Feeds:
Bài viết
Phản hồi

Archive for the ‘Gốm sản xuất ở miền Tây Nam Bộ’ Category

*Chùa mục đồng và tượng mục đồng ở nam bộ

*Nhà gốm ,đi văng gốm

*Gốm Mỹ Hòa An Giang

*Gốm truyền thống Hòn Đất, Kiên giang

*Gốm Đỏ (terracotta)Vĩnh Long

*Gốm cổ truyền Khmer  An Giang

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN

Read Full Post »

Chùa mục đồng và tượng mục đồng ở Nam Bộ

HUỲNH NGỌC TRẢNG – NGUYỄN ĐẠI PHÚC

Phật tượng mục đồng là hình tướng mang đậm cá tính chủ quan, được nhân cách hóa, là sự hóa thân tình cảm và tâm hồn của người tạo tác. Do đó, mỗi Phật tượng là một thủ đắc riêng và tự nó cũng biểu hiện căn cơ sở đắc của cộng đồng cư dân thời đó ở vùng đất mới phương Nam.
Mục đồng thỉ tạo kim lưu tích;
Ông Trí tiên tu hậu hữu danh
.
Cặp câu đối khắc trên hai trụ cổng chùa Long Phước (xã An Đức, Ba Tri, Bến Tre) đã chỉ ra đây vốn là ngôi chùa do mục đồng khởi tạo và sau đó, người trụ trì đầu tiên là nhà sư Minh Trí.
Đây là những  hình tượng Phật do mục đồng tạo nên
Chúng tôi đã nghe một số câu chuyện truyền khẩu về loại chùa mục đồng này và cứ bán tín bán nghi về cái lõi sự thật lịch sử của nó. Do đó, khi đứng trước chùa Long Phước, cái “chứng cứ văn tự” đó đã làm tôi xác tín về sự tồn tại của loại chùa do trẻ chăn trâu / bò “khai sơn tạo tự”. Từ ấy, mỗi lần có dịp đi đây đó, chúng tôi luôn lưu tâm đến việc ở đây có ngôi chùa mục đồng nào không và nếu như được mách bảo là có, thì liền tìm đến để xem cho bằng được các di vật còn lại – đặc biệt là loại tượng, thường được nặn bằng đất sét, mà theo lời truyền khẩu là do đám mục đồng tạo tác. Một cách không đầy đủ, đến nay chúng tôi đã tận mắt thấy khoảng hơn 40 ngôi chùa mục đồng khắp các địa phương ở Nam Bộ.
1. Chùa mục đồng có thể hiểu là ngôi chùa làng, thuộc cơ cấu của thiết chế văn hóa thôn / làng thời trước, gồm “đình – chùa – miếu – võ”, hiểu là ngôi chùa thờ Phật nho nhỏ mà dân làng tự ý lập nên để tự giải quyết nhu cầu tín ngưỡng của cộng đồng. Ở đó, thờ thần, Phật và Phật được thờ tự theo tâm thức của Phật giáo dân gian hơn là để tu học giáo nghĩa đích thực của Phật pháp. Cũng có chùa mục đồng về sau này trở thành ngôi bửu sát danh tiếng như chùa Sắc tứ Linh Thứu ở miệt Xoài Hột (Tiền Giang), song đa phần thì tồn tại như một ngôi chùa làng, nằm trong cái không gian văn hóa làng xã: đất vua, chùa làng, phong cảnh Bụt… và các truyền thuyết về chúng vẫn cứ tồn tại theo năm tháng, mặc dù chùa đã có tên tự hẳn hoi, có chư Tăng đến trụ trì và hoằng hóa đạo pháp…
Ở An Phước tự (tục danh chùa mục đồng Hóc Tra / An Bình Tây, Ba Tri, Bến Tre) – cách chùa Long Phước nói trên vài cây số, người ta kể rằng: Thoạt tiên đám mục đồng hay tụ tập chơi: nặn các tượng thần tượng Phật và lập một cái am lá để thờ các cốt tượng dưới chòm cây tra gần một hóc nước. Do vậy, chùa có tên là “chùa Hóc Tra”. Di tích còn lại là pho tượng Bồ tát cỡi cọp vàng và tượng một ông Địa có tình tướng y hệt ông Địa múa lân. Cả hai đều đạt trình độ tạo hình… khó có thể nói là do đám chăn trâu tạo tác!
Ở chùa Da Lươn (tên chữ Thiên Trường tự / Đồng Sơn, Gò Công) lại có truyền thuyết tường tận hơn về lịch sử ngôi chùa: Thuở xưa, bọn mục đồng bày trò nặn tượng thần, Phật bằng đất sét chơi. Chơi chán lại đem tượng thả xuống ao ông Tú… cho Phật tắm mát! Lạ thay các tượng ấy lại nổi lình bình. Bọn trẻ hốt hoảng vớt các tượng lên để một nơi và che một am tranh để thờ. Sau đó, có một nhà sư từ xa đến, thấy cảnh chùa đơn sơ hiu quạnh bèn phát tâm ở lại tôn tạo chùa. Ngày qua, tháng lại, vị thiền sư một thân một mình khai phá dần rừng cây chà là ở đầm Bà Dơn để dọn một chỗ đất lập thành chùa. Người dân không biết danh tính của ông, chỉ thấy ông suốt ngày phơi tấm lưng trần sạm nắng như da lươn nên gọi ông là thầy Da Lươn và ngôi chùa đó cũng có tên là chùa Da Lươn. Sau nhiều lần trùng tu, chùa đổi tên là Thiên Trường tự.
Chùa Phật Nổi (Phước Lâm tự) ở ấp Ràng, xã Trung Lập Hạ (Củ Chi, TP.HCM) được thành lập cách đây 200 năm cũng là một ngôi chùa mục đồng. Tục truyền lúc đó, ông Phan Sử (Thiện Sử – Như Thành) cùng bè bạn trong xóm, nhân một hôm thả trâu vào rừng, bày trò lặn xuống bàu Đất Sét để lấy đất nặn tượng Phật  chơi. Hết ngày, bọn trẻ lùa trâu về nhà, bỏ các tượng Phật giữa rừng. Đêm đó bọn trẻ phát sốt và nói nhảm liên hồi. Sau khi gạn hỏi, cha mẹ bọn trẻ biết chuyện, bèn cùng nhau tính chuyện lập chùa thờ các tượng ấy – để gọi là chuộc tội với Phật! Thế nhưng trùm cả và trùm chủ trong làng không chấp thuận việc lập chùa vì lý do dị đoan đó. Để làm rõ mọi việc, hương chức đem các tượng Phật đất sét đó gác trên chiếc cầu khỉ bắc ngang qua bàu Đất Sét và rút cầu. Tục truyền, trong số các tượng rơi xuống thì có 8 tượng Phật nổi trên mặt nước. Thế là dân làng xúm nhau, kẻ có công, người có của, dựng ngôi chùa lá để thờ các tượng Phật đó. Năm 1963, chùa bị Mỹ bỏ bom sập, nên sau đó dời vào chợ Trung Hòa. Di tích còn lại là một thân tượng bằng đất sét và một số tượng gỗ được tạo tác hết sức thô phác, nhưng có thần thái độc đáo…
Nói chung truyền thuyết về các nguyên nhân khởi phát của các ngôi chùa mục đồng mỗi nơi mỗi khác. Nhưng tất cả đều được hình thành trên mẫu đề duy nhất: trẻ chăn trâu nặn tượng đất sét và các tượng ấy khi thả xuống nước đều nổi. Trong lịch sử, tín lý thiêng liêng về các pho tượng nổi trôi giạt vào nơi nào thì ở đó dân lập đền chùa để thờ là rất phổ biến và từ tâm thức văn hóa sâu kín đó, giờ đây các cổ mẫu ấy lại tái sinh và tích hợp vào loại tượng mục đồng như một phương thức ảo hóa.
2. Đằng sau những tình tiết truyền kỳ, là một thực tế: có một tập hợp Phật tượng dân gian hình thành một cách tự phát trong thời khẩn hoang lập làng ở Nam Bộ mà tác giả của các pho tượng đó là các sư sãi, tín đồ Phật tử… và được gán cho trẻ mục đồng (1). Rõ ràng là nghệ thuật tạo hình Phật tượng ở Nam Bộ từ buổi đầu đến những năm 1950 là một tiến trình song hành của cả hai dòng phái dân gian và chuyên nghiệp. Dòng tượng dân gian biểu hiện rõ nhất và nhiều nhất là ở tượng đất và tượng gỗ (có thể kể thêm loại tượng đất nung và tượng làm bằng hợp chất); ở đó, loại tượng đất sét, được gọi là tượng mục đồng, có thể coi là loại hình khởi phát của lịch sử tạo hình Phật tượng.
Đặc trưng cơ bản của Phật tượng mục đồng là sự thô phác và hồn nhiên làm sững sờ người xem như một thoáng thảng thốt khi bất chợt nghe câu hò buông dài trên sông. Nói cách khác, chúng được tạo tác không theo quy phạm tạo hình, không hề biết đến các nghi quy về đồ tượng học Phật giáo: quý tướng, tọa thức, ấn quyết, pháp phục… Chúng được tạo tác bằng thủ pháp riêng, chủ quan theo căn cơ của người tạo tác. Chúng hình thành như thể là vô tâm, vô chấp, vô sở trụ…. Tác phẩm được tạo nên là tình là ý của người tạo tác mà không là dụng công, dụng trí của thợ điêu khắc chuyên nghiệp. Tính vô chiêu thức đã dẫn đến sự độc đáo của từng Phật tượng, và có thể gượng ép lấy thuật ngữ của hội họa mà nói thì thủ pháp “đại tả ý” là dự phóng sáng tạo của tác giả tượng mục đồng: nó chủ vào hình khối, dừng lại ở mực tạo dáng, không quá chăm chú vào chi tiết; cái chú trọng ấy là thần khí, sắc thái tâm linh.
Do đó, về mặt tạo hình, chúng ta thấy tính giản lược một cách biểu cảm và những mảng khối thô phác là đặc điểm của tượng mục đồng. Lấy tập họp Phật tượng mục đồng ở chùa Thanh Sơn (Hóc Môn, TP.HCM) làm ví dụ, chúng ta thấy chúng giản lược đến mức là nếu căn cứ vào các đặc điểm của hình tướng, tọa thức, ấn quyết thì khó mà định dạng được chính xác cho từng tượng: tất thảy đều ngồi theo thức tọa thiền và tay kết định ấn.
3. Nói là vô chiêu thức, nhưng không phải là sự phóng túng hoàn toàn mà cơ hồ việc biểu đạt cũng bắt nguồn từ một hoài niệm nào đó về hình tướng chư Phật, Bồ tát trong tâm thức của người tạo tác để ít ra cũng có sự khu biệt nhất định giữa Phật hình, Tỳ kheo hình với hình tướng của các thần linh không thuộc đối tượng thờ tự của Phật giáo. Ngoài hình tướng chung, các chi tiết tạo hình khác cũng được lưu tâm như tư thế tọa thiền (đúng ra là “ngồi xếp bằng”) và trong phần lớn các trường hợp là hai bàn tay đều biểu hiện một thức ấn quyết (mudra) nào đó – tất nhiên là không hoàn toàn đúng như quy thức mà đồ tượng Phật giáo đã xác định. Chẳng hạn tượng Phật tọa thiền ở chùa Linh Châu (Tân Tây, Gò Công), tuy đã bị hư hỏng nhiều nhưng vẫn toát lên vẻ an định và từ bi của Đức Phật. Điều này khác biệt rõ nếu so sánh với tượng Tà Mun (thần bảo hộ cộng đồng, gốc của người Tà Mun) ở chùa mục đồng Phước Đồng (Tân Bình, Dĩ An, Bình Dương). Ở đây, tượng Tà Mun có đường nét mạnh, màu sắc phi thực tế, hình thù biến dạng: tất thảy đều mang tính chất của nghệ thuật thuộc trường phái biểu hiện.
Qua so sánh, chúng ta thấy Phật tượng tuy không bị câu chấp vào các nguyên tắc đồ tượng học, nhưng trong lòng người tạo tác đã tiềm ẩn một cổ mẫu Phật tượng – một tâm ảnh về Phật, để từ đó mà phát tâm tạo tượng. Nói cách khác, Phật giáo nói chung, Phật tượng nói riêng, trải qua lịch sử đã trở thành văn hóa của dân tộc, văn hóa ở đây hiểu như di sản còn lại qua thời gian, văn hóa hiểu theo nghĩa tất cả những gì đã có đều bị mất đi thì cái còn lại là văn hóa; và rồi khi bao nỗi gian truân của công cuộc khẩn hoang lập nghiệp đã có phần ổn định thì giờ đây tâm cảnh của những lưu dân lại bừng lên một khát khao tâm linh, một nhu cầu về văn hóa – tinh thần: họ moi đất-sét-dưới-chân mình để nặn thành Phật tượng và lập một ngôi chùa lá để thờ Phật. Ở đây cũng lưu ý rằng đa số chùa mục đồng đều thờ cả Phật tượng lẫn tượng thần linh đa tạp. Với cái nhìn văn hóa như vậy, Phật tượng mục đồng là hình tướng mang đậm cá tính chủ quan, được nhân cách hóa, là sự hóa thân tình cảm và tâm hồn của người tạo tác vậy. Do đó, mỗi Phật tượng là một thủ đắc riêng và tự nó cũng biểu hiện căn cơ sở đắc của cộng đồng cư dân thời đó ở vùng đất mới phương Nam. Trong chừng mực nhất định, có thể nói Phật tượng mục đồng ra đời trong tâm thức đa thần luận với đặc điểm thô phác, chúng có nhiều điểm tương đồng với nghệ thuật hồng hoang mà chúng ta bắt gặp ở những khám phá khảo cổ học thời sơ sử.
Chuyen phap luan online

