUA VÔI

Câu tục ngữ này gắn với hai tập tục: Phiên chợ đầu năm người ta đi chợ thể nào cũng mua một ít muối về nhà và phiên chợ cuối năm, người ta mua vôi về để cho ông bình vôi ăn no nê, đầy đặn.
Sâu xa hơn ở vế thứ nhất,  tập tục mong muốn vào đầu năm, mua muối là đưa về nhà sự mặn mà quanh năm trong các quan hệ ứng xử, quan hệ làm ăn. Dẫu muối còn nhiều, nhưng vẫn nhắc nhau mua một bát. Điều đặc biệt ở đây là: với những vùng có thói quen đong các thứ bằng bát sát miệng (bằng miệng) như gạo, thóc, đậu, kê, vừng thì muối bao giờ cũng đong có ngọn, chứ không gạt miệng sợ về sẽ mất lộc, mất mặn mà.
Vế thứ hai, tại sao cuối năm lại mua vôi hay tôi vôi?
Xưa các cụ làm nhà vật liệu phải tích cóp hàng năm trời hoặc mấy năm trời trong đó có cả vôi làm vữa xây.Và việc tôi vôi chỉ dám thực hiện vào cuối năm. Đầu năm phải kiêng vì tôi vôi rã ra hết thì không may mắn. Hơn nữa “Bạc như vôi” là câu nói cửa miệng của các cụ ngày xưa .
Ở nông thôn, nhà nào cũng rắc vôi bột ở 4 góc vườn rồi vẽ hướng ra phía cổng để xua đuổi ma quỷ. Vì thế, dân gian có câu: “Đầu năm mua muối, cuối năm mua vôi”. Tuy nhiên cũng có ý cho rằng, cuối năm mua vôi để tô điểm thêm cho ngôi nhà thêm mới, thêm đẹp để đón xuân.
Tập tục người Việt: vào dịp đầu năm cái gì cũng phải đầy đặn, sung mãn để có lộc cả năm. Ông bình vôi là vật thiêng, nhưng khổ nỗi: vôi được quan niệm là bạc. Nên, dân gian vẫn có câu: “bạc như vôi” nên cuối năm người ta mua vôi để tránh sự bạc bẽo. Nên “đầu năm mua muối, cuối năm mua vôi” là vậy.
Ngày xưa, dân ta thường ăn trầu và có rất nhiều người nghiện trầu. Miếng trầu là đầu câu chuyện, cũng là mở đầu cho những cuộc tình duyên, kết bạn, làm quen, gắn bó… Miếng cau nhai với lá trầu cần phải có một chút vôi trắng muốt quệt vào mới đủ, mới đậm đà, ngon miệng và say. Và cũng phải có chút vôi trắng ấy mới có được cái màu đỏ làm hồng môi nhau. Cái màu đỏ này tượng trưng cho lòng chung thuỷ, lòng tin yêu nhau của đôi trai gái. Vì thế mà vôi cũng là yếu tố vô cùng quan trọng của miếng trầu. Giá trị của “vôi” ngày được khẳng định với những ý nghĩa khác nhau cùng sự trường tồn của thời gian.
Gắn với tục ăn trầu và những kiêng kị quanh vôi và bình vôi của người Việt. Xưa, có tục kiêng: người đàn ông dưới 40 tuổi không tôi vôi vì… sợ sớm bạc đầu.
Ông bình vôi là công cụ để vôi ăn trầu bằng sành sứ, hiện nay chưa thấy hiện vật này ở thời kỳ Đông Sơn. Chiếc bình vôi xưa nhất chưa xác định được, nếu có chỉ ở thời kỳ Bắc thuộc. Ba tiếng “Ông – Bình – Vôi” là từ Hán Việt hóa (có gốc từ tiếng Hán đã được Việt hóa đến mức thuần Việt).
Hiện nay, trong các lò gốm ở những nơi làm sành sứ mới đúc được ông bình vôi, còn những nơi làm nồi không đúc được. Và, không phải ai cũng đúc được. Người ta cũng chỉ đúc ông bình vôi vào những tháng nhuận của năm nhuận, nhưng người thợ cả phải sạch sẽ, không tang chế thì mới nặn thành công ông bình vôi.
Khi mua ông bình vôi, người ta mang theo một vuông vải đỏ hoặc nâu, mua xong gói ghém cẩn thận, bỏ vào thúng mủng đội lên đầu chứ không được cắp nách hoặc bỏ tay nải để xách. Lên xuống đò phải để chỗ cao ráo. Khi đưa về nhà thường đặt chỗ kín đáo, gần đầu giường, gần cửa buồng vì trong dân gian có câu chuyện kể: Kẻ trộm vào nhà thường hay nút miệng ông bình vôi lại hoặc quay miệng vào vách thì cả nhà sẽ ngủ yên, không ai nói mơ, nếu có biết trộm thì cũng ngọng nghịu, khhông la làng được.
Khi cho ông bình vôi ăn phải e dè, thận trọng. Khi dùng dao vôi để lấy vôi, nhất thiết không được ngoáy chìa vôi vào lòng ông vì nếu thế sẽ bị bệnh cồn cào ruột gan mà dùng chìa đưa thẳng rồi rút ra, Nên vì thế, miệng ông cứ mỗi ngày một đầy, thành vành khuyên, hôm trở trời tự lóc ra, người ta dùng dao khứa chân rồi đem xâu vào dây treo trước cửa mạch (cửa phụ nữ và ma quỷ hay ra vào) để trừ tà.
Một khi ông bình vôi đã đặc ruột, người ta rước ông cùng xâu miệng lên chùa để dưới chân cây hương, dưới gốc mít, gốc đa. Lâu ngày lăn lóc, sương đọng vào bụng ông, gặp con sài đẹn, hay bị sơn ăn thì người ta lấy nước đó mà uống, mà bôi. Ai bị sâu răng thì mua ngọc trai tán nhỏ hòa vào nước này uống sẽ khỏi.
Ông bình vôi là một vật thiêng, ông luôn cần no đủ. Nhưng ông lại ăn ít vì ruột càng ngày càng đặc lại. Xưa có những nhà chuyên bán vôi ăn trầu, họ trải lá chuối vào rổ, bỏ vôi vào, hai đầu hai rổ đem bán. Khi bán, dùng chiếc que to hơn cái đũa cả để lấy vôi phết vào lá cho khách hàng mang về. Bán thì ít, cho thì nhiều, nhưng vẫn vui vẻ.
Gọi là cuối năm nhưng không ấn định ngày nào để mua vôi. Tùy thuộc vào phiên chợ nào cho thuận tiện trong khoảng mươi ngày cuối tháng Chạp theo chợ phiên (chợ phiên thường có nhiều loại: tháng 3 phiên, tháng 5 phiên, tháng 6 phiên, tháng 9 phiên hay tháng 12 phiên). Không mua chợ này thì mua chợ khác.
Tập tục người Việt: vào dịp đầu năm cái gì cũng phải đầy đặn, sung mãn để có lộc cả năm. Ông bình vôi là vật thiêng, nhưng khổ nỗi: vôi được quan niệm là bạc. Nên, dân gian vẫn có câu: “bạc như vôi” nên cuối năm người ta mua vôi để tránh sự bạc bẽo. Nên “đầu năm mua muối, cuối năm mua vôi” là vậy.
Cuộc Sống Việt _ Theo Vitinfo.com.vn
VÀI BÌNH VÔI GỐM QUẢNG ĐỨC SƯU TẬP

