Feeds:
Bài viết
Phản hồi

Archive for the ‘Gốm sản xuất ở Bắc Bộ’ Category

*Gốm Bát Tràng

*Gốm Phù Lãng hiện nay

*Gốm Việt ở viện bảo tàng Anh  – Luân Đôn

*Nghề gốm và gốm thời Lý- Trần

*Gốm Chu Đậu sau 400 năm thất truyền

*Gốm các dân tộc thiểu số Bắc Bộ

*Gốm Thổ Hà –Bắc Giang

*Gốm Luy Lâu

*Nghề gốm Trù Sơn – nghề mưu sinh

*Thời của những ông chủ trẻ làng nghề gốm Phù Lãng

*Gốm cổ xứ Nghệ

*Đến Bát Tràng mua hàng Phù Lãng…..

*Gốm Phù Lãng và sản phẩm tiêu biểu

*Vì sao làng gốm Hương Canh chỉ còn cái tên

*Gốm Hương Canh –Vĩnh Phúc

*Gốm Phù Lãng

*Ông tổ nghề một số làngnghề  gốm tại VN

*Chu Đậu , đồ gốm cổ truyền VN

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN

Read Full Post »

Nằm bên tả ngạn sông Hồng cách trung tâm thủ đô Hà Nội hơn 10 km về phía Đông Nam. Bát Tràng là một làng gốm cổ truyền nổi tiếng của Việt Nam .

Ban đầu xã Bát Tràng  với tên là xã Bát  , làng Bát từ đời nhà Trần  . Thời Lê xã Bát Tràng  thuộc  huyện Gia Lâm , phủ Thuận An Trấn Kinh Bắc . Sang thời Nguyễn năm 1822 trấn kinh bắc đổi thành trấn Bắc Ninh , năm 1831 đổi thành tỉnh Bắc Ninh  . Lúc này xã Bát Tràng thuộc tổng Đông Du , huyên Gia lâm  , phủ thuận An  , đến năm 1862 chia về phủ Thuận Thành  và năm 1912 chia về phủ Từ Sơn . Sau cách mạng tháng tám 1945 , có một thời gian ngắn từ tháng 2  đến tháng 11 năm 1949 huyện Gia Lâm thuộc về tỉnh Hưng Yên . Năm 1948  xã Bát Tràng nhập với xã Giang cao và xã Kim Lan thành xã Quang Minh . từ năm 1964 tên xã Bát Tràng được khôi phục gồm Bát Tràng và Giang Cao như hiện nay .

Theo các thư tịch cổ thì nghề gốm xuất hiện ở  Bát Tràng từ thế kỷ thứ XV , nhưng theo những tư liệu thu thập được  ở Bát Tràng thì làng gốm này có thể ra đời sớm hơn . Năm 1010 vua Lý Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ( Ninh Bình ) về Thăng Long ( Hà Nội ) . Thăng Long trở thành trung tâm chính trị , kinh tế và văn hóa của cả nước , do nhu cầu phát triển của kinh thành  nhiều thương nhân , thợ thủ công từ các nơi tìm về Thăng Long để lập nghiệp , Thăng Long ngày càng mở mang và phát triển  , một loạt các làng ven đô cũng dần phát triển kinh tế  ,  trong đó có làng Bát Tràng .Do gần kinh thành lại nằm bên bờ sông Hồng  , Bát Tràng có điều kiện giao thông thuận lợi để phát triển công thương nghiệp , đăc biệt ở vùng này lại có nhiều đất sét trắng  ,theo  người dân Bát Tràng ngày xưa ở đây có 72  gò đất sét trắng ,  một nguồn nguyên liệu tốt để sản xuất đồ gốm .Lúc bấy giờ một số thợ gốm Bồ Bát ((xã Bồ Xuyên và trang Bạch Bát thuộc tổng Bạch Bát, huyện Yên Mô, phủ Trường Yên, trấn Thanh Hóa ngoại, nay là hai thôn của xã Yên Thành, huyện    Yên Mô , tỉnh Ninh Bình )   đã di cư về Bát Tràng để lập lò gốm  ,  khi mới đến lập nghiệp ở vùng này , dân Bồ Bát đặt tên cho quê mới của mình là Bạch Thổ Phường , tức phường đất trắng . Khi công việc sản xuất gốm đã ổn định , người dân ở đây đã đổi tên Bạch Thổ Phường  thành Bát Tràng Phường , ý nói là Phường có trăm lò bát . Cuối cùng họ mới đổi tên thành Bát Tràng ( nơi làm bát ) . Bát Tràng từ một làng gốm bình thường đã trở thành trung tâm gốm nổi tiếng được triều đình chọn cung cấp đồ cống phẩm cho triều đại nhà Minh  .

Người  dân Bát Tràng đến nay vẫn lưu truyền một huyền thoại về nguồn gốc của nghề gốm như sau :

Vào thời Lý ( 1010 – 1225 ) , có ba vị Thái học sinh ( học vị như Tiến sĩ ) là Hứa Vĩnh Kiều ( hay Cảo ) , Đào Trí Tiến  và Lưu Phương Tú ( hay Lưu Vĩnh Phong ) , được cử đi sứ Bắc Tống (  960 – 1127 ) . Sau khi hoàn thành sứ mạng , trên đường trở về nước qua Thiều châu ( Quảng Đông – Trung Quốc ) thì gặp bão , phải nghỉ lại . Ở đây có lò gốm nổi tiếng , ba ông đến thăm và học được một số kỹ thuật đem về truyền bá cho dân chúng quê hương .

Hứa Vĩnh Kiều ( hay Cảo )  truyền cho Bát Tràng nước men trắng

Đào Trí Tiến truyền cho Thổ Hà ( Việt Yên – Hà Bắc ) nước men sắc đỏ

Lưu Phương Tú ( Lưu Vĩnh Phong )  truyền cho Phù Lãng ( Quế Võ – Hà Bắc ) nước men màu vàng thẫm

Câu chuyện trên cũng được lưu truyền ở Thổ Hà và Phù Lãng với ít nhiều sai biệt về tình tiết . Điều đáng lưu ý là theo những tư liệu dân gian này , nghề gốm Bát Tràng đã có từ thời Lý , ngang với thời Bắc Tống nghĩa là trước năm 1127 , khoảng đầu thế kỷ XII . Nhưng cho đến nay , chưa tìm thấy tư liệu  lịch sử  nào xác nhận tiểu sử của ba nhân vật trên .

Gốm Bát Tràng rất nổi tiếng ,  địa danh gốm Bát Tràng đã đi vào  thơ  và ca dao tục ngữ . Bằng vốn di sản kinh nghiêm nghề nghiệp những người thợ đã đưa nghề gốm ở đây lên đỉnh cao , những loại gốm quý và độc đáo nổi tiếng khắp trong và ngoài nước như : gốm men ngọc ( thời Lý – Trần ) gốm men nâu hay gốm hoa nâu ( cuối Trần – đầu Lê ) gốm men rạn ( thời  Lê –  Trịnh )và gốm hoa lam  ( vào cuối thời Nguyễn ) . Nhiều  sản phẩm gốm men ngọc , men rạn  , hoa lam của Bát Tràng rất hoàn mỹ , được coi là đỉnh cao của nghệ thuật và kỹ thuật gốm ở Việt Nam và đã trở thành  những tác  phẩm nghệ thuật gốm cổ , quý giá .

Sản phẩm gốm Bát Tràng phong phú và đa dạng  , với đôi bàn tay khéo léo của thợ gốm họ đã làm ra những sản phẩm gốm tinh xảo như : độc bình , chân đèn , đôn , bình vôi , nậm , chóe bằng gốm men ngọc và men chảy , hoa lam , men rạn , Trong suốt mấy trăm  năm  nay , gốm hoa lam tiếp tục ra đời khg hề đứt đoạn ở làng gốm Bát Tràng . Song song với các sản phẩm gốm đàn dân dụng , gốm hoa lam của Bát Tràng đã đi vào đời sống nhân dân cả nước  , mà trước hết là các tỉnh Bắc Bộ . Ngoài các mặt hàng truyền thống  , các lò gốm Bát Tràng còn sản xuất nhiều sản phẩm mới nhằm đáp ứng yêu cầu tiêu dùng của người dân trong khắp cả nước như các loại ấm chén , bát đĩa , lọ hoa ,  đặc biệt là gạch Bát Tràng và các sản phẩm xuất khẩu theo đơn đặt hàng của nước ngoài .  …. Trên các sản phẩm không chỉ được tạo dáng uyển chuyển mà còn trang trí rồng uốn khúc đắp nổi , những hoa lá tinh tế , hoa văn khắc chìm nhìn rất sinh động , ngoài  men trắng ngà cổ truyền , người thợ Bát Tràng cũng biết dùng men màu và vẽ màu dưới men , giữa men , trên men , nhằm tạo hiệu quả huyền ảo cho người thưởng thức sản phẩm gốm Bát Tràng . Việc tìm đất , chọn nguồn đất nguyên liệu thích hợp , tạo ra các loại men từ tro , đất phù sa , đá màu , rỉ đồng . rỉ sắt , cũng như sự cải tiến kỹ thuật lò nung có hiệu quả đã chứng tỏ được tài nghệ của các nghệ nhân và thợ gốm nhiều thế hệ ở Bát Tràng .

