Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘Gốm sản xuất ở miền Đông Nam Bộ’ Category

Lò lu Đại Hưng

Ông Tám Giang bên những chiếc lu tmới sản xuất

Ông Tám Giang bên những chiếc lu tmới sản xuất

Thủ Dầu Một – Bình Dương với lịch sử hơn 300 năm hình thành và phát triển; với những ngành nghề thủ công truyền thống khá nổi tiếng cả trong và ngoài nước như sơn mài, điêu khắc và gốm sứ. Trong đó nghề gốm cũng đã du nhập đến vùng đất này khá lâu đời đã. Hiện nay ngành gốm sứ đã phát triển một cách mạnh mẽ và có một chỗ đứng vững chắc trong sự phát triển kinh tế của tỉnh trong những năm gần đây. Hầu hết nghề thủ công truyền thống làm gốm ở Bình Dương nói riêng và khu vực Nam bộ nói chung đều có nguồn gốc khá lâu đời, phần lớn do những người Trung Hoa di cư thế kỷ XVll – XVlll, đến vùng đất này sinh cơ lập nghiệp. Lò lu Đại Hưng thuộc ấp 1, xã Tương Bình Hiệp, TX.TDM, tỉnh Bình Dương cũng là một trong các lò lu như thế.

Lúc đầu lò được làm theo kiểu lò ống (hiện vẫn còn nhưng không sử dụng nung được) nằm ở phía trên lò lu hiện tại. Sau đó được làm lại phần lò bao như ngày nay, khi đó lò chỉ được lợp bằng tre và lá dừa nước lẩy ở sông Sài Gòn, cũng không ngoại lệ. Ong chủ đầu tiên sáng lập nên lò lu này là một người Hoa tên gọi là chú Ngâu, ông là người Quảng Đông – Trung Quốc. Khi đó hàng làm ra chủ yếu là các loại lu khạp, hủ… Đến khi ông Ngâu chết lò được sang lại cho ông Tư Ti ở Sài Gòn – Chợ Lớn, khi ông Tư Ti chết thì lò được sang lại cho một người Hoa khác có tên là Lầm, người quản lý lò cho ông Lầm cũng là một người Hoa. Nguyên liệu chính để làm ra những sản phẩm lu – khạp… lúc bấy giở, thường được lấy ba hoặc bốn loại đất như: đất đen, đất cát, đất lá bài và bùn dưới sông Sài Gòn trộn lẫn với nhau, cho vào hầm xay sẵn rồi đạp cho nhuyễn. Phương tiện chủ yếu để vận chuyển nguyên liệu là xe bò. Thành phẩm làm ra được các thương lái ở Sài Gòn mua lại, rồi bán về các tỉnh miền Tây Nam bộ và các vùng phụ cận, vận chuyển sản phẩm bằng ghe theo sông Sài Gòn xuôi về khắp nơi. Hiện tại, lò lu đã sản xuất nhiều mặt hàng gốm, sành rất đa dạng về mẫu mã và màu sắc. Đặc biệt, lò vẫn giữ nét thủ công truyền thống của nghề làm gốm, chủ yếu tạo sản phẩm bằng thủ công, màu sắc sản phẩm cổ điển, nguyên vật liệu của địa phương, chất đốt bằng củi, chưa sử dụng kỹ thuật, máy móc hiện đại Loại hình sản phẩm truyền thống là lu, khạp, vại, chậu… với kích thước đa dạng. Sản phẩm được xuất đi khắp nơi trong nước và xuất khẩu sang thị trường Campuchia…

Lò được xây hoàn toàn bằng gạch sống (gạch chưa nung), phơi khô sau đó đem vào xây lò và được trét bằng đất sét. Sau một thời gian lò được đốt thì lớp đất sét và phần gạch sống này sẽ trở nên rất chắc chắn. Sở dĩ người ta không dùng xi măng vì nó sẽ bị cháy hoặc nổ trong quá trình đốt lâu dài. Lò chính được xây theo kiểu lò Bao, các bao rộng từ 2,5 – 3m cao từ 2,6 – 2,8m, với tổng cộng 15 bao nối liền nhau từ thấp đến cao nhìn như những vỏ sò nằm nối tiếp nhau, cái nọ sát cái kia. Căn đầu tiên (Bao đầu tiên) được gọi là căn mồi lửa, căn này có cửa cao khoảng 1 ,5m và rộng 1m, riêng ở bên hông các căn còn lại đều có 2 cửa hai bên rộng khoảng O,8m cao 1,2m các cửa này dùng để đưa sản phẩm vào lò và lấy sản phẩm ra sau khi đã nung chín. Sau khi đưa sản phẩm vào lò các công nhân sẽ dùng gạch bít kín các cửa này lại, chỉ chừa lại một ô nhỏ phía trên hình chữ nhật rộng khoảng 15cm, dài 30cm những ô này để cho người thợ chụm củi quan sát lửa trong bao, xem độ nóng trong lò đã đủ chưa và đạt đến độ chín cần thiết hay không. Các ô này còn được gọi là nhãn lò ”Mắt lò thường thì các bao lớn ở phía trước của lò chủ yếu để nung các loại lu lớn và nhỏ, lu lớn có thể xếp được 2 tầng với 3 hàng khoảng 40 chiếc, các bao nhỏ ở phía sau chủ yếu là xếp khạp và hủ, các bao nhỏ này có thể xếp được khoảng 200 khạp lớn và 100 khạp nhỏ. Thông thường thì đốt liên tục khoảng 6 giờ thì sản phẩm sẽ chín, nhưng có khi cũng chỉ khoảng 4 giờ là được, chủ yếu là do con mắt tinh tế của người nghệ nhân.

Nguyên liệu chủ đạo là đất sét, nhưng phải là loại đất có pha cát, sỏi không phải là loại đất dẻo. Phần nguyên liệu này chủ yếuđược lấy từ Dầu Tiếng, Tân Uyên… Khi mới được đưa về được đổ các bãi ngoài trời trước khi đưa vào nghiền. Đất được để ngoài trời càng lâu thì càng tốt. Vì khi để ở ngoài trời, dưới tác động của thời tiết mưa nắng, đất bắt đầu có sự phân rã sẽ làm cho chất phèn trong đất dần dần chảy hết ra ngoài. Đất sẽ được cho vào máy xay cho nhuyễn và loại hết các loại tạp chất, đem ngâm trong bể khuấy đều và đạp bằng chân cho đất thật nhuyễn, thật đều các nguyên liệu với nhau, rồi đất được vớt lên để khoảng 2 giờ thì cho vào máy ép cho nhuyễn, cũng như làm cho đất sét đặc lại không còn không khí bên trong. Các sản phẩm ở đây chủ yếu là lu và khạp. Trong đó lu nhất là lớn nhất có thể đựng tới 200 lít nước. Hoa văn trang trí trên sản phẩm thường là hình rồng, phụng được đắp nổi. Khạp là lại sản phẩm cũng dùng chủ yếu là đựng nước, nhưng nhỏ hơn lu, lu và khạp có màu chủ yếu là vàng da bò, da lươn. Đây là loại men chủ yếu dùng cho hai loại sản phẩm này.

lò lu Đại Hưng 01

Hiện nay, theo ông Bùi Văn Giang là người trực tiếp sản xuất ra các sản phẩm này thì trong những năm gần đây, các loại lu lớn, nhỏ cũng được các thương lái từ TP.HCM và các tỉnh miền Tây Nam bộ đặt hàng. Sau đó, một phần cũng tiêu thụ trong nước chủ yếu là các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long Thị trường nước ngoài chủ yếu và duy nhất của lò này thị trường Campuchia, các thương lái buôn Việt Nam và Campuchia sau khi mua các sản phẩm tại đây thì cho thuyền ngược theo sông Sài Gòn để qua Campuchia tiêu thụ, các sản phẩm được thị trường này chấp nhận là các loại lu lớn (lu nhất).