Louise Allison Cort giám định viên của VBT smithsonian, Washington, D.C trong bài viết báo cáo ngày 3 tháng 06 , 2007 ghi chép như sau:

Di chỉ lò gốm vùng Quảng Đức, thuộc huyện lỵ Tuy An cách Tuy Hòa về phía bắc 30 km. Trong cuộc khảo sát khu vực các lò gốm chúng tôi được nghe một người thợ gốm già (83 tuổi) thuật lại rằng thợ gốm Chăm đã làm gốm tại đây từ 500 năm trước; có ba thế hệ thợ gốm từ Chaozhou, Quảng Đông đến đây khoảng thế kỷ 17, 18 và thợ gốm người Việt Nam từ Bình Dịnh đến đây lập nghiệp từ tk 18. Hiện nay vẫn còn hai xưởng gốm hoạt động. Theo nhân viên VBT Phú Yên đi theo đoàn nói, thuyền duyên hải sẽ vận chuyển gốm thành phẩm về phương Nam đến Nha Trang và theo phương Bắc đến Bình Định. Người thợ gốm già cũng nói đến những bình cắm hoa thì theo thuyền đến Huế.

nguyên văn:

The Quang Duc kiln site in Tuy An district, 30 kilometers north of Tuy Hoa. During a visit to the kiln on 3 June, we were told by an elderly potter (age 83), that Cham potters had worked there 500 years ago; Chinese potters from Chaozhou, Guangdong province, were here in the 17th–18th century, for three generations only; ethnic Vietnamese (Kinh) potters came three hundred years ago, in the 18th century, from Binh Dinh. Two workshops still operate. According to museum staff, the products used to be shipped by coastal boat south to Nha Trang and north to Binh Dinh province. The elderly potter also spoke of making flower pots to send by boat to Hue.

Theo tôi, bình vôi Quảng Đức có cái mang nhiều phong cách trang trí Trung Hoa là do ảnh hưởng của ba thế hệ thợ gốm từ Chaozhou, Quảng Đông đến đây khoảng thế kỷ 17, 18…

Tại VBT smithsonian có một số bình vôi gốm Quảng Đức được ghi niên đại thế kỷ 18 – giữa tk 20 là khoảng thời gian thợ gốm VN sản xuất tại Quảng Đức chứ không định rỏ chính xác niên đại.

Read Full Post »

Quảng Ngãi: Phát hiện dấu tích lò nung gốm cổ (27/9/2010)

Ông Đặng Ngọc Anh, ngụ thôn Phú Bình, xã Tịnh Châu, huyện Sơn Tịnh, Quảng Ngãi vừa phát hiện dấu tích một lò nung gốm cổ trong khi đào đất làm hầm Biogas.

Hiện vật gốm cổ phát hiện tại xã Tịnh Châu, Sơn Tịnh, Quảng Ngãi.

Các hiện vật được tìm thấy gồm: Đồ gia dụng, chum, vò, đồ tùy táng, bình vôi… làm bằng gốm, sành với nhiều hình dáng, hoa văn đẹp. Ngoài ra còn có một số mảnh vỡ của đồ sứ cổ thời nhà Minh.

Theo Tiến sĩ Khảo cổ học Đoàn Ngọc Khôi – cán bộ Bảo tàng tổng hợp tỉnh Quảng Ngãi, đây là dấu tích lò nung gốm của người Việt cổ, có niên đại vào khoảng thế kỷ 16; và là một trong những lò nung gốm sớm nhất ở địa phương này.

Nhận định trên dựa vào những hiện vật gốm chưa tráng men, chủ yếu là gốm sành, có nhiều hình dáng, hoa văn khác nhau.

Các hiện vật thể hiện rõ sự giao thoa giữa văn hóa Champa và văn hóa Việt; đồng thời cho thấy kỹ thuật sản xuất của người Chăm (dân bản địa) là nặn tay thủ công, song hành với kỹ thuật dùng bàn xoay của người Việt.

Việc phát hiện dấu tích lò nung gốm cổ này chứng tỏ người Việt cổ từ phương Bắc di chuyển vào phương Nam và định cư ở khu vực thành cổ Châu Sa rất sớm. Qua đó cũng phản ánh sự tồn tại lâu đời của kỹ thuật làm gốm cư dân Chăm-Việt.

Sáng nay 28/9, Tiến sĩ Đoàn Ngọc Khôi cho biết, ông sẽ thông tin chi tiết về phát hiện khảo cổ mới mẻ này đến bạn đọc Tamnhin.net trong thời gian sớm nhất.

Theo: Tầm nhìn

MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN

Read Full Post »

LÒ GỐM CHÂU Ổ MỸ THIỆN QUẢNG NGÃI BÊN BỜ DIỆT VONG SAU CƠN BÃO LŨ…

TRƯỚC NĂM 75 LÀNG GỐM CHÂU Ổ MỸ THIỆN CÓ TRÊN TRĂM HỘ  GIÀ TRẺ TRAI GÁI CẢ LÀNG ĐIỀU LÀM GỐM …..SAU 75 NGHỀ GỐM MAI MỘT DẦN.. DẾN THỜI BAO CẤP CÀNG KHÓ KHĂN HƠN…SẢN PHẨM LÀM RA. KHÔNG ĐỬ CƠM CÔNG PHẦN ĐÔNG  PHẢI BỎ NGHỀ THANH NIÊN TRONG LÀNG PHẢI LÊN THÀNH PHỐ TÌM KẾ SINH NHAI MONG CUỘC SỐNG KHẤM KHÁ HƠN TƯƠNG LAI HƠN…

QUA BAO THĂNG TRẦM CỦA CUỘC SỐNG  DUY NHẤT CHỈ CÒN MỘT LÒ GỐM  CỦA ANH TRỊNH TỒN TẠI ĐẾN NGÀY HÔM NAY NGƯỜI CON ĐỜI THƯ 3 CỦA LÀNG GỐM MỸ THIỆN CHÂU Ổ  CŨNG CHỈ VÌ YÊU LẤY CÁI NGHỀ CÁI NGHIỆP TRUYỀN THỐNG CỦA CHA ÔNG MÀ BÁM GIỮ LẤY ĐẾN NGÀY HÔM NAY  CÓ NHỮNG LÚC KHÓ KHẤN PHẨM LÀM RA  DÙ CHO  KHÔNG ĐỦ NUÔI DƯỠNG LẤY CUỘC  SỐNG HẰNG NGÀY NHƯNG GIA ĐÌNH  ANH VẪN CỐ GẮNG VƯỢT QUA BAO NỖI KHÓ KHĂN CHỒNG CHẤT VẪN YÊU QUÍ CÁI  NGHỀ MÀ SỐNG….