Bát Tràng có may mắn và thuận lợi lớn là nằm bên bờ sông Hồng , ở khoảng giữa Thăng Long và Phố Hiến , trên đường thủy nối liền hai đô thị này và là cửa ngõ thông thương với thế giới bên ngoài  nên các sản phẩm gốm Bát Tràng được lưu thông rộng rãi . Từ cuối thời Trần đến thời Lê và đầu thời Nguyễn  một khối lượng lớn gốm các loại của Bát Tràng được xuất khẩu sang nhiều nước  như  : Nhật Bản , Malaixia , Thái lan , quần đảo Java , các nước trung đông , và một số nước châu âu . Trong nhiều gia đình quý tộc , thương gia , và trong một số bảo tàng các nước   cho đến nay vẫn còn lưu giữ nhiều di vật gốm Việt Nam trong đó có gốm Bát Tràng  .

Trong suốt quá trình nghề gốm của mình , người Bát Tràng luôn luôn ý thức tầm quan trong sống còn của làng nghề là thích nghi với hoàn cảnh biến đổi của nền kinh tế xã hội theo từng thời kỳ , họ nắm bắt nhanh các thành tựu gốm mới và đặc biệt quan tâm  thích ứng với thị hiếu , thẩm mỹ và yêu cầu của khách hàng trong và ngoài nước,  ưu tiên sản xuất các mặt hàng cao cấp đắt tiền , các đồ gốm giả cổ ….xưa kia các lò gốm thủ công tuyệt đối giấu nghề bằng biện pháp ‘’ cha truyền con nối ‘’ Trong đời sống cũng như quá trình sản xuất  người dân Bát Tràng có tinh thần cộng đồng  cao và ý thức bảo vệ quyền lợi nghề nghiệp . Bí quyết nghề nghiệp đặc biệt khâu pha chế men  được bảo vệ chặt chẽ . bí mật này chỉ được truyền cho con trai và những quy đinh trong các hương ước của làng , hay của dòng họ . Trước đây Bát Tràng có tục lệ trai gái trong làng lấy nhau , con trai có thể lấy vợ ngoài làng nhưng con gái nhất thiết không được lấy chồng ở làng khác  vì sợ để lô  bí quyết nghề của làng . Tục lệ này cũng phai mờ dần và nay  đã được xóa bỏ  .

Hiện nay làng gốm Bát Tràng đang phát triển sản xuất hai chủng loại gốm đó là

gốm giả cổ và gốm hiện đại   .  Khôi phục gốm cổ , người Bát Tràng cũng như các làng gốm khác đang làm sáng lên những giá trị di sản văn hóa  . không chỉ khôi phục , họ còn tìm tòi khai thác các men quý , men đẹp , dáng cổ để tạo ra các mặt hàng mỹ nghệ đặc sắc  đưa sản phẩm gốm Bát Tràng tới đỉnh cao của nghệ thuật .

Bát Tràng là một làng gốm lâu đời , nổi tiếng , có nhiều truyền thống văn hóa  vừa mang những sắc thái công đồng chung của làng xã vùng đồng bằng Bắc bộ , vừa phản ánh những nét đặc thù của nghề gốm , Ở làng gốm này , mọi lứa tuổi đều có công ăn việc làm , ít thấy trẻ em chạy ngoài đường , hoặc trai tráng ngồi chơi bê tha , các cụ già giỏi nghề , làm việc suốt ngày bên bàn tạo mẫu , hay bên lò nung đang rừng rực lửa . Phụ nữ thì vuốt gốm , phơi gốm , vào lò ….mỗi công đoạn sản xuất đòi hỏi nhiều thao tác , người thợ cần có trình độ kỹ thuật và mỹ thuật cao .Sản phẩm của người Bát Tràng là kết tinh của sức lao động cần cù , sự khéo tay và đầu óc thẩm mỹ .Bằng mọi cách để giữ lấy nghề và di sản quý của cha ông .Từ nền tảng đó họ ra sức sáng tạo  để  cho ra đời những sản phẩm gốm là những tác phẩm nghệ thuật  tinh túy  và sống động .

Khanhhoathuynga  tổng hợp .

HÌNH ẢNH GỐM BÁT TRÀNG TỪ THẾ KỶ 14  ĐẾN THẾ KỶ 19

This slideshow requires JavaScript.

This slideshow requires JavaScript.

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN

Read Full Post »

Gốm Việt ở Viện Bảo Tàng Anh, Luân Đôn

Nguồn: trang web của Philippe Trương

1.-  Chén có chân

Văn hóa Phùng Nguyên, 3.000 đến 1.500 năm trước Công Nguyên;

Đất nung có trang trí hình kỷ hà;

Bảo Tàng Anh ở Luân Đôn: tặng vật của ông A. W. Franks, OAF 3100.

2.- Thẩu, thế kỷ thứ X-XII;

Gốm, có chạm hình trang trí và vẽ màu nâu gỉ sét;

Bảo Tàng Anh ở Luân Đôn, OA. 1931.3-20.1


3.- Nai rượu, thế kỷ thứ XIII-XIV;

Gốm, trang trí hình vẽ màu nâu gỉ sét;

Bảo Tàng Anh ở Luân Đôn, OA. 2002.3-26.1


4.- Nai và bôi, thế kỷ thứ XIV;

Gốm phủ men ngọc;

Bảo Tàng Anh ở Luân Đôn, sở hữu thuộc Quỹ Brooke Sewell Permanent, OA. 2002.3-26.2 và 3.

5.- Nai (gãy vòi) và hai cái bôi, thế kỷ thứ XIII-XIV;

Gốm, áo men ngà;

Bảo Tàng Anh ở Luân Đôn, sở hữu thuộc tiến sĩ Sheila Macroe, OA. 2002. 2-1.

6.- Chén:

a) Chén có chân (ở hàng 1) thế kỷ XII-XIV, Gốm tráng men màu nâu gỉ sắt; Bảo Tàng Anh ở Luân Đôn, sở hữu thuộc Quỹ Brooke Sewell Permanent, OA. 2002.2-24.

b) Chén hình nón cụt (hàng 2 bên trái), Gốm tráng men lục, Bảo Tàng Anh ở Luân Đôn, OA. 1974.9-17.5.

7.- a) Chén (hàng 1) thế kỷ XII-XIII; gốm tráng men ngọc trắng; do tặng của bà B. Z. Seligman; Bảo Tàng Anh ở Luân Đôn, OA. 1973.7-26.404.

b) Chén (hàng thứ 2) thế kỷ XIII; gốm tráng men nâu bên ngoài và men màu kem ở bên trong; Bảo Tàng Anh ở Luân Đôn, sở hữu thuộc Quỹ Brooke Sewell Permanent, OA. 2003.7-28.4.

8.- Nai hình chim phụng, thế kỷ XV;

Gốm men lục;

Bảo Tàng Anh ở Luân Đôn, sở hữu thuộc Quỹ Brooke Sewell Permanent, OA. 2003.7-28.3.

9.- Nai hình Kỳ lân, thế kỷ XV;

Gốm tráng có vẽ hình trang trí men lam cobalt (lam Hồi);

Bảo Tàng Anh ở Luân Đôn, sở hữu thuộc Quỹ Brooke Sewell Permanent, OA. 2003.7-28.1.

10.- Nai hình “lý ngư”, thế kỷ 15;

Gốm có vẽ trang trí men nâu gỉ sét;

Bảo Tàng Anh ở Luân Đôn, sở hữu thuộc Quỹ Brooke Sewell Permanent, OA. 2003.7-28.2.

11.- Chóe, thế kỷ XV-XVI;

Gốm trang trí men đa sắc;

Bảo Tàng Anh ở Luân Đôn, OA. 1967.4-11.1.