.(1) Theo quan niệm phổ biến ở Nam Bộ thì mục đồng là con cháu của Thần Nông, theo đó các thế lực siêu nhiên như ma quỷ, cô hồn đều phải kiêng dè và tuân phục. Do vậy, trẻ mục đồng được quyền hưởng các lễ vật cúng, kể cả lễ vật cúng cô hồn. Tục truyền, trẻ mục đông ngoắc tay vẫy thì tức khắc các bè chở lễ vật cúng cô hồn (trong lễ tống ôn, tống gió) cập vô bờ. Nói chung, trẻ mục đồng là một nhóm xã hội “ngoại hạng” dưới con mắt của cộng đồng và do niềm xác tín chúng là con cháu của Thần Nông nên chúng có khả năng liên thông với cõi thiêng, cảnh giới bên trên và bên ngoài trần thế. Phàm các nỗ lực truy cứu về nguyên ủy các yếu tố truyền kỳ đều là chuyện… lông rùa sừng thỏ. Ở đây nêu ra một sô thông tin để tạm giải thích lý do gán việc tạo tượng cho mục đồng.


Read Full Post »

Nhà gốm, đi văng gốm

Sống trên vùng tài nguyên đất sét dồi dào, với đầu óc tinh nhạy, ông Nguyễn Văn Buôi, Giám đốc doanh nghiệp tư nhân Tân Hiệp Phát II (ấp Thanh Mỹ 2, xã Thanh Đức, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long), đã mạnh dạn sáng tạo, sản xuất ra những sản phẩm gốm đỏ “không giống ai” có giá trị kinh tế cao.

nhàgom

Cô Nguyễn Yến Nhi giới thiệu bức tranh bằng gốm giả đồng

Vĩnh Long là một tỉnh có nguồn tài nguyên đất sét dồi dào, bắt đầu hình thành nghề gốm đỏ vào năm 1993, phát triển trên nền sản xuất gạch ngói đã có khoảng 150 năm tuổi. Năm 1997, sản phẩm gốm đỏ của Vĩnh Long đã được xuất khẩu, từ đó hình thành những làng gốm tập trung ở các phường, xã dọc bờ sông Cổ Chiên như: phường 5 (thị xã Vĩnh Long), xã Thanh Đức (huyện Long Hồ), xã Mỹ An, Mỹ Phước, Chánh An (huyện Mang Thít).

Ngoài tạo công ăn việc làm cho hàng chục ngàn lao động, những làng gốm này còn phát triển vận tải thuỷ bộ, làm bao bì, khuôn mẫu. Được vậy là nhờ đất sét ở đây bị nhiễm phèn, khi qua lửa nung sẽ cho ra một loại gốm không men có nhiều sắc độ “lạ kỳ”. Những bình, những chậu, những con vật bằng gốm đỏ đặc sắc đó đã đi tới nhiều nước châu Âu, đem ngoại tệ về.

Đáng chú ý trong số những sản phẩm gốm đỏ độc đáo có bộ sản phẩm ngôi nhà gốm của doanh nghiệp tư nhân Tân Hiệp Phát II.