TRƯƠC KIA  BIẾT BAO CHƯƠNG TRÌNH TRÊN BÁO ĐÀI  ĐỊA PHƯƠNG CŨNG NHƯ TRUNG ƯƠNG   BẢO TỒN VĂN HÓA TRUYỀN  THỐNG HỔ TRỢ LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG….. CŨNG ĐÃ ĐẾN THĂM  ĐỘNG VIÊN  VÀ    HỨA…. HẸN…..  NHƯNG CŨNG CHỈ..  LÀ….HEN… HỨA …… Ô..HÔ…  THAN ÔI….

ĐẾN CƠN BÃO LỤT HÃI HÙNG VỪA QUA NHÀ CỬA VÀ DUY NHẤT CÁI LÒ GỐM TRUYỀN THỐNG MỘT THỢI LIỆT OANH ẤY  …GIỜ CHỈ CÒN ĐỐNG GẠCH VỤN…ANH TRỊNH PHẢI XA NHÀ VÀO SÀI GÒN TÌM CÔNG ĂN VIỆC LÀM GỞI TIỀN VỀ GIÚP GIA ĐÌNH  …MỘT DÒNG GÓM  TRUYỀN THỐNG  VANG BÓNG  MỘT THỜI ………..BÊN BỜ DIỆT VONG

GỐM CHÂU Ổ MỸ THIỆN QUẢNG NGÃI

NHỮNG SẢN PHẨM GỐM CHÂU Ổ MỸ THIỆN  MÀ ANH EM MÌNH SƯU TẦM  CÓ ĐƯỢC LƯU GIỮ ĐẾN CHO NGÀY HÔM NAY LÀ  NƠI XUẤT PHÁT TỪ LÀNG GỐM NẦY CÓ TRÊN 200 NĂM LỊCH SỬ BIẾN THIÊN CỦA ĐẤT NƯỚC….

SÔNG TRONG ĐỜI SỐNG … CŨNG CHỈ Ở TẤM LÒNG…..

TÙY DUYÊN HẠNH NGỘ

NHỮNG AI YÊU MẾN GỐM VIỆT

HÃY CỨU  GIÚP VÀ GIỮ LẤY CHO MAI SAU  MỘT GIÒNG GỐM TRUYỀN THỐNG…. BÊN BỜ DIỆT VONG….

GỐM CHÂU Ổ MỸ THIỆN QUẢNG NGÁI

GỐM CHÂU Ổ ĐÃ NUNG MỘT LẦN SAU ĐÓ XỐI THÊM

MỘT CHẤT MEN TRUYỀN THỐNG ĐEM NUNG LẦN NỮA

MỚI THÀNH SẢN PHẨM RA LÒ…..

ĐÔI CHÉ GỐM CHÂU Ổ MỸ THIỆN VỚI MÀU MEN TRUYỀN THỐNG…

XIN MẠO MUỘI ĐĂNG LẠI BÀI BÁO CỦA THẦY

DIỆP ĐÌNH  HOA VIẾT VỀ LÒ GỐM CHÂU Ổ NẦY ĐÃ ĐĂNG TRÊN TẠP CHÍ XƯA VÀ NAY XUÂN 2007

LÒ GỐM CHÂU Ổ_QUẢNG NGÃI

SỰ TỒN VONG CỦA MỘT LÒ GỐM TRUYỀN THỐNG

Châu Ổ, nay là thị trấn huyện lỵ của Bình Sơn, theo nhân dân kể lại,vốn có một lịch sử lâu đời ba bốn trăm năm. Theo bảng tông đồ ghi các phả hệ hiện đang treo ở nhà từ đường thờ tổ nghề gốm ở Châu Ổ, thì có thể xác định sự khai sinh ra làng gốm này có thể đã xảy ra từ khoảng cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX.Bên trái, ngoài sân nhà thờ tổ, có một nhà bia nhỏ, với một tấm bia bằng đá ngũ hành, hai mặt có khắc chữ,nhưng chữ đã mờ không thể đọc được.Vài chữ còn lại cho biết bia được dựng từ thời Bảo Đại, nhưng năm tháng cụ thể còn cần phải mày mò đoán định thêm. Dù sao qua việc khảo sát các di tích khảo cổ và lịch sử ở Quảng Ngãi, cũng như vùng KonTum, có thể thấy rằng vào khoảng nửa sau của thế kỷ XIX, hiện vật cũng như các mảnh của lò gốm Châu Ổ đã tồn tại phổ biến và đều khắp. Các ché rượu cần xuất xứ từ lò gốm Châu Ổ, vẫn còn là một phần tài sản quý giá của các dân tộc ít người vùng bắc Tây Nguyên.

Sau 1975 những người làm gốm hợp lại thành Hợp tác xã gốm Châu Ổ. Khi chúng tôi đến khảo sát, cả làng chỉ tồn tại một hộ gia đình làm gốm. Tất cả đều đã chuyển sang nghề khác. Một hộ còn lại giữ vững truyền thống đương đầu thách thức với sự khắc nghiệt cạnh tranh trong cơ chế thị trường.

Nguyên liệu đất sét trước đây mua ở trong làng, về sau mua ở các làng lân cận. Cách xử lý mua nguyên liệu theo phương pháp cổ truyền. Đất sét mua về, ủ cho khô nỏ, xong chặt vụn nhỏ ra, nhào nhuyễn, không pha cát hoặc các phụ gia khác. Quá trình tạo dáng được hình thành trên bàn xoay chậm. Một người đứng vê đất thành những con trạch trên một chiếc bàn dài. Người này đứng một chân, làm trụ, còn mâm phải đạp mâm bàn xoay. Người tạo gốm ngồi xổm trên một đòn kê, đặt con trạch được vẽ xong lên một khe nhỏ đặt trên bàn xoay gốm. Khay quay cùng bàn xoay để tạo cùng dáng vuốt thành hình. Sau khi tu sửa, vuốt lại hiện vật, người thợ mới bưng khay ra, thay khay khác, tiếp tục công việc.

Người tạo hoa văn lấy hiện vật được tao dáng xong gắn lên những hoa văn đát nổi: Con sóc, rồng, hoa, nhũ đinh…., quá trình tạo dáng hoàn tất, hiện vật được phơi trên sân nhà cho se lại.

Lò nung gốm theo kiểu lò cóc, nhưng có phần nung gốm theo kiểu lò hộp. Nhiên liệu dùng bồi, củi, trấu. Hiện vật được sắp xếp vào lò nung trực tiếp, không cần bao nung.

Cung cách sử dụng bàn xoay chậm ở đây tương tự như cách sử dụng của các lò gốm Hương Canh ở Vĩnh Phúc vào những năm 60 của thế kỷ trước. Sản phẩm làm ra như gốm Phụ Lãng sành có men, có hai loại một loại sành co men màu da lươn và một loại sành tự nhiên, được sản sinh do quá trình nung làm cho ô xít nhôm có trong đất sét bị mu- lít hóa. Loại này khác với gốm Phụ Lãng vì hiện vật được nung xong mang màu sắc tím đậm ngã xanh, thể hiện đặc sắc của cá tính địa phương Châu Ổ. Sắc màu của gốm này khiến chúng ta liên tưởng đến màu sắc của những hiện vật gốm trang trí trên nóc của các tháp Chăm trong vùng. Phải chăng đây là một truyền thống địa phương được hình thành bền vững do chất liệu đát và kỹ thuật nung, hình thành trên một sự tương đồng dai đẵng về mặt truyền thống, tuy rằng ông tổ của người làm gốm ở Châu Ổ vốn là thợ nghề từ đất Thanh Hóa di cư vào.

