Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘Gốm sản xuất ở miền Đông Nam Bộ’ Category

GII THIU V TRƯỜNG

Trường Cao đẳng Mỹ thuật Trang trí Đồng Nai tiền thân là trường dạy nghề Biên Hòa đã hình thành tồn tại và phát triển trong hơn 100 năm qua ( 1903-nay). Trong hơn 100 năm trường đã thay đổi khá nhiều lần từ tên trường đến quy mô đào tạo- ngành nghề đào tạo mục tiêu đào tạo. Trường đã trải qua ba thời kỳ: thời kỳ thuộc Pháp – dưới chế độ Sài gòn ( 1954-1975 ) và thời kỳ đất nước được hoàn toàn thống nhất.

Dưới thời kỳ đất nước ta bị đô hộ dưới ách thống trị của thuộc dân Pháp, mạng lưới Trường lớp đào tạo nghề ở cả nước là rất mỏng. Ở miền Nam trong một số rất ít trường được thành lập trong đó có trường dạy nghề Biên Hòa mà nhân dân thường gọi là( trường bá nghệ Biên Hòa). Do kinh tế chưa phát triển nên quy mô của Trường nhỏ bé số lượng học sinh ít.

Mãi đến năm 1964 ( sáu mươi năm sau ) từ trường dạy nghề mới phát triển thành trường Trung học chuyên nghiệp mang tên trường Kỹ thuật Biên Hòa.

Ngày đất nước hoàn toàn giải phóng 30-4-1975 sau mấy năm tiếp quản trường đổi tên thanh trường Mỹ thuật Trang trí Đồng Nai năm 1978 đến năm 1998 trường được nâng cấp thành trường Cao đẳng Mỹ thuật Trang trí Đồng Nai.

Trong hơn  100 năm qua trường trải qua 3 giai đọan phát triển.

Từ 1903 -1963 là trường đào tạo nghề tồn tại 60 năm

Từ 1964 -1997 là trường Trung học chuyên nghiệp tồn tại 33 năm

Từ 1998 đến nay là Trường Cao đẳng.

 Trường cao đẳng mỹ thuật trang trí Đồng Nai đã không ngừng mở rộng quy mô đào tạo. Đặc biệt là từ năm 1975 đến nay, nội dung đào tạo của trường đã chuyển dần sang lĩnh vực mỹ thuật ứng dụng nhằm phục vụ tốt hơn nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội.

Từ năm 1998 đến nay, trường đã mở thêm một số khoa, ngành mới nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội: thiết kế mỹ thuật truyền thông đa phương tiện; thiết kế thời trang. Hiện nay, Trường cao đẳng mỹ thuật trang trí Đồng Nai tổ chức đào tạo 7 khoa chuyên môn, gồm:

-khoa thiết kế đồ họa

-Khoa trang trí nội thất

-Khoa thiết kế thời trang

-Khoa thiết kế mỹ thuật truyền thông đa phương tiện

-Khoa nhiếp ảnh quảng cáo

-Khoa gốm mỹ thuật & điêu khắc

-Khoa  cơ bản.

Một chặng đường dài với biết bao thay đổi trong lịch sử của trường cùng lịch sử của dân tộc , biết bao thế hệ học trò đã trưởng thành từ đây , biết bao thế hệ thầy cô đã cống hiến sức lực và trí tuệ của mình cùng góp phần làm nên lịch sử của mái  trường .

đúng vào dịp kỷ niệm 110 năm thành lập, nhà trường vinh dự được đón nhận Huân chương Độc lập hạng nhì. Đây là thành quả lao động hăng say, miệt mài của tập thể cán bộ, giáo viên, sinh viên toàn trường. Điều này  khích lệ tập thể nhà trường phấn đấu hơn nữa để tiến lên trở thành trường đại học, đào tạo ngày càng nhiều nhân tài phục vụ cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.

nguồn : Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Trang Trí đồng Nai .

Khanhhoathuynga thực hiện :

*Mục Lục – Gốm Sản xuất Ở Miền Đông Nam Bộ

DANH MỤC TỔNG HỢP

MỤC LỤC – BẢO TÀNG

 

Advertisements

Read Full Post »

Tác giả : TRẦN ĐÌNH QUẢ

Để đánh giá chất lượng của một sản phẩm gốm sứ, người ta thường dựa vào những tiêu chí sau: nhất dáng, nhì xương, tam men, tứ trí. Như vậy, nghệ thuật tạo hình gốm là hết sức quan trọng bởi hình dáng sản phẩm là yếu tố đứng hàng đầu. Nó là cốt lõi của sản phẩm, là cơ sở để người nghệ nhân tiến hành các hình thức trang trí khác. Hình dáng của sản phẩm gốm được quy định bởi nếp sống, nếp suy nghĩ, cá tính, trình độ thẩm mỹ của nghệ nhân sáng tạo cũng như công chúng mà nó hướng tới. Nó còn được quyết định bởi xu hướng và quan niệm thẩm mỹ của thời đại. Cuối cùng, đó là sự kết hợp của đường nét và mảng khối trong nghệ thuật tạo hình ba chiều với sự cho phép của chất liệu.

Gốm mỹ nghệ Biên Hòa có vô vàn kiểu dáng với nhiều chủng loại khác nhau song vẻ đẹp truyền thống mang tính đặc trưng của nó thể hiện qua hai khía cạnh: sự cân đối, hài hòa trong tạo hình sản phẩm và nét độc đáo, đầy tính thẩm mỹ của các tượng nhỏ.

Sự cân đối và hài hòa trong tạo hình

Trong thiết kế gốm, có thể nói những dáng bình gốm Hy Lạp cổ đại cho thấy một sự cân đối mang tính cổ điển làm nên vẻ đẹp chỉn chu, say đắm lòng người. Nghệ thuật gốm Việt Nam nói chung và gốm Biên Hòa nói riêng cũng không là ngoại lệ, những sản phẩm được tạo dáng trên bàn xoay hoặc có cốt mẫu trên bàn xoay đều trở nên tròn trịa và cân đối. Đó là sự đối xứng tuyệt đối qua một trục cả về các thể thức, hình khối và các chi tiết phụ họa như quai, nắp.

Sự cân đối còn được thể hiện qua những đôn voi và các loại thú khác nhưlân, chó… Chúng luôn có sự đối xứng với nhau qua chính trục giữa của nó hoặc một khoảng cách nhất định như hai con lân đối nhau qua hai trụ cổng.

Bình gốm xoay (vuốt) của Biên Hòa thường được cấu tạo dựa trên năm thể(phần) chính, ngoài ra còn có một số chi tiết phụ, tùy theo sáng tác của nghệ nhân như quai, vòi, nắp… Những phần chính là chân, thân, vai, cổ và miệng bình. Từ 5 phần chính này, nghệ nhân có thể sáng tác ra rất nhiều kiểu dáng khác nhau. Có nhiều dạng bình không cần đủ 5 phần như bình hông dưới, loại không vai hay hũ, loại hình không có cổ. Sự cân đối của tạo dáng gốm Biên Hòa thể hiện qua tính thống nhất của từng phần trong một chỉnh thể nhất định.

Sự hài hòa là cái đích luôn mong muốn vươn tới của nhiều nghệ nhân sáng tạo. Có nhiều yếu tố tạo ra sự hài hòa của một sản phẩm, chẳng hạn như tỷ lệ kích thước của chiều cao và chiều rộng, của độ lớn hông bình với các bộ phận khác, của miệng và đáy bình, của từng bộ phận so với tổng thể. Có dạng bình tròn như trái bóng, hoặc là sự mô phỏng đường cong của tang trống. Phần miệng bình luôn dẫn người xem từ cảm giác chắc khỏe, đến sự dịu dàng và cao quý toát ra qua những tai bèo mềm mại. Phần cổ của bình lại hướng tới độ thanh thoát và là nhịp nối gắn kết sự hòa hợp giữa miệng và phần dưới của bình.

Để đạt đến độ hài hòa trong từng sản phẩm, nghệ nhân gốm Biên Hòa đã chắt lọc từ đa dạng dáng gốm của nhiều vùng khác nhau cộng với sự nỗ lực tìm tòi sáng tạo của chính mình. Trong loại hình bình hoa, sự hài hòa thể hiện rõ qua những đường cong mềm mại, căng tròn và liền lạc. Một bình rượu có hai bầu, trên nhỏ dưới lớn, là hình dáng quen thuộc trên khắp Việt Nam, song riêng với gốm Biên Hòa, nó trở nên thanh thoát, hài hòa hơn với tỷ lệ (vàng) của từng phần để tạo ra một chỉnh thể hoàn thiện.

Dạng bình sữa lại là một xu hướng tạo hình khác. Sự hài hòa được mang đến không phải do tính đối xứng qua một trục mà là cân bằng của khối. Phần vát, lệch một bên của miệng bình đã cân bằng với quai của bên kia, khiến cho sản phẩm rất mềm mại và phong phú về hình thể, cùng sự linh hoạt và chuyển động trong toàn khối. Đó là một phong cách tạo hình có sự tính toán khá phóng khoáng, đem lại hiệu quả thẩm mỹ cao.

Bộ ấm trà của gốm Biên Hòa có đặc trưng khác hẳn so với các dòng gốm của Việt Nam. Bình trà có cách tạo hình theo đề tài cách điệu chữ tửu, đã cho thấy khả năng khái quát cao của người sáng tạo. Một bố cục rất gọn, sự bố trí sắp đặt đúng chỗ của vòi và quai ấm, nhất là cách phối hợp các đường nét và mảng khối đã tạo ra một nhịp điệu uyển chuyển, sống động. Toàn bộ các khối được nghệ nhân phỏng theo nét của chữ Hán, có chỗ to, chỗ nhỏ, có nhiều lỗ trống giữa các nét, tạo ra sự thanh thoát. Họa tiết trang trí chỉ đơn giản là những hoa văn cổ, song lại rất phù hợp để tôn thêm vẻ đẹp cho sản phẩm. Sự phối hợp giữa màu nâu của nền cùng màu trắng của họa tiết làm nổi bật thân bình bên cạnh quai.Vòi ấm có màu xanh đồng, đưa lại một vẻ đẹp vừa sang trọng vừa cung kính.

Bình trà trái bí mang vẻ đẹp của một đồ gốm men ngọc, cách tạo hình thật nhẹ nhàng và quyến rũ. Toàn bộ thân ấm trông giống trái bí cách điệu với các đường khía hội tụ dần về nắp ấm có hình dáng như một chiếc lá úp mềm mại. Một chút đường cong tạo ra quai và vòi càng làm cho bố cục đẹp thanh thoát. Bình trà được phủ một lớp men trắng ta, lại điểm xuyết những chấm vàng, mang lại cái đẹp nhẹ nhàng và tinh khiết.

Khi chiêm ngưỡng một số chén đĩa của gốm Biên Hòa, không ít người phảingỡ ngàng trước sự sáng tạo của nghệ nhân xưa. Lấy đề tài từ hoa, lá sen, một bộ sản phẩm đĩa và chén đã được ra đời, mang đầy đủ sự mềm mại và cao quý. Vẫn với dáng của một chiếc chén ăn cơm bình thường nhưng người thợ đã tạo cho nó sự mềm mại bởi đường gợn của miệng chén được chia theo những cánh sen. Thêm vào đó là sức lột tả của đĩa giống như một lá sen đang nâng niu nụ hoa của nó. Màu men xanh đồng chỗ đậm, chỗ lợt (nhạt), cộng với những chấm bông vàng, đen càng tô điểm thêm cho sản phẩm.

Có lẽ, một số chén của Biên Hòa được làm ra với mục đích để uống nước như chén dùng trong trà đạo của người Nhật. Bởi khi uống trà, người dùng mới có cơ hội để thưởng thức hết giá trị nghệ thuật của chén cho xứng với tầm của nó. Chén được tạo dáng có đáy nhỏ, miệng loe lớn để phô bày hết các trang trí dày đặc bên trong lẫn bên ngoài, nó thực sự vượt khỏi tầm của một đồ gia dụng hàng ngày. Một loạt chén loại này được trang trí theo nhiều đề tài, từ hoa lá cổ đến các loại minh văn đơn giản, nhằm làm phong phú cho một dạng sản phẩm chỉ có ở gốm Biên Hòa. Chúng được sắp các loại men trầm nhưng rất phù hợp với từng đồ án trang trí.

Đôn là một dạng đặc trưng của gốm Biên Hòa. Có một số dáng đôn được sản xuất như loại đơn giản giống một cái trống, đôn ba mặt và đôn voi. Đôn ba mặt được tạo dáng khá đẹp với một chỉnh thể gọn, hài hòa giữa mặt đôn để ngồi và thân đôn là phù điêu nổi cao hình lân. Đôn voi lại là sự mô phỏng theo hình dáng của convoi theo hai dạng: loại vòi cất cao lên trên và loại có vòi đi xuống. Cái đẹp của đôn là sự kết hợp hài hòa giữa tạo hình và hình thức trang trí rất chi tiết của nó.

Tạo hình tượng nhỏ độc đáo

Một trong những dòng sản phẩm gốm Biên Hòa được ưa chuộng nhất là tượng. Tượng gốm được các nghệ nhân chú trọng khai thác, sáng tạo bằng tất cả sự ngưỡng vọng và tâm hồn hướng tới chân, thiện, mỹ. Nó đã góp phần tạo nên loại gốm mỹ nghệ đặc trưng, được định danh là gốm mỹ nghệ Biên Hòa nổi tiếng vào những thập niên 20-50 TK XX.

Bên cạnh tượng phật, gốm Biên Hòa còn thể hiện được nhiều hình tượng con người trong xã hội xưa và nay. Đó là những tác phẩm có tính hiện thực cao như nhóm tượng ngư ông, diễn tả người dân lao động trong nhiều tư thế sinh động. Vẻ mặt của họ ánh lên tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống, cho dù phải đối mặt với lao động cực nhọc hay tuổi tác. Trong nhóm tượng này, các ngư ông được thể hiện khỏe mạnh với quần áo xắn cao, để lộ các cơ săn chắc của người lao động chân tay. Chiếc nón (mũ) rộng vành được bố trí úp sau lưng như tăng thêm sự khẳng định của đề tài, đồng thời làm cho bố cục tượng chắc chắn. Men có màu đen của quần, màu xanh của áo và màu trắng của nón kết hợp lại, tạo nên hình tượng các ngư ông bình dị nhưng thật cao đẹp, đáng để mọi người trân trọng.

slideshow

Tượng Mạnh mẫu Mạnh tử ca ngợi tấm lòng bao la của người mẹ đối với đứa con. Mạnh mẫu tuy lao động vất vả nhưng vẫn hy sinh hết mình để lo cho con ăn học. Những mảng khối và đường nét trên trang phục của Mạnh mẫu cùng động tác và gánh hàng đã tạo nên bố cục sinh động, mặt của Mạnh mẫu hướng về phía Mạnh tử như đang truyền tình cảm cho con. Trong tác phẩm này, tác giả đã dùng nét cong làm chủ đạo để diễn tả nhiều điều: nét cong của đòn gánh diễn tả sức nặng của gánh hàng trên vai mẫu tử, dáng hơi cong của mẫu tử thể hiện phản xạ tự nhiên dưới sức nặng đang mang, nét cong mềm mại của quần áo…Tất cả như diễn tả tình thương ngọt ngào của mẹ dành cho con và mong con ăn học thành người. Các màu men xanh đồng trổ, xanh coban, trắng ta và đen đã kết hợp để mang lại vẻ đẹp của một điển cố xưa nhưng có giá trị đến muôn đời.

Tượng xe ngựa cho thấy sự tinh tế và tính khái quát cao trong việc tái hiện một phương tiện giao thông xưa của giai cấp quý tộc. Đối với chất liệu gốm, những khắt khe của độ co đất cùng nhiều biến đổi trong quá trình nung không cho phép nghệ nhân được phóng khoáng tạo khối như các chất liệu điêu khắc khác. Vì vậy,khi tạo khối, nghệ nhân phải tính đến yếu tố trọng lực cho phù hợp với kỹ thuật tạo hình bằng đất và sự biến đổi khi nung. Quần tượng xe ngựa là thành công của việc tạo ra một chỉnh thể có nhịp điệu, tư thế sinh động của ngựa hòa quyện cùng người dắt phần nào trái ngược với sự tự tại của người ngồi trên xe. Điều này đã nói lên được ý tưởng của đề tài bên cạnh giá trị nghệ thuật đơn thuần của nó.

Tượng tình mẫu tử là bài ca về tình cảm của mẹ con. Bố cục tượng gọn, mang đến sự truyền cảm sâu sắc qua tấm lưng còng của mẹ. Dù khó nhọc, ánh mắt của mẹ vẫn luôn trìu mến, muốn đem đến cho con một cuộc sống thanh bình và vui tươi. Con nhỏ được mẹ ôm trong lòng đang rạng rỡ với cánh chim trên tay, thật hạnh phúc trong vòng tay của mẹ. Toàn bộ tác phẩm phủ một màu men trứng cúc, bình dị và gần gũi.

Tính phong phú của mảng, khối trong sản phẩm gốm hiện đại

Bên cạnh mảng gốm có phong cách tạo hình truyền thống trên bàn xoay(vuốt) với những sản phẩm tròn và cân đối, gốm Biên Hòa còn rất ấn tượng và giàu tính sáng tạo qua nhiều tác phẩm gốm độc bản, mang tính hiện đại.

Trong giai đoạn Pháp thuộc, phong cách tạo hình này mới chỉ thấp thoáng qua một số sản phẩm bình trà, nó chỉ thật sự bùng nổ khi đất nước bước vào thời mở cửa. Những kiểu dáng gốm hiện đại, phóng khoáng nhưng mang nhiều tính sáng tạo đã trở nên hấp dẫn và có ảnh hưởng đến tạo dáng gốm Biên Hòa. Hàng loạt tác phẩm gốm do thày và trò Trường Cao đẳng mỹ thuật trang trí Đồng Nai sáng tác cùng với sự thể nghiệm của một số lò gốm ở Biên Hòa đã khẳng định một mảng gốm rất đặc trưng của Đồng Nai.

Nói đến gốm hiện đại là đã đề cập tới cách giải quyết vấn đề theo phong cách nghệ thuật hiện đại, từ tư duy chọn đề tài đến thể hiện qua mảng khối. Trong các tác phẩm gốm hiện đại Biên Hòa, sự phong phú của mảng, khối là nét khác biệt rõ nhất so với gốm truyền thống. Khối và mảng trở nên biến hóa với tính khái quát cao về đề tài mà tác giả muốn thể hiện.

Bình ốc, cho thấy một điển hình về sự chuyển của khối và đường nét. Đó là sự kết hợp của nhiều khối to nhỏ, âm dương, mỗi khối lại có những hình dáng khác nhau tạo nên một tổng thể vô cùng phong phú. Bên cạnh đó, những đường khắc chìm trên thân của khối lớn đã tạo ra sự liên kết trong một tập hợp, chia thân khối ra thành nhiều mảng có diện tích và hình dáng khác nhau, làm nên một cái nền. Toàn thể tập hợp đó gợi nên một cảm giác nhẹ nhàng nhưng sâu thẳm của đại dương qua chính loài vật sống trong đó. Một nhịp điệu được toát ra qua sự uyển chuyển của đường nét và cách sắp xếp các khối. Một màu men xanh phủ toàn bộ tác phẩm đã làm rõ hơn sự diễn tả cho đề tài.

Các đề tài lấy từ hình tượng con người được sử dụng nhiều trong sáng tác gốm hiện đại. Trong đó, nhân vật được đơn giản hóa tối đa, các khối quyện chặt vào nhau trong nhịp chuyển động linh hoạt của mảng và đường nét. Nhìn chung bố cục của chúng đều hướng tới sự vận động liên tục của cuộc sống ngay cả khi con người đang trong tư thế tĩnh. Tác phẩm Tình yêu lứa đôi diễn tả đôi trai gái đang chìm đắm trong vũ điệu của tình yêu. Nhân vật nam và nữ được cách điệu thành những khối đơn giản với các đường cong mềm mại và uyển chuyển trong bố cục rất chặt chẽ giữa một không gian ba chiều rõ nét. Tác giả đã cố gắng diễn tả không gian sao cho khi ta xoay chiều nào cũng tạo được góc nhìn ưng ý, góc nào cũng thấy được nhịp điệu sinh động của mảng khối. Sự chặt chẽ nhưng không ngợp bởi khoảng trống giữa các khối đã tạo nên cảm giác nhẹ nhàng và sâu rộng của không gian. Sự chuyển động thông qua đường nét và mảng khối làm sáng tỏ hơn chủ đề mà tác phẩm đang hướng đến. Toàn bộ tác phẩm được tráng một màu xanh đồng nhẹ nhàng và đặc trưng của gốm Biên Hòa.

Sự tìm hiểu và khai thác các đề tài về văn hóa và con người của nhiều dân tộc trên khắp đất nước là một mảng rất ấn tượng trong gốm hiện đại Biên Hòa. Tác phẩm Tây Nguyên, dưới dạng một bình hoa, cho thấy một phong cách thể hiện kết hợp giữa tạo hình truyền thống và điêu khắc. Tính truyền thống ở đây là một bố cụckhá cân đối, sự tạo dáng ban đầu dựa vào bàn xoay nhưng nó đã được điêu khắc hóa khi thể hiện những chi tiết, mảng và khối nhỏ. Trong Tây Nguyên, các khối được gắn kết với nhau theo một trình tự ngẫu nhiên như thực tế, song nó đã được tính toán ở một tỷ lệ vừa đúng để tạo ra tổng thể hoàn chỉnh. Với một khối đơn giản có tính khái quát cao, việc nêu bật được đặc điểm của một nền văn hóa, một dân tộc là rất khó. Bình Tây Nguyên đã cho người xem cảm nhận được những đặc điểm chính của người phụ nữ nơi đây qua mảng khăn quấn trên đầu, hai vòng đeo tai có dạng như hai chiếc chiêng, hai lỗ tai lớn, biểu thị cho hệ quả của việc đeo vòng nặng từ nhỏ và cuối cùng là ba vòng tròn ở cổ. Chính các chi tiết của khối như: mắt, miệng, tai… là những họa tiết trang trí vừa để hoàn chỉnh ý tưởng đề cập của đề tài, đồng thời góp phần mang lại tính mỹ thuật cao hơn, sâu sắc hơn. Màu men nâu chủ đạo đã trở nên phù hợp và làm đẹp hơn cho cả nội dung và hình thức của tác phẩm.

Bình đèn Múa Chăm lại đưa người xem đến cảm nhận khác về sự biến đổi của mảng khối và đường nét trên một sản phẩm gốm. Trong tư thế hết sức sinh động và mềm mại, hình tượng người múa hiện lên duyên dáng với những hoa văn mang đậm bản sắc Chăm trên trang phục. Với bố cục thật đơn giản và gọn, hình tượng vũ nữ được chia làm ba khối chồng lên nhau theo xu hướng nhỏ dần lên trên. Đó là ba khối biến thể có tính khái quát cao, một khối tay đưa lên, một cánh tay chống vào hông… tất cả được kết hợp đầy sáng tạo. Những hoa văn Chăm được trang trí phù hợp với kỹ thuật khắc, lộng, đã tạo ra sự thông thoáng cần thiết để ánh sáng đèn bên trong hắt ra, vừa đủ đẹp. Màu men xanh đồng của thân và màu men nâu đậm, màu đen của hoa văn hài hòa và sâu lắng.

Như vậy, khả năng kết hợp của mảng và khối trong gốm hiện đại thật phong phú. Sự phong phú đó bắt nguồn từ tính đa dạng của đề tài mà gốm hiện đại thể hiện, hơn nữa phong cách tạo hình mới trong các sáng tác đã giúp cho việc tạo hìnhmảng, khối ngày càng đa dạng hơn. Nó không chỉ làm đẹp cho một bố cục mà tự bản thân nó đã bộc lộ những ngữ nghĩa tùy theo sự biến hóa và cách sắp đặt của tác giả.

Cùng với những dòng gốm khác trên khắp quê hương Việt Nam, gốm Biên Hòa đã và đang góp phần làm tôn vinh vẻ đẹp và phong phú của làng nghề truyền thống thủ công mỹ nghệ. Với nỗ lực phấn đấu của các doanh nghiệp sản xuất, ngành gốm Biên Hòa sẽ gặt hái được nhiều thành công trên bước đường phát triển, mãi mãi xứng đáng là dòng gốm nổi tiếng mang đặc trưng riêng của khu vực miền Đông Nam Bộ.

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN

*Mục Lục – Gốm Sản xuất Ở Miền Đông Nam Bộ

Read Full Post »

Đồng Nai có gốm Biên Hòa

Đẹp, bền, duyên dáng ai mà lãng quyên

Đó là câu ca dao ngọt ngào, ngợi ca địa danh làm gốm nổi tiếng của mảnh đất Miền Đông Nam bộ. Thật tự hào với thương hiệu gốm Biên hòa đã đi vào lòng người. Điều đó chứng minh nghề gốm Biên Hòa đã có từ rất lâu, nó được đón nhận vào đời sống văn hóa của dân gian như nhiều nghề truyền thống khác. Trải qua hàng trăm năm hình thành và phát triển gốm Biên Hòa đã để lại nhiều giá trị tại kho tàng lịch sử gốm Việt Nam, trong đó giá trị nghệ thuật là yếu tố nổi bật và quan trọng để đưa sản phẩm gốm Biên Hòa trở nên nổi tiếng trong và ngoài nước. Một trong những yếu tố quan trọng đó, chính là nghệ thuật trang trí được thể hiện qua đôi tay khéo léo và khối óc sáng tạo của các nghệ nhân gốm Biên Hòa.

Hoa văn trang trí gốm Biên Hòa

Nói đến “Trang trí”, đầu tiên phải kể đến các họa tiết trang trí. Đó có thể là một hay nhiều mảng màu đơn giản đến các hoa văn phức tạp khác nhau. Một đặc trưng nổi bật của trang trí gốm Biên Hòa là sự đa dạng, phong phú của nội dung các hoa văn trang trí.Đối với các hoa văn, ngoài yếu tố trang trí, người ta rất quan tâm đến ý nghĩa của nó, đặc biệt là những hoa văn có tính ước lệ như rồng, phượng, được gắn đặt một ý nghĩa nào đó thông dụng trong nhân dân. Hoa văn miêu tả cuộc sống như cảnh sinh hoạt, hay minh họa cho một truyền thuyết của dân tộc, một kỳ tích của các anh hùng, một câu chuyện nào đó trong dân gian được mọi người yêu mến và có ý nghĩa giáo dục.

–  Hoa văn Rồng, Phượng

Hòa mình vào quan niệm truyền thống của người phương Đông, hình tượng con Rồng, Phượng, Kỳ lân là những hoa văn ước lệ xuất hiện khá nhiều trong các sản phẩm gốm truyền thống của Đồng Nai. Các bố cục như “lưỡng Long tranh châu” hay “lưỡng Long chầu Nguyệt” luôn là các đề tài cho việc trang trí sản phấm gốm thờ cúng.

Một đặc trưng của hình tượng Rồng trên gốm Biên Hòa là biến thể Rồng lá, đây là dạng hoa văn cổ rất hay được áp dụng trên các đố án trang trí bình đèn. Một sản phẩm gốm Biên Hòa được sáng tác từ thời Pháp thuộc là bình đèn lộng rồng lá đã áp dụng rất nhuần nhuyễn hoa văn trang trí này. Trong bình, rồng lá có bố cục mềm mại, uyển chuyển và liên tục chạy khắp một vòng của thân bình với nhiều con kết hợp lại. Các mảng lượn lờ đan xen với nhau sao cho bố cục của mảng được rải đều và nâng đỡ nhau để khi lộng thủng bớt phần nền, vẫn còn lại xương đủ cho sự chịu lực của bình. Nghệ nhân thường chạm thủng phần nền làm nổi bật thân Rồng lá để lộ rõ một lối trang trí có đường cong làm chủ đạo. Họa tiết trang trí và phần nền được hai màu men xanh đồng và trắng ta phối lại một cách hài hòa và trầm lặng.

 
 – Họa tiết hoa lá

Hoa lá trong trang trí gốm Biên Hòa thường hiện diện dưới hai hình thức, đó là hoa lá cổ được người nghệ nhân sưu tầm lại từ vốn cổ của cha ông để lại. Có nhiều dạng hoa lá cổ như hoa Mai, Lan, Cúc, Sen…hoặc chỉ là những chiếc lá được bố cục trong một dải đồ án nhất định. Việc đưa họa tiết cổ vào trang trí đã tạo cho sản phẩm trở nên gần gũi thấm đượm bản sắc dân tộc. Cách bố cục họa tiết hoa lá cổ cộng với sự phối màu hài hòa, trầm, đã tạo cho gốm Biên Hòa sự sâu lắng đến vô cùng, nghiêm trang và cao quý.