Đó là một ngôi nhà thật sự được làm toàn bộ bằng gốm. Đầu tiên là dãy hàng rào. Trụ rào nào cũng có hoa văn màu đỏ. Còn tường rào thì trang trí bích hoạ gốm đỏ mỹ thuật. Trong nhà, những rui, mè, kèo, cột, đòn dông, mái nhà cũng đều bằng gốm đỏ.

Để nhà gốm hoàn chỉnh từ trong ra ngoài, ông Buôi đã kết hợp với một số hoạ sĩ tạo hình những tác phẩm gốm trang trí nội thất như bộ bốn bức tranh liên hoàn thể hiện bản đồ Việt Nam cùng ba cô gái Bắc – Trung – Nam, bức tranh gốm về hồng hạc, tác phẩm gốm tường tái hiện thời khẩn hoang của vùng Nam bộ…

nhàgom01

Ngôi nhà gốm do Tân Hiệp Phát II thiết kế

Thực ra, nhà gốm là ý tưởng của ông Nguyễn Cửu Hương, em út ông Buôi. Cô Nguyễn Yến Nhi, con gái ông Buôi, Phó giám đốc doanh nghiệp, cho biết năm 2007 chú cô là ông Nguyễn Cửu Hương, chủ lò gốm Tân Hiệp Phát, qua đời. Lúc đó cha cô, người anh thứ tư, đã nối tiếp và phát huy sự nghiệp dang dở của em mình.

Ông Nguyễn Cửu Hương là người con út trong số chín người con của ông Nguyễn Văn Chỉnh (ấp Cái Kè, xã Mỹ Phước, huyện Mang Thít), gia đình sống bằng nghề lò gạch truyền thống. Ông Hương là người có sáng kiến mời hoạ sĩ, nhà điêu khắc thiết kế những mẫu mã, sản phẩm mới, cho làng gốm đỏ Vĩnh Long, giúp nâng cao giá trị sản phẩm.

Một lần, ông Hương nghĩ để cha mình có thể thư giãn tuổi già với bạn bè bên chung trà, chén rượu, nên quyết tâm làm ngôi nhà mát bằng gốm (một dạng nhà không có tường che dùng để hóng mát, thư giãn). Ông bắt tay thực hiện ý tưởng này vào năm 2001, tất cả đều bằng gốm ngoại trừ rui, mè… vì chưa nắm bắt hết kỹ thuật.

Càng về sau, các căn nhà mát bằng gốm càng có diện tích lớn và kết cấu phức tạp, khắc phục được nhược điểm rui, mè, cột, kèo… xi măng cốt thép bằng cách phủ gốm bên ngoài. Nhờ vậy mà ông đã bán được bốn ngôi nhà mát bằng gốm. Sản phẩm này đã có mặt tại TPHCM. Bên cạnh đó, ông còn cho làm bàn trà (mặt bàn đúc bằng mặt đá nhân tạo) cùng bốn chiếc đôn bằng gốm đỏ để chủ nhân nhà gốm tiếp khách. Giá bàn trà là 1,8 triệu đồng/bộ.

Cũng giống như em mình, ông Buôi đã kết hợp với các hoạ sĩ để thể hiện ý tưởng của mình thành những tác phẩm gốm đỏ “không giống ai”. Các sản phẩm gốm đỏ rất được thị trường các nước như Đức, Úc… ưa chuộng, nhất là những mặt hàng gốm mang tính mỹ thuật, thể hiện những nét văn hoá vùng đồng bằng sông Cửu Long. Và ông Buôi đã cho ra đời những bức tranh gốm giả đồng, gốm giả sơn mài… Những bức tranh bát tiên, hồng hạc, lễ hội dân tộc, mùa xuân… sau khi nung đã được phủ lớp mạ đồng, hoặc phủ lớp bột, lớp sơn nước rồi mài như thao tác làm sơn mài. Tất cả nhằm trang trí nội thất cho ngôi nhà gốm.

Ngoài ra, ông Buôi còn cho ra đời chiếc đi văng bằng gốm. Đi văng gốm rộng 1,6 mét, dài 3 mét, bốn gờ xung quanh trang trí hoa văn mỹ thuật với cả chân quỳ. Sản phẩm được làm bằng đất sét cùng hoá chất, nhưng không cho vô lò nung như các sản phẩm gốm khác. Giá của chiếc đi văng này là 45 triệu đồng/cái. Đây cũng là sản phẩm “có một không hai” ở “vương quốc gốm đỏ” Long Hồ này.

Nhà ở hoặc nhà mát bằng gốm do Tân Hiệp Phát II làm không có kích thước cố định, mà được thiết kế theo yêu cầu của khách. Cô Yến Nhi cho biết, giá một căn nhà gốm khoảng 150 triệu đồng, còn nhà mát bằng gốm khoảng 80 triệu đồng.

Theo Văn Hóa và Thể thao

MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Gốm Mỹ Hòa – An Giang

Ông Vũ Văn Thuận bên sản phẩm gốm đen

Ông Vũ Văn Thuận bên sản phẩm gốm đen

Lò nung gốm đen duy nhất hiện còn đỏ lửa ở ấp Mỹ Hoà, thị trấn Mỹ Luông, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Chủ lò là ông Vũ Văn Thuận, đã trải qua nhiều gian nan để nghiên cứu phục hồi dòng gốm đen huyền của nền văn hoá khảo cổ học Óc Eo. Hiện ông đã đầu tư hơn 300 bộ khuôn để sản xuất gốm đen theo đơn đặt hàng. Tác phẩm ưng ý nhất của ông là chiếc bình trung bình miêu tả bao quát toàn cảnh quê hương An Giang, như miếu Bà Chúa Xứ núi Sam, núi Thất Sơn, sông ngòi, bông lúa và con cá.

Gốm đen là một loại gốm có màu đen tuyền từ trong ra ngoài, được tạo thành từ một phương pháp nung chế đặc biệt, không sử dụng chất tạo màu nhân tạo. Đây là một sản phẩm độc đáo của An Giang, xét về phương diện văn hoá lịch sử cũng như về quá trình khai thác sử dụng nguyên liệu địa phương. Các nghiên cứu khoáng vật, bùn học và tảo học liên quan đến đất làm nguyên liệu sản xuất gốm đen Óc Eo được công bố gần đây (Sanderson et all, 2003; Bishop et all, 2004) cho thấy trên thực tế loại đất này chỉ tập trung trong các lòng sông đào cổ và các dòng kinh cổ thuộc thời kỳ văn hoá Óc Eo. Hệ thống các bến nước, kinh đào và sông đào cổ ở đồng bằng Sông Cửu Long đã được hình thành và khai thác rất sớm, từ các năm 365 – 275 trước Công nguyên đến các năm 430 – 515 sau Công nguyên. Tầng bùn đạt chất lượng sản xuất gốm đen tự nhiên chỉ lắng đọng bên trong các đường nước nhân tạo trong khoảng trước các năm 50 trước Công nguyên thuộc kỳ hải sâm Rạch Núi và sau năm 200 thuộc cuối kỳ hải thoái Óc Eo sang đầu kỳ hải sâm Đông Hải.

Loại gốm này được phát hiện lần đầu tại mương Chín Huệ trong vùng Lò Mo phía Nam núi Sam khi cải tạo con rạch Cần Thảo thành kinh Cần Thảo trong các năm 1980. Năm 1990, một nhóm nghệ nhân ở Mỹ Luông, trong đó có ông Thuận đã tiến hành nghiên cứu thực nghiệm loại gốm này. Đất làm gốm là loại bùn giàu silic tương tự như bùn Lò Mo, được khai thác trong dòng Lung Lớn phía Đông Ba Thê. Lung Lớn hay Lung Lạng là dấu tích còn lại của một sông đào cổ thời kỳ văn hoá Óc Eo, rộng khoảng 40 – 60 m, dài trên 11 km, chạy theo hướng Bắc Đông Bắc – Nam Tây Nam, từ thương cảng Óc Eo, nay thuộc xã Vọng Thê, huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang đến tiền cảng Nền Chùa, nay thuộc xã Tân Hội, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang.

Đất để sản xuất loại gốm này là loại đất có thành phần trung bình đất mịn (nhỏ hơn 0,5 mm) gồm khoảng 77,6% bùn cơ học (clastic) pha lẫn ít nhiều mùn hữu cơ, và khoảng 12,4% trầm tích sinh học (biogenic) của các loài tảo đơn bào nước mặn, trong đó tỷ lệ tảo vỏ silic (diatoms) luôn cao gấp hai đến ba lần tảo vỏ vôi (foraminifers). Nhiệt độ tối ưu cho việc cắn màu đen tự nhiên của tổ hợp nguyên liệu trong khoảng 350 – 380oC, thời gian dưỡng màu 3 ngày trong áp suất hơi nước tối thiểu 4 atmosphere, sau đó nung lên trong khoảng 760 – 840oC để có gốm xốp thấm nước hay gốm xốp kín nước với màu đen tự nhiên.