Những dáng bình đặc trưng của gốm Châu Ổ là các loại bình cắm hoa để thờ tự, các loại vò lớn, nhỏ để đựng nước rượu. Những vò to được gọi là ché. Các loại hủ, tĩn, ang, chum, vại để đựng các laọi mắm, chượp nước mắm. Gốm Châu Ổ là một loại đựng thích hợp nhất để đựng các chất mặn: chượp nước mắm. Ngày nay, tuy nhiều người biết đồ nhựa dùng để đựng các chất này độc nhưng vì thuận tiện cho nên đồ nhựa đã thay thế dần vai trò của loại gốm Châu Ổ.

Đúng ở góc độ của kỹ thuật học, lò gốm Châu Ổ vẫn còn bảo lưu tính chất cổ truyền của công cuộc chế tạo đồ gốm nguyên thủy. Đây là kỹ thuật dùng dải cuộn kết hợp với bàn chân xoay chậm. Kỹ thuật này đã tồn tại ở làng gốm Hương Canh, Vĩnh Phú vào những năm sáu mươi của thế kỷ hai mươi.Sang những năm bảy mươi, bàn xoay Hương Canh được chuyển động nhờ một mô tơ điện. Làng gốm Bát Tràng những năm hai mươi của thế kỷ trước đã dùng một mô tơ điện.

Lò gốm Châu Ổ hiện nay còn phát triển được là do có những đơn đặt hàng  từ các khách sạn ở Hội An. Gốm Châu Ổ là những vật trang trí trong các ngôi vườn nhỏ của các khách sạn. Dù sao thì mẫu mã cũng đơn điệu, nhung có thể là hướng phát triển trong tương lai của gốm Châu Ổ. Phát triển được hay không lại phụ thuộc vào những người chơi sành điệu, biết khám phá ra những nét đẹp truyền thống của gốm Châu Ổ. Đây cũng là con đường của gốm Chăm ở Bàu Trúc, Ninh Thuận. Làng gốm Châu Ổ chắc không thể đi theo con đường của làng gốm Hương Canh, từ một hợp tác xã lớn trở thành một làng sản xuất ngói, rồi chuyển thành một làng sản xuất gạch. Đối với lang gốm Châu Ổ, theo cách nhìn thông thường, sự phát triển của một làng gốm trù phú đến hiện tượng nay chỉ còn một nhà sản xuất, xem ra xu thế phát triển của truyền thống trước áp lực của việc hiện đại hóa, sự mai mọt dần phải chăng là xu thế tất yếu của qui luật phát triển lịch sử. Với một cách nhìn khác theo chiều sâu, một nhà còn tiếp tục sản xuất gốm có nghĩa là họ đang cố gắng vươn lên trên cơ sở của một gia tài truyền thống lâu đời. Hiện tượng nay cũng đã có tiền lệ như làng gốm Phù Lãng ở Bắc Ninh. Một bước ngoặt mới đầy thử thách với truyền thống gốm Châu Ổ.

Bài của Nhà sưu tập Lâm du Xenh đăng trên trang Phố Mua Bán ngày 01/11/09

Sắc vàng làng gốm

Gốm trong ký ức

Nhiều năm trước, có lần tôi ngồi hàn huyên với nhà thơ Đoàn Vi Thượng và họa sĩ Phạm Cung ở Sài Gòn. Câu chuyện đưa đẩy đến nghề làm gốm của quê nhà Quảng Ngãi. Đôi mắt họa sĩ rưng rưng ngấn nước. Thì ra ông chào đời và suốt tuổi ấu thơ gắn liền với gốm Mỹ Thiện, Châu Ổ

Họa sĩ kể rằng, chẳng hiểu tại sao ông lại yêu tiếng giọt mưa rơi vào những chum, những vại của mẹ ông để ngoài hiên đến thế. Nghe không “đã” tai, ông đi dạo quanh khắp các bờ rào trong làng, nhặt gom những mảnh sành vỡ về chất đầy cả góc nhà. Mỗi khi trời mưa, ông mang ra đặt dưới giọt mái tranh rồi ngồi nghe từng chuỗi âm thanh lạ lùng, kỳ diệu ngân vang. Khi thì tiếng sầm sập, đùng đục như bầy ngựa khua vó trên đường. Lúc thánh thót, du dương như tiếng đàn tranh quấn quýt. Lại có khi nghe róc rách như con nước chảy qua gành đá. Mưa gần tạnh, thỉnh thoảng rớt tiếng “bum”, “bum” như âm thanh trống lệnh của đội chèo bả trạo diễn trình, một loại hình nghệ thuật dân gian rất đặc trưng ở vùng đất này.

Tiếng đất kỳ quặc ấy ám ảnh ông mãi. Khi đã là họa sĩ thành danh, vì tình yêu mến với người bạn vong niên – thi sĩ Bùi Giáng, Phạm Cung đã về quê nhà mang đất vào để nặn chân dung thi sĩ. Chân dung sống động, biến đổi. Tùy theo ánh sáng chiếu vào mà khuôn mặt Bùi Giáng rất nhiều biểu cảm, tỏ lộ cả hỉ, nộ, ái, ố. Nhiều người muốn có bức tượng này, kể cả những người ở quốc gia khác, nhưng Phạm Cung vẫn một lòng giữ lại, bởi theo ông có cái còn quý hơn bạc vàng!

Sau này tôi được ông Long Cương – Nguyễn Đức Tập ở thị trấn Sơn Tịnh cho biết thêm về gốm Châu Ổ. Khoảng năm 1959 ông đã tiếp xúc với một nghệ nhân họ Trần chuyên làm lọ độc bình tráng men màu vàng sẫm. Điều lạ là trên chiếc độc bình nào cũng vẽ hoa văn rồng, trúc và đều có bài thơ chữ Hán minh họa: Văn minh khai triết mạc/ Hoa cấp hiến tân đồ/ Bạc kỹ cung thường phẩm/ Bình Sơn cổ sở vô. Ông dịch qua thơ lục bát: Văn minh màn triết mở ra/ Đồ hình mới được bút hoa vẽ vời. Vật thường cung ứng cho đời/ Bình Sơn ngày trước chưa người làm nên.

Qua những người tôi có dịp thưa chuyện, tự nhiên chợt thấy mình quá đỗi hời hợt với quê hương. Chỉ hơn 20 km đường từ thành phố Quảng Ngãi đến Bình Sơn, vậy mà tôi cứ dửng dưng đi qua, chưa một lần ghé lại.