Là một trong những lò lu còn khá nguyên vẹn, đã hình thành tồn tại và phát triển qua hàng trăm năm trên vùng đất Thủ Dầu Một – Bình Dương. Bảo quản và giữ gìn được lò lu này, nhằm giáo dục cho thế hệ hôm nay và mai sau về một nghề thủ công truyền thống, đóng góp và có nhiều ý nghĩa trong đời sống, mà còn thể hiện tính nhân văn. Giữ gìn được nét văn hóa đặc trưng của nghề gốm – một trong các nghề thủ công truyền thống ở Bình Dương. Ngày nay, khoa học kỹ thuật tiến bộ từng ngày, những lò lu gốm thủ công này có thể dần dần sẽ bị biến mất và thay thế vào đó là những công nghệ, kỹ thuật tiên tiến hơn. Vì vậy, gìn giữ và bảo quản được di tích này sẽ góp một phần không nhỏ trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa của địa phương, trong hành trình của lịch sử dân tộc, đang bước vào thời kỳ mới.

Lò lu Đại Hưng đã được xếp hạng Di tích cấp tỉnh theo Quyết định số 4815/QĐ-UBND ngày 3-10-2006 của UBND tỉnh Bình Dương.

(Ban Quản lý Di tích lịch sử Binh Dương)

MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN


Advertisements

Read Full Post »

Vẽ đẹp gốm Cây Mai – cập nhật thêm thông tin mới

1

Trong dòng gốm Sài Gòn xưa, gốm Cây Mai nổi lên như một hiện tượng của Sài Gòn – Chợ Lớn xứ Nam kỳ những năm cuối thế kỷ 19. Đây là một dòng gốm mỹ thuật do các nghệ nhân người Hoa của Chợ Lớn chế tạo.

Tên gọi gốm Cây Mai trong xóm Lò Gốm bắt nguồn từ địa danh Đồn Cây Mai (nay là góc đường Hùng Vương – Nguyễn Thị Nhỏ), một trong nhiều khu lò của gốm Sài Gòn xưa chuyên sản xuất từ các vật dụng sinh hoạt đến các sản phẩm phục vụ nhu cầu trang trí.

Những hiệu lò nổi tiếng

2
Gốm mỹ thuật Cây Mai, xưa đến nay luôn là mục tiêu săn lùng của giới đam mê cổ ngoạn – những người yêu thích vẻ đẹp gốm mỹ thuật tráng men Đề ngạn/ Mai khư của Sài Gòn xưa

Nói về gốm Cây Mai, xin tạm chia thành hai dòng phổ biến: một dòng chuyên sản xuất các đồ gia dụng gồm muỗng, chén, ấm trà, bình rượu, thố, siêu, nồi có tay cầm, chậu (việm hay còn gọi là vịm), hũ, ống nhổ, thạp, lu… Những tên lò thuộc dòng này có thể kể đến như Cây Keo, Hưng Lợi (qua các hiện vật khai thác được).

Đến cuối thế kỷ 19, xuất hiện thêm nhu cầu sản phẩm vừa mang tính hiện đại (Âu – Tây) vừa đáp ứng chất lượng và mỹ thuật của người tiêu dùng. Dòng gốm Cây Mai tiến thêm một bậc là cho ra đời sản phẩm dùng trang trí đình chùa, đền miếu, nhà ở… Những vật phẩm cao cấp này giúp định danh gốm Cây Mai trong dòng gốm Sài Gòn xưa như một tuyệt đỉnh về kỹ thuật làm gốm mỹ thuật do những nghệ nhân người Hoa ở Chợ Lớn tác tạo.

3

Những tên lò thuộc dòng gốm mỹ thuật Cây Mai được biết đến qua những hiện vật hiếm hoi (chủ yếu là tượng trang trí, tượng thờ) cho thấy rõ tên tuổi và được lưu giữ tại các đình chùa trong khu vực Chợ Lớn và rải rác trong các đình chùa, nhà dân ở khắp vùng Nam kỳ. Có thể kể đến những tên quen thuộc như lò Đồng Hoà, Bửu Nguyên, Mai Sơn… Các sản phẩm gốm phủ men độc đáo, thoạt nhìn rất thô mộc, đơn giản, nhưng ẩn chứa nét công phu trong chế tác, chuẩn mực trong tạo hình, kỹ lưỡng trong chấm men, hài hoà trong bố cục tổng thể. Mỗi sản phẩm như thế là một tuyệt tác mỹ thuật, đại diện cho một dòng gốm đặc trưng của Sài Gòn xưa trong bản đồ gốm Việt.

Vẻ đẹp gốm Cây Mai

Mỹ thuật trong gốm Cây Mai được lột tả bằng kỹ thuật phủ men. Theo giới kỹ thuật gốm sứ, bảng màu men của gốm Cây Mai không phong phú, thậm chí nghèo nàn, gồm những màu như xanh cobalt, xanh lục đậu, xanh ve chai, nâu, đen, trắng, vàng, đỏ. Thế nhưng, khi kết hợp cùng các sản phẩm được tạo ra từ chất liệu đất có màu vàng, rất mềm và mịn ở vùng Đồn Cây Mai, các màu men đã góp phần tạo nên “chiếc áo” mỹ thuật hoàn hảo và bền mãi với thời gian.

Theo tài liệu nghiên cứu của Huỳnh Ngọc Trảng, lò Cây Mai sản xuất đồ sành mỗi năm ra lò 1.000 lu lớn đựng nước, 250.000 sản phẩm đủ loại khác và 150.000 bình đựng thuốc phiện. Lò Cây Mai được khen thưởng một huy chương bạc tại cuộc triển lãm 1880 tại Nam kỳ

Những sản phẩm tiêu biểu của dòng gốm Cây Mai phủ men nay vẫn còn khá nhiều, như các loại đôn, chậu cảnh, với kỹ thuật tạo hình bằng bàn xoay và trang trí trên thân chậu bằng các hoạ tiết được in khuôn, cắt dán, đắp theo lối phù điêu. Đặc biệt là kỹ thuật chạm lộng, khắc chìm tô men ở các loại đôn kê chậu kiểng ngoài sân vườn. Lối chạm lủng, đắp nổi, phủ men ở các thể loại đôn tròn, đôn lục giác, bát giác được xem là một tiền đề sau này của dòng gốm Biên Hoà. Bà hiệu trưởng Balick (người Pháp), người sáng lập ra trường Mỹ nghệ Biên Hoà – đã tạo nên dòng gốm Biên Hoà xưa (cũng với kỹ thuật khắc chìm tô men) bằng cách pha trộn hài hoà giữa gốm Sài Gòn (mà đại diện tiêu biểu là gốm Cây Mai) và dòng gốm Limoges của Pháp. 4

Ở các đình chùa của người Hoa trong Chợ Lớn, rất dễ thấy những hiện vật của gốm Cây Mai, các loại tượng, tiếu tượng, linh vật… ngự trên nóc đình chùa, tượng trong gian thờ. Một sản phẩm đặc biệt và độc bản của gốm Cây Mai nay còn nguyên vẹn là tấm Chiếu Bích Cửu Long nằm chính diện Chùa Bà (đường Nguyễn Trãi). Tác phẩm gồm 25 miếng ghép thể hiện 9 con rồng ẩn hiện trong mây rất sinh động và ấn tượng.