Hiện quy trình sản xuất gốm đen và công tác tìm kiếm nguồn nguyên liệu từ khu vực Óc Eo trên địa bàn tỉnh An Giang đã hoàn chỉnh, Trung Tâm Ứng dụng và Chuyển giao Công nghệ thuộc Sở Khoa học – Công nghệ và Môi trường tỉnh An Giang đã sản xuất thành công hàng gốm đen mỹ nghệ với nhiều mẫu mã như: bộ tượng Phước – Lộc – Thọ, Thần Voi, Phật Di Lạc và sản xuất theo yêu cầu của khách hàng. Các sản phẩm mỹ nghệ gốm đen An Giang là sản phẩm đặc trưng độc đáo của cả vùng châu thổ sông Cửu Long.

Sưu tầm

MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Gốm truyền thống Hòn Đất, Kiên Giang

Nghề gốm ở Hòn Đất thuộc tỉnh Kiên Giang đã phát triển thành nghề truyền thống của một bộ phận cư dân xứ Hòn gần 100 năm qua góp phần ổ định cuộc sống của nhiều gia đình nơi đây.

Tuy nhiên, mấy chục năm qua nghề gốm ở Hòn Đất chủ yếu là sản xuất các mặt hàng truyền thống như lò ràng, lị than, nồi đất, khuôn bánh khọt , các loại am, chum đựng nước, diệm dùng đặc rượu, v.v…

Mấy năm gần đây, đời sống của nhân dân được nâng lên cùng với thị trường đa dạng hoá các mặt hàng gia dụng như bếp ga, đồ điện, các mặt hàng được sản xuất từ nhuôm, sành, sứ cao cấp vừa tiện lợi, giá cả phù hợp với điều kiện kinh tế của đại bộ phận nhân dân đã làm ảnh hưởng đến giá thành và đầu ra của sản phẩm gốm Hòn Đất.

Do đó, để nghề gốm ở Hòn Đất tồn tại và phát triển đòi hỏi cấp thiết đối với những người sống bằng nghề gốm là phải thay đổi hình thức sản xuất sao cho phù hợp với điều kiện và nhu cầu phát triển của xã hội.

Để giải bài toán về làng nghề gốm ở Hòn Đất, đầu năm 2007 với sự tài trợ của Trung tâm khuyến công tỉnh Kiên Giang một mô hình sản xuất gốm mới theo hình thức sản xuất hàng mỹ nghệ, do Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Đồng Thịnh ở xã Bình Sơn đang triển khai thực hiện.

Đây là một hình thức sản xuất mới với những mặt hàng gốm được sản xuất đảm bảo cả ba tiêu chí: kỹ thuật, mỹ thuật và giá thành sản phẩm. Qua bước đầu thực nghiệm cho thấy đây là một triển vọng mới đối với nghề làm gốm ở Hòn Đất.

Theo sự hướng dẫn của anh Đào Hùng Phương, Trưởng phòng Công Thương Khoa học Công nghệ Hòn Đất chúng tôi đến thăm làng nghề gốm thủ công thuộc ấp Đầu Doi, Thị Trấn Hòn Đất, huyện Hòn Đất.

Hiện nay trong ấp có trên 500 hộ dân, đã có gần một nửa với trên 500 lao động làm nghề sản xuất mặt hàng gốm.

Đất sét của xứ Hòn có độ mịm và dẻo rất cao nên khi nắn, nung ít hư, sản phẩm lại có độ bền nên được rất nhiều người tiêu dùng ưa chuộng. Vào những năm 1980 là giai đoạn sung túc nhất của làng gốm Đầu Doi.

Các mặt hàng gia dụng làm bằng gốm ở thời điểm đó bán rất chạy nên hầu người dân địa phương sống nhờ vào nghề gốm. Nhà nào cũng có từ hai đến ba lò gốm và sản phẩm được ủ nung thường xuyên.

Nhiều gia đình có điều kiện còn tranh thủ mùa nắng sản xuất, tích luỹ để có hàng bán vào những tháng mùa mưa.

Giá mỗi cái lò ràng ở thời điểm đó có lúc tính bằng một giạ lúa. Có lẻ đây là giai đoạn ăn nên, làm ra nhất đối với những người dân ấp Đầu Doi.

Mấy năm gần đây các mặt hàng gia dụng được sản xuất từ gốm đã ít được người tiêu dùng quan tâm sử dụng hơn.

Hầu hết những gia đình thuộc diện trung bình trở lên đã dùng bếp ga, nồi cơm điện hoặc xây lò chụm bằng củi, trấu bằng gạch thay cho việc nấu củi bằng lò ràng, nồi đất.

Các mặt hàng gia dụng khác cũng dần được thay thế bằng đồ sành, sứ, nhuôm, nhựa, Inox nên các mặt hàng bằng gốm bán ít chạy và giá thành lại thấp. Giá sản phẩm thấp nên công thợ cũng rẻ. Một người thợ làm suốt ngày chỉ kiếm được 20.000 đồng tiền công.

Đến thăm gia đình chú Trần Văn Tuồng, gia đình chú cũng đã có trên 30 năm sống nhờ vào nghề gốm. Thế nhưng theo chú Tuồng cho biết hiện nay làm nghề gốm rất khó sống.

Một cái cà ràng loại lớn chỉ bán được 7.000 đồng. Lò than được rạng bằng thiết, trét xi măng thật kỉ loại lớn bán được hơn 40.000 đồng. Còn lại những loại nồi đất, lò nhỏ chỉ bán vài ba ngàn đđồng.

Nếu như so sánh với giá lúa ở thời điểm như hiện nay, gần hai chục cái cà ràng mới mua được một gịa lúa. Mặc dù giá thành thấp như vậy nhưng số lượng tiêu thụ cũng rất ít. Mội tháng chỉ bán hơn ngàn sản phẩm các loại đã là nhiều.

Chú Tuồng tâm sự:” Mấy mười năm chỉ làm quen với nghề này nên việc đổi nghề là rất khó. Còn con Trai chú Tuồng, em Trần Thanh Nam cho biết:” Nhiều khi cũng muốn tìm cách làm mới để duy trì và phát triển để cải thiện nghề gốm của gia đình nhưng chưa biết làm cách nào ?”

Đó cũng là những trăn trở và suy nghĩ của anh Huỳnh Như Sanh, giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn Đồng Thịnh. Là hoạ sĩ lại kiếm sống bằng công việc kế toán cho một công ty ở Kiên Lương.

Cứ mỗi lần có dịp đi ngang qua làng nghề gốm ở ấp Đầu Doi, anh Sanh lại thấy thương cho người dân làng nghề.

Lao động cật lực nhưng thu nhập lại thấp. Nhìn thấy màu gốm tươi gói, anh tiết cho những sản phẩm làm ra quá thô sơ, giá thành không cao. Với anh Sanh việc thay đổi cách sản xuất gốm để vừa có giá trị kinh tế cao hơn đã thôi thúc anh bắt tay vào nghiên cứu cách làm mới.

Anh Sanh đã bỏ công tìm hiểu xây dựng dự án sản xuất mặt hàng gốm mỹ nghệ chất lượng cao.Với dự án này anh Sanh đã thành lập Công ty trách nhiệm hữu hạn Đồng Thịnh.

Để có kinh phí đầu tư đi vào sản xuất anh Sanh đã vận động bạn bè, gia đình ủng hộ trên với số vốn đầu tư ban đầu là 500 triệu đồng, trong đó trung tâm khuyến công tài trợ 150 triệu đồng.

Với một người mới vào nghề, mà là nghề làm gốm mỹ nghệ quả là quá nhiều trở ngại. Tất cả điều bắt đầu từ con số không.

Để làm được việc, anh Sanh đã vận động một số thợ trẻ, say mê nghề cùng anh làm việc, Trung tâm Khuyến công Tỉnh Kiên Giang giúp anh rất nhiều trong việc chuyển giao kỹ thuật xây lò nung, tìm hiểu về độ mịn, độ nềm dẻo của đất, v.v… Riêng anh Sanh đã tự thiết kế ra hơn chục mẫu sản phẩm để đưa vào sản xuất thử.