Còn một móc neo

Cả làng gốm, giờ chỉ còn anh Đặng Văn Trịnh tiếp tục sản xuất. Hàng anh làm ra tới đâu, bán tới đó. Thu nhập bình quân 15 triệu đồng mỗi tháng. Khách hàng chủ yếu là Đà Nẵng, Hội An. Ngoài những đồ gốm gia dụng như vò, ghè, chum, ảng, chậu phong lan… anh còn sản xuất gốm giả cổ và gốm trang trí  cho khách đặt hàng. Là một người lâu năm trong nghề, anh tự hào rằng, bất cứ mẫu hàng nào hễ có khách yêu cầu, anh đều có thể làm được. Những người tài hoa như anh trước kia không hề hiếm.

Ông Thuần nói với tôi, chưa biết làng gốm Mỹ Thiện được hình thành từ năm nào. Nhưng theo “Quảng Ngãi tỉnh chí” (1933) thì toàn tỉnh có các lò gốm ở Đông Thành, Đại Lộc (Sơn Tịnh), Thạnh Hiếu, Chí Trung (Đức Phổ), Bồ Đề (Mộ Đức), trong đó Mỹ Thiện là nổi tiếng nhất. Nhờ nằm ở vị trí thuận tiện, sản phẩm xuất lò được vận chuyển đi các nơi dễ dàng. Có thời sản phẩm qua cửa biển Sa Cần đã ra tới Đông Hà, Đồng Hới, Vinh… vô tận Bình Định, Khánh Hòa. Còn trong tỉnh thì theo đường bộ hoặc đường sông, ngược lên miền núi xa xôi.

Đến năm 1964, qua trận lụt lớn, lạch Bến Củi bị bồi lấp một phần. Chi phí sản xuất như đất, chất đốt, vận chuyển đã tăng cao nên một số gia đình tìm kế sinh nhai khác. Nhất là sau này, vào những năm 1988 – 1989, học theo cách tráng men của Bát Tràng không thành công, hầu hết các lò đốt cầm chừng, rồi sau đó không cạnh tranh nổi với gốm sứ ngoài Bắc, trong Nam và hàng nhựa nên các lò tự giải tán.

Cách pha men cổ truyền, hiện nay chỉ còn ông Đặng Thạnh. Ngoài các loại men chính như men màu đen, men vàng và men nâu sành, ông còn gia giảm, loại bớt để sản phẩm có các màu xanh ngọc, da lươn, men chảy, vàng rạn da… Sản phẩm làm ra nay ế ẩm, nhưng bàn tay hay lam, hay làm của ông không nghỉ được. Ông gởi vào lò của anh Trịnh (con trai ông) một ít gốm mộc rồi hàng ngày tòn tơn quảy ra chợ huyện bán để khỏi quên nghề. Còn ông Hồ Duy Khánh thì ghi chép lại tất cả các công đoạn, bí quyết nghề làm gốm. Nhìn quyển vở học sinh nhem nhuốc những chữ viết, những hình vẽ các kiểu lò, cách tạo hình các sản phẩm, cách chế tác các vật dụng lớn… không ai khỏi chạnh lòng, bởi một làng nghề sắp bị biến mất.

Cũng may làng còn có anh Đặng Văn Trịnh, được xem như một móc neo cuối cùng giữ lại nghề gốm Mỹ Thiện. Độc đáo nhất của tay nghề anh là ở kỹ thuật hỏa biến và nước men vàng. Gốm hỏa biến là sự sáng tạo của lửa nên đầy bất ngờ, thú vị. Lúc sản phẩm ra lò, lòng người thợ cũng hồi hộp, bâng khuâng như cuộc hò hẹn tình yêu đầu đời. Màu vàng của men tựa sắc mai xuân; óng ả, quý phái, dịu dàng như lụa. Cầm trên tay, lúc này sản phẩm gốm không phải là đồ vật vô tri, chỉ có giá trị sử dụng, mà sinh động, đẹp như tác phẩm nghệ thuật, nhìn mãi không chán mắt.

Tất cả những ngón nghề trên, anh Trịnh đều mong muốn truyền lại. Lò gốm của anh nằm trong khu dân cư nên mỗi lần nổi lửa đều gây phiền phức cho hàng xóm. Nhất là mùa mưa, trời nặng, khói không bốc lên được. Muốn mở mang nghề và thu nhận thêm người, đòi hỏi phải có một diện tích đất tương đối rộng. Anh ao ước, giá như được huyện Bình Sơn quy hoạch cho khu đất làm gốm riêng biệt, anh sẽ gom hết số thợ đang tha phương cầu thực quy về một mối để trao truyền nghề.

Đời sống mỗi ngày một khá hơn. Những ngôi nhà sang trọng, những ngôi biệt thự, nhà hàng chen nhau mọc. Tôi đã từng chứng kiến nhiều chủ nhân ra tận Bắc Ninh, Quảng Nam, vào tới Đồng Nai, Bình Định mua đồ gốm về trang trí trong nhà. Vậy mà ngay tại Quảng Ngãi, một làng nghề truyền thống có hàng mấy trăm năm đang trôi về phía lụi tàn. Mong có những bàn tay chặn lại.

V.HIỀN

bài viết của nhà báo HIỀN VĂN ra ngày 15-3 2009 BÁO QUẢNG NGÃI CHỦ NHẬT
một số sản phẩm cổ của lò gốm Mỹ Thiện:


* MỤC LỤC – TIN TỨC THỜI SỰ NGÀNH GỐM 

MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Hồi sinh pháp lam Huế

Pháp lam mới được anh Triết và cộng sự làm ra dựa trên nguyên gốc pháp lam cũ ở lăng Minh Mạng. Ảnh: NGUYÊN LINH

Pháp lam mới được anh Triết và cộng sự làm ra dựa trên nguyên gốc pháp lam cũ ở lăng Minh Mạng. Ảnh: NGUYÊN LINH

Ngoài trùng tu di tích, kỹ nghệ pháp lam còn có giá trị trong nghệ thuật trang trí tranh, phù điêu. Pháp lam cùng với gốm và sơn mài là ba nghề được chọn tôn vinh tại Festival nghề truyền thống Huế năm 2009.

Đây là một nghề độc đáo bởi chỉ có ở Huế. Tuy nhiên do biến động lịch sử, pháp lam đã thất truyền gần 200 năm. Thời gian thất truyền quá lâu, ngay cả người dân Huế cũng cảm thấy xa lạ.

Gần 200 năm thất truyền bí ẩn

Pháp lam là kỹ thuật tráng men nhiều màu lên cốt đồng đỏ và nung chín tạo nên tác phẩm mỹ thuật hay chi tiết trang trí trong kiến trúc với họa tiết rực rỡ màu sắc.

Sản phẩm pháp lam đầu tiên trên thế giới được biết đến từ thế kỷ 13 trước Công nguyên khi thợ kim hoàn vùng Mycenaean (Hy Lạp) tráng men thủy tinh trên khuyên tai bằng vàng.

Ở Việt Nam, kỹ nghệ này du nhập vào đầu thế kỷ 19 do vua Minh Mạng đưa một số công nhân Việt Nam sang học nghề chế tác pháp lam ở Trung Quốc.

