Feeds:
Bài viết
Phản hồi

Archive for the ‘GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VIỆT NAM’ Category

GII THIU V TRƯỜNG

Trường Cao đẳng Mỹ thuật Trang trí Đồng Nai tiền thân là trường dạy nghề Biên Hòa đã hình thành tồn tại và phát triển trong hơn 100 năm qua ( 1903-nay). Trong hơn 100 năm trường đã thay đổi khá nhiều lần từ tên trường đến quy mô đào tạo- ngành nghề đào tạo mục tiêu đào tạo. Trường đã trải qua ba thời kỳ: thời kỳ thuộc Pháp – dưới chế độ Sài gòn ( 1954-1975 ) và thời kỳ đất nước được hoàn toàn thống nhất.

Dưới thời kỳ đất nước ta bị đô hộ dưới ách thống trị của thuộc dân Pháp, mạng lưới Trường lớp đào tạo nghề ở cả nước là rất mỏng. Ở miền Nam trong một số rất ít trường được thành lập trong đó có trường dạy nghề Biên Hòa mà nhân dân thường gọi là( trường bá nghệ Biên Hòa). Do kinh tế chưa phát triển nên quy mô của Trường nhỏ bé số lượng học sinh ít.

Mãi đến năm 1964 ( sáu mươi năm sau ) từ trường dạy nghề mới phát triển thành trường Trung học chuyên nghiệp mang tên trường Kỹ thuật Biên Hòa.

Ngày đất nước hoàn toàn giải phóng 30-4-1975 sau mấy năm tiếp quản trường đổi tên thanh trường Mỹ thuật Trang trí Đồng Nai năm 1978 đến năm 1998 trường được nâng cấp thành trường Cao đẳng Mỹ thuật Trang trí Đồng Nai.

Trong hơn  100 năm qua trường trải qua 3 giai đọan phát triển.

Từ 1903 -1963 là trường đào tạo nghề tồn tại 60 năm

Từ 1964 -1997 là trường Trung học chuyên nghiệp tồn tại 33 năm

Từ 1998 đến nay là Trường Cao đẳng.

 Trường cao đẳng mỹ thuật trang trí Đồng Nai đã không ngừng mở rộng quy mô đào tạo. Đặc biệt là từ năm 1975 đến nay, nội dung đào tạo của trường đã chuyển dần sang lĩnh vực mỹ thuật ứng dụng nhằm phục vụ tốt hơn nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội.

Từ năm 1998 đến nay, trường đã mở thêm một số khoa, ngành mới nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội: thiết kế mỹ thuật truyền thông đa phương tiện; thiết kế thời trang. Hiện nay, Trường cao đẳng mỹ thuật trang trí Đồng Nai tổ chức đào tạo 7 khoa chuyên môn, gồm:

-khoa thiết kế đồ họa

-Khoa trang trí nội thất

-Khoa thiết kế thời trang

-Khoa thiết kế mỹ thuật truyền thông đa phương tiện

-Khoa nhiếp ảnh quảng cáo

-Khoa gốm mỹ thuật & điêu khắc

-Khoa  cơ bản.

Một chặng đường dài với biết bao thay đổi trong lịch sử của trường cùng lịch sử của dân tộc , biết bao thế hệ học trò đã trưởng thành từ đây , biết bao thế hệ thầy cô đã cống hiến sức lực và trí tuệ của mình cùng góp phần làm nên lịch sử của mái  trường .

đúng vào dịp kỷ niệm 110 năm thành lập, nhà trường vinh dự được đón nhận Huân chương Độc lập hạng nhì. Đây là thành quả lao động hăng say, miệt mài của tập thể cán bộ, giáo viên, sinh viên toàn trường. Điều này  khích lệ tập thể nhà trường phấn đấu hơn nữa để tiến lên trở thành trường đại học, đào tạo ngày càng nhiều nhân tài phục vụ cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.

nguồn : Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Trang Trí đồng Nai .

Khanhhoathuynga thực hiện :

*Mục Lục – Gốm Sản xuất Ở Miền Đông Nam Bộ

DANH MỤC TỔNG HỢP

MỤC LỤC – BẢO TÀNG

 

Read Full Post »

Tác giả : TRẦN ĐÌNH QUẢ

Để đánh giá chất lượng của một sản phẩm gốm sứ, người ta thường dựa vào những tiêu chí sau: nhất dáng, nhì xương, tam men, tứ trí. Như vậy, nghệ thuật tạo hình gốm là hết sức quan trọng bởi hình dáng sản phẩm là yếu tố đứng hàng đầu. Nó là cốt lõi của sản phẩm, là cơ sở để người nghệ nhân tiến hành các hình thức trang trí khác. Hình dáng của sản phẩm gốm được quy định bởi nếp sống, nếp suy nghĩ, cá tính, trình độ thẩm mỹ của nghệ nhân sáng tạo cũng như công chúng mà nó hướng tới. Nó còn được quyết định bởi xu hướng và quan niệm thẩm mỹ của thời đại. Cuối cùng, đó là sự kết hợp của đường nét và mảng khối trong nghệ thuật tạo hình ba chiều với sự cho phép của chất liệu.

Gốm mỹ nghệ Biên Hòa có vô vàn kiểu dáng với nhiều chủng loại khác nhau song vẻ đẹp truyền thống mang tính đặc trưng của nó thể hiện qua hai khía cạnh: sự cân đối, hài hòa trong tạo hình sản phẩm và nét độc đáo, đầy tính thẩm mỹ của các tượng nhỏ.

Sự cân đối và hài hòa trong tạo hình

Trong thiết kế gốm, có thể nói những dáng bình gốm Hy Lạp cổ đại cho thấy một sự cân đối mang tính cổ điển làm nên vẻ đẹp chỉn chu, say đắm lòng người. Nghệ thuật gốm Việt Nam nói chung và gốm Biên Hòa nói riêng cũng không là ngoại lệ, những sản phẩm được tạo dáng trên bàn xoay hoặc có cốt mẫu trên bàn xoay đều trở nên tròn trịa và cân đối. Đó là sự đối xứng tuyệt đối qua một trục cả về các thể thức, hình khối và các chi tiết phụ họa như quai, nắp.

Sự cân đối còn được thể hiện qua những đôn voi và các loại thú khác nhưlân, chó… Chúng luôn có sự đối xứng với nhau qua chính trục giữa của nó hoặc một khoảng cách nhất định như hai con lân đối nhau qua hai trụ cổng.

Bình gốm xoay (vuốt) của Biên Hòa thường được cấu tạo dựa trên năm thể(phần) chính, ngoài ra còn có một số chi tiết phụ, tùy theo sáng tác của nghệ nhân như quai, vòi, nắp… Những phần chính là chân, thân, vai, cổ và miệng bình. Từ 5 phần chính này, nghệ nhân có thể sáng tác ra rất nhiều kiểu dáng khác nhau. Có nhiều dạng bình không cần đủ 5 phần như bình hông dưới, loại không vai hay hũ, loại hình không có cổ. Sự cân đối của tạo dáng gốm Biên Hòa thể hiện qua tính thống nhất của từng phần trong một chỉnh thể nhất định.

Sự hài hòa là cái đích luôn mong muốn vươn tới của nhiều nghệ nhân sáng tạo. Có nhiều yếu tố tạo ra sự hài hòa của một sản phẩm, chẳng hạn như tỷ lệ kích thước của chiều cao và chiều rộng, của độ lớn hông bình với các bộ phận khác, của miệng và đáy bình, của từng bộ phận so với tổng thể. Có dạng bình tròn như trái bóng, hoặc là sự mô phỏng đường cong của tang trống. Phần miệng bình luôn dẫn người xem từ cảm giác chắc khỏe, đến sự dịu dàng và cao quý toát ra qua những tai bèo mềm mại. Phần cổ của bình lại hướng tới độ thanh thoát và là nhịp nối gắn kết sự hòa hợp giữa miệng và phần dưới của bình.

Để đạt đến độ hài hòa trong từng sản phẩm, nghệ nhân gốm Biên Hòa đã chắt lọc từ đa dạng dáng gốm của nhiều vùng khác nhau cộng với sự nỗ lực tìm tòi sáng tạo của chính mình. Trong loại hình bình hoa, sự hài hòa thể hiện rõ qua những đường cong mềm mại, căng tròn và liền lạc. Một bình rượu có hai bầu, trên nhỏ dưới lớn, là hình dáng quen thuộc trên khắp Việt Nam, song riêng với gốm Biên Hòa, nó trở nên thanh thoát, hài hòa hơn với tỷ lệ (vàng) của từng phần để tạo ra một chỉnh thể hoàn thiện.

Dạng bình sữa lại là một xu hướng tạo hình khác. Sự hài hòa được mang đến không phải do tính đối xứng qua một trục mà là cân bằng của khối. Phần vát, lệch một bên của miệng bình đã cân bằng với quai của bên kia, khiến cho sản phẩm rất mềm mại và phong phú về hình thể, cùng sự linh hoạt và chuyển động trong toàn khối. Đó là một phong cách tạo hình có sự tính toán khá phóng khoáng, đem lại hiệu quả thẩm mỹ cao.

Bộ ấm trà của gốm Biên Hòa có đặc trưng khác hẳn so với các dòng gốm của Việt Nam. Bình trà có cách tạo hình theo đề tài cách điệu chữ tửu, đã cho thấy khả năng khái quát cao của người sáng tạo. Một bố cục rất gọn, sự bố trí sắp đặt đúng chỗ của vòi và quai ấm, nhất là cách phối hợp các đường nét và mảng khối đã tạo ra một nhịp điệu uyển chuyển, sống động. Toàn bộ các khối được nghệ nhân phỏng theo nét của chữ Hán, có chỗ to, chỗ nhỏ, có nhiều lỗ trống giữa các nét, tạo ra sự thanh thoát. Họa tiết trang trí chỉ đơn giản là những hoa văn cổ, song lại rất phù hợp để tôn thêm vẻ đẹp cho sản phẩm. Sự phối hợp giữa màu nâu của nền cùng màu trắng của họa tiết làm nổi bật thân bình bên cạnh quai.Vòi ấm có màu xanh đồng, đưa lại một vẻ đẹp vừa sang trọng vừa cung kính.

Bình trà trái bí mang vẻ đẹp của một đồ gốm men ngọc, cách tạo hình thật nhẹ nhàng và quyến rũ. Toàn bộ thân ấm trông giống trái bí cách điệu với các đường khía hội tụ dần về nắp ấm có hình dáng như một chiếc lá úp mềm mại. Một chút đường cong tạo ra quai và vòi càng làm cho bố cục đẹp thanh thoát. Bình trà được phủ một lớp men trắng ta, lại điểm xuyết những chấm vàng, mang lại cái đẹp nhẹ nhàng và tinh khiết.

Khi chiêm ngưỡng một số chén đĩa của gốm Biên Hòa, không ít người phảingỡ ngàng trước sự sáng tạo của nghệ nhân xưa. Lấy đề tài từ hoa, lá sen, một bộ sản phẩm đĩa và chén đã được ra đời, mang đầy đủ sự mềm mại và cao quý. Vẫn với dáng của một chiếc chén ăn cơm bình thường nhưng người thợ đã tạo cho nó sự mềm mại bởi đường gợn của miệng chén được chia theo những cánh sen. Thêm vào đó là sức lột tả của đĩa giống như một lá sen đang nâng niu nụ hoa của nó. Màu men xanh đồng chỗ đậm, chỗ lợt (nhạt), cộng với những chấm bông vàng, đen càng tô điểm thêm cho sản phẩm.

Có lẽ, một số chén của Biên Hòa được làm ra với mục đích để uống nước như chén dùng trong trà đạo của người Nhật. Bởi khi uống trà, người dùng mới có cơ hội để thưởng thức hết giá trị nghệ thuật của chén cho xứng với tầm của nó. Chén được tạo dáng có đáy nhỏ, miệng loe lớn để phô bày hết các trang trí dày đặc bên trong lẫn bên ngoài, nó thực sự vượt khỏi tầm của một đồ gia dụng hàng ngày. Một loạt chén loại này được trang trí theo nhiều đề tài, từ hoa lá cổ đến các loại minh văn đơn giản, nhằm làm phong phú cho một dạng sản phẩm chỉ có ở gốm Biên Hòa. Chúng được sắp các loại men trầm nhưng rất phù hợp với từng đồ án trang trí.

Đôn là một dạng đặc trưng của gốm Biên Hòa. Có một số dáng đôn được sản xuất như loại đơn giản giống một cái trống, đôn ba mặt và đôn voi. Đôn ba mặt được tạo dáng khá đẹp với một chỉnh thể gọn, hài hòa giữa mặt đôn để ngồi và thân đôn là phù điêu nổi cao hình lân. Đôn voi lại là sự mô phỏng theo hình dáng của convoi theo hai dạng: loại vòi cất cao lên trên và loại có vòi đi xuống. Cái đẹp của đôn là sự kết hợp hài hòa giữa tạo hình và hình thức trang trí rất chi tiết của nó.

Tạo hình tượng nhỏ độc đáo

Một trong những dòng sản phẩm gốm Biên Hòa được ưa chuộng nhất là tượng. Tượng gốm được các nghệ nhân chú trọng khai thác, sáng tạo bằng tất cả sự ngưỡng vọng và tâm hồn hướng tới chân, thiện, mỹ. Nó đã góp phần tạo nên loại gốm mỹ nghệ đặc trưng, được định danh là gốm mỹ nghệ Biên Hòa nổi tiếng vào những thập niên 20-50 TK XX.

Bên cạnh tượng phật, gốm Biên Hòa còn thể hiện được nhiều hình tượng con người trong xã hội xưa và nay. Đó là những tác phẩm có tính hiện thực cao như nhóm tượng ngư ông, diễn tả người dân lao động trong nhiều tư thế sinh động. Vẻ mặt của họ ánh lên tình yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống, cho dù phải đối mặt với lao động cực nhọc hay tuổi tác. Trong nhóm tượng này, các ngư ông được thể hiện khỏe mạnh với quần áo xắn cao, để lộ các cơ săn chắc của người lao động chân tay. Chiếc nón (mũ) rộng vành được bố trí úp sau lưng như tăng thêm sự khẳng định của đề tài, đồng thời làm cho bố cục tượng chắc chắn. Men có màu đen của quần, màu xanh của áo và màu trắng của nón kết hợp lại, tạo nên hình tượng các ngư ông bình dị nhưng thật cao đẹp, đáng để mọi người trân trọng.

slideshow

Tượng Mạnh mẫu Mạnh tử ca ngợi tấm lòng bao la của người mẹ đối với đứa con. Mạnh mẫu tuy lao động vất vả nhưng vẫn hy sinh hết mình để lo cho con ăn học. Những mảng khối và đường nét trên trang phục của Mạnh mẫu cùng động tác và gánh hàng đã tạo nên bố cục sinh động, mặt của Mạnh mẫu hướng về phía Mạnh tử như đang truyền tình cảm cho con. Trong tác phẩm này, tác giả đã dùng nét cong làm chủ đạo để diễn tả nhiều điều: nét cong của đòn gánh diễn tả sức nặng của gánh hàng trên vai mẫu tử, dáng hơi cong của mẫu tử thể hiện phản xạ tự nhiên dưới sức nặng đang mang, nét cong mềm mại của quần áo…Tất cả như diễn tả tình thương ngọt ngào của mẹ dành cho con và mong con ăn học thành người. Các màu men xanh đồng trổ, xanh coban, trắng ta và đen đã kết hợp để mang lại vẻ đẹp của một điển cố xưa nhưng có giá trị đến muôn đời.

Tượng xe ngựa cho thấy sự tinh tế và tính khái quát cao trong việc tái hiện một phương tiện giao thông xưa của giai cấp quý tộc. Đối với chất liệu gốm, những khắt khe của độ co đất cùng nhiều biến đổi trong quá trình nung không cho phép nghệ nhân được phóng khoáng tạo khối như các chất liệu điêu khắc khác. Vì vậy,khi tạo khối, nghệ nhân phải tính đến yếu tố trọng lực cho phù hợp với kỹ thuật tạo hình bằng đất và sự biến đổi khi nung. Quần tượng xe ngựa là thành công của việc tạo ra một chỉnh thể có nhịp điệu, tư thế sinh động của ngựa hòa quyện cùng người dắt phần nào trái ngược với sự tự tại của người ngồi trên xe. Điều này đã nói lên được ý tưởng của đề tài bên cạnh giá trị nghệ thuật đơn thuần của nó.

Tượng tình mẫu tử là bài ca về tình cảm của mẹ con. Bố cục tượng gọn, mang đến sự truyền cảm sâu sắc qua tấm lưng còng của mẹ. Dù khó nhọc, ánh mắt của mẹ vẫn luôn trìu mến, muốn đem đến cho con một cuộc sống thanh bình và vui tươi. Con nhỏ được mẹ ôm trong lòng đang rạng rỡ với cánh chim trên tay, thật hạnh phúc trong vòng tay của mẹ. Toàn bộ tác phẩm phủ một màu men trứng cúc, bình dị và gần gũi.

Tính phong phú của mảng, khối trong sản phẩm gốm hiện đại

Bên cạnh mảng gốm có phong cách tạo hình truyền thống trên bàn xoay(vuốt) với những sản phẩm tròn và cân đối, gốm Biên Hòa còn rất ấn tượng và giàu tính sáng tạo qua nhiều tác phẩm gốm độc bản, mang tính hiện đại.

Trong giai đoạn Pháp thuộc, phong cách tạo hình này mới chỉ thấp thoáng qua một số sản phẩm bình trà, nó chỉ thật sự bùng nổ khi đất nước bước vào thời mở cửa. Những kiểu dáng gốm hiện đại, phóng khoáng nhưng mang nhiều tính sáng tạo đã trở nên hấp dẫn và có ảnh hưởng đến tạo dáng gốm Biên Hòa. Hàng loạt tác phẩm gốm do thày và trò Trường Cao đẳng mỹ thuật trang trí Đồng Nai sáng tác cùng với sự thể nghiệm của một số lò gốm ở Biên Hòa đã khẳng định một mảng gốm rất đặc trưng của Đồng Nai.

Nói đến gốm hiện đại là đã đề cập tới cách giải quyết vấn đề theo phong cách nghệ thuật hiện đại, từ tư duy chọn đề tài đến thể hiện qua mảng khối. Trong các tác phẩm gốm hiện đại Biên Hòa, sự phong phú của mảng, khối là nét khác biệt rõ nhất so với gốm truyền thống. Khối và mảng trở nên biến hóa với tính khái quát cao về đề tài mà tác giả muốn thể hiện.

Bình ốc, cho thấy một điển hình về sự chuyển của khối và đường nét. Đó là sự kết hợp của nhiều khối to nhỏ, âm dương, mỗi khối lại có những hình dáng khác nhau tạo nên một tổng thể vô cùng phong phú. Bên cạnh đó, những đường khắc chìm trên thân của khối lớn đã tạo ra sự liên kết trong một tập hợp, chia thân khối ra thành nhiều mảng có diện tích và hình dáng khác nhau, làm nên một cái nền. Toàn thể tập hợp đó gợi nên một cảm giác nhẹ nhàng nhưng sâu thẳm của đại dương qua chính loài vật sống trong đó. Một nhịp điệu được toát ra qua sự uyển chuyển của đường nét và cách sắp xếp các khối. Một màu men xanh phủ toàn bộ tác phẩm đã làm rõ hơn sự diễn tả cho đề tài.

Các đề tài lấy từ hình tượng con người được sử dụng nhiều trong sáng tác gốm hiện đại. Trong đó, nhân vật được đơn giản hóa tối đa, các khối quyện chặt vào nhau trong nhịp chuyển động linh hoạt của mảng và đường nét. Nhìn chung bố cục của chúng đều hướng tới sự vận động liên tục của cuộc sống ngay cả khi con người đang trong tư thế tĩnh. Tác phẩm Tình yêu lứa đôi diễn tả đôi trai gái đang chìm đắm trong vũ điệu của tình yêu. Nhân vật nam và nữ được cách điệu thành những khối đơn giản với các đường cong mềm mại và uyển chuyển trong bố cục rất chặt chẽ giữa một không gian ba chiều rõ nét. Tác giả đã cố gắng diễn tả không gian sao cho khi ta xoay chiều nào cũng tạo được góc nhìn ưng ý, góc nào cũng thấy được nhịp điệu sinh động của mảng khối. Sự chặt chẽ nhưng không ngợp bởi khoảng trống giữa các khối đã tạo nên cảm giác nhẹ nhàng và sâu rộng của không gian. Sự chuyển động thông qua đường nét và mảng khối làm sáng tỏ hơn chủ đề mà tác phẩm đang hướng đến. Toàn bộ tác phẩm được tráng một màu xanh đồng nhẹ nhàng và đặc trưng của gốm Biên Hòa.

Sự tìm hiểu và khai thác các đề tài về văn hóa và con người của nhiều dân tộc trên khắp đất nước là một mảng rất ấn tượng trong gốm hiện đại Biên Hòa. Tác phẩm Tây Nguyên, dưới dạng một bình hoa, cho thấy một phong cách thể hiện kết hợp giữa tạo hình truyền thống và điêu khắc. Tính truyền thống ở đây là một bố cụckhá cân đối, sự tạo dáng ban đầu dựa vào bàn xoay nhưng nó đã được điêu khắc hóa khi thể hiện những chi tiết, mảng và khối nhỏ. Trong Tây Nguyên, các khối được gắn kết với nhau theo một trình tự ngẫu nhiên như thực tế, song nó đã được tính toán ở một tỷ lệ vừa đúng để tạo ra tổng thể hoàn chỉnh. Với một khối đơn giản có tính khái quát cao, việc nêu bật được đặc điểm của một nền văn hóa, một dân tộc là rất khó. Bình Tây Nguyên đã cho người xem cảm nhận được những đặc điểm chính của người phụ nữ nơi đây qua mảng khăn quấn trên đầu, hai vòng đeo tai có dạng như hai chiếc chiêng, hai lỗ tai lớn, biểu thị cho hệ quả của việc đeo vòng nặng từ nhỏ và cuối cùng là ba vòng tròn ở cổ. Chính các chi tiết của khối như: mắt, miệng, tai… là những họa tiết trang trí vừa để hoàn chỉnh ý tưởng đề cập của đề tài, đồng thời góp phần mang lại tính mỹ thuật cao hơn, sâu sắc hơn. Màu men nâu chủ đạo đã trở nên phù hợp và làm đẹp hơn cho cả nội dung và hình thức của tác phẩm.

Bình đèn Múa Chăm lại đưa người xem đến cảm nhận khác về sự biến đổi của mảng khối và đường nét trên một sản phẩm gốm. Trong tư thế hết sức sinh động và mềm mại, hình tượng người múa hiện lên duyên dáng với những hoa văn mang đậm bản sắc Chăm trên trang phục. Với bố cục thật đơn giản và gọn, hình tượng vũ nữ được chia làm ba khối chồng lên nhau theo xu hướng nhỏ dần lên trên. Đó là ba khối biến thể có tính khái quát cao, một khối tay đưa lên, một cánh tay chống vào hông… tất cả được kết hợp đầy sáng tạo. Những hoa văn Chăm được trang trí phù hợp với kỹ thuật khắc, lộng, đã tạo ra sự thông thoáng cần thiết để ánh sáng đèn bên trong hắt ra, vừa đủ đẹp. Màu men xanh đồng của thân và màu men nâu đậm, màu đen của hoa văn hài hòa và sâu lắng.

Như vậy, khả năng kết hợp của mảng và khối trong gốm hiện đại thật phong phú. Sự phong phú đó bắt nguồn từ tính đa dạng của đề tài mà gốm hiện đại thể hiện, hơn nữa phong cách tạo hình mới trong các sáng tác đã giúp cho việc tạo hìnhmảng, khối ngày càng đa dạng hơn. Nó không chỉ làm đẹp cho một bố cục mà tự bản thân nó đã bộc lộ những ngữ nghĩa tùy theo sự biến hóa và cách sắp đặt của tác giả.

Cùng với những dòng gốm khác trên khắp quê hương Việt Nam, gốm Biên Hòa đã và đang góp phần làm tôn vinh vẻ đẹp và phong phú của làng nghề truyền thống thủ công mỹ nghệ. Với nỗ lực phấn đấu của các doanh nghiệp sản xuất, ngành gốm Biên Hòa sẽ gặt hái được nhiều thành công trên bước đường phát triển, mãi mãi xứng đáng là dòng gốm nổi tiếng mang đặc trưng riêng của khu vực miền Đông Nam Bộ.

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN

*Mục Lục – Gốm Sản xuất Ở Miền Đông Nam Bộ

Read Full Post »

Đồng Nai có gốm Biên Hòa

Đẹp, bền, duyên dáng ai mà lãng quyên

Đó là câu ca dao ngọt ngào, ngợi ca địa danh làm gốm nổi tiếng của mảnh đất Miền Đông Nam bộ. Thật tự hào với thương hiệu gốm Biên hòa đã đi vào lòng người. Điều đó chứng minh nghề gốm Biên Hòa đã có từ rất lâu, nó được đón nhận vào đời sống văn hóa của dân gian như nhiều nghề truyền thống khác. Trải qua hàng trăm năm hình thành và phát triển gốm Biên Hòa đã để lại nhiều giá trị tại kho tàng lịch sử gốm Việt Nam, trong đó giá trị nghệ thuật là yếu tố nổi bật và quan trọng để đưa sản phẩm gốm Biên Hòa trở nên nổi tiếng trong và ngoài nước. Một trong những yếu tố quan trọng đó, chính là nghệ thuật trang trí được thể hiện qua đôi tay khéo léo và khối óc sáng tạo của các nghệ nhân gốm Biên Hòa.

Hoa văn trang trí gốm Biên Hòa

Nói đến “Trang trí”, đầu tiên phải kể đến các họa tiết trang trí. Đó có thể là một hay nhiều mảng màu đơn giản đến các hoa văn phức tạp khác nhau. Một đặc trưng nổi bật của trang trí gốm Biên Hòa là sự đa dạng, phong phú của nội dung các hoa văn trang trí.Đối với các hoa văn, ngoài yếu tố trang trí, người ta rất quan tâm đến ý nghĩa của nó, đặc biệt là những hoa văn có tính ước lệ như rồng, phượng, được gắn đặt một ý nghĩa nào đó thông dụng trong nhân dân. Hoa văn miêu tả cuộc sống như cảnh sinh hoạt, hay minh họa cho một truyền thuyết của dân tộc, một kỳ tích của các anh hùng, một câu chuyện nào đó trong dân gian được mọi người yêu mến và có ý nghĩa giáo dục.

–  Hoa văn Rồng, Phượng

Hòa mình vào quan niệm truyền thống của người phương Đông, hình tượng con Rồng, Phượng, Kỳ lân là những hoa văn ước lệ xuất hiện khá nhiều trong các sản phẩm gốm truyền thống của Đồng Nai. Các bố cục như “lưỡng Long tranh châu” hay “lưỡng Long chầu Nguyệt” luôn là các đề tài cho việc trang trí sản phấm gốm thờ cúng.

Một đặc trưng của hình tượng Rồng trên gốm Biên Hòa là biến thể Rồng lá, đây là dạng hoa văn cổ rất hay được áp dụng trên các đố án trang trí bình đèn. Một sản phẩm gốm Biên Hòa được sáng tác từ thời Pháp thuộc là bình đèn lộng rồng lá đã áp dụng rất nhuần nhuyễn hoa văn trang trí này. Trong bình, rồng lá có bố cục mềm mại, uyển chuyển và liên tục chạy khắp một vòng của thân bình với nhiều con kết hợp lại. Các mảng lượn lờ đan xen với nhau sao cho bố cục của mảng được rải đều và nâng đỡ nhau để khi lộng thủng bớt phần nền, vẫn còn lại xương đủ cho sự chịu lực của bình. Nghệ nhân thường chạm thủng phần nền làm nổi bật thân Rồng lá để lộ rõ một lối trang trí có đường cong làm chủ đạo. Họa tiết trang trí và phần nền được hai màu men xanh đồng và trắng ta phối lại một cách hài hòa và trầm lặng.

 
 – Họa tiết hoa lá

Hoa lá trong trang trí gốm Biên Hòa thường hiện diện dưới hai hình thức, đó là hoa lá cổ được người nghệ nhân sưu tầm lại từ vốn cổ của cha ông để lại. Có nhiều dạng hoa lá cổ như hoa Mai, Lan, Cúc, Sen…hoặc chỉ là những chiếc lá được bố cục trong một dải đồ án nhất định. Việc đưa họa tiết cổ vào trang trí đã tạo cho sản phẩm trở nên gần gũi thấm đượm bản sắc dân tộc. Cách bố cục họa tiết hoa lá cổ cộng với sự phối màu hài hòa, trầm, đã tạo cho gốm Biên Hòa sự sâu lắng đến vô cùng, nghiêm trang và cao quý.

Ngoài hoa lá cổ, gốm Biên Hòa còn sử dụng họa tiết hoa lá do người sáng tác nghiên cứu. Họa tiết thường được chú ý nhiều nhất là hoa Sen, hoa Mai. Trong chiếc liễn hoa Sen một sự tự do, thoải mái cho người sáng tác, những mảng hoa và lá nâng đỡ cái nọ làm nền cho cái kia trên một diện tích hợp lý, tạo ra một bố cục hoàn chỉnh với màu sắc nhẹ nhàng, quyến rũ. Ở một số bố cục khác, lại có sự kết hợp rất khéo giữa Sen và cỏ, những bông Sen trong nhiều hình dáng từ khi mới nở đến lúc đã xòe ra hết cỡ, điều này chứng tỏ người sáng tác đã có nghiên cứu kỹ. Màu sắc của lá sen thường là men xanh đồng, bông sen màu trắng có điểm chút màu hồng để tạo ra sự tinh khiết.

Có một dạng trang trí rất đặc sắc của gốm Biên Hòa, đó là đồ án bá hoa. Trong đồ án trang trí này, nghệ nhân sử dụng rất nhiều các loại hoa, hoa Mai, hoa Cúc, hoa Hướng dương, hoa Dâm bụt…tất cả các hoa này, cái to, cái nhỏ chồng lấn nâng đỡ nhau tạo thành một rừng hoa trước mắt người xem. Đây là lối trang trí được sắp xếp rất nhiều màu cho các loài hoa, tuy nhiên, nhờ có mảng lớn nhỏ khác nhau, sự diễn tả tốt của không gian nhờ các mảng chồng lên nhau nên sự phối màu trở nên hài hòa, vui mắt.

Họa tiết động vât

Động vật trong trang trí gốm Biên Hòa rất phong phú, ngoài những con vật tưởng tượng như Rồng, Phượng, kỳ Lân, còn có rất nhiều loài vật khác trong tất cả các loại hình của gốm.

Trong gốm tượng tròn, hình tượng nhiều nhất là Voi với sự đa dạng ở các tư thế khác nhau, có con cụp vòi xuống, có con lại đưa vòi lên như đang vẫy gọi bạn. Một loại sản phẩm dùng voi làm hình tượng là đôn voi, đây là sản phẩm đặc trưng của gốm Biên Hòa. Nhìn chung, hình tượng voi trong gốm Biên Hòa có thân hình khỏe và sinh động trong các tư thế động. Trong một số loại hình, voi còn được trang trí những hoa văn, điều đó đã đưa gốm Biên Hòa có những sản phẩm tiêu biểu, khác biệt với các dòng gốm khác.

Trong nhiều đồ án trang trí trên gốm Biên Hòa, hình ảnh Ngựa được thể hiện rất đẹp với dáng vẻ sinh động và thật mềm mại. Dưới nét khắc tài hoa của nghệ nhân, hình ảnh ngựa hiện lên hùng dũng trên đường chạy song cũng thật uyển chuyển, lãng mạn với nhịp điệu của đường nét và mảng khối.

Họa tiết Tôm và Cá được diễn tả rất sinh động trên các sản phẩm gốm Biên Hòa. Một chú Tôm đang dùng hai chiếc càng để gắp bông hoa, cho thấy sự quan sát thật tinh tế của người sáng tác. Chỉ bằng những nét khắc đơn giản, con Tôm đã được tả thực một cách vô cùng chính xác. Cách bố cục của Tôm cùng với những thực vật trong lòng tròn đĩa cho người xem cảm nhận một sự chặt chẽ nhưng thật nhẹ nhàng của môi trường dưới nước. Trong sản phẩm này màu men xanh đậm của đĩa đã làm nổi bật mình Tôm màu trắng ta bên cạnh những mảng hoa màu nâu nhạt đóng vai trò trung gian.

Đề tài Cá được khai thác nhiều tập trung ở hình ảnh cá ba đuôi, cá tai tượng. Đĩa trang trí cá trong gốm Biên Hòa cho thấy một thân thể cá mềm mại với những cái đuôi lượn lờ trong nước. Ở đây tác giả đã cố ý miêu tả chi tiết vẻ đẹp đặc trưng của cá ba đuôi, những mảng đuôi được phụ họa bằng những nét khắc đã tạo nên sự uyển chuyển, mềm mại làm sao.

Bình hoa trang trí “Cò Tùng” là một bức tranh thật sinh động về cảnh sinh hoạt của cả một bầy cò. Tác giả đã nghiên cứu và thể hiện ở đây nhiều dáng cò, có con đang bay, con đang đậu nhìn lên, con đang xỉa lông… thật là một tập thể náo động quanh những cành, lá Tùng cùng một vài giải Mây lượn lờ bên trên. Bố cục trang trí của đồ án trang trí này là hết sức tự do, mọi họa tiết cứ phát triển tự nhiên và chạy giáp vòng, phủ kín hết diện tích bề mặt của bình. Điều này gây cho người xem sự chú ý toàn diện trên tất cả các mặt của sản phẩm, nó cũng cho cảm giác như đang được chiêm ngưỡng cả một rừng“Cò Tùng” vậy. Hình ảnh những cánh cò trắng hòa cùng màu xanh lãm của nền, trông như một bức tranh sống động trong thiên nhiên.

                                                                                                   

–  Hình ảnh con người trên gốm Biên Hòa:

Trong trang trí gốm Biên Hòa ngoài những tượng đài và phù điêu hoành tráng, hình tượng con người còn được thể hiện rất phong phú qua những đề tài có sự nghiên cứu kỹ lưỡng, mỗi đề tài đều gắn với một điển tích, một cảnh sinh hoạt hay một cốt truyện cụ thể trong dân gian. Nó là những lời ngợi ca các anh hùng, ngợi ca vẻ đẹp của con người Việt Nam trong lịch sử đấu tranh và lao động của mình.

Đề tài về con người được quan tâm sâu rộng là những cảnh sinh hoạt trong dân gian. Qua tranh gốm diễn tả đám cưới, hình ảnh con người và phong tục xưa hiện lên rõ nét. Sự rộn ràng, hồ hởi của ngày quan trọng nhất trong cuộc đời đã được tác giả thể hiện trên những gương mặt của các nhân vật cùng nhịp điệu vui tươi được tạo ra bởi các tư thế của những người đi rước dâu. Những trang phục cộng với ô và nón đã đem lại một cảm giác hết sức thân thương về một quê hương Việt Nam thanh bình, đầm ấm tình người. Tranh lấy màu xanh và trắng làm màu chủ đạo và được điểm một số họa tiết màu nâu vàng đã đem lại hiệu quả nhẹ nhàng, nền nã.

Phù điêu “Mùa gặt” đã mang đến một hình ảnh khác của người Việt, một lao động hăng say trên cánh đồng lúa nước. Những người nông dân trong động tác làm việc khác nhau, song họ đều hồ hởi trước một vụ mùa bội thu. Bố cục của ba người gom thành một nhóm chặt chẽ và tạo thành nhịp điệu rõ qua đường nét của mảng. Những cánh cò bay ngược với hướng của nhân vật ở phía trên có tác dụng cân bằng và mở rộng thêm không gian cho phù điêu.

              

Cảnh nhảy múa có rất nhiều đồ án trong trang trí gốm Biên Hòa, đó là sự thể hiện những nhịp điệu thật nên thơ của các điệu múa trong bản sắc văn hóa Việt Nam. Các nghệ nhân đã chọn lọc và bố cục nhịp nhàng giữa sự uyển chuyển của người múa cùng những dải lụa hoặc trang phục truyền thống duyên dáng, dịu dàng…tất cả tạo thành một tổng hợp của đường cong thật nhẹ nhàng, đẹp đẽ.

Các phương pháp trang trí trên gốm Biên Hòa:

–  Kỹ thuật chạm khắc trong trang trí gốm:

Kỹ thuật khắc chìm là một đặc trưng rõ nét nhất của nghệ thuật trang trí trên gốm Biên Hòa. Việc gốm Biên Hòa chọn phương pháp khắc chìm và phối màu men trên sản phẩm so với gốm vẽ oxit men Lam rất phổ biến ở Miền Bắc và Huế có thể cho chúng ta hình dung sự độc lập trong sáng tạo và xu hướng riêng biệt.

Khác  với  các  phương  pháp  vẽ  oxit  như gốm Hoa lam, người thợ khắc dùng một dụng cụ như bút viết nhưng đầu bằng sắt nhọn để khắc nét chìm vào sản phẩm. Muốn cho dễ thao tác và không bị bể nét, người thợ thường khắc khi đất còn chưa khô trắng. Họa tiết được phác chì hoặc in bằng một mộc cao su,  người  thợ sẽ khắc lại theo nét chì, mực in. Độ sâu của nét khắc vừa đủ để làm rãnh ngăn cách không cho hai màu men chảy lem vào nhau.

–  Kỹ thuật chạm lộng của gốm Biên Hòa:

Chạm lộng (chạm thủng) là kỹ thuật trang trí được áp dụng cho một số chủng loại sản phẩm như: Bình đèn, voi, đôn, chân đèn…Trong kỹ thuật này người thợ dùng dao cắt xương đất thành những lỗ hổng, tạo ra một phần nền (âm), phần họa tiết được giữ lại. Các họa tiết phải liên lạc với nhau sao cho  khi lộng thủng xong mà xương vẫn vững chắc cho công đoạn tiếp theo và trong sử dụng. Đối với bình đèn, bóng đèn được lắp bên trong, ánh sáng sẽ rọi qua các lỗ thủng tạo ra một hiệu quả vô cùng thú vị tùy vào sự tính toán của người thiết kế trang trí.

Kỹ thuật trang trí men trên gốm Biên Hòa:

Kỹ thuật trang trí men ở Biên Hòa có nhiều phương pháp khác nhau  nhưng hay sử dụng nhất là kỹ thuật chấm men. Khi đã có mảng trang trí được phân chia theo các đường khắc, người thợ sẽ dùng cọ chấm men lên sản phẩm  theo một sự phối màu đã có sẵn.Độ dày của lớp men phải luôn đảm bảo vừa, bởi nếu mỏng quá sẽ lộ cốt đất còn dày quá thì men sẽ bị tuôn, lem qua các mảng màu khác khi nung. Ưu điểm của phương pháp này là nó cho phép người thợ chủ động phối được nhiều màu men trên một sản phẩm, các mảng màu rõ ràng, thể hiện tính trang trí cao.

Men trên đồ gốm không chỉ là một bước tiến về mặt khoa học kỹ thuật mà còn góp phần tạo nên vẻ đẹp độc đáo của sản phẩm. Một đồ gốm khi được phủ men trên bề mặt và trong lòng sẽ có tác dụng như một lớp thủy tinh làm cho gốm không bị thẩm thấu, tăng độ bền cơ, bền hóa, bền điện và nhiệt.

Quan hệ của men và hình là mối quan hệ hỗ trợ, tôn vẻ đẹp cho nhau. Men làm cho hình dáng của sản phẩm trở nên lưu loát, hài hòa hơn. Men còn làm cho hoa văn trang trí mềm mại hơn, hòa nhịp với dáng của sản phẩm. Khi được phủ men, hoa văn trở nên ẩn hiện và có hồn hơn trong một tổng thể hài hòa. Men màu luôn được sử dụng hợp lý với màu sắc của hoa văn. Men giúp cho bề mặt của sản phẩm tăng thêm độ láng bóng, che bớt đi những nét thô ráp của những đoạn nối giữa thể chính và phụ, nó làm nhẹ đi góc cạnh của sản phẩm.

Men của Biên Hòa được chia ra hai xu hướng khác nhau về nhiệt độ chảy và hệ màu sắc. Đó là dòng men cao độ cho ra những màu sắc trầm và quý, dòng men trung độ chuyên sử dụng những sắc màu tươi sáng hơn, rực rỡ hơn với các màu nóng như màu vàng, hồng, cam, đỏ…

Nghệ thuật phối màu trên gốm Biên Hòa:

Trên gốm Biên Hòa, các màu men được phối hợp với nhau rất hài hòa trên một tổng thể đã được đính sẵn. Với tính đặc trưng là trang trí bằng các nét khắc, nên các mảng màu được phân định sẵn, rõ ràng không có sự lem qua lại giữa các màu. Vì vậy, đặc điểm trang trí của gốm Biên Hòa đã thể hiện sự kế thừa và phát triển tính trang trí trên gốm hoa nâu thời nhà Trần.

Qua các sản phẩm gốm Biên Hòa, cho thấy rõ hai trường phái phối màu khác nhau theo hai dòng men nặng và trung lửa. Trường phái thứ nhất là trang trí bằng các màu men nặng lửa của trường Mỹ Nghệ Biên Hòa. Xuất phát từ cái gốc của mỹ thuật học, sự phối màu của Thầy và Trò đều dựa trên cơ sở khoa học. Các màu được sắp xếp sao cho vừa nêu rõ được cái đẹp, cái nổi bật của mảng chính, lại vừa có tính chuyển tiếp, hài hòa trong tổng thể của một sản phẩm. Trên mỗi chiếc bình, hũ hay chén dĩa…số lượng màu rất hạn chế, chỉ từ 2 đến 5 màu nhưng vẫn cho thấy đủ màu chính và màu trung gian, vẫn gợi mở được cái sâu thẳm của không gian. Chính sắc độ và cách phối màu đã đưa gốm Biên Hòa đến cái đẹp không rực rỡ nhưng có hồn, nó cuốn hút người xem càng nhìn càng cảm nhận được tính sang trọng và cao quý, cảm nhận được chiều sâu của vẻ đẹp qua một tác phẩm.

Trường phái thứ hai là trang trí những màu men sáng. Với sự phong phú về số lượng màu sắc, nên người thợ thường phối màu có tính vui vẻ và rực rỡ trên nhiều sản phẩm. Đó là những bông hoa khoe sắc, những hình tượng Rồng, Phượng rực rỡ trên không trung. Là những mảng màu có tính tương phản trên cùng một sản phẩm. Tuy nhiên, cũng có nhiều bình, chậu có sự phối màu dịu dàng, song nhìn chung, trường phái này có hơi lạm dụng tính tương phản của màu. Nó cho ra nhiều sản phẩm mới nhìn rất rực rỡ, bắt mắt nhưng nhìn lâu sẽ có sự nhàm chán và hời hợt.

Như vậy, giá trị nghệ thuật trang trí của gốm Biên Hòa thể hiện thật phong phú và đầy tính sáng tạo. Bằng những đặc trưng và kỹ thuật sản xuất riêng, nghệ nhân Biên Hòa đã sản sinh ra dòng sản phẩm gốm có giá trị thẩm mỹ cao, được đón nhận và tôn vinh tại các cuộc triển lãm của trong nước cũng như quốc tế.

Trang trí là một giá trị nghệ thuật rất đặc trưng của gốm Biên Hòa. Đi theo lối khắc chìm, lộng vào thân sản phẩm, hoa văn trên gốm Biên Hòa trở nên rõ ràng, khỏe mạnh và dứt khoát. Sự phân mảng màu sắc riêng biệt cùng với kỹ năng phối màu men mang tính sáng tạo trên cơ sở những màu men truyền thống nổi tiếng đã nâng nghệ thuật trang trí gốm Biên Hòa vươn tới cái đẹp của sự hoàn thiện./.

Thạc Sĩ : Trần Đình Quả

This slideshow requires JavaScript.

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

MỤC LỤC  CÁC BÀI SƯU TẦM

*Mục Lục – Gốm Sản xuất Ở Miền Đông Nam Bộ

Read Full Post »

 Men là yếu tố thể hiện rõ nét trình độ phát triển của nghệ thuật gốm sứ truyền thống. Trong các loại hình gốm: sản phẩm đất nung không phủ men, gốm sành nâuvới màu men chủ yếu là da lươn và đen, đến gốm sành xốp thì đã có sự đa dạng về màu sắc của men. Tùy theo từng độ lửa mà người thợ có thể chế ra nhiều màu cho phù hợp với tính chất trang trí của từng sản phẩm. Men trên đồ gốm không chỉ là một bước tiến về mặt khoa học kỹ thuật mà còn góp phần tạo nên vẻ đẹp độc đáo của sản phẩm. Một đồ gốm khi được phủ men trên bề mặt và trong lòng sẽ có tác dụng như một lớp thủy tinh làm cho gốm không bị thẩm thấu, tăng độ bền cơ, bền hóa, bền điện và nhiệt.

Men truyền thống gốm Biên Hòa nói riêng cũng như gốm Việt Nam nói chung phần lớn được làm từ những khoáng chất tự nhiên. Màu sắc của men phát ra ngay từ bản thân các nguyên tố bị oxit hóa có sẵn trong đất đá và những màu sắc này được kiểm soát, điều khiển bằng nhiệt độ lò nung. Men của Biên Hòa được chia ra hai xu hướng khác nhau về nhiệt độ chảy và hệ màu sắc. Đó là dòng men cao độ cho ra những màu sắc trầm và quý, dòng men trung độ chuyên sử dụng những sắc màu tươi sáng hơn, rực rỡ hơn với các màu nóng như màu vàng, hồng, cam, đỏ…

Trong những năm mới thành lập, gốm Biên Hòa sản xuất tại trường kỹ nghệ Biên Hòa được tráng men Pháp nhưng sau một thời gian, dưới sự lãnh đạo của người phụ trách rất có tài và có tâm là bà Marie Balick, nhóm nghiên cứu men mớichỉ dùng nguyên liệu trong nước như đất sét Bình Phước, đá trắng An Giang, vôi Càn Long, tro rơm, tro củi, tro trấu và thủy tinh. Các nguyên liệu nội địa đó sẽ cho ra loại men trong, rất thích hợp với chất đất và phong cách tạo hình của gốm Biên Hòa. Họ dùng kim loại mạt đồng, đá đỏ (đá ong Biên Hòa) và bột màu cobalt để tạo nên màu sắc của men. Một trong những màu men nổi tiếng nhất của gốm Biên Hòa là men xanh đồng (vert de Bien Hoa). Ngoài ra, gốm Biên Hòa còn có các men đẹp khác là men màu xanh dương, màu đá đỏ, màu trắng ta,… rất được ưa chuộng.

Dòng men do trường Mỹ nghệ Biên Hòa chế tạo thường có nhiệt độ chảy cao. Khi nung tới 12500c, men mới bắt đầu rướm chảy, các hóa chất trong hỗn hợp men sẽ từ từ hóa lỏng. Sự bóng láng bề mặt xảy ra ở nhiệt độ12800c trong một khoảng lưu nhiệt kéo dài nhất định. Vì nhiệt độ nung cao nên các màu men có một vẻ đẹp rất thâm trầm, sâu lắng.

Vert de Bien Hoa, men màu xanh đồng nổi tiếng thế giới, là sự kết hợp của men tro và chất tạo màu bằng hợp kim đồng. Có một hệ thống men xanh đồng được sử dụng trong thực tế là xanh ve chai, xanh lá và xanh ngọc do người thợ Biên Hòa sản xuất. Khi làm nguội trong lúc nung lò, người thợ Biên Hòa đã có cáchxử lý tốt, điều này dẫn đến hiện tượng khử oxy và tạo tinh thể đồng trên men. Khuynh hướng tạo tinh thể đồng thường xảy ra không đều trên bề mặt men, vì vậy mặt men màu xanh đồng sẽ có những đốm mà người trong nghề thường gọi là xanh đồng trổ bông. Bông có thể đen hay vàng. Trong nhiều trường hợp, ở trên cùng một sản phẩm có thể mặt này trổ bông đen, mặt kia lại có bông vàng. Nguyên liệu làm men dễ trổ bông là tro trấu có độ nhớt cao, đồng sẽ ít bị phân tán nên dễ ra bông. Mặt khác, kỹ thuật chấm men cũng ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng của màu men. Đối với hệ thống men tro là nguyên liệu có tính lắng đọng cao, nếu người thợ không thường xuyên khuấy đều trong lúc sử dụng sẽ gây ra hiện tượng men nhiều nước, điều này sẽ làm nhạt màu và không có bông.

Gốm Biên Hòa còn nổi tiếng với màu men đá đỏ (đá ong). Khi vùi dưới lớp đất dày chừng một mét trở lên thì đá ong mềm, có thể dùng xẻng xắn được dễ dàng. Đá ong chứa oxit sắt và oxit nhôm, khi đã lấy lên mặt đất, đá ong mới cứng dần. Hàm lượng oxit sắt trong đá ong chứa tới 25%, vì vậy đá ong luôn luôn có màu đỏ hơi đậm. Đá đỏ trộn với men trắng sẽ cho ra màu nâu, màu đỏ đậm, màu vàng đất tùy theo tỷ lệ trộn giữa đá và men.

Một trong những màu men hay được sử dụng trên gốm Biên Hòa là men màu trắng ta. Đây cũng là màu men được đánh giá rất cao về giá trị nghệ thuật. Men trắng ta có màu hơi ngà và trong nên rất thích hợp làm trung gian cho sự phối màu của nghệ nhân. Sở dĩ gọi là men trắng, bởi các thành phần phối liệu đều là nguyên liệu trong nước. Ngoài ra, loại men cao độ còn có các màu khác là xanh coban, nâu vàng, trắng đục, xanh crôm…

Bên cạnh men cao độ, dòng men lửa trung với những màu sáng được sử dụng nhiều tại các làng gốm Biên Hòa. Đây là dòng men khá phong phú về màu sắc với cả hai tông màu là nóng và lạnh. Hệ màu nóng gồm có các màu vàng, cam, hồng, đỏ, nâu. Hệ màu lạnh có các màu xanh lá, xanh dương, xanh lam, tím…Các màu trung gian có màu trắng, đen. Tất cả các màu men đều có thể có được sắc độđậm và nhạt tùy theo yêu cầu của khách hàng.

Trên gốm Biên Hòa, các màu men được phối hợp với nhau rất hài hòa trong một tổng thể đã được đính sẵn. Với tính đặc trưng là trang trí bằng các nét khắc, các mảng màu được phân định sẵn, rõ ràng không có sự lem qua lại giữa các màu. Vì vậy, đặc điểm trang trí của gốm Biên Hòa (có thể nói là) đã kế thừa và phát triển tính trang trí trên gốm hoa nâu thời nhà Trần.

Qua các sản phẩm gốm Biên Hòa, có thể thấy rõ hai trường phái phối màu khác nhau theo hai dòng men nặng và trung lửa (men cao và trung độ).

Trường phái thứ nhất là trang trí bằng các màu men nặng lửa của Trường Mỹnghệ Biên Hòa. Xuất phát từ cái gốc của mỹ thuật, sự phối màu của thày và trò đều dựa trên cơ sở khoa học. Các màu được sắp xếp sao cho vừa nêu rõ được cái đẹp, cái nổi bật của mảng chính, lại vừa có tính chuyển tiếp, hài hòa trong tổng thể của một sản phẩm. Trên mỗi chiếc bình, hũ hay chén đĩa,… số lượng màu rất hạn chế, chỉ từ 2 đến 5 màu nhưng vẫn cho thấy đủ màu chính và màu trung gian, vẫn gợi mở được cái sâu thẳm của không gian. Chính sắc độ và cách phối màu đã đưa gốm Biên Hòa đến cái đẹp không rực rỡ nhưng có hồn, nó cuốn hút người xem,càng nhìn càng cảm nhận được tính sang trọng và cao quý, cảm nhận được chiều sâu của vẻ đẹp qua một tác phẩm.

Trường phái thứ hai là trang trí với những màu men sáng. Do sự phong phú về số lượng màu sắc nên người thợ thường phối màu có tính vui vẻ và rực rỡ trên nhiều sản phẩm. Đó là những bông hoa khoe sắc, những hình tượng rồng, phượng rực rỡ trên không trung, là những mảng màu có tính tương phản trên cùng một sản phẩm. Tuy cũng nhiều bình, chậu có sự phối màu dịu dàng song nhìn chung, trường phái này hơi lạm dụng tính tương phản của màu. Nó cho ra nhiều sản phẩm mới nhìn rất rực rỡ, bắt mắt nhưng nhìn lâu sẽ có sự nhàm chán, thiếu chiều sâu cuốn hút.

Giá trị nghệ thuật của gốm Biên Hòa thể hiện qua hai phương diện là tạo hình và trang trí sản phẩm. Bằng những đặc trưng và kỹ thuật sản xuất riêng, nghệ nhân Biên Hòa đã sản sinh ra được một dòng sản phẩm gốm có giá trị thẩm mỹ cao, được đón nhận và tôn vinh tại các cuộc triển lãm trong nước cũng như quốc tế. Một yếu tố đã góp phần làm nên sự nổi tiếng của gốm Biên Hòa chính là những sắc men màu. Với phong cách phân mảng màu sắc riêng biệt cùng với kỹ năng phối màu men mang tính sáng tạo, trên cơ sở những màu men truyền thống nổi tiếng,nghệ nhân gốm Biên Hòa đã nâng nghệ thuật trang trí gốm vươn tới cái đẹp của sự hoàn thiện.

Nguồn: Tạp chí VHNT số 335, tháng 5-2012
Tác giả: Trần Đình Quả

Read Full Post »

Tặng vật của Maspero cho Viện Bảo Tàng Quốc Gia Mỹ Thuật Châu Á Guimet

Tác giả: Hélène Fromentin

Việt dịch: Đức Chính

Nguồn: Arts asiatiques. Tome 52, 1997. pp. 89-105

Tóm lược

Trong những năm 1908 đến 1919, nhà khảo cổ Henri Maspero đã thu thập ở Đông Dương một bộ đồ gốm sứ và trao tặng lại cho Viện Bảo Tàng Mỹ Thuật Châu Á Guimet vào năm 1989. Đó là những món còn nguyên cùng một lượng lớn các mảnh vỡ có niên đại từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 14. Phần lớn bộ sưu tập này hẳn được thu thập ở vùng phía Tây Hà Nội, vị trí thành cổ Đại La và là nơi xây dựng hoàng cung của các vua nhà Lý (1009-1025) và Trần (1225-1413). Tặng vật này có 1630 món bao gồm cả món làm tại Việt Nam và nhập từ Trung Hoa về. Trong số các món đồ gốm sứ Việt Nam, bài viết này chỉ nói đến những mẫu có ý nghĩa của từng týp được sản xuất vào đời Lý-Trần: những mảnh vật liệu kiến trúc tiêu biểu cho mỹ thuật Đại La, những vật đựng thời Lý và những chiếc cốc Phật giáo có dấu ấn Chăm, các nóm đồ gốm đơn sắc phủ men trắng, nâu và lục mô phỏng theo mỹ thuật Trung Hoa[1].

Từ Đông Dương, nơi ông từng ký túc tại trường Viễn Đông Bác Cổ (l’Ecole Française  d’Extrême-Orient), Henri Maspero (1883-1945) đã mang về một lượng gốm sứ đầy ấn tượng, một số món còn nguyên, phần lớn bể vỡ hay chỉ là mảnh vụn. Đến Hà Nội năm 1908, ông rời hẳn Việt Nam vào năm 1919. Sự kết thúc bi thảm cuộc đời khiến ông không đi tới cùng, nhưng chính trong quãng thời gian đó những thứ ông thu thập tuy chưa hẳn là một bộ sưu tập nhưng đã là khối đồ sộ chất liệu dùng để học tập hay nghiên cứu Sau khi ông mất tích, 13 giỏ gốm sứ được cất giữ ở Viện Bảo Tàng Guimet. Chúng vẫn được bảo quản ở đó đến năm 1989, ngày mà bà Maspero và con trai François của ông đã hiến tặng Viện Bảo Tàng với tấm lòng hào hiệp vốn có. Cảm kích và hạ mình trước nhà bác học vĩ đại đã mất tích ở Buchenwald, Marie-France Dupoizat và tôi đã tiến hành nghiên cứu và kiểm kê bộ tặng phẩm này. Chúng tôi hy vọng dâng bài viết này đến bà Maspero, người luôn động viên chúng tôi và luôn theo dõi tiến độ công việc. Than ơi, gần đây chúng tôi đau buồn được tin bà đã từ trần. Chúng tôi không còn dịp tri ân bà bằng cách đem kết quả nghiên cứu của chúng tôi vào tâm khảm bà được nữa.

Một trong những gói bảo tồn ở Viện Bảo Tàng Guimet có 221 món đồ còn nguyên được phân loại từ năm 1989. Còn mớ bể vỡ còn phải chờ nhà đương cuộc giao cho chúng tôi ở

Viện Bảo Tàng Ennery. Nhà phục chế Béatrice Beillard cùng nhóm làm việc của bà đã phân loại lần thứ nhất theo hình thái và sắc màu, phục hồi sơ bộ bản chất của chúng. Giai đoạn thứ hai môt bộ phận được hàn dán lại. Những món hoàn hảo nhất và đẹp nhất được bảo quản tốt hơn. Nhờ thế chúng tôi được tiếp cận và nghiên cứu 1418 món đồ.

Vấn đề đầu tiên là xuất xứ những món đồ gốm này. Henri Maspero đã thu thập chúng bằng cách nào ? Chúng tôi chẳng lần ra tia sáng nào ngoài trừ bức thư của ông gửi cho mẹ do bà Maspero cho xem ; trong thư có ám chỉ một vài mảnh hay “món gốm nhỏ” thu thập được trong chuyến đi Thanh Hóa, có niên đại thế kỷ 12, 13 và 14. Điều này cũng không giải thích được gì nhiều về cách thu thập, do vậy xuất xứ của chúng đành phải đưa thành giả thuyết.

Trong thời gian ông Henri Maspero lưu trú ở Đông Dương, Hà Nội đang thực hiện nhiều công trình xây dựng. Dưới lòng đất thành phố này, kinh đô ngàn năm của Việt Nam, vẫn còn đó cấu trúc các đền đài cổ. Hẳn nơi nào đó ở đây ông đã tìm ra những mảnh ngói và đồ gốm. Điều này được xác minh khi đào cống và nhất là là lúc xây trường đua phía tây Hồ Tây, các công nhân ở những công trường này đã phát lộ một số vết tích và các mảnh vụn. Nhiều món được đưa vào Trường Viễn Đông Bác Cổ để phân loại và khảo cứu, một số được phục hồi và đem triển lãm[2]. Xuất xứ của những món này lại không phải ở thành phố, mà ở vùng ngoại vi thành phố, nơi xưa kia có thành Đại La, và là nơi triều nhà Lý (1009-1225) và triều nhà Trần (1225-1413) chọn làm nơi đóng đô. Những cung điện này hoặc là bị vua Chiêm Chế Bồng Nga hoặc do quân Minh phá hủy vào năm 1413[3]. Trong một bản “Hướng Dẫn Tham Quan Bảo Tàng Trường Viễn Đông Bác Cổ” do Henri Parmentier soạn năm 1915, chúng tôi thấy ở trang 63 có trình bày các mảnh vụn này, một đoạn dài ghi chép và chú thích chữ nhỏ của Henri Maspero bình về chất lượng và xuất xứ các món đồ này. Ghi chép này cho thấy ông có quan tâm đến vấn đề này[4].

Có thể chấp nhận là mớ phát hiện dồi dào của  các công nhân trao cho các nhà nghiên cứu làm tư liệu riêng khả dĩ do Trung Hoa và Việt Nam chế tác. Phần lớn bộ tặng vật  của Maspero có niên đại thế kỷ từ 11 đến 14, phù hợp với giả thuyết các mảnh gốm vỡ này được thu lấy trên nền đền đài cũ của hai triều đại Lý-Trần.

Song Henri Maspero chắc cũng tìm được nhiều món ở các vỉa khảo cổ khác; nhà nghiên cứu không mệt mỏi này chắc chắn đã sưu tập thêm trong những chuyến du hành khắp xứ này. Nhât là trường hợp những món chỉ có ở lò gốm. Khó khăn trong việc nghiên cứu gốm sứ Việt Nam lúc nào cũng ở chỗ nghèo nàn tư liệu về các lò gốm thời xưa, dĩ nhiên ngoại trừ Bát Tràng và Thổ Hà. Nhưng từ năm 1983, trong khuôn khổ dự án nghiên cứu nghề thủ công ở tỉnh Hải Hưng, 14 địa điểm lò gốm được phát lộ, chủ yếu là các lò Chu Đậu[5]. Các phát hiện này tuy còn cần bổ sung và khai thác thêm nhưng đã làm sáng tỏ nhiều điểm ẩn bí và nhất là nơi sản xuất gốm xuất khẩu. Các nhà nhiên cứu ViệtNam xác định niên đại các địa điểm này từ thế kỷ 13 đến thế kỷ 17. Phát hiện cổ nhất hiện nay là

Vân Yên thuộc thế kỷ 13, nhưng có vẻ chưa thuyết phục. Năm 1995 Viện Bảo Tàng Lịch Sử Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức một triển lãm gốm sứ, dễ dàng nhận ra trong số các món trưng bày có nhiều món nằm trong bộ tặng phẩm của Maspero[6]. Quả thật chúng tôi bộ tặng phẩm này có một cái trục tháp, một cái sạp nung (MA 5474/315, hình 1)màu đỏ hạt dẻ với những đường rạch thô thiển tương tự như các món đồ nằm trong danh tập của triển lãm tại Thành phố Hồ Chí Minh[7], và các món đồ diêu biến (des ratés de caisson)[8] như: một chồng 9 cái bát (MA 5474/219, hình 2) dính vào nhau và bị biến dạng khi nung, nó được tráng men màu nâu hổ phách, trang trí các vệt tỏa tia dưới đáy và được xác định là một món đồ thuộc lò Chu Đậu. Vì thế cần quan tâm tìm hiểu xem có phải trước khi có những khai quật hiện nay, có thể Henri Maspero đã biết đến các lò gốm ở Hải Hưng rồi chăng.

Trong số 1630 món của hai lần kiểm kê có đến một nửa có xuất xứ Trung Hoa, như vậy chứng tỏ có sự chuyển động thương mại quan trọng từ Trung Hoa qua Đại việt vào thời Tống và Nguyên. Chúng có cùng niên đại với gốm sứ thời Lý-Trần. Một vài món có xuất xứ hoàn toàn khác trong hai nhóm đó: vài mảnh tượng Khờ-me, hai mảnh kendi có dạng con voi chắc chắn xuất xứ từ Sawankhalok và 4 mảnh vỡ gốm Hồi trong đó mẫu có mã số MA 5474/602 thuộc thế kỷ 11 hay 12 và mẫu MA 5474/601 thuộc thế kỷ 13-14 có lẽ do người Ai Cập đầu tiên mang qua, nhưng là người Trung Đông thứ 2 (hình  3)[9]. Một cái dĩa, một trôn bát và một mảnh vách đồ gốm có trang trí dây lá dài và cuộn ngoằn ngoèo, in dưới lớp men ngọc bích, chúng gần với một nhóm mẫu gốm sứ Việt Nam mà chúng tôi đã khảo sát qua (xem hình 20), nhưng chất lượng và độ mịn của đất nhão, độ mượt bóng của men thì khác biệt nhau hẳn hoi. Có thể đó là món đồ của Hàn Quốc.

Cuối cùng 154 đồng tiền nằm trong mấy cái rổ nằm rải rác giữa mấy kiện đồ, chúng tôi không được phép xác định niên đại của chúng. François Thierry và Loan de Fontbrune nghiên cứu những đồng tiền này. Chỉ có 6 đồng tiền Việt Nam trong đó 3 đồng thuộc thời Tiền Lê, 2 đồng thời Hậu Lê và 1 đồng thời Gia Long. Những đồng tiền khác là tiền Trung Hoa: 2 đồng thời Hậu Hán, 21 đồng thời Đường, 120 đồng thời Bắc Tống và duy nhất 1 đồng thời Nam Tống.

Gốm sứ Việt Nam 

 

Trong bộ sưu tập này có đủ toàn bộ các chủng loại gốm sứ sản xuất thời Lý-Trần. Vì thế danh mục được chọn lọc ra. Chúng tôi đã lựa chọn nghiên cứu một số mẫu vật có ý nghĩa hay đặc biệt của từng týp gốm sứ.

Cuối thời Bắc thuộc đánh dấu một khúc quanh trong việc sản xuất gốm sứ Việt Nam. Bên cạnh sự chi phối văn hóa của người chủ cũ[10] còn có những ảnh hưởng khác lan đến Đại Việt, đặc biệt là ảnh hưởng nghệ thuật Chiêm Thành chiếm một tầm hết sức quan trọng sau khi vua Lý Thái Tông chiến thắng xứ này vào năm 1044. Quả vậy, vua đã mang theo về từ Chiêm Thành hàng ngàn tù binh và nghệ nhân. Một nghệ thuật cách tân và mạnh khỏe chào đời. Nghệ thuật đó biểu lộ trong các trang trí kiến trúc tìm thấy trong nhiều di

chỉ nằm ở ngoại thành Hà Nội, nơi mà chúng tôi giả định Henri Maspero đã thu thập phần lớn bộ sưu tập này. Vì thế bộ sưu tập gồm chứa nhiều mẫu vật đẹp và đáng quan tâm.

Làm từ đất nung đỏ hay hồng, thi thoảng màu xám, các chi tiết mái dùng cố định ngói bằng vai mộng của thân chậu (hình 9). Chủ đề này rất hiếm nhưng chứng tỏ ảnh hưởng của nghệ thuật Chăm. Sự thể hiện hình người không quen thuộc trong trang trí đời Lý. Tuy nhiên chúng ta vẫn tìm thấy nó ở sưu tập một trong ba cái cốc dẹt nhỏ có vách ngoài viền những cánh hoa sen to. Trong khi hai cái kia trang trí theo kinh điển có hoa chạm dưới đáy, thì mẫu cốc có mã số MA 5426 (hình 10) được trang trí một gương mặt người lược đồ hóa, từ đó thoát ra sự rẽ nhánh biểu tượng có thể có của thành viên[11].

Hai cái cốc có chân cùng nhóm gốm sứ này với lớp men trắng và cánh hoa sen viền nổi hẳn lên ở vách ngoài. Mẫu vật mã số MA 5474/290 (hình 11) gồm một vật đựng tròn để trên cái bệ hình bát giác có ba bậc. Hình dáng này tiêu biểu cho phong cách thời Lý. Nó giống như phong cách một bệ đá ở Chùa Thầy (tỉnh Hà Tây)[12]. Chiếc cốc mã số MA 5474/293 (hình 12) có chân gồm một vành đứng trên những cái chân sư tử chịu toàn bộ thân mẫu vật: cách bố trí này là ngoại lệ. Toàn bộ các chiếc cốc này trang trí đầy những cánh hoa sen, giống như bệ tượng Phật, mang tính tôn giáo hay thờ cúng. Ắt có nắp nhưng nói chung chúng đã mất; cũng có những tác giả cho rằng đó là hộp đựng thuốc bằng đất sét[13]. Chúng dễ ràng tách ra khỏi vật đựng chúng và thường tìm thấy ở tình trạng còn tốt. Gắn dính vào cấu trúc hạ tầng có thể củng cố bằng đinh tán xuyên qua lỗ nhỏ, như thấy ở mảnh gốm mã số MA 5474/529, (hình 4)[14]. Những con chim thần thoại được tạc tinh tế trên mọi mặt của nóc mái (MA  5265, hình 5) trong khi trang trí diềm mái thường theo chủ đề những con vật biểu tượng, như rồng-rắn MA 5474/401 (hình 6), hay chim phụng MA 5266 (hình 7)[15].

 

Gốm sứ đời Lý

 

Không thể bác bỏ mẫu vật đáng chú ý nhất đời Lý chính là những vật đựng lớn có lớp phủ màu trắng vàng nhạt, hình trang trí khắc sâu bên dưới lớp men màu nâu gỉ sắt. Chậu có mã số MA 5474/256 (hình 8) bầu ra ở phần bụng, bị phân chia thành hai mảng. Mô típ thủy (nước), ngư (cá) và trạch (lươn) vạch nên một bức tranh mạnh mẽ và sống động là đặc thù của kiểu thức này. Một cái chậu khác có mã số MA 5672 bao gồm một vật đựng lớn đặt trên cái bệ tròn: 13 ba hình nhân nhỏ trên cái vành ở dưới đáy giơ cao cánh tay phải nâng vật đựng.

Gốm sứ đơn sắc

Cùng với sự phồn vinh quay trở lại dưới sự cai trị của các vua nhà Lý và sự mở cửa của Đại Việt trong giao thương quốc tế từ đầu thế kỷ 12, nền mỹ thuật tinh tế của nhà Tống đã để dấu ấn trong gốm sứ Việt Nam và góp phần cải tiến kỹ thuật. Ảnh hưởng này diễn biến qua sự phát triển các dòng men đơn sắc nâu, xanh lục và trắng.

 

Gốm sứ men nâu

 

Đó là các loại dĩa, bát và cốc. Các mẫu vật thuộc loại này rất nhiều và chất lượng không đều nhau, thường mộc mạc và giản dị, với những diêu biến (lỗi nung). Sắc màu thay đổi từ nâu gần như đen qua sắc hổ phách. Bên trong náy có thể trắng hay màu kem và từ thế kỷ 13, thể hiện lối trang trí lá lượn có kèm theo hoa.

Trong số các mẫu màu hạt dẻ của bộ tặng phẩm, phải kể đến cái bát mã số MA 5474/162 (hình  13) và hai chiếc cốc có trang trí hoa thị. Các mô-típ này  tác giả phương Tây có khi gọi là “chân gà” (pieds de coq), màu thường nhất là xanh lục nằm dưới lớp men màu hạt dẻ, nó khiến cho hình trang trí một dáng vẻ hổ phách. Các mô-típ này được vẽ bằng thứ chất liệu lỏng hơn men nên bị hòa lẫn vào nhau thành hình khó nhìn thấy. Đó là trường hợp mẫu mã số MA 5474/183; nhưng ở chiếc cốc mã số MA 5474/194, (hình 14) các hoa thị được vẽ màu trắng trên lớp phủ nâu sậm với một lớp dầy trộn lẫn của men và lớp áo[16].

Khá nhiều món gốm sứ, dĩa và cốc, có lớp phủ màu hổ phách tương tự như trường hợp chồng bát (mã số MA 5474/219) mà chúng tôi gán cho dòng Chu Đậu. Vậy thì chúng cùng lò với nhau.

Một chiếc bát có chất lượng cao, mã số MA 5474/166 (hình 15), có lớp men ngoài màu nâu sậm, được trang trí các mô-típ đen trên vách bên trong màu trắng. Từ đầu thế kỷ 13 gốm sứ trắng có trang trí màu đen gỉ sắt được sản xuất nhiều. Chúng cũng được xuất khẩu đi nhiều vào thời nhà Trần. Nhưng trang trí của chúng thường sơ sài, mau chóng bị phai lãng, rất khác với trang trí trên cái bát mã số MA 5474/166.

Gốm sứ men ngọc bích

Dù các tác phẩm đương thời thường không nói đến loại men này, thuật ngữ men ngọc bích được dùng ở đây vì đó là cách tiện lợi để phân biệt các gốm sứ này với những vật tráng lớp men màu xanh lục tươi gọi là oxide đồng, và loại men ngọc bích lại là món hàng xuất khẩu nhiều qua các nước Đông Nam Á hồi thế kỷ 14.

Nhóm men ngọc bích thuộc thế kỷ 12-13 là nhóm có số lượng nhiều nhất trong bộ tặng vật và cũng là nhóm được quan tâm nhiều nhất ở Bảo Tàng Guimet. Nhóm này có cả trăm mẫu vật: những chiếc dĩa như mẫu có mã số MA 5474/344 (hình 16), những cái bát, cốc và vài món đồ dùng. Trang trí của chúng là hình chạm hay in lên.

Một loạt các chiếc bát có nét tương đồng với nhau khiến nghĩ rằng chúng có cùng nguồn gốc: dạng hình nón, đáy hẹp và có vành dày mỏng khác nhau, mép cuộn vào trong tạo thành gờ, lớp men mỏng dừng không đều ở phía trên chân, hình trang trí in vẽ trên toàn bộ mặt trong và tỏa ra một dải liền quanh bờ miệng. Chủng loại của các mô-típ này cho thấy tính đa dạng và phóng xuất ý tưởng trong danh mục gốm sứ Đại Việt, như mẫu vật

MA 5474/362 (hình 17). Tuy nhiên có một số trang trí là những bản sao chính xác theo mô thức Trung Hoa và chỉ có việc sản xuất là ở Việt nam. Chúng tôi có thể kể ra như những chiếc bát mã số MA 5474/337 (hình 18) và nhất là mẫu MA 5474/359 (hình 19) có chủ đề trang trí xuất xứ từ Yaozhou[17].

Một mô-típ trang nhã in vẽ các đám lá mềm mại có tô điểm hoa, cuộn lại thành hình dây quai được tìm thấy ở khoảng 20 món đồ: những cái bát (MA 5474/380, hình 20), những cái cốc (MA 5474/455, hình 21). Lớp men thay đổi từ xanh lục hạnh nhân qua vàng lục nhạt tùy theo độ nung. Các đám lá này phủ đầy bề mặt món đồ. Độ sâu của hình in vẽ cũng khác nhau. Mô-típ này có gốc Chiêm Thành. Các món gốm sứ này minh họa cho sự tổng hợp giữa trang trí rườm rà và uốn lượn trong mỹ thuật Chiêm Thành với những hình giản đơn mô phỏng theo Trung Hoa đời Tống. Suốt thời nhà Trần, loại hình này tiếp tục tồn tại và trở nên phổ biến. Chúng ta có thể thấy nó ở cái chum có tên “Thanh Hoa” đang cất giữ ở Bảo Tàng Hoàng Gia Mỹ Thuật và Lịch Sử Bỉ[18], và còn thấy cả trong trang trí kiến trúc[19]. Các đồ gốm sứ men ngọc bích thế kỷ 12-13 sản xuất ở đâu? Dường như không phải nơi nào đó thuộc tỉnh Hải Hưng. Câu trả lời đầu tiên nằm ở chiếc cốc mã số MA 5474/278 (hình 23). Chắc hẳn nó là món đồ xinh xắn nhất trong bộ tặng phẩm: hình dáng hoàn hảo, trang trí thoáng và cân đối, lớp men mỏng có màu lục nước biển đẹp và dừng rất đều ở phần đáy chăm chút, giới hạn bởi cái chân có vành và ghi hai chữ Hán (Thiên Trường). Hay là một chồng bát được tìm thấy gần đền Trấn Mỹ Lộc có hàng chữ “làm tại Thiên trường”. Bài báo viết về phát hiện này có dịch hai chữ Hán, nhưng xét tính chất lớp phủ trên mấy cái bát này thì không chính xác. Mặt khác, địa điểm Thiên Trường chưa được biết nhiều, dường như có sản xuất chum vại và một vài món gốm hồi thời Lý. Hai chữ này tuy đáng quan tâm nhưng cũng cần phải thận trọng.

Dù sao, từ thế kỷ thứ 14 sản xuất gốm sứ ở Chu Đậu phát triển lên và chính nơi này chúng tôi có thể xác định là nơi xuất xứ đồ gốm men ngọc bích vào cuối thời nhà Trần, các món này có lớp men dầy hơn, mềm mại và có hình dáng mô phỏng theo kiểu gốm sứ Trung Hoa đời nhà Nguyên. Chúng tôi kể ra đây: chiếc bát có chân cao và vách loe MA 5474/438 (hình 24), tính chất này có thể so sánh với gốm Longquan (Long Toàn hay Long Tuyền); chiếc cốc có chân cao khắc vành mã số MA 5303 (hình 25) gần gủi với gốm sứ Guangdong (Quảng Đông); lư hương ba chân, thân tròn và chân màu nâu chocolat MA 5474/525 (hình 26).

Gốm sứ có màu lục gỉ đồng. Đôi khi còn được gọi là “màu xanh lục táo” để phân biệt với màu lục men ngọc bích. Gốm sứ này được sản xuất gia tăng khi gốm sứ men ngọc bích biến mất. Song bộ tặng phẩm có đến khoảng 15 mẫu vậy: mấy cái dĩa mã số MA 5474/232 (hình 27) và mấy cái bát trong đó có vài cái kích cở nhỏ tráng men trắng bên trong[20].

Gốm sứ men trắng

Loại này nhiều, hình dáng và trang trí đa dạng. Việc sản xuất chúng kéo sang đến đời nhà Lê. Ảnh hưởng của gốm sứ Nam Bắc Tống thấy rõ ở nhiều món thuộc loại này. Đó là trường hợp khoảng 15 món có trang trí chạm và vân lược hoa cách điệu, được bao bọc nét tròn đi ra từ cuống hoa (MA 5474/465, hình 28). Cùng mô-típ này thấy có ở nắp một cái bình tại Bảo Tàng Guimet có niên đại Bắc Tống MA 561, do Cảnh Đức Trấn (Jingdezhen) sản xuất và còn có hai cái dĩa thuộc týp thanh bạch (qingbai) trong bộ tặng phẩm của Maspero MA 5475/185 và MA 5475/438. Trình bày các món đồ Trung Hoa thời Bắc Nam Tống bên cạnh gốm sứ Việt Nam vào cuối thế kỷ 12 hay đúng hơn thế kỷ 13 cho thấy có sự mô phỏng Trung Hoa.

Việc chế tác các món đồ gốm này thường rất chăm chút và phản ảnh sự cải tiến kỹ thuật như ở cái bát mã số MA 5474/456 (hình 29). Chất lượng vật liệu và men thấy có ở nhóm 8 món đồ, dĩa hay bát, tiếc rằng rất lụn vụn, có trang trí viền mây theo kiểu Trung Hoa.

Một chiếc cốc mã số MA 5474/596 (hình 30), có chất lượng cao, bằng sành sứ, đặt thành vấn đề tính đồng nhất do tính xốp nhẹ và mịn của đất nặn, không thường thấy ở Việt Nam. Nhưng đáy có hình dáng và lối trang trí rất gần với chiếc cốc có mã số MA 5474/278 (hình 23) cho thấy dường như gắn với việc sản xuất tại Đại Việt.

Không nhiều so với toàn bộ các món đồ khác, bộ sưu tập còn có những món đồ dùng. Đó là những món vật đựng cao nhưng mất phần trên, điều này cho phép đoán ra nơi đến của chúng. Hai cái ấm pha Lý dạng hình cầu, một chục cái chậu có kích thước khác nhau nhưng cùng cấu trúc: bụng tròn thân rộng loe ra ở miệng và đôi khi có trang trí màu đen gỉ sắt MA 5474/447, (hình 31). Lò Chu Đậu sản xuất những loại đồ dùng này.

Cuối cùng, một món kỳ lạ mã số MA 5474/457 (hình 32), một loại cốc đứng trên cái chân có đáy loe rộng ra, có lẽ dùng để đựng nhang, và một cái chậu bầu ở phần bụng màu xám lục MA 5474/185 (hình 33) có thể vẫn còn thuộc thế kỷ 14 nhưng không có chỉ thị nào để gán nó vào lò sản xuất ở tỉnh Hải Hưng.

Gốm sứ đầu triều đại nhà Lê

Henri Maspero chỉ thu thập một ít mảnh vỡ sau đời Lý-Trần. Ngoài những vật đựng nhỏ dân dã bằng đất nung không tráng men, chúng ta thấy còn có một bình vôi có miệng bầu dục, xuất xứ không rõ, mã số MA 5474/281 (hình 34).

Nhưng một vài mảnh mẫu vật, thường là đáy dĩa hay bát, có thể gán cho gốm Chu Đậu mà không sợ sai lầm, dòng gốm này phát triền vào thế kỷ 15 và 16 và trở thành trung tâm “gốm hoa lam” (bleu et blanc) Việt Nam. So sánh hai mẫu vỡ mã số MA 5474/587 của thế kỷ 14 và mẫu MA 5474/530 của thế kỷ 15 cho thấy sự chuyển biến hình trang trí ở cuối thời Trần và thời Lê (hình 35).

Trên bình diện bảo tàng học cũng như nghiên cứu, tặng vật của apporte đóng góp cho bộ sưu tập Việt Nam ở Bảo Tàng Guimet rất nhiều. Trước hết, tặng vật này làm giàu thêm những tiêu bản quý hiếm và tuyệt đẹp. Sau nữa, số lượng và chủng loại các mảnh vỡ cho phép nghiên cứu so sánh đầy thú vị gốm sứ từ thế kỷ 11 đến đầu thế kỷ 15. Cuối cùng sự dồi dào chất liệu có nguồn gốc Trung Hoa thấy chen lẫn trong tặng vật và nghiên cứu của Marie-France Dupoizat tiếp theo bài viết này (Bài “Gốm Sứ Trung Hoa Trong tặng Phẩm Của MasperoCho Bảo Tàng Quốc Gia Mỹ Thuật Châu Á Guimet”, cùng sách này, trang 106) sẽ giúp tháo gỡ sự hỗn độn trong sản xuất gốm sứ của Việt Nam và Trung Hoa ở thời kỳ này.

 

Ảnh và thuyết minh:

 

hinh 1

 

Hình 1: Mã số MA 5474/315. Sạp nung (casette). Cao 8 cm. Đường kính miệng 16,8 cm. Đất chịu nhiệt màu đỏ hạt dẻ. Không nắp. Mặt ngoài thô nhám có khắc một hình trang trí kỷ hà. Tham khảo Gốm Chu Đậu, 1993, p. 28.

 

 hinh 2

 

Hình 2: Mã số MA 5474/219. Chồng 9 cái bát dính vào nhau khi nung và biến dạng. Sành có tráng men màu nâu hổ phách bên trong và ngoài. Trang trí vân sọc mặt đáy trong. Lò Chu Đậu. Thế kỷ 14. Món đối chiếu khác trong bộ tặng phẩm của Maspero mang mã số MA 5474/212. Tham khảo Vietnamese Ceramics, South-East Asian Ceramic Society, 1982, N° 40 et 41, p. 79.

hinh 3

 

 

Hình 3: a) Mã số MA 5474/601. Đáy bát. Kích thước chính 8 cm. Sành có trang trí cây lá màu lam và lục ở bên trong, nét màu lục tỏa tia quanh mặt ngoài đáy bát. Xuất xứ Ai Cập hay Syrie. Thế kỷ thứ 13-14. b) Mã số MA 547 4/602. Mảnh vỡ có trang trí màu nâu và trắng, có ánh kim loại (đồng). Kích thước chính 6,8 cm. Chắc chắn của Ai Cập, thế kỷ thứ 11-12.

 

hinh 4

Hình 4: mã số MA 5474/529. Mảnh vật liệu kiến trúc. Dài 8 cm. Đất nung màu hồng. Mỗi mặt có chạm hình đuôi rồng. Một lỗ rỗng chếch ở phần trên. Nghệ thuật Đại La, thế kỷ 11-12.

hinh 5

Hình 5: Mã số MA 5265. Mảnh vật liệu kiến trúc. Trang trí gờ hình chim thần thoại. Cao 25 cm. Dài 22 cm. Đất nung màu hồng. Mỹ thuật Đại La, thế kỷ 11-12. Tham khảo J.-P.  Desroches et H. Fromentin, Asie Extrême,  Editions  de  la  Réunion  des musées nationaux, p. 184.

hinh 6

Hình 6: Mã số MA 5474/401. Mảnh vật liệu kiến trúc. Nửa miếng ngói trang trí bờ mái. Rộng 18,5 cm. Đất nung, mặt trước tráng men lưu ly xanh lục tươi. Hình rồng rắn, chạm tinh tế, nằm trong khung viền tròn. Mỹ thuật Đại La, thế kỷ 11-12.

hinh 7

 

Hình 7: Mã số MA 5266. Mảnh vật liệu kiến trúc. Ngói trang trí gờ mái hình chim phụng. Cao 27,5 cm, dài 20 cm. Đất nung màu hồng sậm. Mặt trước chạm chim phụng đang xòe cánh. Mặt sau để trơn. Hình cuộn kép chim phụng đứng bên trên còn dính một mảnh ngói trang trí bờ mái. Mỹ thuật Đại La, thế kỷ thứ 11-12.

hinh 8

Hình 8: Mã số MA 5474/256. Chậu (sứt miệng và một phần bên thành). Sành tráng men trắng nhợt có chạm trang trí màu nâu gỉ sắt hình vá và tôm. Hai lỗ ở phần trên dành để buộc nắp. Thời Lý, thế kỷ 11-12.

hinh 9

Hình 9: Mã số MA 5672. (Chi tiết bản khắc màu, supra trang 82). Chậu. Cao 16 vm. Đường kính miệng 29 vm. Sành tráng men trắng xám. Chậu đặt trên một cái bệ làm bởi một vòng có trang trí những đường tròn màu nâu, có 13 hình nhân đỡ chịu bằng tay mặt. Đáy có trang trí cánh hoa sen chạy viền xung quanh. Thời Lý, thế kỷ 11-12.

 

hinh 10

Hình 10: Mã số MA 5426. Cốc dẹt. Đường kính 10,5 cm. Sành tráng men trắng xám nhạt. Vách ngoài có hai hàng các hoa sen chạy viền. Đáy bên trong có khắc hình người. Thời Lý, thế kỷ 11-12.

 hinh 11

 

Hình 11: Mã số MA 5474/290. Cốc có chân. Cao 7,5 cm. Đường kính miệng 10,5 cm. Sành trắng tráng men trắng có ánh lục nhạt. Cốc đặt trên một cái bệ hình bát giác có ba bậc, vách ngoài bệ trang trí cánh hoa sen chạy viền. Các cạnh không đều. Thời Lý, thế kỷ 11-12. Món đối chiếu mã số H. 1842, Viện Bảo Tàng Nghệ Thuật Và Lịch Sử Bỉ (Musées Royaux d’Art et d’Histoire, Bruxelles).

 hinh 12

Hình 12: Mã số MA 5474/293. Nửa chiếc cốc có chân. Cao 4,5 cm. Đường kính 9 cm. Sành màu be có tráng men vàng nhạt. Đáy có khắc hình hoa sen. Chân gồm một vành có chân đỡ mang hình sư tử và giữa các chân này tạo những cung tròn. Thời Lý, thế kỷ 11-12.

hinh 13

 

Hình 13: Mã số MA 5474/162. Bát dạng hình nón. Cao 3,6 cm. Đường kính miệng 11 cm. Sành rất trắng tráng men nâu có ánh lục nhạt. Lớp men ngoài có lấm chấm nâu. Thế kỷ 11 đầu thế kỷ 12. Lớp áo nâu, lấm tấm dừng hẳn ở quanh đáy rất chăm chút là mô phỏng theo kiểu Phúc kiến, Trung Hoa. Vách loe miệng thắt lại để tạo nên một rãnh quanh miệng là dạng đặc trưng của đầu thời Trần.

hinh 14

Hình 14: Mã số MA 5474/194. Cốc. Cao 8,5 cm. Đường kính miệng 17,5 cm. Sành màu be sáng tráng màu hạt dẻ sậm, mặt trong có trang trí hoa thị, mặt ngoài có 4 mô-típ hình vẽ giống hệt nhau. Đáy có 5 vạch. Đáy có 5 vạch pernettes. Thế kỷ 12-13.

hinh 15

Hình 15: Mã số MA 5474/166. Bát có vách tròn. Cao 6,5 cm. Đường kính miệng 16,2 cm. Sành tráng men nâu sậm bên ngoài, chấm dứt hẳn ở đáy và bên trong tráng men rạn trắng với trang trí mây và hình chim đang sãi cánh bay, một hình thanh nhã với ngọn bút thủy mạc chính xác và nhẹ nhàng. Đáy có 5 vạch pernettes. Cuối thế kỷ 12 đến thế kỷ 14.

 hinh 16

Hình 16: Mã số MA 5474/344. Dĩa. Cao 3,2 cm. Đường kính miệng 15,3 cm. Sành tráng men ngọc bích lục vàng nhạt, có lớp áo trắng, dừng lại trên phía đáy một chút xíu. Bên trong có trang trí rìa hình trứng (godron). Vạch pernettes. Thế kỷ 12-13.

hinh 17

 

Hình17: Mã số MA 5474/362. Chén dạng hình nón. Cao 6,5 cm. Đường kính miệng 17 cm. Sành tráng men ngọc bích màu lục vàng nhạt, có lớp áo trắng, dừng lại trên phía đáy một chút xíu. Vách trong trang trí hoa cúc. Đáy có 5 dấu pernettes tam giác. Thế kỷ 12-13.

hinh 18

 

Hình 18: Mã số MA 5474/337. Bát hình nón. Cao 6 cm. Đường kính miệng 18 cm. Sành tráng men ngọc bích màu lục vàng nhạt, có lớp áo trắng, dừng lại trên phía đáy một chút xíu. Phân cách dưới trang trí hoa mẫu đơn lớn và viền hoa ở đáy. 5 dấu pernettes. Thế kỷ 12-13. Món đồ đối chiếu trong tặng phẩm của Maspero: MA 5475/106.

hinh 19

Hình 19: Mã số MA 5474/359. Mảnh bát hình nón. Cao 7 cm. Đường kính miệng 17 cm. Sành tráng men ngọc bích dừng lại trên phía đáy một chút xíu. Vách trong vẽ hình đứa trẻ để tóc vá chơi đùa giữa hoa lá mẫu đơn đang nở. Gần rìa có các đám lá. Thế kỷ 12-13. Ấn tượng của món này có lẽ là đồ ký kiểu.

hinh 20

Hình 20: Mã số MA 5474/380. Bát hình nón. Sành tráng men ngọc bích trên lớp áo trắng xám nhạt, dừng lại không đều trên phía đáy một chút xíu. Trang trí chiều sâu một đám lá cuộn theo dạng dây quai ở cách trong. Có 5 dấu pernette ở đáy. Thế kỷ 12-13.

hinh 21

Hình 21: Mã số MA 5474/306. Cốc vách tròn. Cao 8 cm. Đường kính miệng 19 cm. Sành tráng men ngọc bích màu lục hạnh nhân, dừng hẳn ở quanh chân. Trang trí nhẹ hình hoa sen ở đáy và đám lá cuộn hình dây quai ở vách trong và ngoài. Không có dấu pernette. Thế kỷ 12-13. Mẫu tương tự trong tặng phẩm Maspero: MA 5474/379.

hinh 22

Hình 22: Mã số MA 5474/455. Chậu (một phần vách bị sứt). Cao 13,8 cm. Đường kính miệng 17,5 cm. Sành tráng men ngọc bích màu lục hạnh nhân dừng hẳn ở chân có khấc bậc. Vách ngoài có trang trí 3 đám lá cuộn thành hình dây quai. Vách trong có tráng men nhưng không trang trí. Có 5 dấu pernettes ở đáy. Thế kỷ 12-13.

 Hình 23

Hình 23: Mã số MA 5474/278. Cốc vách tròn. Cao 7,5 cm. Đường kính miệng 20 cm. Sành tráng một lớp mỏng men ngọc bích màu lục hạnh nhân dừng đều ở đáy chân. Vách trong và ngoài có vẽ hình vòm cung và lá lượn. Đáy có khắc hai chữ Hán dưới lớp men trong suốt. Thế kỷ 13. Thiên Trường thuộc tỉnh Nam Hả có lẽ là nơi sản xuất mẫu vật này.

hinh 24

Hình 24: Mã số MA 5474/438. Bát có thành cao và loe. Cao 8 cm. Đường kính miệng 12,4 cm. Sành tráng men ngọc bích màu lục olive trên nền lớp áo trắng. Nền màu chocolat. Lò Chu Đậu. Thế kỷ 14. Tham khảo: cuốn Gốm Chu Đậu.

hinh 25

Hình 25: Mã số MA 5303. Cốc có chân cao. Cao 10,2 cm. Đường kính miệng 13 cm. Sành tráng men ngọc bích màu lục biển, dầy và rạn. Chân có vòng khấc. Lò Chu Đậu. Thế kỷ 14. Nhiều bát chân cao có vành khấc được triển lãm ở Thành phố Hồ Chí Minh năm 1995.

hinh 26

Hình 26: Mã số MA 5474/525. Mảnh lư hương ba chân. Cao 8 cm. Đường kính đáy 5,5 cm. Sành tráng men ngọc bích dừng hẳn ở đáy. Bên trong lớp men sáng hơn. Đáy màu nâu chocolat. Lò Chu Đậu. Thế kỷ 14. Tham khảo: Lê Thành Khôi, Lịch Sử Việt Nam; Gốm Chu Đậu, A39 và A40.

hinh 27

Hình 27: Mã số MA 5474/232. Dĩa vành tròn. Cao 4 cm. Đường kính 13 cm. Sành tráng men ngọc bích dừng không đều ở giữa vách ngoài, có vòng tròn rộng, không tráng men. Lò Chu Đậu. Thế kỷ 14-15. Lớp men không đều tráng trên lớp áo mày trắng, điều này làm bề mặt óng ánh nhiều màu. Vòng tròn rộng trơn ở đáy cho thấy phương pháp chồng đống lên nhau khi nung dường như được áp dụng rộng rãi ở Chu Đậu hồi thế kỷ 14.

hinh 28

Hình 28: Mã số MA 5474/465. Mảnh bát (trôn và một phần vách). Cao 8,1 cm. Dạng loe. Sành tráng men trắng xám nhạt dừng rất đều ở đáy chân. Trang trí hoa cách điệu chạm vào vách tring. 5 dấu pernettes ở đáy. Thế kỷ 12. Mẫu đối chiếu MG 18630, ở Bảo Tàng Guimet, Paris. Tham khảo Toyo Toji Oriental Ceramics, Society of Oriental Ceramic Studies, 1979-1983, Vol. 9, N°82.

hinh 29

Hình 29: Mã số MA 5474/456. Bát có vách tròn. Cao 7,2 cm. Đường kính miệng 17 cm. Sành trắng tráng men trắng mỏng màu lục nhạt. Vách trong chạy viền và sọc nổi. Có 5 dấu pernettes tam giác ở đáy. Thế kỷ 13. Trang trí và dáng tương tự mẫu vật mã số ở Bảo Tàng Princessehof, Leeuwarden. Đáy dẹt và để trơn lộ lớp cốt nhẵn vả rất trắng. Vách trong sinh động với đường chạy sọc nổi dọc tỏa ra từ đáy.

hinh 30

Hình 30: Mã số MA 5474/596. Cốc có vách tròn. Cao 7 cm. Đường kính miệng 18,2 cm. Sành rất mịn tráng men trắng dừng hẳn ở đáy chân. Mặt trong có trang trí lá lượn có in thêm hoa và chim, nổi lên là trang trí hình trứng. Miệng cốc bị bể thành nhiều chỗ. Thế kỷ 13. Dạng và trang trí gần giống hình 23.

hinh 31

Hình 31: Mã số MA 5474/447. Chậu (mất một phần thân). Cao 8,5 cm. Đường kính miệng 5,5 cm. Sành tráng men trắng lục nhạy trên lớp áo trắng. Bên trong có tráng men. Một trang trí cây lá màu đen gỉ sắt ở phần trên thân. Chắc chắn xuất xứ Chu Đậu. Thế kỷ 14. Mẫu vật có dạng tương tự trong cuốn Gốm Chu Đậu, N°A48.

hinh 32

Hình 32: Mã số MA 5474/457. Cốc có chân cao (mắt một vạt vách). Cao 17,5 cm. Đường kính đáy 12,4 cm. Sành tráng men trắng xám nhạt phủ lên cả phần trên vách trong cốc. Chân loe rộng. Đáy lõm sâu. Thế kỷ 13-14.

 hinh 33

Hình 33: Mã số MA 5474/185. Chậu có nụng hình trứng. Cao 11,5 cm. Đường kính miệng 10 cm. Sành tarn1g men xám lục nhạt dừng ở phía trên đáy. Đáy dẹt bao quanh có một đường chỉ nâu. Một dường không đều các chấm nâu ở phần trên vai. Thế kỷ 14. Trang trí tương tự: chén mã số MA 1313ở Bảo Tàng Guimet và chậu mã số H1971 ở Bảo Tàng Mỹ Thuật Và Lịch Sử Hoàng Gia Bỉ.

 hinh 34

Hình 34: Mã số MA 5474/281. Bình vôi. Cao 14 cm. Đường kính đáy 8 cm. Sành tráng men màu be dừng không đều ở đáy. Thế kỷ 11 đầu thế kỷ 12. Quai được xử lý như dải dây có ba vòng, trên quai có những hòn nhỏ như quả cau. Đáy có vành rộng chạm một hình biểu ý giả cở lớn.

Hình 35

Hình 35: a) Mã số MA 5474/587. Đáy một cái bát hay một chiếc cốc. Đường kính đáy 8 cm. sành trắng tráng men màu kem và trang trí màu đen gỉ sắt bên dưới lớp men. Lò Chu Đậu. Thế kỷ 14. Tham khảo: cuốn Gốm Chu Đậu N° A34. b) Mã số MA 5474/530. Đáy dĩa. Sành tráng men ngọc bích nên vách ngoài và mặt trong trang trí màu lam Hồi (xanh cobalt) trên lớp áo trắng dưới lớp men trong suốt (men ngọc gay men thủy tinh). Đáy màu nâu chocolat. Lò Chu Đậu. Thế kỷ 15. Tham khảo cuốn Gốm Chu Đậu, N° A44.

 

*********************************************************************************************************************************

 

[1] Bài này viết theo quan điểm riêng của tác giả nên dịch nguyên ý. Tuy nhiên nội dung có giá trị tham khảo cao, đặc biệt các mã số để người nghiên cứu dễ tiếp cận hiện vật ở Viện Bảo tàng Guimet nếu có điều kiện, nên dịch giới thiệu. Bạn đọc nên có chọn lọc khi sử dụng. [Người dịch]

[2] Biên Niên Trường Viễn Đông Bác Cổ (Chronique de l’Ecole française d’Extrême Orient), BEFEO. 1919, p. 100.

[3] Henri Parmentier tập hợp lại theo quan điểm của Henri Maspero (Henri  Parmentier: “Eléments anciens d’architecture au Nord Vietnam” (Các Thành Tố Cổ Trong Kiến Trúc Bắc Việt Nam), BEFEO, 1951,fasc.l.p. 343).

[4] Henri Parmentier, hướng dẫn viên Viện Bảo Tàng Trường Viễn Đông Bác Cổ, 1915.

[5] Tăng Bá Hoành phụ trách chương trình này (với sự tham gia của Đặng Đình Thế, Võ Danh Thắng, Nguyễn Duy Cường và Nguyễn Khắc minh). Tham khảo Gốm Chu Đậu, Bảo tàng tỉnh Hải Hưng, 1993.

[6] Tôi cảm tạ Loan de Fontbrune đã cung cấp hồ sơ ảnh toàn bộ cuộc triển lãm này.

[7] Tham khảo cuốn Gốm Chu Đậu., opus cit., fig. 100 et A90 à A93.

[8] Sản phẩm nung hư [Người dịch]

[9] Bà Marthe Bernus-Taylor, tổng quản thủ di sản, Phòng Cổ Vật Hồi Giáo thuộc Bảo Tàng Louvre đã tận tình giúp chúng tôi xác định các mảnh vỡ này.

[10] Chỉ quan lại cai trị người Trung Hoa [Người dịch]

[11] Ở di tích chùa Vạn Phúc núi Phật Tích được xây dựng đời vua Lý Thánh Tông (1054-1072) ở chân cột (nay không còn nữa) có trang trí những hình nhân nhỏ mặt trái xoan và các thành phần uyển chuyển, có thể so sánh với chiếc cốc MA 5426 (hình 10). Xem Louis Bezacier, L’Art Vietnamien (Mỹ Thuật Việt Nam), Edition de l’Union  Française, Paris, 1955, p. 183.

[12] Hà Văn Tấn, Chùa Việt Nam (Buddhist Temples in Vietnam), Nhà xuất bản khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1993, p. 48.

[13] Olov R.T. Janse, Archaeological Research in Indochina (Nghiên Cứu Khảo Cổ ở Đông Dương),  Bruges, 1958, vol. III, pi. 82-3. Roxana Brown. The Ceramics of South-East Asia: Their Dating and Identification (Gốm Sứ Đông Nam Á: Niên Đại và Cách Xác Định),  Kuala Lumpur, Oxford University Press, 1977, pp. 3-12.

[14] Mảnh này chắc chắn thuộc hình trang trí nóc mái. Do được chạm khắc ở cả hai mặt, nó không thể là món để phủ trên mặt đá cũng không làm ngói trang trí diềm mái.

[15] Henri Parmentier, trong “Eléments anciens d’architecture…  “, opus cit.

[16] Tôi cảm tạ ông Musculus, cán bộ Khoa Gốm Sứ của Trường Bách Nghệ đã góp nhiều ý kiến cho chúng tôi về kỹ thuật và các sản xuất.

[17] Chủ đề “Đứa trẻ giữa đám hoa” là biểu tượng ý cầu mong đông con nhiều cháu, có lẽ nguồn gốc ở Ấn Độ. Biểu tượng này dùng đầu tiên ở Yaozhou sau đó lan rộng ra khắp Trung Hoa. Xem Jan Wirgin, “Sung Ceramics Designs” (Tạo Mẫu Gốm Sứ Đời Tống), Bulletin for the Eastern Antiquities, Stockholm, 1970, vol, 42, p. 179 à 184.

Người dịch: chữ Yaozhou là phiên âm của Giao Châu, chẳng biết tác giả có nhầm lẫn gì chăng? Xuất xứ là Ấn Độ?

[18] II 1891. Musées Royaux d’Art et d’Histoire, Bruxelles (Bảo Tàng Hoàng Gia Mỹ Thuật Và Lịch Sử). Xem:  Tsugio Mikami, Ceramic Art of the World (Nghệ Thuật Gốm Thế Giới), Tokyo, 1984, vol. 16, fig.  106.

[19] Hà Thúc Căn và Nguyễn Bích, “Discovery of the Chu Dâu kilns” (Phát Hiện Lò Gốm Chu Đậu), Arts of Asia, vol. 3, 1989.

[20] Quan niệm chung là thừa nhận màu này gọi là “xanh lục táo”. Men này có được nhờ phụ gia thêm oxide đồng. Dường như quy trình chế rất phức tạp và sắc màu thay đổi do phụ gia của nhiều chất. So sánh nhiều mảnh vỡ về sau sẽ cho phép chúng tôi nghiên cứu vấn đề này rút ra phân tích cuối cùng. Toàn bộ các bức ảnh chụp do Thierry Ollivier thực hiện ở Viện Bảo Tàng Quốc Gia Mỹ Thuật Châu Á Guimet.

 

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN

Read Full Post »

*Gốm sứ Việt Nam

*Gốm VN trong quần thể di tích cố đô Huế

*Nghề gốm VN cần bảo tồn & phát huy những  giá trị truyền thống

*Ấn tượng mỹ thuật Phật Giáo trên gốm sứ ba miền

*Giới thiệu gốm cổ truyền VN : P 4 –Phụ bản : Gốm men nâu thời Lý

*Giới thiệu gốm cổ truyền VN : P 4 –Phụ bản : Bát Tràng  …….

*Giới thiệu gốm cổ truyền VN : P 3

*Giới thiệu gốm cổ truyền VN : Phần dẫn nhập

*Giới thiệu gốm cổ truyền VN : P 2

*Giới thiệu gốm cổ truyền VN : P 1

*Nhà gốm , di văng gốm

*Catalogue hàng VN giả  cổ phục chế theo nguyên bản

*Một số đồ gốm , sành thời Mạc  – Lê

*Một số đồ gốm và sành tiêu biểu thời Lý – Trần

*Thấy gì từ những bộ sưu tập gốm sứ ở tây Nguyên

*Gốm men nâu đời Lý

*Bát Tràng truyền thống liên tục tk14-17

*Chu Đậu đỉnh cao của đồ gốm cổ truyền VN

*Đồ gốm cổ , một nền văn hóa thuần việt

*Đồ gốm đời Lý –Trần , thời thăng hoa

*Gốm cổ truyền VN

*Tản mạn bình vôi

*Ông bình vôi

*Đồ gốm Việt Nam trong quan hệ giao thương với nước ngoài

*Khám phá con đường gốm sứ trên vịnh Hạ Long

*Luận bàn chiếc bát gốm đen thời Lý Trần

*Di vật gốm sứ Hoàng Thành Thăng Long

*Văn hóa đại Việt thời Lý –Trần –Hồ

*Cổ vật từ những dòng sông nam bộ

*Hành trình của cổ vật

*Hình ảnh trục vớt cổ vật tàu đắm Cù Lao Chàm

*Ba mốc chuyển biếnquan trọng của gốm sứ việt

*Đồ gốm trong văn hóa Óc Eo

*Ngôi nhà gốm của ông Hồ Tấn Phan

*Gốm cổ VN và những giá trị nghệ thuật

*Hồ Tấn Phan và cổ vật dưới các dòng sông Huế

*Bảng tóm tắt lịch sử phát  triển đồ gốm VN

*Hoa văn trên gốm tàu cổ cù lao chàm

*Đồ cổ …sexy

*Gốm VN xuất ra nước ngoài từ tk 14 đến tk 17

*Phố đồ cổ vỉa hè tại Huế

*Gốm thời Lý, trần ,Lê

*Cổ vật Blue de Hue , pháp lam Huế ở Châu Âu

*Phố đồ giả cổ Nghi Tàm Tại Hà Nội

*Phố đồ cổ vỉa hè tại Huế

*Gốm cổ Hội An khai thác từ con tàu buôn gốm bị chìm vào tk 15

*Phố đồ cổ tại Sài Gòn

*Tư liệu đáng đọc về gốm cổ VN – đồ gốm Chu Đậu

*Người Mỹ viết về gốm sứ VN và bleu de Hue

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN

Read Full Post »

*Đồ gốm VN & căn cước văn hóa

*Bình vôi ký kiểu do COPELAND & GARRETT sản xuất

*Bình vôi và câu truyện tập tục Việt

*Sưu tập gốm men trắng thời Lý – Trân 2 thế kỷ XI- XIV

*Bình vôi , ống nhổ

*Ông bà bình vôi

*Sưu tập gốm Chu Đậu cuối thế kỷ 15 đầu thế kỷ 16

*Sưu tập gốm Bát Tràng

*Sưu tập gốm men độc sắc VN

*Sưu tập gốm việt mười thế kỷ đầu công nguyên

 

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN

Read Full Post »

Older Posts »