Chúng tôi đến thăm cơ sở sản xuất của anh Sanh trong những ngày giáp tết. Nói là cơ sở sản xuất nhưng qui mô cũng còn rất nhỏ hẹp. Khuôn viên làm việc với diện tích gần 200m2 vừa là nhà kho, nhà trưng bày sản phẩm, khu làm việc cho gần chục công nhân, lò nung, khu chế tác tượng của hoạ sĩ.

Theo sự giới thiệu của anh Sanh sau hơn gần một năm vừa nghiên cứu, vừa sản xuất thí điểm cơ sở của anh đã cho ra trên 1.000 sản phẩm với khoản 30 mẫu sản phẩm.

Đặc biệt là sản phẩm bình hoa loại lớn có gần 100 chiếc, nhưng là mẫu sãn phẩm độc bình . Mỗi kích cỡ , mỗi mẫu chỉ sản xuất một chiếc duy nhất như Bình Hồ Lơ cao gần một mét, bình cấm hoa lại lớn và loại trung bình với nhiều kiểu dáng và hoa văn khác nhau.

Tất cả các loại bình này được nung từ đất gốm của xứ Hòn với màu rất sắc. Những chiếc bình hoa này khi trang trí trưng bày trên những chiếc đế làm chân bình được chế tác từ gốc cây tràm.

Cây sắn đã tạo thêm vẻ đẹp tự nhiên hài hoà giữa: Màu đỏ đất gốm, của cây lá và hoa nhưng lại rất sang trọng và điệu nghệ khi được bày trí trong phòng khách hàng ngày hay trong phịng khách.

Bên cạnh việc sản xuất sản phẩm độc bình, Công ty Đồng Thịnh cũng sản xuất một số mặt hàng mỹ nghệ bằng gốm màu như: Những loại tranh nỗi bằng gốm, các loại sản phẩm dùng để trang trí.

Do mới sản xuất thử nghiệm nên sản phẩm chưa thật sự sắc sảo nhưng từ thành công bước đầu đã mở ra một triển vọng mới, một hình thức sản xuất để có sản phẩm mới hơn và có giá trị hơn đối với việc sản xuất gốm ở Hòn Đất


MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Gốm cổ truyền Khmer – An Giang

Nghề làm gốm thủ công của người Kmer Nam Bộ

Nghề làm gốm thủ công của người Kmer Nam Bộ

Hầu như phần lớn các gia đình dân tộc Khmer ở sóc PhnomPu (huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang) đều tham gia chế tác gốm. Nghề gốm ở đây có quy mô nhỏ theo hộ gia đình. Nghề làm gốm thường được tiến hành vào thời điểm nông nhàn, thường là vào mùa khô và do phụ nữ đảm nhiệm các công đoạn.

Đất làm gốm thường được khai thác dưới chân núi Nam Quy, cách sóc hơn 1 km. Theo bà con Khmer thì ở Tri Tôn chỉ có đất ở ven núi Nam Quy mới làm được đồ gốm. Đó là một loại đất sét xám, pha nhiều cát mịn, đào những hố sâu xuống 1,5 m thì gặp lớp đất sét làm gốm. Đất khai thác làm gốm sau khi mang về nhà được luyện kỹ trên một tấm gỗ hoặc đá nhằm loại bỏ các hạt sạn và sỏi cũng như làm tơi mịn. Tiếp theo, người ta đem nhồi đất với nước theo một tỷ lệ nhất định để cho quánh và dẻo nhưng không được ướt quá hay khô quá vì như thế sẽ khó tạo hình cho gốm. Công việc tạo hình gốm đòi hỏi sự khéo léo của những người phụ nữ lớn tuổi và có kinh nghiệm. Sản phẩm gốm ở Tri Tôn khá đa dạng như các loại nồi, ấm, choã, bếp, lu, vại… nhưng đặc biệt nhất là cà ràng và ống khói lò nấu đường thốt nốt. Cà ràng Tri Tôn khá nổi tiếng và là một mặt hàng bán chạy. Cà Ràng vốn là tiếng Khmer, tên gọi một loại bếp lò độc đáo vừa bao gồm nơi nấu với 3 ông táo, gắn với một thân đáy chịu lửa hình số 8 dùng đun củi, cời than. Bếp nấu cà ràng khá linh hoạt, có thể để trên sàn nhà bằng tre nứa, ván gỗ; có thể để ngay trên ghe thuyền mà không sợ bị cháy mặt sàn, gọn nhẹ và dễ di chuyển. Để tạo hình cà ràng và các loại sản phẩm, người thợ gốm dùng tay nắm đất sét định hình cơ bản đồ vật. Tiếp đó người thợ dùng một cây gỗ mỏng, bề mặt rộng 3-5 cm (tiếng Khmer gọi là sđâm) kết hợp với một hòn nống hình quả cam có nút cầm, gọi là kaleng, căng sản phẩm từ phía bên trong. Nhờ vừa nóng vừa dập nhẹ từ 2 phía trong, ngoài mà sản phẩm có độ dày đồng đều, cân đối. Sau khi dùng tay ướt vuốt phẳng, người thợ gốm dùng lá nốt chuốt láng mặt ngoài hoặc bẻ miệng sản phẩm theo ý muốn. Một số loại sản phẩm như nồi, ấm, chõa… sau khi tạo dáng sản phẩm, người thợ còn dùng các bàn in hoa văn trang điểm. Điểm đáng chú ý trong kỹ thuật chế tác gốm của người Khmer ở Tri Tôn là không dùng kỹ thuật bàn xoay để tạo hình. Đây cũng là kỹ thuật làm gốm khá nguyên thuỷ còn bảo lưu ở một số ít dân cư các dân tộc ở nước ta. Quá trình định hình và hoàn thiện sản phẩm gốm được tiến hành trên một mặt bàn nhỏ trong vườn. Gốm nung có màu đỏ nhạt hoặc vàng sậm, độ nung thấp. Các thương gia sẽ đi từng nhà gom các sản phẩm gốm chở đi buôn bán các nơi. Đồ gốm của Tri Tôn không chỉ bán ở các tỉnh miền Tây Nam Bộ mà còn sang tận Campuchia, cạnh tranh với đồ gốm KôngPôngChnăng (là nơi sản xuất gốm nổi tiếng), chất lượng sản phẩm gốm của người Khmer Tri Tôn được nhiều nơi ưa thích.

Hiện nay nghề làm gốm của người Khmer ở Tri Tôn có chiều hướng giảm sút và mai một, nhiều gia đình từ lâu không còn làm gốm, một số hộ làm cầm chừng. Nguyên nhân do giá thành rẻ, không “kinh tế” bằng các nghề khác và luôn bị các thương gia ép giá. Gần đây, một số nhà nghiên cứu nước ngoài như Mỹ, Nhật đã đến Tri Tôn tìm hiểu và nghiên cứu nghề gốm. Vì vậy, nghề gốm của người Khmer ở Tri Tôn cần có sự quan tâm, nghiên cứu và bảo vệ nhằm phục vụ cho mục đích văn hoá, khoa học, du lịch và xuất khẩu.

MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Gốm đỏ (terracotta) Vĩnh Long

Nói đến gốm sứ, người ta thường nghĩ ngay tới hai tỉnh Bình Dương và Đồng Nai, mà ít ai biết rằng nghề này cũng đang phát triển mạnh mẽ ở Vĩnh Long. điều đặc biệt và thú vị là chỉ duy nhất gốm Vĩnh Long mới có những sản phẩm gốm thô không men màu, dù đã qua “lò” vẫn ánh lên màu đỏ, nâu pha mốc trắng nguyên thủy. Gốm như nói lên tính thủy chung của người dân nơi đây.

Bên bờ bắc của dòng sông Cổ Chiên êm đềm, mang nặng phù sa của tỉnh Vĩnh Long đã tồn tại một làng nghề với truyền thống lâu đời hơn 100 năm nay. Ban đầu chỉ là làng nghề chuyên sản xuất gạch ngói, và nghề làm gốm mỹ nghệ chỉ thực sự xuất hiện trong vòng 15 năm trở lại đây.