Sau đó, nhà vua cho đặt Pháp lam tượng cục (xưởng sản xuất pháp lam đặt ở khu Canh nông trong Thành nội) gồm 15 người do ông Vũ Văn Mai đứng đầu, chuyên sản xuất pháp lam cho triều đình Huế. Ngoài ra, triều đình còn mở xưởng pháp lam tại Ái Tử (Quảng Trị) và Đồng Hới (Quảng Bình).

Pháp lam Huế phát triển đến thời vua Tự Đức thì phôi pha dần rồi thất truyền một cách bí ẩn. Trong 60 năm tồn tại, từ năm 1827, pháp lam Huế đã sản xuất rất nhiều vật phẩm có giá trị để trang trí, cúng tế theo yêu cầu của triều đình, trong đó phục vụ cho nhu cầu trang trí nội ngoại thất, tế tự và nhu cầu thường nhật trong cung đình.

Cách đây 10 năm, ba nhà nghiên cứu khoa học ở Huế gồm tiến sĩ dược học Nguyễn Nhân Đức (Đại học Y Dược Huế), kỹ sư chuyên ngành silicat Trần Đình Hiệp (Công ty Xây lắp Thừa Thiên-Huế) và thạc sĩ vật lý Đỗ Hữu Triết (Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế) đã cùng nghiên cứu để phục hồi pháp lam Huế.

Tuy ba người với ba trường phái khác nhau nhưng cùng gặp nhau ở một điểm chung là cùng tạo ra được màu men, phục hồi thành công pháp lam Huế sau gần 200 năm vắng bóng.

Những người hồi sinh pháp lam

Trong hai năm 2003-2004, tiến sĩ Nguyễn Nhân Đức đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu công nghệ sản xuất pháp lam phục chế tu bổ di tích Huế” và thu được thành công khi tạo ra được ba mẫu phục chế hoàn hảo theo nguyên mẫu của di tích Huế.

Đóng góp lớn nhất, có giá trị thiết thực của tiến sĩ Đức cùng cộng sự của ông là làm sống lại kỹ nghệ trang trí pháp lam trên các đền vàng điện ngọc, niềm tự hào một thời của mỹ thuật cố đô Huế. Những sản phẩm do ông và cộng sự làm ra đã được ứng dụng vào việc trùng tu các công trình di tích Huế như trang trí chùa Thiên Mụ, điện Thái Hòa, hai nghi môn tại hoàng thành Huế.

Kỹ sư Trần Đình Hiệp thì hoàn thiện được kiểu tráng men trên mặt phẳng với độ bền màu trong nhiều môi trường khác nhau, hồi sinh loại pháp lam mỹ thuật trang trí và ngói âm dương.

Còn với Đỗ Hữu Triết, sau những năm tháng nghiên cứu về phục dựng bảo tồn di tích Huế, anh đã kết duyên với đề tài về phục hồi pháp lam. Niềm đam mê và ước vọng hồi sinh pháp lam Huế đã được anh truyền vào công trình luận án thạc sĩ với đề tài “Men và màu cho đồ gốm sứ ở di tích Huế” năm 2005.

Luận án được đánh giá rất cao khi người thực hiện đã phục hồi thành công men màu trong pháp lam mỹ nghệ, pháp lam trang trí nội thất và được ứng dụng vào sản xuất pháp lam.

Sau thành công đó, Triết thành lập Công ty pháp lam Sao Khuê (nay là Công ty TNHH Thái Hưng) để phục hồi kỹ nghệ sản xuất pháp lam, quy tụ 15 thợ có tay nghề giỏi về làm.

Anh Triết cho biết: “Pháp lam bị thất truyền là một mất mát quá lớn đối với nghệ thuật kiến trúc, nhất là những công trình pháp lam ở các di tích Huế bị xuống cấp, hư hỏng nghiêm trọng cần phải trùng tu. Ngoài giá trị trong việc trùng tu di tích, kỹ nghệ pháp lam hồi sinh còn có giá trị to lớn trong nghệ thuật trang trí các sản phẩm như tranh, phù điêu. Đặc biệt, thành công trong việc phục hồi pháp lam đã tạo ra một loại tranh có chất liệu mới trong hội họa và được ứng dụng vào ngành mỹ nghệ, trang trí nội ngoại thất, đồng thời phục hồi và phát triển một nghề truyền thống đặc biệt của Huế đã bị thất truyền từ lâu”.

Tại Festival nghề truyền thống Huế 2009, anh Đỗ Hữu Triết đã cùng Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế trưng bày các sản phẩm pháp lam và mở một quy trình sản xuất pháp lam để du khách có thể tự tay vẽ lên pháp lam làm sản phẩm lưu niệm cho mình.

“Mặc dù đạt được những thành công bước đầu trong việc hồi sinh pháp lam Huế, tuy nhiên Trung tâm Bảo tồn di tích cố đô Huế mới chỉ làm được có ba loại hình kỹ thuật pháp lam, trong khi đó thế giới có đến 17 loại hình. Mục tiêu mà chúng tôi hướng tới là đạt trình độ của pháp lam thế giới” – anh Triết tâm sự.

Theo http://www.phapluattp.vn

MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Hàng tráng men: Pháp lam và pháp lam Huế

Pháp lam là thuật ngữ dùng để gọi tên một sản phẩm thủ công mỹ nghệ có mặt ở Trung Quốc trong khoảng thời gian từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XIX, có mặt ở Việt Nam từ đầu thế kỷ XIX. Từ xưa, sản phẩm được chế tác bởi các nghệ nhân, bằng cách trang trên men nhiều màu lên trên bề mặt một số kim loại quý như vàng, bạc, đồng… Đó là sự phối hợp khéo giữa cách thức điều chế các loại men với kỹ thuật đúc, gò, hàn cốt kim loại và nung nấu sản phẩm ( ngày nay còn dùng cả kỷ thuật điện phân).

pháp lam cổ ( lộ cốt kim loại)

pháp lam cổ ( lộ cốt kim loại)

Phân loại

Dựa vào phương pháp chế tạo thai cốt và kỹ thuật thể hiện men màu, họa tiết, có thể chia chế phẩm pháp lang thành 4 loại:

1. Kháp ti pháp lang (掐 丝 珐 琅): Pháp lang làm theo kiểu ngăn chia ô hộc. Chế tác bằng cách dùng những sợi tơ đồng mảnh và nhỏ kết thành các hoạ tiết gắn lên cốt bằng đồng. Sau đó, đổ đầy men pháp lam nhiều màu lên phần trong và phần ngoài các ô trang trí ấy rồi đưa vào lò nung đốt nhiều lần, cho đến khi bên ngoài sản phẩm phủ kên men pháp lam với độ dày thích hợp. Mài nhẵn và mạ vàng (nếu có) các đường chỉ đồng là khâu cuối cùng, hoàn thành sản phẩm.