Ngoài hoa lá cổ, gốm Biên Hòa còn sử dụng họa tiết hoa lá do người sáng tác nghiên cứu. Họa tiết thường được chú ý nhiều nhất là hoa Sen, hoa Mai. Trong chiếc liễn hoa Sen một sự tự do, thoải mái cho người sáng tác, những mảng hoa và lá nâng đỡ cái nọ làm nền cho cái kia trên một diện tích hợp lý, tạo ra một bố cục hoàn chỉnh với màu sắc nhẹ nhàng, quyến rũ. Ở một số bố cục khác, lại có sự kết hợp rất khéo giữa Sen và cỏ, những bông Sen trong nhiều hình dáng từ khi mới nở đến lúc đã xòe ra hết cỡ, điều này chứng tỏ người sáng tác đã có nghiên cứu kỹ. Màu sắc của lá sen thường là men xanh đồng, bông sen màu trắng có điểm chút màu hồng để tạo ra sự tinh khiết.

Có một dạng trang trí rất đặc sắc của gốm Biên Hòa, đó là đồ án bá hoa. Trong đồ án trang trí này, nghệ nhân sử dụng rất nhiều các loại hoa, hoa Mai, hoa Cúc, hoa Hướng dương, hoa Dâm bụt…tất cả các hoa này, cái to, cái nhỏ chồng lấn nâng đỡ nhau tạo thành một rừng hoa trước mắt người xem. Đây là lối trang trí được sắp xếp rất nhiều màu cho các loài hoa, tuy nhiên, nhờ có mảng lớn nhỏ khác nhau, sự diễn tả tốt của không gian nhờ các mảng chồng lên nhau nên sự phối màu trở nên hài hòa, vui mắt.

Họa tiết động vât

Động vật trong trang trí gốm Biên Hòa rất phong phú, ngoài những con vật tưởng tượng như Rồng, Phượng, kỳ Lân, còn có rất nhiều loài vật khác trong tất cả các loại hình của gốm.

Trong gốm tượng tròn, hình tượng nhiều nhất là Voi với sự đa dạng ở các tư thế khác nhau, có con cụp vòi xuống, có con lại đưa vòi lên như đang vẫy gọi bạn. Một loại sản phẩm dùng voi làm hình tượng là đôn voi, đây là sản phẩm đặc trưng của gốm Biên Hòa. Nhìn chung, hình tượng voi trong gốm Biên Hòa có thân hình khỏe và sinh động trong các tư thế động. Trong một số loại hình, voi còn được trang trí những hoa văn, điều đó đã đưa gốm Biên Hòa có những sản phẩm tiêu biểu, khác biệt với các dòng gốm khác.

Trong nhiều đồ án trang trí trên gốm Biên Hòa, hình ảnh Ngựa được thể hiện rất đẹp với dáng vẻ sinh động và thật mềm mại. Dưới nét khắc tài hoa của nghệ nhân, hình ảnh ngựa hiện lên hùng dũng trên đường chạy song cũng thật uyển chuyển, lãng mạn với nhịp điệu của đường nét và mảng khối.

Họa tiết Tôm và Cá được diễn tả rất sinh động trên các sản phẩm gốm Biên Hòa. Một chú Tôm đang dùng hai chiếc càng để gắp bông hoa, cho thấy sự quan sát thật tinh tế của người sáng tác. Chỉ bằng những nét khắc đơn giản, con Tôm đã được tả thực một cách vô cùng chính xác. Cách bố cục của Tôm cùng với những thực vật trong lòng tròn đĩa cho người xem cảm nhận một sự chặt chẽ nhưng thật nhẹ nhàng của môi trường dưới nước. Trong sản phẩm này màu men xanh đậm của đĩa đã làm nổi bật mình Tôm màu trắng ta bên cạnh những mảng hoa màu nâu nhạt đóng vai trò trung gian.

Đề tài Cá được khai thác nhiều tập trung ở hình ảnh cá ba đuôi, cá tai tượng. Đĩa trang trí cá trong gốm Biên Hòa cho thấy một thân thể cá mềm mại với những cái đuôi lượn lờ trong nước. Ở đây tác giả đã cố ý miêu tả chi tiết vẻ đẹp đặc trưng của cá ba đuôi, những mảng đuôi được phụ họa bằng những nét khắc đã tạo nên sự uyển chuyển, mềm mại làm sao.

Bình hoa trang trí “Cò Tùng” là một bức tranh thật sinh động về cảnh sinh hoạt của cả một bầy cò. Tác giả đã nghiên cứu và thể hiện ở đây nhiều dáng cò, có con đang bay, con đang đậu nhìn lên, con đang xỉa lông… thật là một tập thể náo động quanh những cành, lá Tùng cùng một vài giải Mây lượn lờ bên trên. Bố cục trang trí của đồ án trang trí này là hết sức tự do, mọi họa tiết cứ phát triển tự nhiên và chạy giáp vòng, phủ kín hết diện tích bề mặt của bình. Điều này gây cho người xem sự chú ý toàn diện trên tất cả các mặt của sản phẩm, nó cũng cho cảm giác như đang được chiêm ngưỡng cả một rừng“Cò Tùng” vậy. Hình ảnh những cánh cò trắng hòa cùng màu xanh lãm của nền, trông như một bức tranh sống động trong thiên nhiên.

                                                                                                   

–  Hình ảnh con người trên gốm Biên Hòa:

Trong trang trí gốm Biên Hòa ngoài những tượng đài và phù điêu hoành tráng, hình tượng con người còn được thể hiện rất phong phú qua những đề tài có sự nghiên cứu kỹ lưỡng, mỗi đề tài đều gắn với một điển tích, một cảnh sinh hoạt hay một cốt truyện cụ thể trong dân gian. Nó là những lời ngợi ca các anh hùng, ngợi ca vẻ đẹp của con người Việt Nam trong lịch sử đấu tranh và lao động của mình.

Đề tài về con người được quan tâm sâu rộng là những cảnh sinh hoạt trong dân gian. Qua tranh gốm diễn tả đám cưới, hình ảnh con người và phong tục xưa hiện lên rõ nét. Sự rộn ràng, hồ hởi của ngày quan trọng nhất trong cuộc đời đã được tác giả thể hiện trên những gương mặt của các nhân vật cùng nhịp điệu vui tươi được tạo ra bởi các tư thế của những người đi rước dâu. Những trang phục cộng với ô và nón đã đem lại một cảm giác hết sức thân thương về một quê hương Việt Nam thanh bình, đầm ấm tình người. Tranh lấy màu xanh và trắng làm màu chủ đạo và được điểm một số họa tiết màu nâu vàng đã đem lại hiệu quả nhẹ nhàng, nền nã.

Phù điêu “Mùa gặt” đã mang đến một hình ảnh khác của người Việt, một lao động hăng say trên cánh đồng lúa nước. Những người nông dân trong động tác làm việc khác nhau, song họ đều hồ hởi trước một vụ mùa bội thu. Bố cục của ba người gom thành một nhóm chặt chẽ và tạo thành nhịp điệu rõ qua đường nét của mảng. Những cánh cò bay ngược với hướng của nhân vật ở phía trên có tác dụng cân bằng và mở rộng thêm không gian cho phù điêu.

              

Cảnh nhảy múa có rất nhiều đồ án trong trang trí gốm Biên Hòa, đó là sự thể hiện những nhịp điệu thật nên thơ của các điệu múa trong bản sắc văn hóa Việt Nam. Các nghệ nhân đã chọn lọc và bố cục nhịp nhàng giữa sự uyển chuyển của người múa cùng những dải lụa hoặc trang phục truyền thống duyên dáng, dịu dàng…tất cả tạo thành một tổng hợp của đường cong thật nhẹ nhàng, đẹp đẽ.

Các phương pháp trang trí trên gốm Biên Hòa:

–  Kỹ thuật chạm khắc trong trang trí gốm:

Kỹ thuật khắc chìm là một đặc trưng rõ nét nhất của nghệ thuật trang trí trên gốm Biên Hòa. Việc gốm Biên Hòa chọn phương pháp khắc chìm và phối màu men trên sản phẩm so với gốm vẽ oxit men Lam rất phổ biến ở Miền Bắc và Huế có thể cho chúng ta hình dung sự độc lập trong sáng tạo và xu hướng riêng biệt.

Khác  với  các  phương  pháp  vẽ  oxit  như gốm Hoa lam, người thợ khắc dùng một dụng cụ như bút viết nhưng đầu bằng sắt nhọn để khắc nét chìm vào sản phẩm. Muốn cho dễ thao tác và không bị bể nét, người thợ thường khắc khi đất còn chưa khô trắng. Họa tiết được phác chì hoặc in bằng một mộc cao su,  người  thợ sẽ khắc lại theo nét chì, mực in. Độ sâu của nét khắc vừa đủ để làm rãnh ngăn cách không cho hai màu men chảy lem vào nhau.

–  Kỹ thuật chạm lộng của gốm Biên Hòa:

Chạm lộng (chạm thủng) là kỹ thuật trang trí được áp dụng cho một số chủng loại sản phẩm như: Bình đèn, voi, đôn, chân đèn…Trong kỹ thuật này người thợ dùng dao cắt xương đất thành những lỗ hổng, tạo ra một phần nền (âm), phần họa tiết được giữ lại. Các họa tiết phải liên lạc với nhau sao cho  khi lộng thủng xong mà xương vẫn vững chắc cho công đoạn tiếp theo và trong sử dụng. Đối với bình đèn, bóng đèn được lắp bên trong, ánh sáng sẽ rọi qua các lỗ thủng tạo ra một hiệu quả vô cùng thú vị tùy vào sự tính toán của người thiết kế trang trí.

Kỹ thuật trang trí men trên gốm Biên Hòa:

Kỹ thuật trang trí men ở Biên Hòa có nhiều phương pháp khác nhau  nhưng hay sử dụng nhất là kỹ thuật chấm men. Khi đã có mảng trang trí được phân chia theo các đường khắc, người thợ sẽ dùng cọ chấm men lên sản phẩm  theo một sự phối màu đã có sẵn.Độ dày của lớp men phải luôn đảm bảo vừa, bởi nếu mỏng quá sẽ lộ cốt đất còn dày quá thì men sẽ bị tuôn, lem qua các mảng màu khác khi nung. Ưu điểm của phương pháp này là nó cho phép người thợ chủ động phối được nhiều màu men trên một sản phẩm, các mảng màu rõ ràng, thể hiện tính trang trí cao.

Men trên đồ gốm không chỉ là một bước tiến về mặt khoa học kỹ thuật mà còn góp phần tạo nên vẻ đẹp độc đáo của sản phẩm. Một đồ gốm khi được phủ men trên bề mặt và trong lòng sẽ có tác dụng như một lớp thủy tinh làm cho gốm không bị thẩm thấu, tăng độ bền cơ, bền hóa, bền điện và nhiệt.

Quan hệ của men và hình là mối quan hệ hỗ trợ, tôn vẻ đẹp cho nhau. Men làm cho hình dáng của sản phẩm trở nên lưu loát, hài hòa hơn. Men còn làm cho hoa văn trang trí mềm mại hơn, hòa nhịp với dáng của sản phẩm. Khi được phủ men, hoa văn trở nên ẩn hiện và có hồn hơn trong một tổng thể hài hòa. Men màu luôn được sử dụng hợp lý với màu sắc của hoa văn. Men giúp cho bề mặt của sản phẩm tăng thêm độ láng bóng, che bớt đi những nét thô ráp của những đoạn nối giữa thể chính và phụ, nó làm nhẹ đi góc cạnh của sản phẩm.

Men của Biên Hòa được chia ra hai xu hướng khác nhau về nhiệt độ chảy và hệ màu sắc. Đó là dòng men cao độ cho ra những màu sắc trầm và quý, dòng men trung độ chuyên sử dụng những sắc màu tươi sáng hơn, rực rỡ hơn với các màu nóng như màu vàng, hồng, cam, đỏ…

Nghệ thuật phối màu trên gốm Biên Hòa:

Trên gốm Biên Hòa, các màu men được phối hợp với nhau rất hài hòa trên một tổng thể đã được đính sẵn. Với tính đặc trưng là trang trí bằng các nét khắc, nên các mảng màu được phân định sẵn, rõ ràng không có sự lem qua lại giữa các màu. Vì vậy, đặc điểm trang trí của gốm Biên Hòa đã thể hiện sự kế thừa và phát triển tính trang trí trên gốm hoa nâu thời nhà Trần.

Qua các sản phẩm gốm Biên Hòa, cho thấy rõ hai trường phái phối màu khác nhau theo hai dòng men nặng và trung lửa. Trường phái thứ nhất là trang trí bằng các màu men nặng lửa của trường Mỹ Nghệ Biên Hòa. Xuất phát từ cái gốc của mỹ thuật học, sự phối màu của Thầy và Trò đều dựa trên cơ sở khoa học. Các màu được sắp xếp sao cho vừa nêu rõ được cái đẹp, cái nổi bật của mảng chính, lại vừa có tính chuyển tiếp, hài hòa trong tổng thể của một sản phẩm. Trên mỗi chiếc bình, hũ hay chén dĩa…số lượng màu rất hạn chế, chỉ từ 2 đến 5 màu nhưng vẫn cho thấy đủ màu chính và màu trung gian, vẫn gợi mở được cái sâu thẳm của không gian. Chính sắc độ và cách phối màu đã đưa gốm Biên Hòa đến cái đẹp không rực rỡ nhưng có hồn, nó cuốn hút người xem càng nhìn càng cảm nhận được tính sang trọng và cao quý, cảm nhận được chiều sâu của vẻ đẹp qua một tác phẩm.

Trường phái thứ hai là trang trí những màu men sáng. Với sự phong phú về số lượng màu sắc, nên người thợ thường phối màu có tính vui vẻ và rực rỡ trên nhiều sản phẩm. Đó là những bông hoa khoe sắc, những hình tượng Rồng, Phượng rực rỡ trên không trung. Là những mảng màu có tính tương phản trên cùng một sản phẩm. Tuy nhiên, cũng có nhiều bình, chậu có sự phối màu dịu dàng, song nhìn chung, trường phái này có hơi lạm dụng tính tương phản của màu. Nó cho ra nhiều sản phẩm mới nhìn rất rực rỡ, bắt mắt nhưng nhìn lâu sẽ có sự nhàm chán và hời hợt.

Như vậy, giá trị nghệ thuật trang trí của gốm Biên Hòa thể hiện thật phong phú và đầy tính sáng tạo. Bằng những đặc trưng và kỹ thuật sản xuất riêng, nghệ nhân Biên Hòa đã sản sinh ra dòng sản phẩm gốm có giá trị thẩm mỹ cao, được đón nhận và tôn vinh tại các cuộc triển lãm của trong nước cũng như quốc tế.

Trang trí là một giá trị nghệ thuật rất đặc trưng của gốm Biên Hòa. Đi theo lối khắc chìm, lộng vào thân sản phẩm, hoa văn trên gốm Biên Hòa trở nên rõ ràng, khỏe mạnh và dứt khoát. Sự phân mảng màu sắc riêng biệt cùng với kỹ năng phối màu men mang tính sáng tạo trên cơ sở những màu men truyền thống nổi tiếng đã nâng nghệ thuật trang trí gốm Biên Hòa vươn tới cái đẹp của sự hoàn thiện./.

Thạc Sĩ : Trần Đình Quả

This slideshow requires JavaScript.

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

MỤC LỤC  CÁC BÀI SƯU TẦM

*Mục Lục – Gốm Sản xuất Ở Miền Đông Nam Bộ

Read Full Post »

 Men là yếu tố thể hiện rõ nét trình độ phát triển của nghệ thuật gốm sứ truyền thống. Trong các loại hình gốm: sản phẩm đất nung không phủ men, gốm sành nâuvới màu men chủ yếu là da lươn và đen, đến gốm sành xốp thì đã có sự đa dạng về màu sắc của men. Tùy theo từng độ lửa mà người thợ có thể chế ra nhiều màu cho phù hợp với tính chất trang trí của từng sản phẩm. Men trên đồ gốm không chỉ là một bước tiến về mặt khoa học kỹ thuật mà còn góp phần tạo nên vẻ đẹp độc đáo của sản phẩm. Một đồ gốm khi được phủ men trên bề mặt và trong lòng sẽ có tác dụng như một lớp thủy tinh làm cho gốm không bị thẩm thấu, tăng độ bền cơ, bền hóa, bền điện và nhiệt.

Men truyền thống gốm Biên Hòa nói riêng cũng như gốm Việt Nam nói chung phần lớn được làm từ những khoáng chất tự nhiên. Màu sắc của men phát ra ngay từ bản thân các nguyên tố bị oxit hóa có sẵn trong đất đá và những màu sắc này được kiểm soát, điều khiển bằng nhiệt độ lò nung. Men của Biên Hòa được chia ra hai xu hướng khác nhau về nhiệt độ chảy và hệ màu sắc. Đó là dòng men cao độ cho ra những màu sắc trầm và quý, dòng men trung độ chuyên sử dụng những sắc màu tươi sáng hơn, rực rỡ hơn với các màu nóng như màu vàng, hồng, cam, đỏ…

Trong những năm mới thành lập, gốm Biên Hòa sản xuất tại trường kỹ nghệ Biên Hòa được tráng men Pháp nhưng sau một thời gian, dưới sự lãnh đạo của người phụ trách rất có tài và có tâm là bà Marie Balick, nhóm nghiên cứu men mớichỉ dùng nguyên liệu trong nước như đất sét Bình Phước, đá trắng An Giang, vôi Càn Long, tro rơm, tro củi, tro trấu và thủy tinh. Các nguyên liệu nội địa đó sẽ cho ra loại men trong, rất thích hợp với chất đất và phong cách tạo hình của gốm Biên Hòa. Họ dùng kim loại mạt đồng, đá đỏ (đá ong Biên Hòa) và bột màu cobalt để tạo nên màu sắc của men. Một trong những màu men nổi tiếng nhất của gốm Biên Hòa là men xanh đồng (vert de Bien Hoa). Ngoài ra, gốm Biên Hòa còn có các men đẹp khác là men màu xanh dương, màu đá đỏ, màu trắng ta,… rất được ưa chuộng.

Dòng men do trường Mỹ nghệ Biên Hòa chế tạo thường có nhiệt độ chảy cao. Khi nung tới 12500c, men mới bắt đầu rướm chảy, các hóa chất trong hỗn hợp men sẽ từ từ hóa lỏng. Sự bóng láng bề mặt xảy ra ở nhiệt độ12800c trong một khoảng lưu nhiệt kéo dài nhất định. Vì nhiệt độ nung cao nên các màu men có một vẻ đẹp rất thâm trầm, sâu lắng.

Vert de Bien Hoa, men màu xanh đồng nổi tiếng thế giới, là sự kết hợp của men tro và chất tạo màu bằng hợp kim đồng. Có một hệ thống men xanh đồng được sử dụng trong thực tế là xanh ve chai, xanh lá và xanh ngọc do người thợ Biên Hòa sản xuất. Khi làm nguội trong lúc nung lò, người thợ Biên Hòa đã có cáchxử lý tốt, điều này dẫn đến hiện tượng khử oxy và tạo tinh thể đồng trên men. Khuynh hướng tạo tinh thể đồng thường xảy ra không đều trên bề mặt men, vì vậy mặt men màu xanh đồng sẽ có những đốm mà người trong nghề thường gọi là xanh đồng trổ bông. Bông có thể đen hay vàng. Trong nhiều trường hợp, ở trên cùng một sản phẩm có thể mặt này trổ bông đen, mặt kia lại có bông vàng. Nguyên liệu làm men dễ trổ bông là tro trấu có độ nhớt cao, đồng sẽ ít bị phân tán nên dễ ra bông. Mặt khác, kỹ thuật chấm men cũng ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng của màu men. Đối với hệ thống men tro là nguyên liệu có tính lắng đọng cao, nếu người thợ không thường xuyên khuấy đều trong lúc sử dụng sẽ gây ra hiện tượng men nhiều nước, điều này sẽ làm nhạt màu và không có bông.

Gốm Biên Hòa còn nổi tiếng với màu men đá đỏ (đá ong). Khi vùi dưới lớp đất dày chừng một mét trở lên thì đá ong mềm, có thể dùng xẻng xắn được dễ dàng. Đá ong chứa oxit sắt và oxit nhôm, khi đã lấy lên mặt đất, đá ong mới cứng dần. Hàm lượng oxit sắt trong đá ong chứa tới 25%, vì vậy đá ong luôn luôn có màu đỏ hơi đậm. Đá đỏ trộn với men trắng sẽ cho ra màu nâu, màu đỏ đậm, màu vàng đất tùy theo tỷ lệ trộn giữa đá và men.

Một trong những màu men hay được sử dụng trên gốm Biên Hòa là men màu trắng ta. Đây cũng là màu men được đánh giá rất cao về giá trị nghệ thuật. Men trắng ta có màu hơi ngà và trong nên rất thích hợp làm trung gian cho sự phối màu của nghệ nhân. Sở dĩ gọi là men trắng, bởi các thành phần phối liệu đều là nguyên liệu trong nước. Ngoài ra, loại men cao độ còn có các màu khác là xanh coban, nâu vàng, trắng đục, xanh crôm…

Bên cạnh men cao độ, dòng men lửa trung với những màu sáng được sử dụng nhiều tại các làng gốm Biên Hòa. Đây là dòng men khá phong phú về màu sắc với cả hai tông màu là nóng và lạnh. Hệ màu nóng gồm có các màu vàng, cam, hồng, đỏ, nâu. Hệ màu lạnh có các màu xanh lá, xanh dương, xanh lam, tím…Các màu trung gian có màu trắng, đen. Tất cả các màu men đều có thể có được sắc độđậm và nhạt tùy theo yêu cầu của khách hàng.

Trên gốm Biên Hòa, các màu men được phối hợp với nhau rất hài hòa trong một tổng thể đã được đính sẵn. Với tính đặc trưng là trang trí bằng các nét khắc, các mảng màu được phân định sẵn, rõ ràng không có sự lem qua lại giữa các màu. Vì vậy, đặc điểm trang trí của gốm Biên Hòa (có thể nói là) đã kế thừa và phát triển tính trang trí trên gốm hoa nâu thời nhà Trần.

Qua các sản phẩm gốm Biên Hòa, có thể thấy rõ hai trường phái phối màu khác nhau theo hai dòng men nặng và trung lửa (men cao và trung độ).

Trường phái thứ nhất là trang trí bằng các màu men nặng lửa của Trường Mỹnghệ Biên Hòa. Xuất phát từ cái gốc của mỹ thuật, sự phối màu của thày và trò đều dựa trên cơ sở khoa học. Các màu được sắp xếp sao cho vừa nêu rõ được cái đẹp, cái nổi bật của mảng chính, lại vừa có tính chuyển tiếp, hài hòa trong tổng thể của một sản phẩm. Trên mỗi chiếc bình, hũ hay chén đĩa,… số lượng màu rất hạn chế, chỉ từ 2 đến 5 màu nhưng vẫn cho thấy đủ màu chính và màu trung gian, vẫn gợi mở được cái sâu thẳm của không gian. Chính sắc độ và cách phối màu đã đưa gốm Biên Hòa đến cái đẹp không rực rỡ nhưng có hồn, nó cuốn hút người xem,càng nhìn càng cảm nhận được tính sang trọng và cao quý, cảm nhận được chiều sâu của vẻ đẹp qua một tác phẩm.

Trường phái thứ hai là trang trí với những màu men sáng. Do sự phong phú về số lượng màu sắc nên người thợ thường phối màu có tính vui vẻ và rực rỡ trên nhiều sản phẩm. Đó là những bông hoa khoe sắc, những hình tượng rồng, phượng rực rỡ trên không trung, là những mảng màu có tính tương phản trên cùng một sản phẩm. Tuy cũng nhiều bình, chậu có sự phối màu dịu dàng song nhìn chung, trường phái này hơi lạm dụng tính tương phản của màu. Nó cho ra nhiều sản phẩm mới nhìn rất rực rỡ, bắt mắt nhưng nhìn lâu sẽ có sự nhàm chán, thiếu chiều sâu cuốn hút.

Giá trị nghệ thuật của gốm Biên Hòa thể hiện qua hai phương diện là tạo hình và trang trí sản phẩm. Bằng những đặc trưng và kỹ thuật sản xuất riêng, nghệ nhân Biên Hòa đã sản sinh ra được một dòng sản phẩm gốm có giá trị thẩm mỹ cao, được đón nhận và tôn vinh tại các cuộc triển lãm trong nước cũng như quốc tế. Một yếu tố đã góp phần làm nên sự nổi tiếng của gốm Biên Hòa chính là những sắc men màu. Với phong cách phân mảng màu sắc riêng biệt cùng với kỹ năng phối màu men mang tính sáng tạo, trên cơ sở những màu men truyền thống nổi tiếng,nghệ nhân gốm Biên Hòa đã nâng nghệ thuật trang trí gốm vươn tới cái đẹp của sự hoàn thiện.

Nguồn: Tạp chí VHNT số 335, tháng 5-2012
Tác giả: Trần Đình Quả

Read Full Post »

*Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Trang Trí Đồng Nai

*Nghệ thuật tạo hình gốm Biên Hòa

*Nghệ thuật trang trí gốm Biên Hòa

*Men màu trên gốm Biên Hòa

*Nghệ nhân nghề gốm Biên Hòa

*Gốm Mỹ Thuật Biên Hòa

*Tìm hiểu gốm Biên Hòa

*Gốm nông dân Trung An – Củ Chi

*Chùa mục đồng & tượng muc đồng ở Nam Bộ

*300năm nghệ thuật tạo hình Phật tượng Gia Định –Sài Gòn

*Gốm mỹ nghệ Biên Hòa xưa

*Nghệ thuật tạo hình tượng Phật trong gốm mỹ nghệ Biên Hòa

*Phật tượng gốm sứ ở nam bộ

*Lò làm lu Đại Hưng – Bình Dương

*Vẻ đẹp gốm cây mai

*Gốm Bình Dương – chi tiết các giai đoạn phát triển

*Gốm sứ Bình Dương ngày nay

*Gốm Lái Thiêu – gốm gia dụng miền nam

*Gốm Sài Gòn xưa – tư liệu khảo cổ

*Gốm sản xuất ở miền đông nam bộ

*Gốm cây mai của Sài Gòn xưa

*Gốm Biên Hòa –Đồng Nai

*Đồ gốm cổ tìm thấy ở sông Đồng nai

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN

Read Full Post »

Đôi dòng gởi đến bạn đọc :

Những hiện vật này do Khanhhoathuynga chụp tại BẢO TÀNG TỈNH ĐỒNG NAI  .Xin các bạn lưu ý khi trích dẫn hình ảnh xin vui lòng ghi đúng địa điểm trưng bày hiện vật . Có một số trang khi lấy hình ảnh đã ghi sai địa điểm trưng bày ( chủ sở hữu ) Xin  các website  này vui lòng chỉnh sửa lại cho đúng . Chân thành cảm ơn .

Gốm Mỹ Thuật Biên Hòa trưng bày tại bảo tàng tỉnh Đồng Nai .

Biên Hòa là một thành phố loại II  ở  Việt Nam , nằm  phía tây tỉnh  Đồng Nai  cách trung tâm Tp HCM 30km ( theo xa lộ HN và QL 1A ) . Biên Hòa là một thành phố có nhiều điểm du lịch khá hấp dẫn và đang được khai thác , có nhiều di tích lịch sử văn hóa quốc gia    . Trải qua nhiều thời kỳ lịch sử người dân Biên Hòa đã xây dựng những cơ sở tín ngưỡng tôn giáo  khá phong phú với nhiều loại hình, quy mô và kiểu thức kiến trúc. Một số cơ sở tín ngưỡng với giá trị tiêu biểu đã được nhà nước xếp hạng di tích lịch sử. Sự sáng tạo không ngừng của người  dân Biên Hòa với những kiến trúc hiện tồn tại qua nhiều giai đoạn lịch sử là những minh chứng hùng hồn cho sự sáng tạo không ngừng của các lớp thế hệ  dân cư trên vùng đất Biên Hòa . Những kiến trúc truyền thống được gìn giữ và sự kết hợp hài hòa kiến trúc mới trong nhiều giai đoạn đã làm phong phú về công trình kiến trúc nghệ thuật của Biên Hòa. Những tác phẩm điêu khắc gỗ, đá, gốm được sử dụng trang trí trong các cơ sở tín ngưỡng tôn giáo trên địa bàn Biên Hòa có giá trị nghệ thuật cao, thể hiện tài năng sáng tạo của bao lớp nghệ nhân Biên Hòa . Với một hướng đi riêng từ khi mới ra đời, các sản phẩm gốm được  trang trí nhiều màu , chạm khắc chi tiết hoa văn đặc sắc , nhiều màu men lạ mắt tạo cho các sản phẩm gốm Biên Hòa có một sắc thái riêng , có chiều sâu  càng nhìn càng thấy  đẹp và  đã được triển lãm ờ nhiều nước , được tặng nhiều huy chương , bằng khen danh dự ở Pháp , Nhật , Thái Lan , Indonesia , Campuchia , Réunion .

Bạn hãy thử một lần tìm đến Thành Phố Biên Hòa  để tự mình chiêm ngưỡng nhiều dấu tích về thời hưng thịnh với những công trình mang đậm nét  tín ngưỡng. Những tinh hoa trong các làng nghề gốm sứ, điêu khắc hay những sự kiện lịch sử trong lao động , bảo vệ lãnh thổ và  các di tích văn hóa của vùng đất này.

Từ thành Phố Hồ Chí Minh đi theo hướng QL 1K , qua cầu Hóa An là tới Thành Phố Biên Hòa , ngôi trường đã đào tạo ra nhiều nghệ nhân của nghành gốm , suốt hơn một thế kỷ tồn tại và phát triển  , trường đã  nhiều  lần đổi tên do nội  dung đào tạo điều chỉnh theo từng thời kỳ  nay được mang tên là Trường Cao Đẳng Trang Trí Mỹ Thuật Đồng Nai  nằm ngay tại khu trung tâm hành chính của thành phố  Biên Hòa   , đối điên trường  là Bảo tàng tỉnh  Đồng Nai là nơi được  trưng bày các  hiện   vật lịch sử , khảo cổ , dân tộc học , các sản phẩm nghành nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống của tỉnh Đồng Nai  qua các thời kỳ  Trong đó có một phần trưng bày gốm  . Phòng trưng bày và giới thiệu  các sản phẩm gốm Mỹ Thuật Biên Hòa qua các thời đại được đặt  trên lầu 2 của Bảo Tàng tỉnh Đồng Nai với không gian thật ấm cúng và nhẹ nhàng tạo cho người xem một cảm giác thích thú và say mê

Trước lối đi vào phòng trưng bày là một bức tranh với khổ rộng , tấm bảng với lời giới thiệu về miền đất thanh bình , người dân bản địa hiền hòa và dễ mến , một vùng đất đã sản sinh ra  các nghệ  nhân với khối óc  sáng tạo và đôi bàn tay khéo léo đã để lại cho đời nhiều tác phẩm đẹp  .

Mời các bạn xem một số hình ảnh các sản phẩm gốm được  chụp tại phòng trưng bày Bảo tàng Tỉnh Đồng Nai

1/Lời giới thiệu

“” Nhà bè nước chảy chia hai

Ai về Gia Định , Đồng Nai thì về “” .

Câu hát xa xưa vang vọng một thời khai phá  , hội nhập lưu dân tứ xứ , rạng danh vùng đất Đồng Nai .

Từ Trấn Biên dinh đến tỉnh Biên Hòa , lòng đất , lòng người mở hội . Bỗng đâu thực dân kéo tới khiến cho  ‘’ tranh ngói nhuốm màu mây ‘’ . Tiếp theo cờ nghĩa “” Bình Tây “’ Đảng Cộng Sản Việt Nam quang vinh lãnh đạo toàn dân giành chánh quyền , rồi trường kỳ kháng chiến . Những chiến thắng : Trảng Táo , La Ngà , Đồng Xoài  , Bàu Cá …. Lưu danh hào khí miền Đông .

Kháng chiến chống thực dân Pháp thành công , lại nối tiếp chiến công chống Mỹ .Những kỳ tích : nhà Xanh , sân bay Biên Hòa , Long Bình , thành Tuy Hạ … lừng lẫy “năm châu “ , lung lay “ lầu Trắng “ . và “”thần tốc ,  táo bạo ,bất ngờ , chắc thắng “” đại quân giải phóng đập tan cánh cửa thép Xuân Lộc , tiến về Sài Gòn , hoàn thành chiến dịch HCM lịch sử .

Bước vào kỷ nguyện độc lập tự do , Đống Nai cùng cả nước góp phần bảo vễ và xây dựng tổ quốc .Công cuộc đổi mới của Đảng và nhà nước đem lại cho Đống nai vận hội mới phát triển kinh tế – xã hội vì mục tiêu “ dân giàu , nước mạnh , xã hội công bắng văn minh . “’ .

Kết hợp truyền thống và hiện đại , bằng nhựng tư liệu , hình ảnh  và các sưu tập hiện vật gốc thông qua mỹ thuật trưng bày  . Bảo Tàng Đồng Nai mong thể hiện được quá khứ hào hùng của Đồng Nai để làm hành trang hướng tới tương lai .

2/ Bức tranh treo ngoài hành lang trước khi vào phòng trưng bày hiện vật .


3/Tủ trưng bày những sản phẩm điêu khắc đá nghệ thuật


4/Tượng Phật  điêu khắc đá .

5/



6/Các sản phẩm gốm Biên hòa qua các thời đại .

7/Ché 6 quai


Ché 6 quai gốm trường Mỹ Nghệ Biên Hòa từ năm 1936- 1954

Hoa văn dây lá cúc cách điệu . Men xanh và vàng

8/Bình Vũ Nữ


Gốm Hợp tác xã Thái Dương  được làm  1992

9/ Ché Miền Thượng


Gốm Biên Hòa được làm năm 1954  . màu men xanh dương .

10/Bình trống đồng 3 quai


Gốm Hợp tác xã thái Dương  được làm năm 1991 .

11/ Ống dù múa trống  tây Nguyên


Sản phẩm màu của cơ sở gốm Thanh Châu

12/Bình Hoa Cúc


Gốm trường Mỹ Nghệ Biên Hòa được làm năm 1939

13/Bình Tứ Công hai quai


Gốm hợp tác xã thái Dương được làm năm 1991

14/ Bình sản xuất nông nghiệp


Gốm Biên Hòa năm 1985 . men xanh ngọc

15/Bình trái cổ cao


Gốm Công ty TNHH Đông Thành được làm 1992 .

16/Bình tứ ngựa hai quai


Gốm Hợp tác xã Thái Dương được làm 1991

17/ tranh ghép gốm


Tái hiện hình ảnh Lục Vân Tiên gặp lại Kiều Nguyệt Nga .

Trích tác phẩm Lục Vân Tiên  của Nguyễn Đình Chiểu  , tác phẩm văn học Nam Bộ .

Tác Giả : Nguyễn Văn Trí – Phường Bửu Hòa – TP Biên Hòa . được làm năm 1996 .

18/Phù điêu Hát Đào


Tác Phẩm gốm của GS Lê Văn Mậu . được làm năm 1963 .

19/ Phù điêu Trưng Vương khởi nghĩa


Tác phẩm đất nung giả đồng  của GS  Lê Văn Mậu , được làm năm 1955 .

20/ Phù điêu đám cưới .


Tác phẩm của GS Lê Văn Mậu , được làm năm 1965 .

21/


22/ Ché Rượu


Bình đầu tay của Ông Đặng văn Qưới  .

Thực hiện tại trường Bá Nghệ  Biên Hòa năm 1906

22/ Tủ trưng bày gốm thủ công mỹ nghệ


23/Bình trà chữ Tửu


Tác phẩm của Nghệ nhân Nguyễn Văn Trâm  , được làm năm 1963 .

24/ Bình cổ nhỏ


Gốm Trường Mỹ Nghệ Biên Hòa năm  19

25/ Bình Trà Con Rùa


Tác phẩm của tác giả Nguyễn Văn Trâm , được làm năm 1955 .

26/Bình Chân Lộc



Tác phẩm của trường Bá Nghệ Biên hòa  được làm năm 1935 .

27/


28/ Bình Hai Quai


Tác phẩm trường Mỹ Nghệ Biên Hòa  được làm năm 1963 .

29/


-Bầu Rượu

Tác phẩm trường Mỹ Nghệ Biên Hòa  năm 1952 .

-bầu rượu 2 quai

Tác phẩm gốm trường HTX  Biên Hòa được  năm 19 ..

-Liễn 5 quai

Tác phẩm gốm trường Mỹ Nghệ Biên Hòa năm 1950

-Bình Đấu Vật

Gốm Xí nghiệp DoNa  năm 1989 .

-Bình 4 quai

Tác phẩm gốm trường Bá Nghệ Biên Hòa năm 1941 .

-Liễn Hoa Sen

Hợp tác xã Biên Hòa năm 1950 .

30/


-Bình Trà Trái Bí

Tác Phẩm trường Mỹ Nghệ Biên Hòa năm 1941

-Bộ bình trà Con Chuột

Gốm HTX Biên Hòa năm 1949

-Bình Sữa Quai Thắt Nơ

Gốm Mỹ Nghệ Biên Hòa năm 1941

31/Hũ 4 quai rế


Tác phẩm trường Mỹ Nghệ Biên Hòa năm 1935 .( bình bên phải )

32 /Bằng Tốt Nghiệp


Bằng Tốt Nghiệp của ông Đặng Văn  Qưới , một trong những học viên đầu tiên tốt nghiệp trường Bá Nghệ Biên Hòa năm 1907 .

33/ Bằng Khen


Bằng khen trường Bá Nghệ Biên Hòa .

34/



35/ Chậu


Gốm đầu tay của Ông Đặng Văn Qưới .

Thực hiện tại trường năm 1906

36/Bình 2 bầu


Gốm trường Mỹ Nghệ Biên Hòa năm 1953

37/Tượng Ông Thọ


Gốm HTX Biên Hòa năm 1960 .

38/Bình chân Voi


Gốm trường Mỹ Nghệ Biên Hòa năm 1939 .

39/





40/ Bình chân đèn Lộng


Giáo Viên Nguyễn văn Trâm

Thực hiện tại trường Mỹ Nghệ năm 1963 .


Khanhhoathuynga

Hình ảnh  : Khanhhoathuynga .

 

MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN

Read Full Post »

Nghệ nhân nghề gốm Biên Hòa.Họ khác nhau về tuổi tác, tập quán sinh sống và chưa từng biết nhau, song những con người ấy lại có cùng một ước mơ, một mong muốn cháy bỏng là lưu giữ nghề truyền thống của quê hương. Không ít người đã chấp nhận cuộc sống bần hàn để vui buồn cùng nghề.

* HƠN 60 NĂM GẮN BÓ VỚI NGHỀ GỐM

Đã 78 tuổi nhưng nghệ nhân Trần Văn Là ở Biên Hòa vẫn còn khá minh mẫn khi hồi tưởng lại quá khứ, từ những ngày tóc còn để chỏm đã mê nghề làm gốm. Theo lời ông Là, thì 16 tuổi ông đã tập tành theo nghề gốm tại các cơ sở gốm ở Tân Vạn. Lúc đó trong ông luôn ấp ủ một mơ ước sau này sẽ trở thành thợ gốm chuyên nghiệp có thể tạo ra các mẫu gốm đặc sắc mang sắc thái riêng của Biên Hòa – Đồng Nai. Để thực hiện ước mơ, năm 1948 ông Là đã theo học Trường mỹ nghệ thực hành Biên Hòa (nay là Trường cao đẳng mỹ thuật trang trí Đồng Nai). Sau 4 năm tốt nghiệp ra trường, ông Là trở thành thợ thiết kế mẫu cho nhiều cơ sở gốm nổi tiếng ở Biên Hòa.

Ông Trần Văn Là thiết kế mẫu rồng.

Với tài hoa vốn có và lại được đào tạo bài bản nên ông Là đã sớm nổi danh trong làng gốm vì đã thiết kế ra nhiều mẫu mã, hoa văn đặc sắc trên bình hoa, chậu hoa được khách hàng trong và ngoài nước rất ưa thích. Gốm Biên Hòa trước năm 1975 rất thịnh, lúc đó các lò gốm đa số tập trung ở phường Tân Vạn, xã Hóa An (TP.Biên Hòa). Gốm xuất xưởng bao nhiêu đều hết và được xuất khẩu sang nhiều nước như: Pháp, Mỹ, Nhật… Nét đặc trưng riêng của gốm Biên Hòa là dùng tro rơm, tro than củi làm nguyên liệu pha chế và đốt bằng củi để tạo màu sắc riêng biệt. Khoảng thời gian sau năm 1980, nhiều xưởng gốm bắt đầu nhập các nguồn nguyên liệu mới về và đổi mới một số quy trình công nghệ, khiến gốm Biên Hòa mất dần nét đẹp truyền thống. Ông Là cho hay: “Hiện nay chỉ còn lò gốm Kim Long, Phong Sơn ở TP. Biên Hòa là giữ được nhiều nét gốm xưa, các lò gốm khác phần lớn đã thay đổi, các mặt hàng tuy phong phú, nhiều màu sắc nhưng không còn nét đẹp bí ẩn riêng biệt nên giảm dần sự thu hút khách hàng sành chơi gốm”. Do đó, đầu ra của gốm hiện rất hạn chế và gốm Biên Hòa xưa đang dần bị mai một.

Sau hơn 60 năm gắn bó với nghề, ông Là đã thiết kế ra hàng ngàn mẫu gốm và ông là một trong số ít người gắn bó lâu năm nhất với nghề gốm.

Gốm Biên Hòa.

Ông Trần Văn Là thiết kế mẫu rồng.
Gốm Biên Hòa.

Rất cần những bàn tay của các nghệ nhân

để tạo ra những sản phẩm ưng ý

Mất dần bản sắc

Lịch sử nghề gốm sứ của Việt Nam có hơn 10.000 năm trước đây, từ thời tiền sử, thời đồ đồng, thời Lý, Trần… cho đến nay gốm sứ đã đạt những đỉnh cao về kỹ thuật và mỹ thuật. Nhiều trung tâm gốm sứ đã hình thành trong cả nước với những sản phẩm đặc trưng riêng như gốm Bát Tràng, Chu Đậu, Phù Lãng, Bàu Trúc, Bình Dương, Vĩnh Long… Trong tiến trình hội nhập, phát triển gốm sứ Việt không chỉ gặp những khó khăn do quy mô nhỏ lẻ, phân tán, mẫu mã chậm cải tiến, công nghệ chậm đổi mới, ô nhiễm môi trường còn nặng nề mà điều đáng quan tâm nhất là nhiều làng nghề đang dần mai một hoặc những đặc trưng, nét độc đáo đã không còn.

“Điều gì đã xảy ra với làng nghề gốm Đồng Nai?” là câu hỏi đầy tâm trạng của ông Huỳnh Dũng Nghĩa- Chủ tịch Hiệp hội Gốm mỹ nghệ tỉnh Đồng Nai. Làng nghề gốm sứ Đồng Nai trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử 300 năm phát triển. Tại triển lãm quốc tế ở Paris năm 1925 gốm Biên Hòa đã được nhiều nước trên thế giới biết đến nhưng nay gốm Biên Hòa đang trở nên mờ nhạt. So với năm 2000, số cơ sở làm gốm hiện nay giảm hơn 60%, “Điều may mắn là vẫn còn khoảng 40 cơ sở đang hoạt động”, ông Nghĩa cho biết. Đặc trưng của gốm sứ Biên Hòa là loại gốm màu men xanh trổ đồng không lẫn với bất kỳ dòng gốm của các địa phương khác. Nhưng loại men xanh trổ đồng đặc trưng của gốm Biên Hòa đã mất đi và loại gốm đất đen đặc trưng của Biên Hòa cũng dần mai một. Liệu có cách nào phục hồi, một khi những nghệ nhân am tường kỹ thuật chế tác cũng mất đi?

Theo Tiến sĩ Phạm Quốc Quân- Giám đốc Bảo tàng cách mạng Việt Nam thì khu vực làng nghề của các trung tâm sản xuất gốm sứ Việt Nam không được bảo tồn. Bát Tràng thì đang bị đô thị hóa, Thủ Dầu Một, Biên Hòa đang phát triển theo hướng khu công nghiệp. Những làng gốm nhỏ như Phù Lãng, Hương Canh, Thổ Hà đang phát triển tự phát, thiếu quy hoạch, thiếu định hướng. Phải chăng đây là hướng đi thiếu bền vững và ít lưu tâm đến giá trị truyền thống?

Cần một chương trình hành động

Ông Vũ Quốc Tuấn- Chủ tịch Hiệp hội làng nghề Việt Nam nhận định: Công việc chúng ta cần làm là nhận diện và xác định rõ các nghề gốm truyền thống trong di sản văn hóa phi vật thể hiện có trên toàn quốc và mỗi địa phương cần được bảo vệ. Nhà nước cần có chính sách phát huy vai trò của nghề gốm thủ công truyền thống trong xã hội và lồng ghép việc bảo vệ loại hình di sản này vào các chương trình, quy hoạch, chỉ định cơ quan đủ năng lực bảo vệ nghề gốm thủ công truyền thống trên địa bàn.

Trong chuỗi giá trị của gốm sứ thì khâu nguyên liệu, chế tác và nung gốm tạo ra bản sắc riêng của từng dòng gốm, phong cách gốm. Đất làm gốm của từng vùng miền khác nhau và được chế tác theo bí quyết riêng tạo nên sự khác biệt. Vì vậy trong quy hoạch, vùng có nguyên liệu tạo bản sắc riêng cho gốm cần được bảo vệ. “Cần phải xem xét và cải thiện vấn đề quy hoạch nguyên liệu cho sản xuất gốm sứ, mà theo tôi giữ tài nguyên còn quan trọng hơn tăng trưởng. Nguyên liệu đất làm gốm và tạo sự khác biệt giữa các dòng gốm không phải là vô tận và về lâu dài không thể nhập khẩu đất như châu Âu”, ông Nguyễn Lực-Trưởng đại diện Hiệp hội làng nghề tại TP. Hồ Chí Minh phân tích.

Một số tỉnh thành đã bắt đầu chú trọng đến việc bảo tồn và phát huy các giá trị phi vật thể và khai thác tiềm năng kinh tế của làng nghề gốm sứ như tỉnh Ninh Thuận đang xây dựng chiến lược maketting cho gốm Bàu Trúc. Tỉnh Bình Dương đã công nhận cơ sở sản xuất gốm Lò Lu hơn 150 năm tuổi là di tích văn hóa, lịch sử cấp tỉnh. Nơi đây giữ nguyên từ kiến trúc, diện tích khuôn viên, đến các công trình bên trong và kỹ thuật sản xuất, Lò Lu còn là một điểm đến trong tour du lịch sinh thái của tỉnh.

Ngoài ra để vững bước trên con đường hội nhập, bản thân các cơ sở ở những làng nghề gốm sứ phải thực hiện việc tổ chức lại sản xuất, kinh doanh. Để tăng sức cạnh tranh cần tăng cường liên kết, liên doanh giữa các cơ sở sản xuất với nhau, giữa sản xuất với tiêu thụ. Đây là điều cốt lõi để nâng cao năng lực của cơ sở nhưng vẫn còn là khâu rất yếu của các làng nghề.

MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN

Read Full Post »

Older Posts »