Dòng Cửu Long trĩu nặng phù sa, đổ về hạ lưu bằng hai nhánh sông Tiền, sông Hậu và thoát ra biển với 9 cửa sông, hàng năm mang về cho bình nguyên Nam Bộ 5 triệu mét khối phù sa. Những hạt phù sa đỏ ối, nhẹ nằm ở phần trên bổ sung nguồn dinh dưỡng những cánh đồng lúa ngàn, cho những vườn cây bốn mùa hoa trái; những hạt cát rắn nằm lại giữa dòng tạo ra những cồn bãi, thành “kho” vật liệu xây dựng; có những phù sa mịn, chìm sâu vào lòng đất hình thành những mỏ đất sét. Những hạt sét mịn màng nhất, cần cù nhất đã vượt hàng ngàn cây số từ thượng nguồn về tụ lại ở nơi trung đồng bằng Nam Bộ để hình thành những mỏ đất sét quý, ban tặng cho người Vĩnh Long.

Trăm năm… gạch ngói

Hơn thế kỷ rưỡi qua người Vĩnh Long đã tận dụng đất sét để tạo ra một làng nghề lớn nhất vùng đồng bằng này: làng nghề gạch ngói, thu hút trên 2 vạn lao động. Dân gian thường gọi là “Vương quốc gạch ngói”. Từ cầu Mỹ Thuận nơi sông Tiền tách dòng Cổ Chiên, kéo dài 30 cây số đến vàm sông Mang Thít, trên 1.000 lò gạch mọc lên như một thành phố cổ.

Lò gạch xuất hiện trên thế kỷ. Theo tài liệu chép tay của một người Pháp tên Bataillel có tựa đề “Notice sur L’arrondissement de Vinh Long” (Ghi chép về Hạt Vĩnh Long) đề ngày 11-6-1887, phúc đáp cho Ngài Giám đốc Nội chính, có ghi lại như sau: “Có 1 lò gạch ở thôn Tân Hoa, tổng Bình An (nay là xã Tân Hòa, thị xã Vĩnh Long) và 2 lò ở thôn Thanh Mỹ Đông (nay là phường 5, thị xã Vĩnh Long). Lò hình vuông hay hình tổ ong, mỗi mẻ lò chỉ sản xuất khoảng 1.000 viên”.

Từ xuất phát ấy đến năm 1995, Vĩnh Long có hơn 900 lò gạch tròn năng suất 20.000 viên gạch ngói qui chuẩn cho một chu kỳ 2 tháng, với tổng sản lượng 500 triệu viên/năm. Làng gạch trải dài 30km thuộc thị xã Vĩnh Long, huyện Long Hồ và huyện Mang Thít, ven sông Cổ Chiên (một nhánh sông Tiền). Năm 1995, làng gạch ngói có thêm Nhà máy tuynen sản xuất theo dây chuyền công nghiệp hiện đại, nhiên liệu đốt bằng dầu DO. Suốt thập niên 90 của thế kỷ trước, làng gạch ngói bùng phát dữ dội hình thức lò un, lò bắc, chất lượng gạch không tốt, phát triển không theo quy hoạch, gây ô nhiễm môi trường. Điều này có lý do của nó: thời kỳ đổi mới diễn ra, kinh tế phát triển nhanh, nhu cầu xây dựng lớn. Chuyện chạy theo lợi nhuận, cạnh tranh không lành mạnh như kiểu lò un, lò bắc làm làng nghề gạch ngói lao đao.

Làng gốm bên bờ sông Cổ Chiên

Làng gốm bên bờ sông Cổ Chiên

Những ý tưởng đầu tiên về gốm

Năm 1978 Vĩnh Long có HTX gốm dân dụng ở Tam Bình, nhưng do chất đất không thể cạnh tranh gốm Lái Thiêu nên chỉ tồn tại vài năm. Người viết còn giữ một kỷ vật của họa sĩ Lê Triều Điển tặng, đó là tượng gốm bán thân của nhà soạn nhạc vĩ đại Môda. Lúc ấy anh sáng tác rất nhiều mẫu gốm đẹp và nung ở lò của ông Bùi Công Phiệt.

Sau đó, Long Hồ cũng có xí nghiệp gốm mỹ nghệ… nhưng cũng không tìm được thị trường, tiếp tục phá sản. Khoảng năm 1990, một công ty của Đức liên doanh với Xí nghiệp Gốm mỹ nghệ thành lập liên doanh UP (United Poterie s), sản xuất gốm đỏ theo công nghệ Đức. Công nghệ họ giữ rất kỹ, không có người Việt Nam nào có thể tiếp xúc được.

Đến năm 1997, ba người bạn Nguyễn Tấn Nghĩa, Nguyễn Phước Lộc và Tư Khiêm thử đem gốm mỹ nghệ nung trong lò gạch truyền thống và họ đã thành công. Anh Nguyễn Tấn Nghĩa kể lại: “Phải nói rằng tôi làm nghề gốm cũng có cái “duyên” với đất. Hồi ấy, tháng 5 năm 1997, làm gạch ngói lao đao vì giá quá thấp. Lò un, lò bắc cạnh tranh không thể chịu nổi. Cái thời “Vương quốc gạch ngói” chiếm lĩnh thị trường đồng bằng không còn. Các tỉnh trong khu vực có nhà máy tuynen. Ba anh em chúng tôi là những người trong Ban chấp hành Hiệp hội gạch ngói, vừa có trách nhiệm với chính bản thân mình và đồng nghiệp. Trăn trở lắm nhưng không có lối ra. Có lúc chúng tôi có ý định chuyển nghề. Chúng tôi đi miền Đông, Tây Nguyên, rồi Sóc Trăng tìm hướng làm ăn. Thế nhưng có một người bạn làm gốm ở Bình Dương khuyên chúng tôi làm gốm, ông sẽ bao tiêu cho. Nhưng đất và lò của người ta khác, đất và lò của mình khác. Thôi thì về mày mò nghiên cứu mà làm”. Mẻ đầu tiên thành công. Chỉ dùng đất làm gạch mà sản xuất gốm. Loại đất ấy chỉ ra gốm đỏ, thị trường Ôxtrâylia và châu Á tiêu thụ loại gốm này, nhưng châu Âu lại thích gốm vàng sáng màu phèn lam… đất sét vàng cho màu gốm đỏ, đất sét đen cho màu gốm vàng…

Anh Nguyễn Tấn Nghĩa kể lại một thất bại rất… dễ thương. Số là sau khi nung gốm đỏ thành công trong lò gạch truyền thống. Loại lò này có độ cao hơn 7m, dung tích trên 2.000m3, nhưng sản phẩm gốm thì nhỏ và thấp, do đó khi vô lò khoảng trống phần trên là rất lớn. Như vậy thì lãng phí nhiên liệu quá không? Nghĩ vậy anh bắt đầu phá thử một lò cũ, xây lại một lò nhỏ hơn, kết quả là thất bại thê thảm. Anh lại xây lò khác, cũng thất bại và lần thứ ba xây lại cái lò như cũ. Bây giờ nhắc lại chuyện này anh rất thấm thía, bởi lẽ những lò gạch xuất hiện đầu tiên ở làng Tân Hòa, Thanh Mỹ như ở đầu bài viết là lò nhỏ, dạng hình tổ ong. Hơn thế kỷ, người làm gạch Vĩnh Long đã cải tiến không biết bao nhiêu lần để có hình dạng như hiện nay. Bí ẩn là ở chỗ, chỉ ở kích thước này, với nhiên liệu trấu mới có thể đưa nhiệt độ lò lên 9000C, và ở nhiệt độ ấy, đất Vĩnh Long mới có thể kết khối thành gạch, ngói, gốm…

Làng gốm hình thành ấy là do người Vĩnh Long hiểu đất Vĩnh Long.