Những hiện vật gốm Cây Mai còn khá nhiều trong dân gian ở Nam kỳ gồm muỗng, bình, bát, chén, lu, hũ, bình rượu với các ký tự chữ Hán thường gặp như: Hưng Lợi diêu, Việt Lợi, Kim Ngọc, Chấn Hoa xuất phẩm, Nhất phiến băng tâm, Khách lai đương tửu, Vạn ứng dược tửu, Song hỷ… Chính sự biến đổi quá sớm của thị trường đã khiến gốm Cây Mai thất truyền từ những năm đầu thế kỷ 20. Các thợ gốm Cây Mai tản mác về Lái Thiêu, Biên Hoà, lập lò gốm, tạo ra những dòng gốm tráng men Lái Thiêu đặc trưng với các lò của người Tiều, người Quảng, hay dòng gốm Biên Hoà đặc trưng với màu men xanh đồng trổ bông, cũng đã khẳng định được tên tuổi và vẻ đẹp trong bản đồ gốm sứ Việt Nam.

Gốm mỹ thuật Cây Mai, từ xưa đến nay, luôn là mục tiêu săn lùng của giới đam mê cổ ngoạn – những người yêu thích vẻ đẹp gốm mỹ thuật tráng men Đề ngạn/Mai khư của Sài Gòn xưa.

8Những sản phẩm tiêu biểu của dòng gốm Cây Mai phủ men nay vẫn còn lại khá nhiều như các loại đôn, chậu cảnh, với kỹ thuật tạo hình bằng bàn xoay và trang trí bên thân chậu bằng các hoạ tiết được in khuôn, cắt dán, đắp theo lối phù điêu

6

Hiệu lò Đồng Hoà diêu tạo
5
Hiệu lò Chợ Rẫy Mai Sơn
7
Những hoạ tiết đắp chạm công phu

Lam Phong

07 miếng gốm Cây Mai của nhà sưu tập Bạch Liên (Phú Nhuận – Tp Hồ chí Minh)

Theo nhà sưu tập thuật lại thì cách đây 04 năm, chị đã may mắn mua được bộ gốm 07 miếng ( mô đun lắp ghép  trang trí  bằng gốm ) này của một chùa Hoa cổ trên đường Trần Văn Kiều quận 5. Chùa bị giải tỏa để làm đường, nên chùa bán bộ gốm ngoài trời này để lấy tiền xây chùa mới (tiền đền bù đủ xây lại một chùa cũ nhưng họ muốn làm lớn hơn nên thiếu tiền). Dự án Đông -Tây vô tình đã đưa 7 mảnh gốm Cây Mai tuyệt mỹ này hữu duyên cùng chị.

Những bức hình dưới đây được chụp hơi nghiệp dư nên không phản ánh đúng sắc độ của men như thực tế tôi  đã quan sát là còn đẹp hơn rất nhiều.

large_gal_4a1245cacfd42

large_gal_4a1245e7eab2a

large_gal_4a1246ac095bd

large_gal_4a1246bfc46b9

large_gal_4a12467aea852

large_gal_4a124591e694b

large_gal_4a124664c5d1d

large_gal_4a1246078f6ab

large_gal_4a1246920580a


MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN


C


Read Full Post »

Gốm Bình Dương – Chi tiết các giai đoạn phát triển

Nội dung 100 trang PDF – NGHỀ GỐM Ở BÌNH DƯƠNG TỪ CUỐI THẾ KỶ XIX ĐẾN NĂM 1975 là luận văn Thạc Sĩ khoa học Lịch Sử  của Nguyễn Văn Thủy từ nguồn Hội Khoa Học Lịch Sử Bình Dương

bao gồm các mục lục đáng quan tâm khi sưu tầm gốm sứ:

NGHỀ GỐM BÌNH DƯƠNG – CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN

1. Khởi nguồn

1.1 Gốm thời tiền – sơ sử

1.2 Nguồn gốc ra đời của gốm sứ Bình Dương

2. Nghề gốm ở Bình Dương từ thế kỷ  XIX đến năm 1954

2.1 Vùng phân bố các lò gốm

2.2 Kỷ thuật truyền thống của gốm sứ Bình Dương

2.2.1 Nguyên liệu

2.2.2 Xữ lý nguyên liệu

2.2.3 Tạo dáng sản phẩm

2.2.4 Mỹ thuật trên gốm

2.3. Nung sản phẩm

2.3.1 Kỹ thuật xây lò ống

2.3.2 Kỹ thuật xây lò bao (lò bầu)

2.4 Các loại sản phẩm gốm sứ  Bình Dương

2. 5 Thị Trường

2.5.1 Thị trường trong nước

2.5.2 Thị trường nước ngoài

3. Nghề gốm ở Bình Dương giai đoạn 1954 – 1975

3.1 Vùng phân bố

3.2 Kỷ thuật truyền thống

3.2.1 Về nguyên liệu và sự phát triển ở khâu nguyên liệu trong sản xuất gốm sứ

3.2.2 Tạo dáng sản phẩm

3.2.3 Mỹ thuật trên gốm

3.3 Nung sản phẩm

3.4 Các loại hình sản phẩm

3.5 Thị trường gốm Bình Dương

3.5.1 Thị trường trong nước

3.5.2 Thị trường nước ngoài

Để download bài khảo cứu này click trên đường dẫn bên dưới đây:

nghe1bb81-ge1bb91m-binh-dc6b0c6a1ng-cac-giai-doe1baa1n-phat-trie1bb83n

MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Gốm sứ Bình Dương ngày nay

Cùng với các làng nghề gốm sứ Bát tràng, Tràng An, Biên Hoà… gốm sứ Bình Dương cũng nổi tiếng trong và ngoài nước. Bình Dương hiện có gần 200 cơ sở làm nghề gốm sứ ở xã Thuận Giao, huyện Thuận An, huyện Tân Uyên… Tuy nhiên, gốm sứ Bình Dương đang tồn tại 2 thái cực trái ngược nhau. Một bên là hàng trăm cơ sổ gốm sứ truyền thống với các lò nung bằng củi, than đá, sản xuất theo phương pháp thủ công. Một bên, đại diện là gốm sứ Minh Long, với những ứng dụng máy móc,  dây chuyền sản xuất hiện đại.

Việc bảo tồn một ngành nghề truyền thống và việc ứng dụng khoa học kỹ thuật tân thời để đưa gốm sứ Bình Dương vươn ra thị trường quốc tế cũng là một bài toán nan giải.

Nhằm tôn vinh giới thiệu một trong những nghề truyền thống có từ lâu đời và nổi tiếng đặc sắc của tỉnh Bình Dương; đồng thời khẳng định vị trí, tiềm năng của nghề gốm sứ trong định hướng phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh Bình Dương hiện tại và tương lai, UBND tỉnh đang lên kế hoạch tổ chức Festival Gốm sứ 2010 vào tháng 9/2010.

Đây cũng là cơ sở, điều kiện hình thành Trung tâm bảo tồn gốm sứ Việt Nam sau này.