Đức Chính sưu tầm và dịch

 

MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN

Read Full Post »

Gốm Phù Lãng hiện nay (2009)

Nằm bên bờ sông Cầu, cách Hà Nội khoảng 50 km và thành phố Bắc Ninh 20km, làng Phù Lãng ngày nay thuộc xã Phù Lãng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Đây là một làng nghề nổi tiếng trong và ngoài nước với nghề làm gốm truyền thống.

Cùng với làng Bát Tràng của Hà Nội và làng Thổ Hà của Bắc Giang, làng Phù Lãng được coi là một trong ba trung tâm gốm cổ của người Việt. Một số phát hiện khảo cổ cho thấy gốm Phù Lãng đã xuất hiện vào đời Trần, thế kỷ 13. Hiện nay, gốm cổ của Phù Lãng vẫn hiện diện trong nhiều di tích lịch sử ở châu thổ sông Hồng như các đình, đền, chùa…

Gốm Phù Lãng độc đáo ở chất men màu da lươn, thô mộc, khỏe khoắn, bền bỉ và chứa đựng vẻ đẹp nguyên sơ của đất. Sau những thăng trầm của lịch sử, tưởng chừng đã có lúc tàn lụi, nghề gốm ở Phù Lãng vẫn được duy trì và những năm gần đây có dấu hiệu phát triển lạc quan. Để phù hợp với nhu cầu thị trường, sản phẩm gốm Phù Lãng ngày nay đã có thêm nhiều sự cách tân, nhưng vẫn dựa trên cái xưa hồn mộc mạc của mình.

Sau đây là những hình ảnh Đất Việt ghi nhận ở làng gốm Phù Lãng.

Quang cảnh ấn tượng đập vào mắt du khách tới Phù Lãng là những đống củi được chất cao, có khi đến 3 – 4m ở hai bên đường làng. Đây là chất đốt cho những lò nung gốm Phù lãng nổi tiếng. Nhìn vào lượng củi sử dụng có thể thấy sức sống của làng nghề.
Làng có hàng chục xưởng gốm. Mỗi xưởng gốm thường có trên dưới 10 nhân công, đảm nhiệm những công đoạn khác nhau.
Loại đất sét dùng để làm gốm Phù Lãng được khai thác ở huyện Yên Lập – Bắc Giang. Đất thô sẽ được cho vào máy tán thành những mẩu nhỏ trước khi đem gia công.
Trước khi tạo hình, đất sét sẽ được nhào nặn thành những hình khối tròn. Công đoạn này được gọi là se đất.
Những khối đất này sau đó sẽ được đưa lên bàn xoay để vuốt thành hình. Những bàn xoay được xoay bằng lực chân của người se đất ngồi phía trên.
Khi đã có hình dáng hoàn chỉnh, sản phẩm được khắc chìm các hình vẽ và trang trí họa tiết nổi.
Sau đó, sản phẩm sẽ được phơi khô, tráng men và tô màu.
Cuối cùng, sản phẩm sẽ được nung 15 ngày trong lò nung đốt bằng củi. Khi nung gốm được sắp xếp cẩn thận nhằm tận dụng tối đa diện tích trong lò.
Sản phẩm gốm của Phù Lãng rất phong phú, gồm các vật dụng truyền thống như bình, vại, đôn, tiểu… cho đến các sản phẩm mới như tượng gốm và tranh gốm.
Những bức tượng gốm của nghệ nhân Đức Thịnh.
Chị Nguyễn Thị Hoa đang ghép các mảnh ghép để tạo hình một bức tranh gốm. Chị cho biết tranh gốm là một loại hình sản phẩm chỉ mới được phát triển từ 10 năm trở lại đây.
Một bức tranh gốm hoàn chỉnh.
Không chỉ hiện diện ở đồ mỹ nghệ, gốm còn hóa thân được vào nhiều đồ vật khác như đồng hồ treo tường…
… hay dàn loa đủ cả âm treble, bass. Điều này minh chứng cho sức sáng tạo dồi dào của các nghệ nhân Phù Lãng bắt kịp hơi thở thời đại.
Những bức tranh gốm nhỏ này đã xuất hiện ở nhiều cửa hàng bán đồ lưu niệm Hà Nội.
Người làm gốm ở Phù Lãng cho biết, danh tiếng làng nghề vẫn chưa vươn xa nhưng thời gian tới sẽ có nhiều triển vọng. Ông Trần Văn Phận, cán bộ thư viện làng cho biết, đến cuối năm, một con đường và một khu chợ gốm sẽ được hoàn thành và nghề gốm Phù Lãng có thể bước sang trang mới.

MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN

Read Full Post »

Nghề gốm và gốm thời Lý – Trần

Lịch sử Việt Nam, tập 1, trang 38 có ghi: “Trong giai đoạn Phùng Nguyên, kỹ thuật tạo chế đồ đá đã đạt đến trình độ cực thịnh. Những chiếc rìu, vồ đục… quy mô to nhỏ khác nhau, được chế tạo bằng cách mài, cưa khoan, rất hoàn thiện. Những vòng tay, hoa tai, hạt chuỗi… bằng đá được chau chuốt, tiện, gọt tinh vi. Những loại hình đồ gốm (nồi, bát, cốc, vò…) có hình dáng đẹp, chắc, khoẻ, phần nhiều đã được chế tạo từ bàn tay. Mặt ngoài đồ gốm phủ đầy hoa văn trang trí với những đường vạch sắc sảo, những nét cong uyển chuyển, mềm mại, được phối trí, đối xứng và hài hòa. Đó là một biểu hiện về óc thẩm mỹ khá cao của người Việt Nam lúc bấy giờ….”

Vậy là kỹ nghệ gốm giai đoạn Phùng Nguyên (cách ta gần 4.000 năm) ở nước ta đã phát triển mạnh. Con người buổi đó đã biết nghĩ ra bàn xoay và chế tạo ra thứ men để phủ ngoài, tăng thêm vẻ dẹp kỳ diệu của đồ gốm.

Đây là một thời kỳ của nước Văn Lang. Cho tới thời Âu Lạc, kỹ nghệ gốm đã phát triển mạnh lắm. Nghề nung gạch, làm ngói… cũng đã có từ ngày này.

Phải nói thời cực thịnh của gốm sứ là thời kỳ Lý – Trần (thế kỷ XI – XIV). Đó là những năm đất nước phồn thịnh, kinh tế mạnh mẽ, quân sự vững mạnh, văn hóa phát triển, đất nước an bình, mọi kỹ nghệ được khuyến khích phát đạt.

Nghề gốm, xem ra phát triển rải rác khắp đất nước. Ở tỉnh nào cũng có những vùng làm nghề gốm. Cứ ven các dòng sông, chúng ta gặp nhiều mảnh sành, mảnh gốm còn vương sót lại. Hoặc chúng ta gặp những dãy lò gốm đang ăn khói nghi ngút. Những trung tâm sứ gốm ở nước ta, xuất hiện từ thời Lý – Trần mà đến nay vẫn còn hưng thịnh nghề nghiệp, đó là Bát Tràng (Hà Nội), Thổ Hà, Phù Lãng (Bắc Ninh), Hương Canh (Vĩnh Phúc), Quế Quyển (Hà Nam Ninh), Chum Thanh (Thanh Hóa)… Mỗi vùng quê gốm lại giữ kỹ nghệ riêng biệt. Và mỗi nơi, lại có mặt hàng gốm đặc trưng riêng của mình, tạo thêm cái đa dạng và phong phú của công nghệ gốm Việt Nam. Nếu nói trung tâm gốm ở nước ta, phải nói tới Bát Tràng – Thổ Hà – Hương Canh. Một đặc điểm riêng biệt và rõ nét nhất của nghề gốm là đều phát triển dọc sát các triền sông. Bởi lẽ nó tiện đường chuyên chở, và đất sét dọc các triền sông là thứ nguyên liệu quý để sản xuất gốm, sứ.

Theo tài liệu giới thiệu Lịch sử nghề gốm ở Thổ Hà của Ty Văn hóa Hà Bắc, và tài liệu Tìm hiểu nghề gốm ở Bát Tràng, tư liệu đánh máy của Viện Mỹ thuật, năm 1964, cho biết: Vào khoảng thời Lý – Trần có người đỗ Thái học sinh (đặc biệt chức Thái học sinh thì mới có từ thời Trần) được cử đi sứ nhà Tống (Trung Quốc) là: Hứa Vĩnh Kiều, người làng Bồ Bát (Thanh Hóa), Đào Trí Tiến, người làng Thổ Hà (Hà Bắc), Lưu Phong Tú, người làng Kẻ Sặt (Hải Dương). Cả ba ông này, khi đi sứ đã học được nghề sứ gốm. Khi về nước, ba ông chọn ngày lành tháng tốt lập đàn ở bên sông Hồng làm lễ truyền nghề cho dân làng. Công nghệ có được phân như sau: Ông Kiều về Bồ Bát, ông Tiến về Thổ Hà, ông Tú về Phù Lãng, và:

– Làng Bồ Bát chuyên chế các hàng gốm sắc trắng.

– Làng Thổ Hà chuyên chế các hàng gốm sắc đỏ.

– Làng Phù Lãng chuyên chế các hàng gốm sắc vàng, thẫm.

Nửa năm sau nghiên cứu, chế tạo thành công, ba ông lấy các đồ gốm do tay mình chế được, dâng Vua xem. Nhà Vua thấy sản vật đẹp, liền khen thưởng các quan sứ thần bốn chữ “Trung ái Quán Thế” và phong cho ba ông danh “Khởi nghệ tiên triết”. Tục truyền, dịp này, dân làng ở ba nơi đều tế lễ sầm uất và linh đình. Sau dâng ba tuần rượu, dân chúng nhảy nhót hoan hô để biểu dương các ngài đem nghề về truyền cho dân. Sau khi ba ông mất, dân chúng ba nơi đều tôn ba ông là “Tổ sư”, tức “Tổ nghề”.

Phường gốm Bồ Bát sau có rời ra ngoài Bắc. Dọc theo con sông Hồng, tới một bãi sông có đất thó trắng, họ dừng lại lập lò gốm ở đó, với tên gọi Bạch Phường thổ, sau này đổi là Bát Tràng phường. Và ngày nay, ta quen gọi là Bát Tràng.

Ấm men ngọc, ấm hoa nâu, ấm men nâu thời Lý-Trần

Ấm men ngọc, ấm hoa nâu, ấm men nâu thời Lý-Trần

Đồ gốm thời Lý – Trần phát triển mạnh, nhiều ở số lượng và quý ở chất lượng. Thịnh hành hai loại gốm chính, là: (1) Gốm trang trí kiến trúc, thường là đất nung để mộc, hoặc phủ một lớp men có giá trị độc đáo. Ví dụ như gạch có in hoa văn để trang trí với nhiều dáng hình, kích thước khác nhau. Hoặc ngói bò có gắn đầu phượng, đầu rồng. Hoặc hình gốm trang trí hình chiếc lá nhọn đầu để gắn trên nóc hoặc riềm nhà… (2) Còn như gốm gia dụng, thì đủ thể loại. Nào bát đĩa, ấm, âu, chén, vại, chum, vò…

Đồ gốm thời kỳ này, ngoài ý nghĩa sử dụng trong nước, còn được xuất đi nhiều nước khác.

Lịch sử từng ghi lại, từ đầu nhà Lý đã có nhiều nước tới buôn bán, trao đổi hàng hóa với nước ta như Nam Dương, Xiêm La (Thái Lan)… Tới thế kỷ XII, các thuyền buồm ngoại quốc cập bến nước ta càng đông. Năm 1149, Triều Lý cho lập cảng Vân Đồn, để thuyền bè các nước vào ra buôn bán. Cho tới nay, dọc hai bên bờ bến cảng Vân Đồn còn lại nhiều mảnh gốm của nhiều thời đại ở Việt Nam sản xuất. Trong đó, có cả mảnh gốm men ngọc của thời Lý. Vậy, đó chẳng là dấu tích để khẳng định hàng gốm của ta từ xưa đã đạt trình độ cao đó sao?

Ở nước ta, có thời người dân cứ sính đồ ngoại. Ví dụ: Mặt hàng gốm men ngọc thời Lý của chính nước ta làm ra thì gọi là “gốm Tống” hoặc “đồ Tống”.

Hiện tại, ở Bảo tàng Lịch sử Việt Nam và Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam còn lưu giữ được nhiều đồ gốm, đồ sứ các thời đại của nước ta. Đó là những dấu tích để chứng minh kỹ nghệ phẩm ở nước ta sớm phát triển, và từ xưa, nghề gốm ở nước ta đã chiếm địa vị quan trọng trong nền kinh tế, văn hóa của dân tộc. Qua đây, chúng ta càng thêm yêu quý đôi bàn tay khéo léo và bộ óc giàu sáng tạo của những người thợ gốm Việt Nam. Để hiểu sâu thêm về nghề gốm, chúng tôi muốn giới thiệu một đôi nét về các kiểu lò gốm và men gốm từ xưa ở nước ta.

Lò gốm xa xưa

Thực ra, nguyên lý của lò gốm xưa và nay không khác nhau nhiều lắm. Nó vẫn dựa trên nguyên lý cơ bản, cấu tạo gồm 3 phần: bầu lò, thân lò, hệ thống ống khói. Chỉ có điều, lò gốm ngày xưa thì nhỏ bé và đơn giản.

Do sự phân chia công dụng của mỗi loại lò, nên đã có tên gọi riêng cho lò gốm: lò quan và lò dân. Sản phẩm lò quan chủ yếu phục vụ cung đình và giao bằng quốc tế. Còn sản phẩm lò dân là những vật dụng thông thường cho con người sinh hoạt hàng ngày như: cốc, bát, ấm, lò, lọ, chum, vại… Theo lệ thường, sản phẩm ở lò quan bao giờ cũng được đầu tư kỹ thuật cao hơn ở lò dân.

Theo tài liệu của Đỗ Văn Ninh (Viện Khảo cổ) về việc khai quật khu lò nung gốm sứ ở Bút Tháp (Thuận Thành) cho thấy: Khu lò nung gốm sứ này gồm 4 lò với cấu trúc kiểu lò tương tự giống nhau. Toàn bộ lò nhìn bên ngoài có hình quả dưa, giữa phình rộng, hai đầu cụt. Kích thước đo được ở một lò có hình thức bề thế và to lớn hơn ba lò kia, cho thấy: chiều dài 3,35 mét, chiều rộng nhất gần 2 mét. Như thế, quy mô của lò nung thời đó nhỏ gọn.

Điểm đáng chú ý là các lò gốm, hầu hết dùng nhiên liệu đốt bằng tre, gỗ; nhiên liệu than chưa dùng vào thời kỳ này. Qua đây, nó thể hiện tiêu chuẩn kỹ thuật nung thời đó và ý thức tự lực tự cường nguồn nguyên liệu sẵn có ở địa phương rất cao.

Phần khác, thấy rằng, cấu trúc lò rất đơn giản và sáng tạo; thợ đắp lò thời xưa chỉ dùng đất sét mà đắp chứ chưa phải dùng tới gạch chịu lửa để cuốn bầu lò và thân lò. Trong khi đó, ở Trung Quốc, lò sứ gốm thời Đường không lớn lắm (thường dài 3 mét, rộng 2 mét), vậy mà đã phải dùng tới gạch chịu lửa để xây cửa đốt và xây ống khói.

Cũng theo tài liệu về khảo cổ học năm 1975 của Trần Đình Luyện (Sở Văn hóa Bắc Ninh) cho chúng ta biết thêm về khu lò nung gốm, gạch ở Đông Yên thuộc phần đất Bắc Ninh, nằm bên bờ sông Ngũ Huyện vào thời Lê Mạt. Cấu trúc của lò có khác kiểu lò ở Bút Tháp. Đó là lò gốm hình tròn, có đường kính 1,2 mét, tường lò đắp đất có lẫn mảnh sành gạnh nhỏ, dầy 1 mét, chân tường choãi, bên trên thu nhỏ dần theo kiểu vòm cuốn. Bầu lò được tạo hình phễu, đắp liền với tường lò, cũng bằng đất với bề dầy xấp xỉ 0,2 mét.

Qua khảo cứu, lò gốm ở Đông Yên có phần tiến bộ hơn ở Bút Tháp. Song cứ dọc tuyến tiến triển của các lò gốm qua các thời đại, ta thấy, cho tới đầu thế kỷ XX này, các lò nung mới được cải tiến một bước lớn. Đó là chuyển hình thức từ đun lò con cóc sang hình thức đun lò rộng nhiều bầu. Chuyển dần thể thức đun tre gỗ sang đun than và đun dầu. Đó là những bước tiến xa và khẳng định sức sống bất hủ của kỹ nghệ gốm thủ công.

Ngày nay, với kiểu lò gốm hiện đại, người ta đã thiết kế kiểu lò vòng liên hoàn. Đó là một hình thức của lò gạch tiên tiến. Người ta chỉ việc nhóm lò một lần, và ngọn lửa lò cứ cháy truyền từ bầu lò này sang bầu lò kia, ngọn lửa ấy cứ cháy mãi cho tới ngày lò hỏng. Những cải tiến văn minh đó, là khởi nguồn từ chiếc lò gốm cổ thô sơ thuở xưa…

Men gốm thời Lý – Trần

Thời Lý – Trần: từ thế kỷ 10 đánh dấu bước ngoặt trong lịch sử Việt Nam. Thời kỳ phục hồi độc lập dân tộc sau hơn mười thế kỷ đô hộ của phong kiến Trung Hoa. Suốt bốn thế kỷ, từ nhà Lý sang nhà Trần, đồ gốm đạt được những thành tựu rực rỡ. Quy mô sản xuất, chủng loại sản phẩm, chất liệu… đều được mở rộng. Nhiều loại men được ứng dụng và ổn định về công nghệ. Đặc biệt men trắng cũng xuất hiện ở thời kỳ này ngoài men tro và men đất. Ba yếu tố cơ bản tạo nên vẻ đẹp của đồ gốm là hình dáng, hoa văn trang trí, men màu. Sự phát triển của kỹ thuật và trình độ thẩm mỹ cao đã tạo nên sản phẩm gốm thời kỳ này có những loại nổi tiếng là gốm men trắng ngà chạm đắp nổi, gốm hoa nâu, gốm men ngọc, gốm hoa lam.

gốm men trắng thời Lý

gốm men trắng thời Lý

Bát gốm men trắng, thế kỷ 11-13, nghệ thuật gốm thời Lý.

Bát gốm men trắng, thế kỷ 11-13, nghệ thuật gốm thời Lý.

Về tạo dáng gốm Lý – Trần ngoài những hình mẫu trong thiên nhiên như hoa, quả là cách tạo dáng của những đồ đồng trước đó. Trang trí trên gốm Lý – Trần, hoa văn hình học chiếm vị trí phụ. Những hoạ tiết chính ở đây là hoa lá, chim, thú, người. Hoa văn trang trí với cách miêu tả giản dị, mộc mạc rất gần gũi với thiên nhiên và con người Việt Nam. Một đặc điểm nữa là nét chìm được làm “bè” ra, một bên rõ cạnh, một bên biến dần vào sản phẩm, làm chỗ chảy dồn men, tạo nên độ đậm nhạt cho hoạ tiết như trên gốm men ngọc hoặc làm giới hạn để tô nâu.

Thời Lý – Trần là thời thịnh vượng của kỹ nghệ gốm. Vì thế, men gốm thời Lý – Trần phong phú là điều tất yếu.

Trước thời kỳ này, một số đồ gốm ở dạng gốm mộc, không phủ men mà được bao ngoài một lớp áo gốm, khâu phủ áo gốm không phải nơi nào cũng làm, nhưng Thổ Hà và Phù Lãng đều có dùng tới áo gốm. Áo gốm là một dung dịch tổng hợp giữa đất và chay, với công thức 4 đất 1 chay. Đất là gốm, giã nhỏ, sàng lọc cẩn thận. Còn chay là một thứ đá có lẫn gỉ sắt ở ngay địa phương. Chay cũng phải giã nhỏ, sàng lọc kỹ càng. Có hai thứ đất và chay rồi, trộn lẫn, pha nước, hòa tan thành một dung dịch. Tất cả các đồ gốm trước khi đem nung được nhúng vào dung dịch này, tạo ra một lớp áo gốm. Nếu cứ thế đem nung lên, là có gốm đẹp rồi. Hoặc giả, muốn phủ men ngoài thì ta phủ men lên lớp áo gốm.

Hãy làm quen với ba loại men gốm tiêu biểu thời Lý – Trần. Đó là gốm men ngọc, gốm hoa nâu, gốm hoa lam.

Gốm men ngọc (celadon): Khi đã có xương gốm tốt, người ta phủ ngoài một lớp men dày màu xanh mát, trong bóng như thuỷ tinh, do đó mới gọi là gốm men ngọc. Đồ gốm men ngọc ở ta rất giá trị, được trong và ngoài nước ưa chuộng. Người ta thường sánh gốm men ngọc của ta với đồ gốm Long Tuyền thời Tống của Trung Quốc.

menmanhngoc_ly

Đĩa men ngọc trang trí văn in hoa cúc dây, thời Lý

Gốm men ngọc thời Lý thường tạo xương gốm mỏng, thanh. Tới thời Trần, thì phần xương gốm chắc, dầy hơn. Hoa văn trang trí trên gốm, đa phần là hình tượng hoa sen cách điệu. Ngoài ra còn một số đề tài khác, như trang trí hoa thảo và các hoa dây chạy quanh bình gốm. Có ba hình thức trang trí trên đồ gốm: hoa khắc, hoa in và hoa đắp. Hoa in chìm hoặc đắp nổi thì dùng khuôn, còn hoa khắc thì đùng mũi dao đầu nhọn hoặc một đầu thanh tre vẽ lên xương gốm khi đất còn mềm. Khắc hoa rồi đem nhúng vào men, men đọng lại và tạo ra các hình hoa văn trang trí rất đẹp. Bên cạnh các đồ gốm men ngọc cầu kỳ và tinh xảo đó, người thợ thủ công còn sản xuất một số đồ gốm đại trà, có khi để mộc, có khi phủ lớp men mỏng màu vàng, màu nâu, hoặc màu da lươn mà xỉn màu và ít bóng. Loại gốm này để sử dụng thông dụng và ngay khi nung, người ta nung từng chồng cao.

Thời Lý, đồ gốm hầu như không viết chữ. Tới thời Trần, ta thường thấy dưới trôn các loại đồ gốm có hàng chữ mầu nâu “Thiên Trường phủ chế”.

Đĩa đài men xanh ngọc thời Trần

Đĩa đài men xanh ngọc thời Trần

Trong cuốn Gốm Việt Nam, họa sĩ Trần Khánh Chương đã viết: “Trong lòng đĩa bát thời Lý ta thường gặp những đồ án mà bố cục chung cố tình không đều đặn… hoa văn có khi được in bằng khuôn in nhưng thường là những nét khắc tay rất công phu. Phủ lên toàn bộ sản phẩm là một lớp men xanh mát, có độ trong như ngọc mà người ta thường gọi là men ngọc hay men Đông thanh. Qua lớp men trong, tuỳ nét khắc to hay nhỏ, nông hay sâu mà hoa văn hiện lên với độ đậm nhạt khác nhau, khi ẩn, khi hiện, kín đáo, trang nhã. Trên những bát đĩa thuộc loại này, hoa văn có khi được in bằng khuôn in, nhưng thường là những nét khắc tay rất công phu. Đây hẳn là loại sản phẩm “cao cấp”, có lẽ là đồ gốm gia dụng của tầng lớp quý tộc. Chiếc bát gốm men ngọc vẽ rồng này chắc chắn là đồ thuộc tầng lớp đại quý tộc vương công. Thời Trần nhiều vương gia có dinh phủ, có quân đội riêng. Hình rồng này ta có thể thấy được sự tiếp nối của thời Lê sơ trong một bát hoa lam vẽ rồng phát hiện ở thành cổ khu A TK XV. Lối họa tiết in nổi ta cũng tìm thấy trong Hoàng thành một nắp hộp đồ gốm men xanh lục (vert glazed) thuộc dòng gốm có mầu sắc men quyến rũ, hoa văn trang trí đẹp, các đề tài hoa lá, trong đó những đồ tinh xảo trang trí rồng tìm thấy trong Hoàng thành hố A9MR là một tiêu bản tư liệu đặc sắc. Chiếc bát gốm miệng rộng hình lá sen men ngọc này được làm từ đất sét trắng. Khi cầm lên có cảm giác dầy dặn, xương đất được lọc kỹ, với mầu men xanh lục có độ thủy tinh trong nên độ bóng khá cao, nhìn dịu mắt, mát tay. Xương gốm chạm khắc rồng tinh tế được phủ men dày nên hoa văn có chiều sâu lung linh. Bát men ngọc trang trí rồng thuộc TK XIII, XIV này còn nguyên vẹn hiếm thấy, đạt tới những tiêu chuẩn điển hình trong gốm sứ, dáng hình thanh nhã, họa tiết khoáng đạt, tinh tế, rồng mây uyển nhã, lớp men của loại đất đá ô xít cô ban nhiều, tinh khiết nên đạt được sắc độ xanh trong, mát nhẹ nổi tiếng một thời và là tiêu bản quý hiếm.

Gốm hoa nâu: Đó là loại gốm đàn, kiểu dáng to, chắc chắn, cốt gốm dầy và thô. Bên ngoài có phủ lớp men trắng ngà hoặc vàng nhạt. Gốm hoa nâu xuất hiện vào cuối thời Lý đầu thời Trần.

Hình thức trang trí hoa văn trên gốm hoa nâu thường là hoa dây chạy viền quanh miệng đồ gốm. Đặc biệt, hầu hết các sườn gốm hoa nâu có đắp nổi hình hoa thảo, chim cò, thú bốn chân, hoặc tôm cá… rất sinh động. Các hình rồng trang trí ở gốm hoa nâu thời Trần có khác thời Lý. Đó là mình rồng khỏe mập, uốn khúc thoải mái, khác hẳn con rồng thời Lý thân hình thanh mảnh và uốn khúc gò bó.

Thạp, hũ, liễn trang trí hoa và chim. Gốm hoa nâu, triều Trần thế kỷ 13,14

Thạp, hũ, liễn trang trí hoa và chim. Gốm hoa nâu, triều Trần thế kỷ 13,14

Thống trang trí hoa sen, cúc dây. Gốm hoa nâu, triều Trần, thế kỷ 13 - 14

Thống trang trí hoa sen, cúc dây. Gốm hoa nâu, triều Trần, thế kỷ 13 - 14

Gốm hoa lam: là tên một hoại gốm phủ men trắng đục vẽ trang trí màu lam.

Để có màu men đẹp, điều cần thiết phải có cốt xương gốm tốt. Xem ra, thông thường thì xương gốm là đất sét có pha cát. Nếu gốm cổ, lại pha cả một số tạp chất khác như rơm, rạ, trấu hoặc lá cỏ dại để tăng độ liên kết.

KhanhHoaThuyNga tổng hợp

MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Gốm Chu Đậu sau 400 năm thất truyền

Bấy lâu nay người ta chỉ biết đến gốm Bát Tràng, Quảng Ninh, Thổ Hà… kể cả những nhà nghiên cứu và giảng dạy về gốm sứ. Bởi lẽ họ chưa thấy có một trung tâm gốm nào thời Lê, nên khi thấy sản phẩm gốm hoa lam, gốm tam thái (3 màu – thực là 5 màu) thì nghĩ ngay là của Bát Tràng.

Gốm Chu Đậu thời Mạc

Gốm Chu Đậu thời Mạc

Sự thật không phải. Bởi đến nay, Bát Tràng vẫn chưa đưa ra được sưu tập gốm hoa lam thế kỷ 14 – 15. Trong khi đó gốm hoa lam, gốm tam thái là mặt mạnh của Chu Đậu từ thế kỷ 14, cực thịnh ở thế kỷ 15 – 16, bị lụi tàn đi ở thế kỷ 17. Điều này do nhiều nguyên nhân: Nội chiến Lê Mạc kéo dài từ thế kỷ 16 đến đầu thế kỷ 17 rất khốc liệt. Nhà Mạc thất thủ phải lên ngàn. Nơi đây là vùng chiêm trũng của huyện Nam Sách. Mãi những năm cuối thập niên 20 thế kỷ trước Nam Sách mới có đê. Có nghĩa trước đó nước sông vào ra tự nhiên, tránh sao khỏi hư hại đến lò nung, sản xuất gặp nhiều khó khăn. Giặc Minh xâm lược nước ta, bắt đi nhiều nghệ nhân giỏi. Một số khác tìm đường đi làm ăn ở Nhật, Nam, Bắc Triều Tiên. Nghệ nhân Vương Quốc Doanh đem thợ đến Bát Tràng, góp một phần làm cho gốm sứ Bát Tràng hưng thịnh như ngày nay.

Tạo hình hiện đại của chiếc bình rượu cổ gốm Chu Đậu

Tạo hình hiện đại của chiếc bình rượu cổ gốm Chu Đậu

gốm chu đậu-1a

Chu Đậu là một vùng quê yên ả nằm bên tả ngạn sông Thái Bình thuộc trấn Thương Triệt, huyện Thanh Lâm, Nam Sách châu, nay là làng Chu Đậu, xã Thái Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương.

Theo các cụ già của làng kể lại thì xưa kia Chu Đậu là vùng Trần triều Hải khấu (cảng nhà Trần). Chữ Hán Chu là thuyền, Đậu là bến (bến thuyền đỗ). Nơi đây, thuyền bề ra vào tấp nập. Từ Chu Đậu, xuôi sông Thái Bình đến Nấu Khê, sang sông Kinh Thày ra cảng Vân Đồn – một cảng giao lưu với các nước của người Việt xưa. Cũng từ Chu Đậu xuôi sông Thái Bình sang sông Luộc đến Phố Hiến về Thăng Long – cũng là một thương cảng lớn từ thế kỷ XVII.

Từ lâu, người dân đồng bằng Bắc Bộ chỉ biết đến các làng gốm truyền thống Bát Tràng (Hà Nội), Hương Canh (Vĩnh Phúc), Thổ Hà, Phù Lãng (Hà Bắc)… còn gốm Chu Đậu, căn cứ vào những di vật có ghi rõ niên hiệu thì đã hơn 400 năm thất truyền. Đến khi ông Makoto Anabuki nguyên Bí thư Đại sứ quán Nhật Bản tại Hà Nội, năm 1980 trong chuyến công tác tại Istambul, thủ đô Thổ Nhĩ Kỳ, khi đến thăm bảo tàng Topkapi Saray đã nhìn thấy chiếc bình hoa lam quý giá có ghi dòng chữ Hán: “Thái Hòa bát niên, Nam Sách châu, tượng nhân Bùi Thị hý bút” (nghĩa là: Năm Thái Hoà thứ tám (đời vua Lê Thánh Tông 1450), thợ gốm họ Bùi, người châu Nam Sách, vẽ chơi). Ông Makoto Anabuki đã viết thư cho Bí thư tỉnh ủy Hải Hưng là ông Ngô Duy Đông, nhờ các khảo cổ học chỉ cho chiếc bình gốm đó có xuất sứ từ làng gốm nào.

Sau một thời gian điền dã, khảo sát những dấu vết từ làng gốm cổ, từ năm 1986 đến 1997, các nhà khảo cổ học tỉnh Hải Dương đã xác định được phạm vi di tích sản xuất gốm rộng 4 vạn mét vuông tập trung nhất tại khu vực giáp đê sông Thái Bình thuộc địa bàn xã Thái Tân và Minh Tân huyện Nam Sách. Sau 7 lần khai quật, kết quả thu được thật bất ngờ đối với giới chuyên môn, còn đối với người dân địa phương thì họ đã khám phá được quá khứ lẫy lừng của tổ tiên mình: Hơn 100 đáy lò dưới lòng đất, hơn một vạn hiện vật chủ yếu là bát, đĩa, hộp, lọ, bình… Biện pháp bắn cacbon đã xác định được những sản phẩm này có niên đại cách đây khoảng 500 đến 600 năm.

Theo các nhà nghiên cứu thì Chu Đậu xưa là một trung tâm gốm cao cấp, xuất hiện vào cuối thế kỷ XIV, cực thịnh vào thế kỷ XV – XVI và tàn lụi vào thế kỷ XVII do nhiều nguyên nhân. Nội chiến giữa nhà Lê và nhà Mạc, vùng Nam Sách trong đó có làng gốm Chu Đậu đã bị tàn phá, các nghệ nhân làng gốm phải phiêu bạt đến vùng khác và lập nên các làng nghề gốm mới. Giặc Minh xâm lược nước ta đã bắt đi nhiều nghệ nhân giỏi, một số khác di cư sang Nhật, Triều Tiên hoặc đi tìm đường làm ăn ở các làng gốm trong nước như nghệ nhân Vương Quốc Doanh đã dẫn cả một đoàn thợ lên làng gốm Bát Tràng, góp phần làm cho gốm Bát Tràng hưng thịnh như ngày nay… Một nguyên nhân nữa là trấn Thương Triệt xưa là vùng chiêm trũng gần sông, dễ bị ngập lụt, khó tránh khỏi ảnh hưởng đến việc sản xuất gốm.

Cũng theo các nhà nghiên cứu, gốm Chu Đậu là sự kế thừa của gốm Vạn yên (Kiếp Bạc) thế kỷ XIII, gốm Lý – Trần về lớp men ngọc và tạo khắc hoa văn chìm nổi, kiểu dáng thanh thoát. Bởi vậy gốm Chu Đậu thời đó đã đạt được 4 tiêu chuẩn: Mỏng như giấy, trong như ngọc, trắng như ngà, kêu như chuông. Một điều nữa là gốm Chu Đậu đã thể hiện được tâm hồn Việt qua hoa văn trang trí gắn với thiên nhiên và cuộc sống của cư dân vùng châu thổ sông Hồng như cảnh mục đồng chăn trâu, cô gái lái đò, người đội nón, mặc áo tứ thân, kết tóc đuôi sam, những mái nhà tranh ven sông, hoa sen dây, hoa cúc quấn, cỏ cây chim cá… Giữa các sản phẩm thường có chữ Phúc, Chính, Sĩ, Hoa, Trung, Kim, Ngọc, Tàm, Quỳ, Trù…, có thể là tên hiệu của các chủ lò. Phương pháp chế tạo cũng đạt trình độ cao, đó là chuốt, tạo dáng trên bàn xoay, ngắt sản phẩm thành nhiều công đoạn rồi lắp ghép lại và gia công. Xương gốm phần lớn có màu xám nhạt, cứng rắn, có loại trắng đục, trắng trong. Phương pháp trang trí rất đa dạng, phóng khoáng, trữ tình, hài hòa, tinh xảo như vẽ, khắc, họa, đắp… sản phẩm được phủ và vẽ chất liệu men trắng hoa lam, men ngọc, men màu tam thái hoặc rạn đục…

Dáng ấm phụng thanh thoát của gốm cổ Chu Đậu

Dáng ấm phụng thanh thoát của gốm cổ Chu Đậu

Người có công lớn với nghề gốm cổ truyền Chu Đậu là nghệ nhân Đặng Mậu Nghiệp tự là Huyền Thông, quê ở Hùng Thắng châu Nam Sách. Cũng tại bảo tàng Topkapi Saray ở thủ đô Istambul (Thổ Nhĩ Kỳ) còn lưu giữ chiếc lư hương gốm mầu xanh xám của ông làm từ năm Hưng Trị thứ 2 (1589), một trong hai cổ vật gốm quý giá nhất của Chu Đậu. Người làng Chu Đâu xưa đã tôn ông là ông tổ nghề gốm Chu Đậu.

Đầu năm 1994, tại vùng biển Cù Lao Chàm tỉnh Quảng Nam, ngư dân Duy Xuyên và Hội An đã phát hiện và lặn vớt được rất nhiều hiện vật gốm. Các nhà khảo cổ học Hội An, qua giám định khoa học, đã bất ngờ thấy rằng toàn bộ hiện vật gốm này đều có nguồn gốc từ làng gốm Chu Đậu, được sản xuất vào khảng thế kỷ XIV – XVI. Hơn 340 nghìn hiện vật gốm, trong đó khoảng trên 250 nghìn hiện vật còn lành, chứng tỏ từ xa xưa, gốm Chu Đậu đã được xuất cảng rộng rãi với số lượng lớn bằng con đường hàng hải. Như vậy Chu Đậu xưa là nơi hoạt động, sản xuất đồ gốm dân dụng và mỹ thuật phồn thình của cư dân Việt.

Đến nay, những sản phẩm gốm Chu Đậu đã được tìm thấy ở rất nhiều nơi trên thế giới. Từ Ai Cập đến Trung Cận Đông và toàn bộ các nước Đông Nam Á, đặc biệt là Nhật Bản là nước có sản phẩm gốm Chu Đậu nhiều nhất. Đến nay đã có 46 bảo tàng của các nước trên thế giới có trưng bày các hiện vật gốm Chu Đậu.

Giá trị của gốm Chu Đậu, sau khi được tìm thấy ở Cù Lao Chàm, đã làm sửng sốt trong giới học giả và mọi người. Tờ Việt Mercury số ra tháng 6/2000 đã đăng lời bà Dessa Goddard – Giám đốc ngành nghệ thuật Á Châu của nhà bán đấu giá Butterfields tại San Francisco: “Phát hiện này đang trả lại cho Việt Nam một chương của di sản nghệ thuật mà người ta từng nghĩ là đã hoàn toàn biến mất”.

Người dân ở làng gốm Chu Đậu hầu như không ai hiểu, thậm chí nhiều người còn không hay biết ở làng có nghề gốm truyền thống nổi tiếng mà chỉ biết đến nghề dệt chiếu truyền thống có từ đầu thế kỷ XIX nếu không có cổ vật gốm Chu Đậu tại bảo tàng Topkapi Saray, thủ đô Istambul (Thổ Nhĩ Kỳ), hoặc hiện vật được trục vớt ở vùng biển Cù Lao Chàm và hiện vật khai quật được tại chính quê hương của họ. Sống trên mảnh đất đã sản sinh ra dòng gốm quý giá nhưng chẳng có người dân Chu Đậu nào ngày nay còn biết đến nghề này. Họ chỉ quẩn quanh với đồng ruộng và nghề dệt chiếu nên cuộc sống rất khó khăn.

Một sự kiện mang tính lịch sử đối với làng gốm cổ truyền Chu Đậu. Năm 2000, ông Nguyễn Hữu Thắng, giám đốc Công ty Sản xuất, Dịch vụ và Xuất nhập khẩu Hà Nội (HAPRO), người quê Nam Sách đã về Chu Đậu để thực hiện một dự án đầu tư sản xuất mặt hàng gốm xuất khẩu theo phương pháp phục chế gốm cổ và tạo mẫu sản phẩm mới theo phong cách gốm cổ Chu Đậu, nhằm khôi phục thương hiệu nổi tiếng của quê hương mình.


Nguồn ảnh minh họa gốm Chu Đậu sản xuất ngày nay: VânChi’s page, click trên hình để xem bigger size

Được sự ủng hộ của chính quyền và nhân dân địa phương, tháng 10-2001, Xí nghiệp gốm Chu Đậu đã ra đời và bắt đầu đi vào hoạt động với tổng số vốn đầu tư giai đoạn một là 24 tỷ đồng. Cơ sở rộng 33.250m2 được xây dựng bên dòng sông cổ chảy qua làng. Ông Nguyễn Hữu Thắng, giám đốc Công ty cho biết: Giai đoạn đầu của xí nghiệp là mở cuộc săn lùng, sưu tầm những mẫu gốm cổ độc đáo, chiêu hiền đãi sĩ nhằm tập hợp những chuyên gia, nghệ nhân tài danh nhất trong các làng gốm cổ truyền đến xí nghiệp, cộng tác nghiên cứu để tìm ra từng loại gam màu của gốm cổ. Hơn 20 nghệ nhân từ Hà Nội, Bình Dương, Biên Hòa, Hải Dương… đã hợp tác với xí nghiệp, vừa nghiên cứu những nét đặc sắc của gốm cổ Chu Đậu, vừa thiết kế những mẫu sản phẩm mới để chuẩn bị đưa vào sản xuất. Gần 200 thanh niên, chủ yếu là người của làng Chu Đậu được tuyển chọn và đào tạo, truyền dạy kỹ thuật cơ bản và bí quyết trong từng công đoạn chế tác, nhằm tạo họ thành những tay thợ đầu đàn trong các lò gốm gia đình trong tương lai. Tiến tới, xí nghiệp mời các nghệ nhân đến dạy nghề cho con em địa phương trong những vùng lân cận.

Bắt đầu từ tháng 5 – 2003 Xí nghiệp gốm Chu Đậu đã xuất khẩu lô hàng đầu tiên với 8490 sản phẩm trị giá 20.000USD sang thị trường Tây Ban Nha. Thế là sau gần 400 năm, Chu Đậu lại có hàng xuất sang Tây Ban Nha, nơi nhập chuyến hàng cuối cùng của Chu Đậu vào thế kỷ XVII.

Theo ông Nguyễn Văn Lưu giám đốc xí nghiệp thì: “Từ đó đến nay, xí nghiệp đã xuất khẩu nhiều lô hàng đến nhiều nước trên thế giới và sản xuất theo đơn đặt hàng của khách hàng trong nước, gốm Chu Đậu đã thực sự hồi sinh và được đón nhận. Hơn 200 cán bộ và công nhân của xí nghiệp luôn có việc làm, thu nhập bình quân hàng tháng đạt 800 nghìn đồng mỗi người”.