2. Họa pháp lang (画 珐 琅): Pháp lang làm theo kiểu vẽ trên nền men như các tác phẩm hội họa (Painted enamel), kiểu này được phát minh ra tại thị trấn Limoges của Pháp trong thế kỷ 15. Hoạ pháp lam là kỹ thuật dùng men pháp lam một màu quét trực tiếp lên cốt kim loại. Theo màu sắc thiết kế của hoa văn, dùng men pháp lam vẽ nên các họa tiết, sau đó đưa vào lò nung ở nhiệt độ cao. Sản phẩm sau khi đưa ra khỏi lò được mài bóng để hoàn chỉnh. Trên thực tế nhiều hoạ tiết vẽ trên cốt đồng là nhân vật, phong cảnh với các điển tích lịch sử…

Pháp lam Huế (họa pháp lang)-một tiêu bản

Pháp lam Huế (họa pháp lang)-một tiêu bản

3. Tạm thai pháp lang (錾 胎 珐 琅): Pháp lang có cốt được chạm trổ (champleve). Phương pháp chế tác giống Kháp ti pháp lam, chỉ khác ở chỗ hoa văn tô điểm bên ngoài, cốt sản phẩm, được khắc lõm xuống khiến đường viền hoa văn nổi lên. Ở phần lõm này được phủ đầy men pháp lam, sau khi nung đốt thì đem mài bóng để hoàn thiện. Các đường nổi trên sản phẩm Tạm thai Pháp lam tuy rắn rỏi nhưng đạt được sự trang trọng mà mộc mạc trong nghệ thuật.

4. Thấu minh pháp lang (透 明 珐 琅): Pháp lang có phủ lớp men trong bên ngoài. Thấu minh pháp lam chỉ tráng men pháp lam trong suốt lên cốt bằng vàng, bạc hoặc đồng sau khi được chạm nổi, khắc chìm, rồi đem nung là hoàn thành. Cốt hoa văn được chạm nổi hoặc khắc chìm, đôi khi các đường nét hoa vàn chạm khắc này được thiếp vàng, bạc, hiện rõ xuyên qua lớp men pháp lam một màu như: vàng, lục, lam, tím… Loại hình pháp lam này lợi dụng tính chất của lớp men trong suốt hoặc trong mờ để biểu thị sự biến đổi của đồ án hoa vàn do độ sáng tối, đậm nhạc mà có.

Kháp ti pháp lang Trung Quốc

Kháp ti pháp lang Trung Quốc

Nguồn gốc xuất xứ Pháp lam Huế

Pháp lam Huế tiếp thu kỹ nghệ Họa pháp lang của Quảng Đông, Trung Quốc. Quảng Đông là cửa ngõ du nhập công nghệ chế tác Họa pháp lang (Émaux hay Painted enamel) vào Trung Hoa. Khác với kỹ nghệ Kháp ti pháp lang (Cloisonné), từ xứ Byzantine du nhập vào Trung Hoa qua ngã Tây Vực theo vó ngựa viễn chinh của quân Mông Cổ, kỹ nghệ Họa pháp lang xuất xứ từ vùng Limoges ở Pháp và vùng Battersea ở Anh, du nhập vào Trung Hoa theo chân các tu sĩ dòng Tên vào cuối thế kỷ 17.

Kỹ nghệ này du nhập vào Việt Nam từ thời vua Minh Mạng (năm 1827). Bấy giờ, có một nhóm thợ vẽ ở Nội Tạo, cơ quan chuyên việc vẽ vời, trang trí trong cung Nguyễn, học được nghề làm pháp lam từ Trung Hoa.

Pháp lam Huế thuộc Họa pháp lang và một số vật dụng khác là đồ ký kiểu thuộc Kháp ti pháp lang được đặt mua tại Trung Hoa. Dựa trên các hiện vật pháp lam được trang trí trên các cung điện của triều Nguyễn và các hiện vật pháp lam hiện còn lưu giữ ở Bảo tàng Mỹ thuật cung đình Huế cũng như trong dân gian, có thể thấy pháp lam được sử dụng vào các mục đích chính sau đây:

* Pháp lam dùng trong trang trí ngoại thất các cung điện triều Nguyễn: Loại hình này thường thấy trên các bờ nóc, bờ quyết, cổ diềm tại các cung điện điển hình như ở điện Sùng Ân (lăng Minh Mạng); điện Biểu Đức (lăng Thiệu Trị); điện Hòa Khiêm (lăng Tự Đức); điện Thái Hòa (Đại Nội) và các nghi môn ở các lăng trên cũng như khu vực Đại Nội.

* Pháp lam dùng trong trang trí nội thất: Đó là những hoành phi, câu đối, bình, choé…

* Pháp lam gia dụng và pháp lam tế tự: Hiện vật nhóm này bao gồm các đồ dùng trong việc tế tự như lư hương, quả bồng, chân đế quả bồng, cơi trầu… và các đồ gia dụng như khay trà, tô, bát, tìm đựng thức ăn.

Pháp lam Huế

Sau gần 150 năm tồn tại, nhà Nguyễn đã để lại trên đất Huế một kho tàng di sản văn hóa đồ sộ. Trong đó, không thể không nhắc đến những sản phẩm pháp lam ở di tích Huế – một loại hình trang trên, đồng thời là những tác phẩm nghệ thuật – nay đã thất truyền về kỹ thuật chế tác, không còn dấu tích các lò xưởng và đang được nhiều nhà nghiên cứu, bảo tồn quan tâm phục hồi.

Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế hiện đang trưng bày 98 hiện vật pháp lam, bao gồm các vật dụng trong cung như: bát, ly, khay, đĩa, bình hoa, chum, hộp, quả bồng, lư hương, bát hương, chậu đựng cành vàng lá ngọc… Ngoài ra, pháp lam còn được dùng để trang trí các đồ áng rồng, máy, bát bửu, hoa điểu, thơ văn chữ Hán… trên các công trình kiến trúc khác ở cố đô Huế. Đa số những hiện vật pháp lam này đều do thợ thủ công Việt Nam, có thể có sự giúp đỡ của các nghệ nhân mời từ Trung Quốc làm ra. Một số ít hiện vật có khả năng ký kiểu hay mua ở Trung Quốc như những đồ sứ cùng thời.

Pháp lam Huế

Pháp lam Huế

Các tài liệu, thư tịch và hiện vật pháp lam ở bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế, cũng như ở trên các công trình kiến trúc thời Nguyễn cho thấy kỹ nghệ chế tác pháp lam được nghệ nhân Việt Nam tiếp thu, sáng tạo, làm nên những sản phẩm tuyệt mỹ, những hiện vật vô giá được trưng bày, quản lý cẩn thận ở Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình và trên các di tích khác ở Huế. Pháp lam Huế có mặt ở các triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức. Đãy là buổi thịnh thời của triều Nguyễn: quốc gia thống nhất, kinh tế ổn định. Triều đình lo việc xây dựng kinh đô, lập đền miếu, trang trí tô điểm cho đời sống đế vương. Để thực hiện công việc lớn lao đó, nhiều người đã được cử đi học nghề và kinh nghiệm ở Trung Quốc, đương thời là một quốc gia nổi tiếng về các nghề thủ công, mỹ nghệ. Do vậy, có thể một số đồ pháp lam đạ được mua về từ nước ngoài, trước khi nảy sinh nghề làm pháp lam ở Huế.