Cuối tuần qua, đi cùng với Sở Thông tin truyền thông khảo sát một số địa điểm để làm đề án cho “Festival gốm sứ Việt Nam – Bình Dương 2010”, PV Dân trí đã kịp ghi lại một số hình ảnh đẹp về nghề làm gốm sứ độc đáo tại địa phương này.

Về làng gốm sứ Bình Dương
Cổng của một lò gốm thủ công được trang trí bằng những sản phẩm bằng gốm sứ lỗi, hỏng.
Về làng gốm sứ Bình Dương
Quy trình làm gốm bắt đầu từ việc chọn mẫu đất.
Đất lên khuông
Mang bán thành phẩm đi phơi nắng
Lựa chọn, kiểm tra rất kỹ trước khi đưa nung.
Đưa vào lò nung
Lò nung kiểu cũ vẫn đun bằng củi, than đá.
Ra lò…
Những công nhân đang tô điểm cho những sản phẩm đã ra lò. Các làng nghề gốm sứ đã tạo công ăn việc làm cho hàng trăm lao động trong và ngoài địa phương.
Thành quả cuối cùng là những sản phẩm đẹp mê hồn…

… sẵn sàng cho những cơ hội xuất ngoại.
(Theo Dân Trí)


Read Full Post »

Gốm Lái Thiêu – Gốm gia dụng miền nam

Nhân kỷ niệm 34 năm ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất đất nước (30/04/1975 – 30/04/2009) và chào mừng ngày Quốc tế lao động 1/5. Bảo tàng Mỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh phối hợp với các nhà sưu tập cá nhân giới thiệu trưng bày chuyên đề: “Gốm Lái Thiêu – Gốm gia dụng miền Nam

Gốm Lái Thiêu” là cách gọi phổ biến (đã định danh) để chỉ chung các loại sản phẩm gốm được sản xuất từ các làng nghề ở đất Thủ Dầu Một xưa, nay là tỉnh Bình Dương gồm có: Lái Thiêu, Chòm Sao/Hưng Định (huyện Thuận An), Bà Lụa/Chánh Nghĩa (thị xã Thủ Dầu Một), Tân Khánh (Tân Uyên)…

Từ cuối thế kỷ XIX đến cuối thế kỷ XX, Lái Thiêu đã là nơi tập trung và phân phối sản phẩm gốm đi tứ xứ qua phương tiện vận tải đường sông và đường bộ. Vì vậy, tên gọi “Gốm Lái Thiêu” được nổi danh khắp cả hai miền Nam, Trung và sang cả vùng Cambodia và một số nước khu vực Đông Nam Á.

Đây là lý do, cũng là dịp để Bảo tàng Mỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh và các nhà sưu tập yêu sản phẩm “Gốm Lái Thiêu” góp phần thiết thực vào hoạt động phục vụ nhiệm vụ chính trị cũng như bảo tồn những giá trị di sản văn hóa dân tộc.

Trưng bày diễn ra từ ngày 28/04/2009 đến ngày 25/05/2009 tại Bảo tàng Mỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh, chuyên đề sẽ đáp ứng một phần nào về đời sống tinh thần của người dân cũng như đáp ứng nhu cầu thưởng ngoạn, nghiên cứu của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu sưu tầm về sản phẩm “Gốm Lái Thiêu” vang danh “Gốm gia dụng miền Nam” như một câu ca dao cổ xưa:

“Chiều chiều mượn ngựa ông Đô,

Mượn ba chú lính đưa Cô tôi về

Đưa về chợ Thủ: bán hũ, bán ve,

Bán bộ đồ chè, bán cối đâm tiêu”


* MỤC LỤC – TIN TỨC THỜI SỰ NGÀNH GỐM 

MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN



Read Full Post »

Gốm Sài Gòn xưa – tư liệu khảo cổ

Kể từ mùa xuân Mậu Dần 1698 khi Lễ Thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh được Chúa Nguyễn Phúc Chu cử vào nam kinh lược, ” lấy đất Nông Nại làm phủ Gia Định, lập xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long, dựng dinh Trấn Biên, lập xứ Sài Gòn…” đến nay đã hơn 300 năm. Ba trăm năm với bao biến cố thăng trầm, dấu tích của Sài Gòn xưa đã dần nhạt phai dưới lớp bụi thời gian. “Vật đổi sao dời”, đây đó còn lưu lại một vài ngôi đình, chùa miếu, lăng mộ … đã qua sửa chữa tu bổ nhiều lần dù có làm mất dần nét cổ kính nhưng phần nào còn thể hiện sự lưu tâm gìn giữ. Lần theo sử sách và một vài dấu tích, chúng tôi đi tìm lại một “Sài Gòn Xưa” lâu nay chưa được nhiều người biết đến. Đó là một làng nghề nổi tiếng đã từng góp phần cho sự phát triển của vùng đất này: Xóm Lò gốm.
Là trung tâm của lưu vực Đồng nai rộng lớn và trù phú, Sài Gòn – Bến Nghé ngay từ khi mới hình thành đã sớm mang dáng vẻ của một đô thị sôi động bởi hoạt động thương nghiệp và sản xuất của nhiều ngành nghề thủ công. Khoảng cuối TK XVIII tại đây đã có 62 ty thợ do nhà nước quản lý và hàng trăm phường thợ trong dân gian. Nhiều ngành nghề tập trung trong các khu vực nhất định để rồi xuất hiện những địa danh như Xóm Chiếu, xóm Cốm, xóm Lò Rèn, xóm Dầu, xóm Chỉ, xóm Vôi, xóm Bột… riêng xóm Lò Gốm vẫn còn để lại một số địa danh như đường Lò Gốm – đường Lò Siêu – đường Xóm đất – bến Lò gốm – rạch Lò gốm – kênh Lò gốm – khu lò lu… thuộc khu vực quận 6,8,11 ngày nay. Sử liệu sớm nhất nói đến nghề làm gốm ở Sài Gòn xưa là sách “Gia Định thành thông chí” của Trịnh Hoài Đức viết khoảng năm 1820. Đoạn viết về Mã trường Giang-kênh Ruột Ngựa như sau: “Nguyên xưa từ cửa Rạch Cát ra phía Bắc đến Lò Gốm có một đường nước đọng móng trâu, ghe thuyền không đi lại được.Mùa thu năm Nhâm Thìn (1772) cho đào con kênh thẳng như ruột ngựa nên mới đặt ra tên ấy…”. Kênh Ruột Ngựa đã giúp cho ghe thuyền đi lại giữa Sài Gòn với miền Tây thêm thuận lợi. Bản đồ Thành Gia Định do Trần Văn Học vẽ từ cuối năm 1815 đã có ghi địa danh Xóm Lò Gốm ở khoảng làng Phú Lâm- Phú Định (ngày nay là khu vực quận 6 tiếp giáp quận 8). Bài “Phú cổ Gia Định phong cảnh vịnh” sáng tác khoảng đầu TK XIX miêu tả “Lạ lùng xóm Lò Gốm, chân vò vò bàn cổ xây trời…”. Trong 62 ty thợ tập trung tại Sài Gòn làm việc cho nhà nước vào cuối TKXVIII đã có các ty thợ Lò chum, ngói mộc, gạch mộc, lò gạch…