Để giới thiệu sản phẩm gốm Chu Đậu của xí nghiệp với khách hàng trong nước, nước ngoài và với khách du lịch, mới đây xí nghiệp đã khánh thành nhà trưng bày và giới thiệu sản phẩm rộng trên 1000m2. Đồng thời với việc phát triển thương mại, UBND tỉnh Hải Dương cũng đầu tư để thôn Chu Đậu có cơ hội phát triển du lịch làng nghề. Đường từ thành phố về làng và đường nội bộ trong làng được nâng cấp. Đền thờ ông tổ nghề gốm Chu Đậu là Đặng Mậu Nghiệp được tu sửa khang trang. Các di tích lò gốm cổ được gìn giữ, nhà trưng bày gốm Chu Đậu, nơi lưu giữ nhiều hiện vật gốm cổ cũng được sửa sang đón khách. Cuộc sống của một làng nghề truyền thống đã từng bước cải thiện.

Xí nghiệp gốm Chu Đậu đã làm thức dậy một làng nghề có một giấc ngủ dài 400 năm. Sản phẩm của xí nghiệp bắt đầu có tiếng trong nước và một số nước trên thế giới. Tuy nhiên đến làng Chu Đậu, cái không khí của một làng nghề truyền thống không có, bởi duy nhất chỉ có một Xí nghiệp gốm Chu Đậu nằm đơn độc ngoài bìa làng, trông giống như một liên doanh sản xuất công nghiệp.

Nhận thấy tầm quan trọng của việc khôi phục và phát triển một làng nghề gốm danh tiếng. Bộ Công nghiệp đồng ý và giao cho Viện Nghiên cứu Sành sứ Thủy tinh cùng Sở Công nghiệp Hải Dương phối hợp thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học nhằm khôi phục và phát triển làng gốm cổ Chu Đậu.

Như vậy, dự án khôi phục, phát triển sản xuất và du lịch làng nghề gốm cổ Chu Đậu sẽ làm sống lại một làng nghề sau nhiều năm bị thất truyền. Bộ mặt vùng quê thuần nông bên sông Thái Bình sẽ được thay đổi toàn diện. Hàng ngàn lao động sẽ có việc làm, đời sống của bà con làng nghề sẽ được cải thiện. Không khí làng nghề sẽ trở lại, thương hiệu gốm Chu Đậu Việt Nam sẽ hồi sinh, phát triển sau hơn 400 năm bị quên lãng.

Theo Hội Dân Tộc Học Việt Nam (VAE)

MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Gốm của đồng bào dân tộc

Tỉnh Sơn La có hai nơi làm gốm cổ truyền, đấy là Mường Chanh (huyện Mai Sơn) và Bản Lầm (huyện Thuận Châu). dưới xuôi, việc hình thành một làng gốm thường giống nhau, đó là những xóm làng nằm kề một con sông quê hương, con sông đó là nơi chuyên chở vật liệu (đất sét và than, củi đốt) và sản phẩm hàng hóa đi các vùng tiêu dùng. Mường Chanh và Bản Lầm đều ở xa sông ngòi. Phương tiện chuyên chở chính ở cả hai nơi đều là đường bộ…

Mường Chanh cách thị xã Sơn La trên ba chục cây số đường rừng. Ở đây, ta gặp cảnh những anh thanh niên người Thái, người Mèo gò lưng đạp xe chở những chiếc chum nhỏ, những lu gốm được đóng lại trong chiếc rọ tre chắc chắn, chở từ quê gốm Mường Chanh đến những bản làng xa xăm. Những chòm bản người Thái ở thấp thì đỡ, chứ những bản làng cao chót vót trên đỉnh núi của người Mông, nơi hiếm hoi nguồn nước, thì những cái chum, cái lu gốm đựng nước kia càng quý giá. Từ lâu đời, gia tài cha mẹ để lại cho con cái trong đó có hai vật quý đó là cái ninh đồng và cái chum đựng nước. Chum gốm, vò gốm từ lâu được coi trọng tính giá trị bằng những đồng bạc trắng hoa xòe. Những chiếc chum vại ở miền núi cũng có đặc điểm riêng, thường nhỏ hơn, gọn hơn và tạo dáng không được bay bướm như gốm dưới xuôi. Một lẽ đơn giản, vật liệu (đất sét) làm gốm ở miền núi hiếm hoi, chất lượng không được tốt bằng đất sét của những làng gốm ven sông đồng bằng. Lò gốm ở Mường Chanh cũng nhỏ hơn lò gốm ở Bát Tràng, Hương Canh, Phù Lãng… Người thợ gốm thì ở nơi nào cũng đòi hỏi đôi tay khéo léo, tài hoa. Ở đâu cũng vậy, người thợ đốt lò giữ ngọn lửa lò vẫn là quan trọng nhất, gốm Mường Chanh từ lâu nay vẫn đốt bằng củi là chính. Có thời xa hơn, người thợ Mường Chanh còn đốt bằng cỏ gianh, gốm ra lò rất đẹp.

Một sản phẩm gốm dân tộc: Ngói âm dương

Nhân nói về nghề gốm, chúng tôi muốn điểm qua vài nét về gốm kiến trúc của đông bào dân tộc.

Ở vùng Sơn Động, Chũ (Bắc Giang), ta gặp rất nhiều mái nhà đồng bào dân tộc lợp loại ngói máng. Hình thức lợp ngói máng đơn giản. Cứ mỗi hàng ngói xấp, lại tiếp hàng ngói ngửa. Hình thức lợp chồng nhau như thế, tạo thành một mái liền và liên tiếp có những đường máng cho thoát nước. Đó là kiểu lợp mái nhà của đồng bào Tày, Nùng. Người dân tộc có thói quen, gọi đó là hình thức lợp xấp – ngửa. Những viên xấp coi là dương và ngửa coi là âm. Bởi vậy, ngói này còn có tên gọi là ngói âm dương. Vậy thì cách làm ngói âm dương như thế nào?

Việc đầu tiên vẫn là làm đất. Đất cho ngói âm dương cũng đòi hỏi kỹ càng như đất cho ngói ta. Đất nhào xong thì chuyển thành cối đất (hoặc quả đất). Người thợ dùng kéo xén đất thành từng thỏi vật đi, vật lại kỹ càng, để tạo đất thành một viên hình hộp chữ nhật, có chiều dài bằng chu vi và chiều rộng bằng chiều cao của khuôn ngói hình ống tròn. Khuôn ngói là một khung tre ngoài bọc vải, nom như một cái vại. Có điều trên khuôn có ba gờ nổi lên để chia khuôn thành ba phần bằng nhau. Người thợ chỉ việc lấy kéo cắt đất thành những lát mỏng (có bề dày chừng 1cm) rồi đem lá đất đó, miết quanh thành khuôn ngói. Tay vừa miết đất cho tạo dáng đẹp và chân đạp bàn xoay. Vậy là cái khuôn ngói quay tròn. Cả ba múi đất hiện ra trước mắt người thợ. Khi sửa sang đẹp đẽ, người thợ bưng khuôn ngói kia ra sân phơi. Với động tác khéo nhẹ, người ta tách cho khuôn ngói và vòng đất kia rời nhau. Bởi vì, trên khuôn đã có gờ, nên tự nhiên vòng tròn đất kia đã hình thành ba viên ngói máng hoặc ngói âm dương. Khi phơi khô, người ta chỉ việc gõ nhẹ, là ba viên ngói rời nhau, giống nhau và bằng nhau chằn chặn.

Khâu cuối cùng là đem xếp ngói vào lò nung. Chú ý là xếp đúng viên ngói theo từng lớp, lớp này chồng lên lớp kia rồi nhóm lửa đun hai ngày hai đêm thì hạ lửa, chờ nguội lò là ta ra được những viên ngói âm dương rất đẹp.

Qua các lò làm ngói âm dương, chúng tôi thấy mỗi lò một mẻ đun được chừng vạn viên, có thể đủ cho lợp một ngôi nhà ba gian cỡ trung bình.

Không kể giàu nghèo, người Tày, Nùng ở nhiều nơi, tự lực tự cường sản xuất ngói, tạm thỏa mãn nhu cầu tự cung tự cấp. Vì thế, hầu hết kiến trúc nhà dân tộc Tày, Nùng đều được lợp ngói âm dương.

Theo Nghề cổ đất ViệtcủaVũ Từ Trang

Các bài đã đăng :

 

 

MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN


Read Full Post »

Older Posts »