Hiện vật pháp lam ở Huế thuộc loại hình pháp lam hoạ. Do chỉ được sử dụng trong Hoàng cung Huế, nên thuật ngữ pháp lam Huế đã được dùng để gọi tên cho kỹ nghệ chế tác pháp lam ở Việt Nam vào thời Nguyễn. Trình độ kỹ thuật chế tác pháp lam thời kỳ này chưa đạt độ sắc nét, tinh xảo, màu sắc không đẹp như pháp lam ở các nước khác, nhất là Trung Quốc. Tuy nhiên, pháp lam Huế lại khẳng định dấu ấn sáng tạo của người Việt, của văn hoá Việt Nam, minh chứng cho nền kinh tế – chính trị những năm độc lập, tự chủ thời Nguyễn. Pháp lam được xem là một báu vật xa xỉ, quý hiếm, sang trọng, chỉ được dùng để trang trí ở những nơi cung điện, tôn miếu uy nghiêm như điện Thái Hoà (Đại Nội, Huế), điện Hoà Khiêm (làng Tự Đức), điện Biểu Đức (làng Thiệu Trị)… hoặc làm đồ dùng trong cung đình như bát, tô, đĩa, khay, chậu hoa, bình hoa, hộp trầu, hộp phấn… hoặc làm đồ tế tự như lư trầm, bát hương, quả bồng… Nguyên liệu pháp lam phải mua từ nước ngoài, kỹ thuật chế tác phức tạp, trải qua nhiều công đoạn, nên làm pháp lam rất tốn kém, đòi hỏi phải có một nền kinh tế vững chắc, ổn định. Chênh vì điều đó, pháp lam Huế không phát triển và dẫn đến thất truyền từ nửa sau thế kỷ XIX do chiến tranh xảy ra, kinh tế sa sút, kỹ nghệ đặc sắc này không còn được quan tâm như trước.

Những nỗ lực và tâm huyết

Trong nỗ lực trùng tu, tôn tạo các công trình kiến trúc thời Nguyễn – có dấu ấn của pháp lam Huế, nhiều nhóm chuyên gia bảo tồn đã dày công nghiên cứu chất liệu pháp lam cổ, xây dựng phương pháp, kỹ thuật chế tác trong điều kiện các thư tịch, bí quyết đều thất truyền. Sau nhiều năm nghiên cứu, trải qua vô số hoạt động thử nghiệm, nhóm nghiên cứu của Thạc sĩ Đỗ Hữu Triết (công ty cổ phần Kỹ nghệ Pháp lam Sao Khuê – Khuestar JSC) đã thành công và tự hào phục hồi – tôn vinh nét văn hoá – nghệ thuật độc đáo của dân tộc. Hơn một thế kỷ thất truyền, pháp lam Huế đang trở lại nhờ những bàn tay tài hoa của nghệ nhân hiện đại, tâm huyết của những con người yêu quê hương.

Pháp lam Huế ngày nay không dừng ở việc chế tác phục vụ trùng tu, bảo tồn các công trình kiến trúc thời Nguyễn và cũng không dừng lại ở loại hình hoạ pháp lam truyền thống. Khuestar JSC đang nỗ lực kết hợp pháp lam với các ngành mỹ nghệ khác như chạm, khảm… nâng lên thành những tác phẩm có giá trị về mặt hội hoạ và hàm lượng nghệ thuật cao.

Pháp lam Huế không dừng ở việc chế tác phục vụ trùng tu, bảo tồn...

Pháp lam Huế không dừng ở việc chế tác phục vụ trùng tu, bảo tồn...

Lịch sử tên gọi “Pháp lam”

Lư trầm, pháp lam nội thất Huế

Lư trầm, pháp lam nội thất Huế

Vấn đề này hiện đang còn được tiếp tục tranh luận bởi giới nghiên cứu về Huế.

* Dựa theo một số bài viết của cố họa sĩ Phạm Đăng Trí, những nhà sưu tập cắt nghĩa rằng: “pháp lam” bắt nguồn từ chữ “pha lang” do người Trung Hoa dùng để chỉ một loại đồ tráng men mà các nhà truyền giáo Tây phương trước kia hướng dẫn cho họ sản xuất rồi du nhập kỹ thuật sang Việt Nam. Sở dĩ chữ “pháp lam” phải trại ra từ chữ “pha lang” (france) là để tránh phạm húy chúa Nguyễn Phúc Lan1…

Pháp lam ngoại thất Huế

Pháp lam ngoại thất Huế

* Một số nhà khảo cổ học cho rằng “Pháp lam” là loại đồ men Pháp, chữ “Pháp” ở đây được người Trung Hoa dùng đề chỉ chung người phương Tây chứ không riêng gì người Pháp…; chữ “lam” ngoài nghĩa thông thường chỉ màu sắc xanh lam, cây chàm… còn được Từ điển Hán Việt Thiều Chửu giải thích trong là soi, làm gương theo kiểu Pháp… Theo từ điển, Cảnh Thái lam là tên gọi sản phẩm mỹ nghệ dùng men tráng lên đồng hoặc thiếc… niên hiệu Cảnh Thái đời Minh Đại Tông, hàng được chế tạo tại Bắc Kinh, và gọi: Cảnh Thái lam…

* Ý kiến khác: “… Châu Âu trang trí cửa sổ bằng khung ghép hình và cùng với vật gia dụng tráng men trắng có lấm tấm hạt các màu xanh lục… Nghệ nhân Huế dưới triều nhà Nguyễn cũng chế tác mặt hàng nhiều mảng màu trên men, cốt đồng và nghĩ rằng nó có nguồn gốc từ “pháp lang sa” (Française) và do kiêng húy 2 Thượng Vương Nguyễn Phúc Lan (1635-1648) nên gọi là “Pháp lam”. Về việc đổi chữ “lang” thành “lam” đó là vì chữ Lang (瑯) có âm gần giống với chữ Lan (灡) trong tên chúa Nguyễn Phước Lan, nhất là phát âm theo lối Huế. Vì thế cần phải đọc trại đi để tránh phạm húy…

* Tạm gọi và hiểu: Sản phẩm này mang tính địa phương (Huế) cao và trong lịch sử chỉ thời Nguyễn mới sản sinh ra chúng. Chúng có liên quan đến một di tích nằm trong quần thể Di sản văn hóa thế giới (Cố đô Huế), đó là Pháp lam tượng cục. Dẫu không còn rõ nét trên thực địa nhưng tên gọi của cơ quan này vẫn còn ghi trong sử liệu. Thời xưa nghệ nhân Huế có sáng tạo trong quy trình công nghệ chế tác đồ pháp lam. Đây chính là cái giá trị văn hóa phi vật thể của loại đồ đặc biệt này và Luật di sản văn hóa buộc mọi người phải bảo vệ. Do đó không nên đổi tên gọi “Pháp lam” thành “đồ đồng tráng men”, cũng không nên viết chung chung “Pháp lam” mà phải viết rõ ràng “Pháp lam Huế” hay “đồ đồng tráng men thời Nguyễn” để khỏi nhầm với Pháp lang Trung Hoa.

tổng hợp từ Wikipedia và hue.vnn.vn

MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Older Posts »