Đi dọc Tỉnh lộ 31, tôi không tìm đâu ra một chỗ khai thác đất như những năm trước đây, vì vùng khai thác đất sét đã hết, đến cánh đồng của xã Mỹ Phước (Mang Thít) mới tìm được một lô đất mà ông Đặng Văn Hai (Hai Đạo) đang khai thác. Ông mua một lớp đất sét dày 40cm với giá 3,5 triệu đồng một công. Đây là vùng đất gò, nổng rất khó lấy nước trồng lúa. Công nhân khai thác phải dùng nề gạt lớp đất mặt (tầng canh tác) dày 30cm bỏ qua một bên trả lại cho chủ (nếu có lấy thì cũng không làm gốm được) sau đó thì dùng nề xắn mỗi cục 30cm2 . Nề là cái cung hình chữ U, hai đầu chữ U có căng cọng dây thép cỡ 3mm thay cho lưỡi leng xắn đất. Những công nhân đẩy trẹt sức chứa cỡ nửa mét khối đất vào ruộng. Họ xắn những khối đất cỡ 20kg, rồi đưa ra bờ kinh. Ở đây có một cối ép gạch thành “mê” mỗi cục 6kg. Công nhân làm từ 5 giờ đến 9 giờ thì nghỉ. Chỉ tiêu mỗi người 3 trẹt. Chiều làm 3 giờ nữa. Thu nhập mỗi ngày 40.000đ. Đất sét khai thác trên đồng có 3 màu rõ rệt: đất gò, nổng sâu trong đồng có màu vàng đậm rất dẽ dặc, đây là đất làm gạch truyền thống, cho sản phẩm có màu đỏ đậm; đất mỡ gà ít vàng hơn, cho sản phẩm có màu vàng đỏ; đất sét đen cho sản phẩm có màu vàng sáng… Mấy anh công nhân khai thác nói đùa: “Hồi xưa ông bà dạy chúng tôi, ráng học hành, không thôi sau này “cạp đất mà ăn”. Bây giờ chúng tôi đang cạp đất!” Cạp đất mỗi ngày 40.000đ. Chiều còn rảnh làm việc nhà thì cũng nên quá đi chớ. Nói như ông Hai Đạo, hết thửa đất này tôi đi mua đất khác khai thác quanh năm thì hàng tháng ông cũng vô bạc triệu.

Pha đất

Nhiều ghe khai thác đất như kiểu ông Hai Đạo, bán đất mê, đậu kín bên sông của Công ty trách nhiệm hữu hạn Năm Vàng. Đất chuyển lên kho bằng thanh truyền và được một chuyên gia phân loại, ra giá và xếp thành khối riêng theo màu sắc. Lại một chuyên gia khác, chuyên pha đất có nhiệm vụ chỉ cho công nhân xếp từng chồng đất đủ màu bên cối ép để nhào đất cho thật mịn. Tùy theo sản phẩm mà người ta pha đất theo kinh nghiệm riêng. Công đoạn này rất quan trọng, theo anh Đường một chuyên gia loại này cho biết: độ nhót (co giãn giữa sản phẩm mộc và thành phẩm), độ cứng, màu sắc đều phụ thuộc vào công đoạn pha đất. Pha xong phải nhào nặn 4 lần cho thật mịn, đến nỗi sờ tay vào không dính thì mới đạt. Từ đây người ta chở từng khối lên cho công nhân in.

Tạo mẫu, làm khuôn in và xu

Công đoạn này là công việc của những họa sĩ. Các mẫu gốm của khách hàng nước ngoài thường đặt theo catơlô. Từ Catơlô họa sĩ tạo ra một mẫu bằng thạch cao y như mẫu thật. Thực ra mẫu này thường lớn hơn sản phẩm; lớn hơn bao nhiêu phải tính toán theo độ nhót của đất sau khi nung, hoặc 5%, 6% gì đó. Có mẫu rồi thì đổ khung thạch cao làm khuôn. Thợ in dùng đất pha sẵn ép vào khuôn. Khuôn có thể có nhiều mảnh ghép lại. Người thợ phải ép đất vào từng mảnh, cuối cùng ghép lại thành một tổng thể sản phẩm. Sản phẩm thường rỗng ruột, người thợ in phải dùn g nề cắt đất ra thành một miếng “bánh da lợn” dày cỡ một vài phân tùy yêu cầu, trước khi ép khuôn. Người mới vào nghề cắt “bánh” dính tay nên phải dùng một cái bao để di chuyển “bánh”, nhưng thợ lành nghề họ cắt một miếng cỡ nửa mét vuông cầm không dính tay. Ép xong để cho ráo mới dở khuôn ra cho người xu. Thợ xu làm láng sản phẩm bằng cách nhúng nước cái “bông đá” học trò lau bảng chà lên sản phẩm, chỉnh lại các họa tiết cho sắc sảo. Anh Ba Nghĩa nói: “Nếu đào tạo công nhân lành nghề ở khâu này, tức là làm cho các chi tiết sản phẩm, các họa tiết tỉ mỉ hơn, sắc sảo hơn thì giá trị có thể nâng lên gấp 3 lần. Công nhân ở làng nghề của chúng ta tay nghề chưa cao!”.

Tạo nét sắc sảo cho sản phẩm

Tạo nét sắc sảo cho sản phẩm

Thợ lửa

Ba yếu tố sống còn của sản phẩm gốm: kích cỡ lò, pha đất và kỹ thuật nung. Thợ lửa xưa nay vẫn là nghề bí truyền. Tôi cố gắng lắm cũng chỉ tìm ra được nguyên tắc của nghề ấy mà thông tin cho độc giả. Nếu biết được thì chắc tôi cũng đã làm thợ lửa. Vô lò cũng là kỹ thuật, người vô lò biết vị trí nào “lửa hỗn”, chỗ nào lửa yếu, chỗ nào nhiệt độ lò ổn định mà bố trí từng loại sản phẩm lớn nhỏ khác nhau. Chỗ “lửa hỗn” quá thì chèn thêm gạch, ngói che lại… Quy trình nung gốm diễn ra trong 7 ngày. Bốn ngày đầu đốt lò từ từ, chủ yếu là hun hơi nóng cho hơi nước chứa trong sản phẩm ra khỏi lò, nói nôm na là làm khô sản phẩm thôi, nhiệt độ từ 100 – 200 độ C là được. Thực ra nếu ta lấy trấu đốt ngoài trời thì nhiệt độ chỉ 200 độ C là cùng. Ngày thứ năm tăng tốc, ngày thứ sáu tăng tốc để ngày cuối cùng đạt 900 độ C. Đối với những sản phẩm đặc biệt cần nâng cao nhiệt độ hơn thì người ta dùng xamốt (một loại ôxuýt sắt giống như đá ong) rải trên sản phẩm trong lò. Khi đạt đến nhiệt độ cần thiết, sản phẩm gốm thường là 9000C thì sản phẩm kết khối, đất chuyển sang đá, người ta gọi đó là nhiệt độ kết khối, lúc này ngưng đốt, bít lò bằng đất sét cứ để cho lò nguội dần, rồi ra lò. Cái bí quyết của người thợ lửa là ở chỗ họ gạc lửa theo tầng suất nào, ta chỉ thấy lâu lâu họ gạc than để khêu cho lửa cháy. Họ làm theo thói quen mà chẳng cần đo nhiệt kế và có thể nhiều người trong họ chẳng hiểu gì nhiều cái nguyên tắc mà tôi viết dài dòng ra đây.

Đưa công nghệ vào gốm

Đến doanh nghiệp Nam Hưng tôi bắt gặp những sản phẩm gốm đen, gốm nâu, gốm trắng như gốm mộc. Các sản phẩm có thể pha trộn nhiều chất liệu đen, đỏ, vàng, nâu, điểm men… Sáu sản phẩm của Nam Hưng đạt danh hiệu sản phẩm tiêu biểu 30 năm theo môtuýp như vậy. Anh Nguyễn Phước Lộc nói với tôi: “Từ chất liệu gốm nâu, đen tôi có thể bắn cát cho nó “phong hóa” như đã trải qua ngàn năm tồn tại của gốm cổ Phù Nam. Người Vĩnh Long hiểu đất, làm chủ chế độ nung bằng công nghệ nung thì có thể tạo ra bất cứ sản phẩm nào mà khách hàng yêu cầu!”. Sở Công nghiệp cũng đã có công trình nghiên cứu điểm men trên nền gốm đỏ. Bản thân doanh nghiệp Nam Hưng cũng đầu tư công nghệ tạo bước đột phá cho gốm Vĩnh Long.

Gốm Đỏ ra lò

Gốm Đỏ ra lò

Họa sĩ và gốm

Họa sĩ Lê Triều Điển xuất thân từ sơn dầu, nhưng thành công nhất là gốm. Đó là nhận xét của đồng nghiệp về anh. Người mời nghệ sĩ cộng tác đầu tiên là anh Ba Nghĩa. Các nghệ sĩ Vĩnh Long như Thế Đệ, Đặng Can, Đình Vĩnh, Bửu Lộc… đã làm việc ở đây và sau đó cộng tác với nhiều doanh nghiệp khác. Anh Điển vận động nhiều trại sáng tác của các họa sĩ thành phố Hồ Chí Minh, Tiền Giang và có rất nhiều các cuộc triển lãm ở thành phố Hồ Chí Minh trên chất liệu gốm Vĩnh Long. Hiện nay các họa sĩ Tiền Giang đang mở trại sáng tác ở lò Nam Nhiên (Thanh Đức).