Một vài tài liệu của Pháp, tuy tản mạn và có phần phiến diện, cũng phản ánh về việc sản xuất gốm ở Chợ Lớn vào cuối TK XIX: Tại Chợ Lớn có khoảng 30 lò gốm tập trung ở Hòa Lục, Phú Định, Cây Mai… vùng Chợ Lớn sản xuất lu và các đồ gốm thông dụng như chậu vịm, siêu ấm, nồi trách, hũ khạp, cà ràng… vùng Cây Mai có một lò sản xuất đồ sành. Các lò này lấy nguyên liệu tại chỗ, tuỳ chất đất mà sản xuất thành các loại sản phẩm. Mỗi lò gốm hàng năm có thể sản xuất hàng trăm ngàn sản phẩm. Đến đầu TK XX vẫn còn nhiều lò gốm nổi tiếng như lò Tín Di Hưng, Quảng Di Thành, Hiệp Hưng, Bửu Nguyên, Đồng Hòa, các lò chuyên sản xuất lu, khạp và đồ gia dụng…Theo Vương Hồng Sển thì : “Từ khi lấp rạch Chợ Lớn thì rạch Lò gốm, kinh Vòng Thành không thông thương và lò gốm chỉ còn sót lại cái tên trơn và không sản xuất đồ gốm nữa…”.
Từ những tư liệu lịch sử trên và qua khảo sát thực tế có thể nhận biết địa bàn xóm Lò Gốm xưa khá rộng, gồm các làng Hòa Lục (quận 8), Phú Định-Phú Lâm (quận 6), Phú Giáo-Gò Cây Mai (quận 11) trải dài đôi bờ kênh Ruột Ngựa, kênh-rạch Lò Gốm. Những con kênh này là tuyến đường giao thông chính của khu vực Sài Gòn cũ-nay là Chợ Lớn: một vùng thấp trũng chằng chịt kênh rạch lớn nhỏ, mọi sự đi lại đều dùng ghe xuồng. Kênh Ruột Ngựa và rạch Lò Gốm còn nối liền rạch Chợ Lớn với rạch Cát (Sa Giang)và rạch Bến Nghé. Từ ngã ba “Nhà Bè nước chảy chia hai” xuồng ghe theo rạch Bến Nghé và kênh Tàu Hũ qua kênh Ruột Ngựa ra sông Cát về miền Tây. Ngày nay rạch Chợ Lớn không còn nữa, nhiều đoạn rạch Lò Gốm biến mất – nhất là khu vực Gò Cây Mai hầu như không còn dấu tích con đường thuỷ quan trọng này. Kênh Ruột Ngựa không còn thẳng như tên gọi do bị bồi lấp lấn chiếm hai bên bờ. Kênh Lò Gốm ngày càng cạn hẹp dù đã nạo vét nhiều lần… Tuy nhiên ghe xuồng vẫn theo con nước mà xuôi ngược, dù nơi đây đã phát triển hệ thống đường bộ chằng chịt như mạng nhện, dù các làng nghề-phố nghề ven kênh rạch không còn nữa… đủ biết trước đây trước đây tuyến đường thủy này quan trọng như thế nào.

Dấu tích vật chất của xóm Lò Gốm ngày xưa nay chỉ còn lại di tích lò gốm Hưng Lợi thuộc làng Hòa Lục (phường 16 quận 8), nằm ven kênh Ruột Ngựa. Đối diện là làng Phú Định cách đây vài năm còn một số gia đình làm nghề “nặn ông lò” – bếp gốm. Di tích là gò lớn chứa đầy mảnh gốm của các loại lu, khạp, siêu, chậu… Cuộc khai quật năm 1997-1998 đã tìm thấy tại đây phế tích 3 lò gốm kiểu lò ống (lò Tàu) là loại lò thông từ bầu lửa đến ống khói, dốc và hẹp, nền lò được gia cố nhiều lần, thành lò đắp dày bằng phế phẩm. Các đoạn vách lò còn lại được xây bằng loại gạch lớn chảy men dày, lòng lò chứa đầy mảnh sản phẩm mà qua đo có thể nhận biết một số loại sản phẩm đặc trưng của lò Hưng Lợi. Ba lò gốm này sản xuất nối tiếp nhau trong một thời gian khá dài nhưng có thể không liên tục vì lò gốm của giai đoạn sau được xây trên một phần lò cũ hoặc sửa chữa gia cố lại lò cũ.

Giai đoạn đầu khu lò này chủ yếu sản xuất lu chứa nước bằng chất liệu sành nâu, dáng thuôn vào đáy hoặc bầu tròn, kích thước khá lớn: thường được gọi là “lu 3 đôi” hay “lu 5 đôi” ( mỗi đôi nước-2 thùng- khoảng 40 lít nước). Lu gốm làm bằng phương pháp nặn tay bằng “dải cuộn kết hợp bàn dập, bàn xoa” nên độ dày và dáng tròn đều, bên trong vành miệng lu còn dấu ngón tay để lại khi dùng tay vuốt cho vành miệng tròn và gắn chặt vào thân lu. Trong số hàng ngàn mảnh lu thống kê được thì mảnh nắp chiếm đến gần 2/3, cho biết nắp được sản xuất nhiều hơn để đáp ứng nhu cầu vì nắp hay bị vỡ hỏng khi sử dụng. Do mảnh lu, nắp lu nhiều nên khu lò này còn được gọi là Lò Lu. Lò sản xuất lu đựng nước có niên đại sớm nhất ở khu lò này, khoảng nửa sau thế kỷ XVIII. Mảnh phế phẩm của lò lu còn phân bố trên một diện rất rộng xung quanh lò, đào sâu xuống hơn 1m vẫn gặp mảnh lu gốm.

Chiếm tỷ lệ lớn nhất là mảnh các loại sản phẩm gốm và sành men nâu, men vàng hoặc không men. Đó là hũ, khạp, hộp, siêu, nồi có tay cầm… dưới đáy có in 3 chữ Hán “Hưng Lợi diêu” (lò Hưng Lợi). Bên cạnh đó là các kiểu chậu bông hình tròn hay lục giác, bát giác phủ men xanh lam hay xanh đồng – màu men đặc trưng của “Gốm Sài Gòn”. Chậu bông phần lớn có kích thước nhỏ, hoa văn in nổi trong các ô không men là hoa mai, hoa cúc hoặc tứ quý, bát tiên… Đây là sản phẩm của giai đoạn thứ hai, giai đoạn có tên lò Hưng Lợi khoảng thế kỷ XIX. Các sản phẩm này vẫn dùng kỹ thuật nặn tay nhưng có kết hợp khuôn in, chất liệu gốm sành nhẹ lửa, không sử dụng “bao nung” (hộp nung) nhưng phổ biến các loại “con kê” trong việc chồng kê sản phẩm trong lò nung. Đặc trưng là “con kê” hình ống có thể chồng lên nhau tạo nhiều độ cao thấp khác nhau nhằm tận dụng thể tích lò nung.

Giai đoạn thứ 3 ở đây sản xuất gốm sứ gồm các loại chén, tô, đĩa, ly, cốc, muỗng, ấm trà, lư hương… men trắng hoa văn men xanh và men nhiều màu, chai men trắng ngà… Sản phẩm làm bằng bàn xoay, có nhiều loại bao nung cho một hay nhiều sản phẩm. Các loại đồ gốm gia dụng tuy đơn giản về kiểu dáng nhưng có nhiều kích thước khác nhau, theo thời gian có sự khác biệt nhỏ ở chi tiết tạo dáng hay hoa văn. Một số sản phẩm có chữ Hán như Việt lợi, Kim ngọc, Chấn hoa xuất phẩm, Nhất phiến băng tâm… các chữ này không phổ biến trên sản phẩm, không có chữ Diêu kèm theo nên chắc hẳn không phải tên lò sản xuất mà rất có thể là tên của vựa gốm lớn hay cửa hàng bán đồ gốm in lên các sản phẩm mà họ đặt lò sản xuất, tức là giai đoạn này lò sản xuất theo đặt hàng cả về số lượng và từng loại sản phẩm. Tình trạng sản xuất theo sự đặt hàng của chủ hàng là người buôn bán cho biết đã có sự chuyên hóa giữa sản xuất và lưu thông hàng hóa khi nhu cầu của thị trường ngày càng đa dạng và thay đổi thường xuyên. Chất liệu làm gốm là loại đất sét tương đối trắng không có tại chỗ mà chắc phải khai thác từ miền Đông về. Dựa vào loại hình sản phẩm và tính chất sản xuất nói trên có thể nhận thấy lò gốm này có niên đại khoảng nửa đầu thế kỷ XX.

Tuy có ba giai đoạn với những loại sản phẩm đặc trưng cho từng giai đoạn nhưng kỹ thuật sản xuất ở khu lò cổ này khá thống nhất: Cấu trúc lò gốm (loại lò ống-lò tàu), kỹ thuật tạo dáng (bàn xoay, in khuôn), hoa văn, phương pháp chồng lò và nung gốm, sản phẩm của hai giai đoạn đầu (lu, khạp, siêu, nồi có tay cầm…) đều mang đậm dấu ấn kỹ thuật làm gốm của người Hoa. Theo nhiều nhà nghiên cứu, nguồn gốc của nghề làm gốm mang tính chất sản xuất hàng hóa ở Gia Định-Đồng Nai là sự kết hợp nghề gốm của lưu dân người Việt với truyền thống kỹ thuật sản xuất gốm mà người Hoa mang vào vùng đất này trong bước đường lưu lạc kiếm sống. Từ khi được các Chúa Nguyễn cho vào định cư tại Cù Lao Phố, vùng Sài Gòn (cũ) và rải rác một số nơi khác, người Hoa sinh sống chủ yếu bằng thương nghiệp và thủ công nghiệp. Tại Cù Lao Phố trên sông Đồng Nai (nay thuộc thành phố Biên Hoà) cũng có Rạch Lò Gốm, bến Miểng Sành mà qua khảo sát, các loại sản phẩm hầu như không khác biệt với sản phẩm ở khu lò gốm cổ Hưng Lợi. Các phường thợ làm gốm của người Hoa thường gồm những người “đồng hương” và chuyên sản xuất một vài loại sản phẩm: người Hẹ chuyên làm lu, khạp, hũ men nâu và men vàng ( men da lươn, da bò); người Tiều (Triều châu) chuyên làm đồ “bỏ bạch” (không men) như siêu, nồi có tay cầm…; người Quảng (Đông) chuyên làm chén, đĩa có men trắng hay men nhiều màu… Hiện nay truyền thống kỹ thuật này vẫn phổ biến ở những lò lu, lò gốm ở khu vực Quận 9-TP.HCM ( như lò Long Trường), ở Tân Vạn-TP Biên Hòa và Lái Thiệu-Bình Dương… dù các chủ lò có thể không phải là người Hoa. Cần nói thêm rằng, cho đến nay một số dân tộc ở miền Nam ( người Chăm, người Khmer…) vẫn bảo lưu kỹ thuật làm gốm cổ truyền Đông Nam Á là nặn tay, không dùng bàn xoay và nung gốm ngoài trời, sản phẩm là gốm đất nung ít có sự thay đổi về kiểu dáng, số lượng không nhiều, vì vậy sản xuất chỉ mang tính chất tự cung tự cấp.

Đối với nghề làm gốm muốn tồn tại và phát triển thì phải có vị trí thuận lợi : là nơi có hoặc gần nguồn nguyên liệu, có hệ thống đường thuỷ tiện cho việc chuyên chở hàng hóa đi nhiều nơi, gần trung tâm thương nghiệp để nắm bắt nhanh nhu cầu thị trường… Xóm Lò Gốm của Sài Gòn xưa đã có những điều kiện thuận lợi đó: nguyên liệu ở đây thích hợp cho việc sản xuất các loại gốm gia dụng và gốm xây dựng. “Nhất cận thị, nhị cận giang”, làng nghề này lại ở giữa Sài gòn – nơi tập trung nhiều phố chợ nhất miền Gia Định khi ấy: “phố xá trù mật buôn bán suốt ngày đêm, là nơi đô hội thương thuyền của các nước cho nên trăm món hàng hóa phải tụ hội nơi đây”. Nam bộ khi ấy là vùng đất đang trong quá trình khai phá nên nhu cầu về đồ gốm gia dụng rất lớn, do vậy thị trường của Xóm Lò Gốm không phải chỉ là Sài Gòn-Bến Nghé mà còn là cả miền Tây rộng lớn. Từ cuối thế kỷ XIX quá trình đô thị hóa diễn ra ở Sài Gòn-Bến Nghé và một số thị tứ ở Nam bộ, sản phẩm của Xóm Lò Gốm có thêm các loại hình mới phục vụ nhu cầu xây dựng, trang trí kiến trúc của Đình, Chùa, Hội quán, phố chợ, công sở, nhà ở… Khảo sát các di tích cổ ở nhiều tỉnh Nam bộ đều thấy phổ biến các loại gốm trang trí, thờ cúng, nhiều di tích nổi tiếng với những quần thể tượng trang trí trên mái nhà hay tượng thờ, đồ thờ trong nội thất… Khu lò gốm ở Gò Cây Mai , qua khảo sát của người Pháp cho biết, bên cạnh gốm gia dụng đã sản xuất đồ gốm mang tính mỹ thuật cao như tượng gốm trang trí, tượng thờ, đồ thờ, đồ gốm lớn như chậu kiểng, đôn… được gọi chung là Gốm Cây Mai. Khu vực Gò Cây Mai cũng chỉ là một trong nhiều khu lò của Xóm Lò Gốm ở Sài Gòn xưa. Vì vậy, chắc hẳn không chỉ có lò Cây Mai sản xuất đồ gốm trang trí mỹ nghệ mà còn có cả những khu lò khác nữa mới có thể đáp ứng nhu cầu rất lớn trong giai đoạn cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX. Vì vậy, có thể định danh các loại gốm được sản xuất ở vùng gốm Sài Gòn xưa – bao gồm nhiều khu lò, nhiều loại sản phẩm nhưng đặc sắc nhất là đồ gốm trang trí mỹ thuật – là Gốm Sài Gòn- tên gọi chỉ rõ địa bàn sản xuất một làng nghề thủ công đã từng được ghi vào sử sách và truyền tụng trong dân gian, giống như tên gọi của làng gốm Chu Đậu, Bát Tràng, Phù Lãng, Hương Canh… ở miền Bắc.

Khoảng giữa thế kỷ XX, cùng với những biến cố chính trị-xã hội, quá trình đô thị hóa nhanh chóng và mạnh mẽ theo một quy hoạch nhất định cũng là nguyên nhân quan trọng làm cho các làng nghề thủ công ở Sài Gòn- Chợ Lớn không còn điều kiện tồn tại, hoặc phải tìm điạ bàn mới để phát triển ở vùng ven ngoại thành hay xa hơn, đến các tỉnh lân cận. Đô thị hóa làm biến mất cảnh quan tự nhiên, vùng nguyên liệu không còn, kênh rạch bị lấp dần, phố xá mọc lên… Vị trí ưu đãi của một làng gốm không còn nữa, việc sản xuất không còn đáp ứng được những nhu cầu mới của thị trường mới, các lò gốm, lò gạch ngói cuối cùng của Xóm Lò Gốm ngừng sản xuất. Xóm Lò Gốm của Sài Gòn xưa phải kết thúc vai trò của mình, nhường bước cho sự phát triển của vùng gốm Biên Hoà – Lái Thiêu.
TÀI LIỆU THAM KHẢO

– Trịnh Hoài Đức – Gia Định thành thông chí. Sài Gòn, 1972.

– Huỳnh Ngọc Trảng, Nguyễn Đại Phúc – Gốm Cây Mai Sài Gòn xưa. Nhà xuất bản Trẻ,1994

– Nguyễn Thị Hậu, Đặng Văn Thắng – Kỹ thuật sản xuất của lò gốm cổ Hưng Lợi, Quận 8 TP.HCM. Tạp chí Khảo cổ học số 2/2001.

TS Nguyễn thị Hậu


MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Gốm sản xuất ở miền Đông Nam Bộ

gomsaigon

Quá trình khai phá vùng đất mới Nam Bộ từ thế kỷ XVII cho đến ngày nay cũng là quá trình hình thành một loại gốm mới ở miềm Đông Nam bộ, khác với vùng gốm Bắc bộ (gốm Chu Đậu, Bát Tràng…) và Trung bộ (Gò Sành…). Vùng phân bố của loại gốm này hiện nay nằm trong địa bàn của Thành phố Hồ Chí Minh và hai tỉnh lân cận là Đồng Nai và Bình Dương. Căn cứ vào mối liên hệ cội nguồn và quá trình phát triển của gốm ở khu vực miền Đông Nam bộ, một số nhà nghiên cứư gọi chung loại gốm sản xuất ở đây từ đầu thế kỷ XX trở về trước là gốm Sài Gòn, gồm có sản phẩm của “xóm lò gốm Sài Gòn xưa”, gốm Biên Hòa và gốm Lái Thiêu.

Xóm lò gốm Sài Gòn xưa. Trên bản đồ Phủ Gia Định do Trần Văn Học vẽ năm 1815 có ghi địa danh “Xóm Lò gốm” – một trong những làng nghề nổi tiếng của Sài Gòn xưa. Dựa vào chỉ dẫn trên bản đồ này và từ kết quả khảo sát thực địa, thì những lò gốm bấy giờ gồm các làng Phú Giáo – Gò cây Mai, làng Phú Định – Phú Lâm, làng Hòa Lục sau đó, mà ngày nay thuộc địa phận các quận 11, quận 6, quận 8. Trên địa bàn này còn có kênh – rạch mang tên Lò Gốm và những tên liên quan đến nghề làm gốm như (đường) Lò Siêu, (đường) Xóm Đất… Tên Lò Gốm này thấy trên sách Gia Định thành thông chí (1820) “Từ năm 1772 con kênh Ruột Ngựa được đào để nối liền từ Sa Giang ra phía Bắc đến Lò Gốm”. Như vậy, khu lò gốm chắc chắn đã khởi lập trước năm này, có lẽ từ đầu thế kỷ XVIII đã có những lò gốm đầu tiên sản xuất tại vùng Sài Gòn Xưa, nay là khu vực quận 6, 8, 11 (Chợ Lớn). Dấu tích còn lại là khu vực lò gốm Cây Mai và di tích lò gốm cổ Hưng Lợi (phường 16 quận 8).

Khu lò Hưng Lợi: Sản xuất từ khoảng giữa thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XX. Sản phẩm chủ yếu là đồ gia dụng. Giai đoạn đầu sản xuất lu chứa nước (nên còn có tên là Lò Lu), loại lớn khoảng 200 lít và loại nhỏ khoảng 120 lít (người dân còn gọi là lu 5 đôi nước và lu 3 đôi nước). Ngoài lu chứa nước, khu lò còn sản xuất loại hũ miệng nhỏ và chậu, vịm, chậu bông có nhiều kích thước. Giai đoạn 2, sản phẩm có in tên lò “Hưng Lợi diêu” gồm các loại đồ “bỏ bạch” (bên ngoài không tráng men) như: nồi có nắp và tay cầm (nồi lẩu), siêu nấu nước, gốm trắng mỏng, nắp dày. Bên trong nồi và siêu có tráng men nâu chống thấm. Các loại đồ gốm có men màu như: hộp có men nâu nhiều kích cỡ, nhiều chậu, hũ men nâu, men vàng. Chậu bông bằng sành hình tròn hoặc hình lục giác, lớn nhỏ nhiều kiểu có men nhiều màu, trang trí ô hoa văn “bát tiên” “tùng lộc” “mai điểu”… Giai đoạn 3 sản xuất các loại bát, đĩa, ấm, ly uống trà, chai, thìa, bình rượu, lư hương, thố có nắp… men trắng vẽ men lam; Có những chữ “Kim ngọc”, “Việt Lợi” trên muỗng, bình trà, ly nhỏ… có thể đó là tên tiệm bán đồ gốm đặt hàng.

Các loại lu, hũ, chậu thường nặn bằng tay theo phương pháp dải cuộn tròn kết hợp với bàn dập, không trang trí hoa văn, phủ men nâu hoặc vàng toàn thân. Các loại đồ gốm khác được làm bằng khuôn in và bàn xoay, hoa văn cũng được in từ khuôn và được chạm khắc lại cho sắc sảo, sau đó phủ hoặc tô men nhiều màu, thường là màu xanh đồng hay xanh lam, màu nâu hay đỏ. Loại sản phẩm men trắng vẽ hoa lam hoặc men màu đen (viết chữ trên men). Những sản phẩm này rất phổ biến trong đời sống hàng ngày của cư dân Sài Gòn và cư dân Nam Bộ xưa.

Dấu tích khu lò gốm Cây Mai nằm ở sau chùa Cây Mai. Ngày xưa từ Gò Cây Mai có con rạch nhỏ, nằm trên đường Nguyễn Thị Nhỏ chảy thông ra đường Lê Quang Sung, đổ ra cầu Cây Gõ và chảy vào rạch Lò Gốm, hiện rạch này đã bị lấp. Đây là đường vận chuyển nguyên liệu và sản phẩm gốm Cây Mai.

Sản phẩm khu lò gốm Cây Mai bao gồm loại đồ gốm thông dụng có kích cỡ lớn, loại sản phẩm có trang trí mỹ thuật, các loại ống dẫn nước và tượng bằng đất nung và đồ sành men màu. Lọai sản phẩm gốm độc đáo và đặc trưng của gốm Cây Mai sản xuất vào cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX là gốm men màu. Đây là loại gốm cao cấp có men màu khá phong phú như trắng, xanh lam, xanh lục, nâu, vàng gồm nhiều kiểu loại phục vụ cho sinh hoạt như tô, chén, dĩa, muỗng…Gốm trang trí như đôn, chậu kiểng; gốm thờ phụng tôn giáo như lư hương, bát nhang, bài vị, tượng thờ; gốm trang trí kiến trúc như long (rồng), voi, ngựa và các quần thể tiểu tượng.

Hiện nay, sản phẩm gốm Cây Mai còn có một khối lượng lớn quần thể tượng trang trí, tượng thờ, vật thờ bằng đất nung, gốm sành còn lưu giữ ở nhiều cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng dân gian và các tư gia. Trên đồ gốm Sài Gòn còn ghi những hàng chữ như năm sản xuất và chữ điếm (tiệm), diêu (lò), như : tượng Giám Trai ở chùa Giác Viên (quận 11), ở góc dưới bên phải có ghi “Đề ngạn, Nam Hưng Xương, Điếm Tố”, “Canh Thìn Trọng Đông Cát Đán Lập” (1880). Ở miếu Thiên Hậu (Quảng Triệu Hội quán – quận 1) trên quần thể tiếu tượng gốm ở phần sân miếu có những bảng gốm chữ nổi “Lương Mỹ Ngọc Điếm tạo” (tiệm Lương Mỹ Ngọc tạo), “Quang Tự Thập Tam Niên”(1887) và “Thạch Loan Mỹ Ngọc tạo” (lò Mỹ Ngọc ở Thạch Loan tạo), “Quang Tự Đinh Hợi Tuế (1887). Cũng ngay trên quần thể tiếu tượng này còn có những bảng gốm khác ghi “Đề Ngạn Bửu Nguyên Diêu tạo” (lò Bửu Nguyên ở Đề Ngạn làm), “Dân Quốc, Tân Dậu Trùng Kiến” tức trùng tu năm Tân Dậu, Trung Hoa Dân Quốc (1921). Chữ Diêu còn gặp ở một số di tích khác như ở đình Minh Hương Gia Thạnh (Quận 5), trên quần thể tiếu tượng bằng gốm có ghi “Mai Sơn, Đồng Hòa Diêu Tạo” (lò Đồng Hòa – Mai Sơn tạo), “Thiên Liên, Tân Sửu Niên Lập” (1901) hoặc ở miếu Thiên Hậu (Tuệ Thành Hội quán – quận 5) trên những quần thể tiếu tượng gốm trang trí trên nóc miếu có ghi “Bửu Nguyên Diêu Tạo”, “Mậu Thân Niên Lập” (1908); “Đồng Hòa Diêu Tạo” (lò Đồng Hòa tạo), “Quang Tự Mậu Thân”…

Có thể nhận diện gốm cổ Sài Gòn qua loại hình tiếu tượng, tượng tròn, các vật thờ trong các đình miếu, hội quán ở Nam Bộ với các sản phẩm dân dụng như: ơ, siêu, bát, bình, lu, hũ, thống có nắp, khạp có nắp, chậu tròn, chóe có quai, đôn tròn, đôn lục giác, lân, gạch trang trí hình vuông… Có thể nói gốm Sài Gòn đặc biệt phát triển vào nửa sau thế kỷ XIX đến giữa thế kỷ XX, sản phẩm gốm được sử dụng không những ở Nam Bộ mà còn được ưa chuộng ở khắp mọi miền đất nước.

Truyền thống kỹ thuật – nghệ thuật của “Gốm cổ Sài Gòn” mới được khảo cổ học kiểm chứng qua phát hiện tại lò gốm cổ Hưng Lợi và các khu vực làm gốm mà hiện nay chỉ sản xuất loại bếp lò (ông kiềng) ở quận 6. Kỹ thuật làm gốm thể hiện truyền thống sản xuất gốm Trung Hoa. Kỹ thuật này hiện còn được lưu truyền tại các cơ sở lò gốm ở Quận 9 (TPHCM), Lái Thiêu, Thủ Dầu Một (Bình Dương) và Biên Hòa.

Gốm Biên Hòa . Từ cuối thế kỷ XIX, các nghệ nhân gốm Cây Mai, kể cả những chủ lò lần lượt chuyển về vùng Biên Hòa, Lái Thiêu. Một số nghệ nhân lão luyện đã có mặt ở trường Mỹ nghệ Biên Hòa, thành lập vào năm 1903. Dần dần gốm Biên Hòa trở nên nổi tiếng . Đặc trưng của loại gốm này là kết hợp gốm Trung Quốc, gốm Việt Nam và gốm Limoge của Pháp với sự tham gia của bà Balik cùng một số nghệ nhân từ miền Bắc vào. Gốm Biên Hòa thiên về trang trí hoa văn dày đặc bao quanh sản phẩm bằng phương pháp vẽ nét chìm hoặc lấy nét chìm kết hợp với trổ thủng để tạo hoa văn, sau đó tô men không có sự phân biệt giữa men và màu ve. Sản phẩm gốm Biên Hòa khá đa dạng bao gồm bình, hũ, lọ, chóe, chậu, đôn, đôn voi, đèn lồng, đĩa trang trí, tượng voi, tượng lân, tượng người… Loại chóe men đen hoặc men nâu hoa văn khắc chìm sản xuất ở Biên Hòa còn cung cấp cho các dân tộc Tây Nguyên để đựng rượu cần. Kiểu dáng, quai chóe, màu men và hoa văn hình rồng hình lá đề … thể hiện trên loại chóe Biên Hòa sử dụng ở Tây Nguyên khá gần gủi với loại chóe được sản xuất ở Gò Sành (Bình Định) trước đó.

Mội loại sản phẩm gốm Biên Hòa còn được sản xuất nhiều hiện nay là các loại lu, hũ gốm.

Gốm Lái Thiêu ra đời vào khoảng giữa thế kỷ XIX. Gốm sứ Lái Thiêu có các trường phái gốm như sau: trường phái Quảng Đông sử dụng men nhiều màu chuyên sản xuất các tượng trang trí, các loại chậu, các loại đôn voi; trường phái Triều Châu sử dụng men xanh trắng chuyên sản xuất đồ gốm gia dụng như chén, đĩa, tô và các loại bình; trường phái Phúc Kiến sử dụng men màu đen, men da lươn, chuyên sản xuất chóe, lu, vại, hũ, vịm. Trong đó gốm men nhiều màu Lái Thiêu được sản xuất hàng lọat, hiện nay còn được lưu giữ khá nhiều trong dân gian, trong các Bảo tàng cũng như trong các sưu tập tư nhân. Gốm men nhiều màu Lái Thiêu với nguồn nguyên liệu địa phương kết hợp với kỹ thuật truyền thống của người Hoa và cả người Việt đã tạo nên một dòng gốm men nhiều màu rất bình dị, mang tính dân dã.

Hoa văn trang trí trên gốm Lái Thiêu phong phú, nhiều dạng khác nhau, thường theo xu hướng đồ án hóa, đường nét to, thô nhưng không vì thế mà kém trau chuốt, sinh động. Nội dung tranh vẽ lấy hoa lá làm thể chính, chiếm số lượng nhiều nhất là đồ án hoa mẫu đơn được bố cục chặt chẽ: Mẫu Đơn với chữ Thọ; Mẫu Đơn Kê (hoa mẫu đơn với gà trống) ; Mẫu Đơn Điểu (hoa mẫu đơn với chim hút mật). Ngoài ra còn có các đồ án : Qua Quả, Tùng Hạc, Hoa Lan, Hồng Điệp (hoa hồng với bươm bướm), Lý Ngư (cá chép), và vẽ Sơn Thủy phong cảnh hữu tình… Bên cạnh đó, đồ án tranh vẽ cát tường với hình ảnh con Gà trống (Công Kê) đã đưa gốm men nhiều màu Lái Thiêu tiến thêm một bước là ngày càng đi sâu vào tâm thức của người Việt Nam (khoảng những thập niên đầu thế kỷ XX – đến ngày nay).

Tác giả TS Nguyễn thị Hậu


MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

« Newer Posts - Older Posts »