Các anh cho chúng tôi biết, sáng tác để mở triển lãm tại Mỹ Tho, Tỉnh ủy Tiền Giang rất quan tâm. Ngày 12-7, một cuộc triển lãm gốm mỹ thuật Vĩnh Long qui mô lớn tại Khu du lịch Văn Thánh, thành phố Hồ Chí Minh.

Làng nghề chúng ta đang phát triển theo những đơn hàng đặt từ nước ngoài. Chất xám của họa sĩ chỉ tham gia vào tạo mẫu, tạo họa tiết trên sản phẩm, cần có thêm sản phẩm gốm theo văn hóa của chúng ta, trên cái hồn đất vốn có của nó. Đó chính là phát huy sắc gốm không thể trộn lẫn. Vì thế, trong tương lai, họa sĩ, nghệ nhân, công nhân mỹ thuật đóng vai trò rất quan trọng.

Sắc gốm Vĩnh Long

Có người hỏi gốm Vĩnh Long có gì đẹp hơn gốm Bình Dương, gốm Bát Tràng, gốm Giang Tây? So sánh như vậy là khiên cưỡng, vì mỗi chất liệu có vẻ đẹp riêng. Cũng không nên so sánh giữa gốm mỹ thuật với gốm dân dụng.

Anh Lê Triều Điển nói: Thiên nhiên ban tặng cho người Vĩnh Long một tài nguyên đất sét và dĩ nhiên là nó không giống ai, không vùng đất nào có nó. Người Vĩnh Long sống với đất và đẻ ra làng nghề gạch ngói. Bao thế hệ sáng tạo và đúc kết thành một kỹ thuật nung đất tuyệt vời: lò gạch. Nhiên liệu nung từ sản phẩm đặc trưng của vùng lúa nước: trấu. Người Vĩnh Long có nền văn hóa đặc thù đồng bằng. Màu đặc trưng của gốm Vĩnh Long là màu của rơm rạ. Điều thật kỳ lạ hay nói đúng hơn là một phát minh thầm lặng của bao thế hệ: lò gạch Vĩnh Long, đốt trấu quê mình, và đất Vĩnh long chỉ kết khối ở nhiệt độ 900 độ C. Kỳ lạ vì nó có vẻ ngẫu nhiên, nhưng đó là quá trình tìm tòi và khám phá. Đó là hồn gốm Vĩnh Long. Nói về gốm Vĩnh Long anh Ba Nghĩa tóm thật gọn trong câu: “Người hiểu đất!”

Ông Trần Văn Rón – Giám đốc Sở Công nghiệp trong cuộc tiếp xúc báo chí đã nói: Nhiều doanh nghiệp thu hút được đội ngũ trí thức, họa sĩ gắn bó với làng nghề là tín hiệu phát triển đúng hướng. Tài nguyên, lao động, công nghệ và chất xám, chính là những yếu tố cơ bản, bền vững để làng nghề hội nhập kinh tế thế giới trong tương lai. Nhiều làng nghề truyền thống mất đi vì không đưa được công nghệ mới vào, không tận dụng chất xám để hiện đại hóa.

Tuy nhiên, vẫn còn những bất cập mà làng nghề gốm Vĩnh Long phải phấn đấu vượt qua. Chẳng hạn như vấn đề thương hiệu: gốm Vĩnh Long chưa có thương hiệu mạnh. Công nghệ nào cho đất; là vấn đề nóng hổi hiện nay cho làng gốm Vĩnh Long; vì công nghệ sản xuất “chỉ thường thường bậc trung” và không đồng đều ở các doanh nghiệp, nên khi xuất ra nước ngoài, giá bán rất thấp so với gốm Ý, trong khi nguyên liệu tương đương nhau. Vấn đề xúc tiến thương mại, thị trường gốm chủ yếu là xuất khẩu, thế nhưng các doanh nghiệp sản xuất có rất ít thông tin về thị trường, chưa có hệ thống tiếp thị tốt… Vấn đề xuất khẩu trực tiếp, hầu hết doanh nghiệp gốm Vĩnh Long chỉ xuất khẩu qua trung gian nên không biết sản phẩm của mình bán ở đâu, hiệu quả kinh tế rất thấp. Xúc tiến Thương mại và Đầu tư đã mời một công ty tư vấn nước ngoài EUROBI khảo sát và lập dự án cho 14 doanh nghiệp liên kết xuất khẩu trực tiếp. Hiện tại một số doanh nghiệp mạnh cũng đã tiếp thị nhiều nước và cũng đã xuất khẩu trực tiếp với một tỷ lệ 10 – 20%. Tỉnh cũng hết sức quan tâm đào tạo nhân lực chất lượng cao cho việc hiện đại hóa làng nghề như đào tạo ngoại ngữ, đào tạo mỹ thuật…

Trong tương lai không xa, làng nghề gốm đỏ Vĩnh Long sẽ sánh vai với các làng gốm trong cả nước sẵn sàng hội nhập kinh tế quốc tế, mang nét tài hoa, mang tâm hồn Việt, mang nét văn hóa phương Đông đến với bạn bè trên thế giới.

Nguyên Ngọc – Tạp chí Bông Sen số 47

Cập nhật thông tin về hiện trạng hoạt động của làng nghề gốm đỏ Vĩnh Long:

Với sự giúp đỡ của một số doanh nghiệp ở Đồng Nai và Bình Dương, vào đầu thập niên 1990, một số doanh nghiệp ở Vĩnh Long đã nghiên cứu sản xuất gốm đỏ được nung trong lò gạch truyền thống và đã cho ra lò những sản phẩm gốm nung mang tính đặc trưng. Ông Hồ Văn Vàng, chủ tịch Hội nghề gốm Vĩnh Long, cho biết: “Nghề sản xuất gốm ở Vĩnh Long chính thức hình thành từ năm 1993 nhưng chỉ “nổi đình nổi đám” từ 1997 đến nay! Thấy vậy, năm 2002, địa phương đã thành lập Hội nghề gốm mỹ nghệ xuất khẩu Vĩnh Long để phát triển sản phẩm làng nghề”.

Làng nghề đã góp phần vào việc chuyển dịch kinh tế mạnh mẽ ở hai huyện Măng Thít và Long Hồ từ thuần nông sang kinh tế công nghiệp. Sản phẩm gốm địa phương đã từng tham gia trưng bày tại Hội chợ triển lãm quốc tế tại Đức năm 2005, với các mẫu bình hoa in hình trống đồng Ngọc Lũ, Hai Bà Trưng cưỡi voi ra trận.

Ít nhất 20 doanh nghiệp gốm đã có trang web riêng và đang nhắm vào thị trường Mỹ, Pháp, Canada, Đài Loan, Hồng Kông… Năm 2005, làng gốm mỹ nghệ sản xuất trên 3 triệu sản phẩm, đạt kim ngạch xuất khẩu hơn 10 triệu USD, tăng gấp ba lần so với năm 2002. Năm 2006 – 2007, Vĩnh Long có trên 120 doanh nghiệp với gần 2.000 lò, mỗi năm đạt trên 4,5 triệu sản phẩm, trị giá trên 400 tỷ đồng, chiếm hơn 20% sản lượng công nghiệp toàn tỉnh; giải quyết việc làm cho hơn 23.000 lao động.

Nhưng tính đến đầu tháng 3/2009, Vĩnh Long có 3 doanh nghiệp sản xuất gốm tạm ngưng hoạt động, 1 doanh nghiệp giải thể và 5 doanh nghiệp chuyển qua sản xuất gạch. Làng nghề hiện còn khoảng 40 cơ sở hoạt động cầm chừng.

Năm 2009, dự đoán ngành gốm tiếp tục gặp khó khăn, sản lượng xuất khẩu giảm 20 – 30%. Ông Lê Văn Hiền, chủ doanh nghiệp tư nhân Đức Hiền (Măng Thít) cho biết năm 2008 cơ sở của ông chỉ sản xuất đạt giá trị khoảng 150 triệu đồng.

Nhiều chủ doanh nghiệp tư nhân cũng than gặp khó khăn do thiếu vốn, nợ chậm trả. Trong khi đó tiền chất đốt, nguyên liệu đất sét, nhân công… đều tăng. Thất vọng hơn nữa là sản phẩm làm ra chỉ bán lai rai, nhân công bỏ đi hết…

Để tăng sản lượng và chất lượng sản phẩm, các cơ sở sản xuất đang tổ chức nhiều lớp dạy kỹ thuật cắt đất, in khuôn, vẽ hoa văn và tạo thế cạnh tranh sản phẩm trên thị trường.

( nguồn Khoa Học Phổ Thông tháng 03/2009)


MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »