Feeds:
Bài viết
Phản hồi

Archive for the ‘GỐM NGHỆ THUẬT VIỆT NAM & QUỐC TẾ’ Category

Mời các độc giả blog thưởng thức những tác phẩm nghệ thuật thị giác do các em học sinh trường mù Nguyễn Đình Chiểu thực hiện được trưng bày tại Bảo Tàng Mỹ Thuật Hà Nội Ngày  19/  11 / 2011 .

Để chuẩn bị cho sự kiện này , 12 thành viên của House of Art  – giáo viên Đào Ngọc   Huỳnh &  Đỗ Quốc Vi  đã chuẩn bị từ đầu năm 2011 . Và cũng được sự hỗ trợ rất nhiều từ các nghệ nhân làng gốm Bát Tràng (Hà Nội ) – Cây ( Hải Dương ) – Ngòi ( Bắc Giang ) .

Trong cuộc triển lãm đã được trưng bày các tấm tranh với nhiều kích cỡ  và 150 sản phẩm nhỏ các loại  . Hầu hết các tác phẩm đều do các học sinh trường mù làm.

Cuộc triển lãm mang ý nghĩa và thông điệp  ” Người mù có thể làm việc như những người bình thường ” . và tìm kiếm cơ hội cho học sinh khiếm thị .

This slideshow requires JavaScript.

MỤC LỤC – GỐM NGHỆ THUẬT VIỆT NAM & QUỐC TẾ

Read Full Post »

DANH MỤC TỔNG HỢP

*Gốm Mỹ Thuật do các học sinh trường mù Nguyễn Đình Chiểu thực hiện

*Gốm nghệ thuật Trung Hoa

*Đồ sứ Imari

*Vẻ đẹp tân kỳ của đồ sứ thấu quang dạng hạt gạo

*Nghệ thuật pháp lam – loại hình mỹ thuật trang trí độc đáo

*Sứ nghệ thuật của Minh Long

*Những tác phẩm gốm nghệ thuật ‘’ấm trà’’  của anh Zhou (TQ)

*Những tác phẩm gốm nghệ thuật ‘’ấm trà ‘’ của Teapot  Exhibition  NCECA

*Tranh ghép gốm mosaic & freestyle

*Gốm nghệ thuật VN

*Cảm nhận khi đi xem triển lãm gốm nghệ thuật VN

*Một số nhận định về tính ứng dụng của gốm nghệ thuật VN

*Nghệ thuật gốm VN : quá khứ & hiện tại 

Read Full Post »

Gốm nghệ thuật Trung Hoa

Click vào để xem!

Gom Su Trung Hoa

MỤC LỤC – MỘT SỐ BỘ SƯU TẬP GỐM SỨ

MỤC LỤC – GỐM NGHỆ THUẬT VIỆT NAM & QUỐC TẾ

Read Full Post »

Đồ sứ Imari

Trong ẩm thực, người Nhật không chỉ chú trọng đến hương vị của món ăn, mà cả trong cách thể hiện. Vật đựng bằng sứ Imari luôn là lựa chọn ưa thích để trang trí món ăn Nhật Bản.

Đồ sứ Imari là sản vật nổi tiếng của thị trấn nhỏ Arita thuộc thành phố Imari, thủ phủ của tỉnh Saga, tọa lạc trên đảo Kyushyu.

Khác với những sản phẩm được làm từ đất sét khác, đồ sứ có đặc điểm không chỉ đẹp, mà còn rắn chắc. Đồ sứ Imari là đại diện cho các sản phẩm gốm sứ có nguồn gốc từ Nhật Bản. Chất lượng của nó đã được thế giới khẳng định trong nhiều thế kỉ qua. Sứ Imari được chia ra làm hai loại chính là sứ Sometsuke và Iro-e.

Đồ sứ Imari là sản vật nổi tiếng của Nhật Bản

Đặc trưng của sứ Sometsuke là những hoa văn chỉ duy nhất một màu xanh được trang trí trên nền men trắng. Sứ  Sometsuke ra đời sớm nhất trong lịch sử tồn tại của đồ sứ Imari.

Sứ  Sometsuke ra đời sớm nhất trong lịch sử tồn tại của đồ sứ Imari

Loại thứ 2 là sứ Iro-e. Hoa văn trang trí trên dòng sản phẩm này mang nhiều màu sắc và sắc thái khác nhau, thường là phong cảnh hoa lá, chim chóc. Iro-e là loại sứ men được sản xuất bằng phương pháp phủ men màu lên trên sản phẩm đã được vẽ họa tiết trang trí và nung trước. Những men màu thông dụng trong sứ Iro-e là màu đỏ, vàng kim, xanh lá và xanh biển.

Những men màu thông dụng trong sứ Iro-e là màu đỏ, vàng kim, xanh lá và xanh biển

Đối với sứ Imari, người Nhật không dùng chúng để bày trí và sử dụng một cách tùy tiện. Cách sử dụng ở đây không có nghĩa là bảo quản, mà đó là kỹ năng bày biện những đồ đựng bằng sứ Imari trên bàn ăn sao cho chúng hài hòa với món ăn và không khí của bữa tiệc.

Sản xuất và kỷ thuật:

Cao lanh là thành phần nguyên liệu quan trọng dùng để sản xuất đồ sứ. Sản phẩm sứ Imari sử dụng cao lanh lấy từ khu mỏ cao lanh Izumiyama ở thị trấn Arita.

Cao lanh là một loại đất sét màu trắng, bở, chịu lửa với thành phần chủ yếu là khoáng vật kaolinit. Để tiết kiệm sức lực, các nghệ nhân tại Arita đã dùng sức nước trong công đoạn tán vụn đá cao lanh.

Sản phẩm sứ Imari sử dụng cao lanh lấy từ khu mỏ cao lanh Izumiyama ở thị trấn Arita

Sau khi những khối đá cao lanh được tán nhuyễn, người ta cho nước vào bột đá cao lanh và dùng chân giẫm lên hỗn hợp này hàng trăm lần để trộn chúng lại với nhau đồng thời tạo nên độ kết dính cần thiết. Màu trắng của nguyên liệu quyết định nên màu sắc thuần khiết của đồ sứ.

Tiếp đến là công đoạn tạo dáng cho đồ vật, việc này đòi hỏi người thợ phải sử dụng đến bàn xoay. Sau khi hoàn tất việc tạo dáng bằng bàn xoay, người thợ dùng một cái bào bằng sắt để gọt dũa nhẵn nhụa mặt ngoài của đồ vật. Dựa vào âm thanh phát ra khi dùng tay gõ vào đồ vật, người thợ sẽ phán đoán được sức chịu nóng của nó.

Sau đó, người thợ sẽ đặt khuôn mẫu vào bên trong của vật cần tạo hình. Họ cẩn thận dùng lòng bàn tay ấn mạnh vật cần tạo hình một cách đều đặn từ bên ngoài để nó hòa hợp với hình dáng của khuôn mẫu bên trong. Đối với những đồ sứ có hình dáng phức tạp thì người thợ không dùng đến bàn xoay. Sau khi đã thành hình, sản phẩm thô được tráng qua một lớp men. Công đoạn này giúp bề mặt sứ sáng bóng đẹp mắt.

Nét vẽ thon nhọn, mỏng manh, phá vỡ không gian trắng ngần của lớp men phủ bên ngoài đồ sứ

Để tạo độ bền chắc cho sản phẩm, người ta mang sứ vào lò nung trong 40 giờ với nhiệt độ khoảng 1300 độ C. Khi đồ sứ đã được nung xong, đến công đoạn trang trí hoa văn. Người thợ bắt đầu vẽ những nét thẳng để tạo dáng cho lá và thân cây. Nét vẽ thon nhọn, mỏng manh, phá vỡ không gian trắng ngần của lớp men phủ bên ngoài đồ sứ. Chúng là khung sườn cho hoa văn cầu kì trong các bước trang trí kế tiếp do đó cần phải có độ chính xác cao.

Bước tiếp theo là sơn màu lên đồ sứ. Bàn tay khéo léo của người thợ lướt nhẹ những nét cọ mềm mại trên mẫu vẽ thô. Thao tác được thực hiện rất tỉ mĩ. Thỉnh thoảng, người thợ lại vẫy nhẹ đầu cọ để điều tiết lượng mực tồn đọng giúp nét vẽ thanh thoát và màu sắc hài hòa.

Thanh Tâm (THVL)

MỤC LỤC – GỐM NGHỆ THUẬT VIỆT NAM & QUỐC TẾ

Read Full Post »

Vẻ đẹp tân kỳ của đồ sứ thấu quang dạng hạt gạo (Rice Grain Porcelain)

"East from the sun" là tên của bộ ba chén độc đáo sx 2007

"East from the sun" là tên của bộ ba chén độc đáo sx 2007

Eeva Jokinen là nghệ nhân gốm người Phần Lan, sinh năm 1975, chuyên về nghệ thuật tạo hình đồ sứ thấu quang dạng hạt gạo đã khiến khách tham quan Studio Pot Viapori phải trầm trồ thích thú vì những món thật sự là đồ vật thẩm mỹ kỳ diệu mà cô sáng tạo. Studio Pot Viapori nơi Eeva đang làm việc là một Hợp Tác Xã Mỹ Nghệ tọa lạc trên đảo ven biển Suomenlinna , xưa kia là một pháo đài phòng vệ biển của Helsinky.

Eeva Jokinen s. 1975

Eeva Jokinen s. 1975

Đồ sứ thấu quang dạng hạt gạo là phương pháp sản xuất gốm sứ  cổ xưa. Thành cốt của món đồ trước tiên được xuyên thủng bằng một dụng cụ sắc bén, trước khi nung thành dạng biscuit ( xem lại bài thuật ngữ gốm sứ) người ta tráng men để men chảy phủ các lổ hổng mà sau khi nung sẻ trở thành sứ có độ trong suốt dưới ánh sáng

"Change" unique bowl circa 2008

"Change" unique bowl circa 2008

Tôi đặt mục tiêu vào ấn tượng cảm xúc thay vì áp dụng các hình thức thiết kế nghiêm túc. Với tôi việc ánh sang chiếu xuyên qua các đồ vật tôi làm và màu trắng tạo cảm giác hòa bình và hòa hợp” cô nói. “ Bà tôi có một bộ chén tách đồ sứ thấu quang dạng hạt gạo do Ả Rập sản xuất mà ngay khi còn bé tôi vẫn thích chiêm ngưỡng chúng hơn mọi cái khác

Series: Rains and snows; "Tuisku" (whirling) circa 2007

Series: Rains and snows; "Tuisku" (whirling) circa 2007

“Tôi tốt nghiệp Đại Học Nghệ Thuật và Thiết Kế năm 2002 và ngay sau đó bắt đầu sự nghiệp ngành gốm tại Pot Viapori. Để làm luận văn Tiến Sĩ, tôi đã nghiên cứu đồ sứ thấu quang dạng hạt gạo, về kỹ thuật và vật liệu. Tôi tìm hiểu các đặt tính của men cũng như loại men nào có thể phủ đầy các lổ và không bị chảy đi trong quá trình nung. Phương pháp sản xuất này gây niềm cảm hứng ở tôi để tiếp tục nghiên cứu và tìm kiếm những cách mới hơn trong sản xuất.”

Một số hình ảnh thuộc Series Rains and snows:

riite

eeva10

sula

eeva11

eeva6

KhanhHoaThuyNga

MỤC LỤC – GỐM NGHỆ THUẬT VIỆT NAM & QUỐC TẾ


Read Full Post »

Nghệ thuật Pháp lam – Loại hình mỹ thuật trang trí độc đáo

untitled


Nếu người Nhật Bản nổi tiếng với Gốm Raku, người Trung Hoa với men ô hộc (cloisonne), thì ở Việt Nam nói chung, Huế nói riêng có Pháp Lam. Đây là một loại hình nghệ thuật độc đáo của người Huế đó thất truyền hơn vài thế kỷ, đến nay đang từng bước được hồi sinh. Những di sản Pháp lam còn lại trên đất cố đô Huế ngày nay khá đồ sộ, phong phú về số lượng; đa dạng về loại hình và kiểu thức. Những chứng tích ấy là bằng chứng rõ nét nhất chứng tỏ loại hình mỹ thuật độc đáo này đó từng phát triển hưng thịnh và được cố nhân đánh giá về chất lượng nghệ thuật khá cao. Để tôn vinh loại hình nghệ thuật Pháp lam này, đồng thời góp phần bảo tồn, phát triển Pháp lam cho mói đời sau,  Pháp lam đã là một trong ba nghề được tôn vinh tại Festival nghề truyền thống Huế năm 2009, cùng với Gốm và Sơn mài.

Nghệ thuật Pháp lam – Loại hình mỹ thuật trang trí độc đáo thời Nguyễn

Pháp lam là những tác phẩm mỹ thuật hay các chi tiết trang trí trong kiến trúc Huế, cốt làm bằng đồng đỏ, bên ngoài phủ các lớp men nhiều màu tạo nên các họa tiết rực rỡ màu sắc.

Pháp lam có một lịch sử rất lâu đời với việc những sản phẩm Pháp lam đầu tiên trên thế giới được biết đến từ thế kỷ 13 trước công nguyên khi những người thợ kim hoàn Mycenaean tráng men thuỷ tinh trên những đôi khuyên tai bằng vàng. Kể từ đó các nền văn minh trên toàn thế giới đó du nhập kỹ thuật Pháp lam vào các hình thức nghệ thuật riêng biệt của họ.

Nghệ thuật chế tác Pháp lam được du nhập vào Việt Nam từ năm Minh Mạng thứ 8 (1827). Nhà vua cho đặt Pháp lam tượng cục, gồm 15 người, do Vũ Văn Mai đứng đầu, chuyên sản xuất pháp lam cho triều đình Huế. Xưởng chế tác pháp lam được đặt ở khu Canh Nông trong Thành nội.

Ngoài ra, triều đình cũng mở xưởng pháp lam tại Ái Tử (Quảng Trị) và Đồng Hới (Quảng Bình) để sản xuất pháp lam, đáp ứng các nhu cầu của triều đình.

Pháp lam Huế có mặt ở các triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức. Đõy là buổi thịnh thời của triều Nguyễn: quốc gia thống nhất, kinh tế ổn định. Triều đình lo việc xây dựng kinh đô, lập đền miếu, trang trí tô điểm cho đời sống đế vương.

Hiện vật Pháp lam ở Huế thuộc loại hình Pháp lam hoạ. Do chỉ được sử dụng trong Hoàng cung Huế, nên thuật ngữ pháp lam Huế đó được dùng để gọi tên cho kỹ nghệ chế tác pháp lam ở Việt Nam vào thời Nguyễn. Trình độ kỹ thuật chế tác pháp lam thời kỳ này chưa đạt độ sắc nét, tinh xảo, màu sắc không đẹp như pháp lam ở các nước khác, nhất là Trung Quốc. Tuy nhiên, Pháp lam Huế lại khẳng định dấu ấn sáng tạo của người Việt, của văn hoá Việt Nam, minh chứng cho nền kinh tế – chính trị những năm độc lập, tự chủ thời Nguyễn. Pháp lam được xem là một báu vật xa xỉ, quý hiếm, sang trọng, chỉ được dùng để trang trí ở những nơi cung điện, tôn miếu uy nghiêm như điện Thái Hoà (Đại Nội, Huế), điện Hoà Khiêm (làng Tự Đức), điện Biểu Đức (làng Thiệu Trị)… hoặc làm đồ dùng trong cung đình như bát, tô, đĩa, khay, chậu hoa, bình hoa, hộp trầu, hộp phấn… hoặc làm đồ tế tự như lư trầm, bát hương, quả bồng…

Pháp lam Huế chứa đựng những màu sắc tươi sáng lộng lẫy có cường độ mạnh nhưng vẫn quen mắt như các hũa sắc điển hình thường hiện ra trong cuộc sống, thường được phản ánh trong nghệ thuật. Ngày nay, các nhà hóa học phân tích: Thành phần chủ yếu của men màu Pháp lam gồm hỗn hợp của muối axit boric với muối axit silicic, sắc trắng dễ nung chảy vì có nguyên liệu Pháp lam trong đó. Bỏ thêm vào một lượng thích hợp sắc tố kim loại bị oxy hóa (oxit kim loại) tức thành màu men Pháp lam.

Dựa trên các hiện vật pháp lam được trang trí trên các cung điện của triều Nguyễn và các hiện vật pháp lam hiện cũng lưu giữ ở Bảo tàng Mỹ thuật cung đình Huế cũng như trong dân gian, Pháp lam được sử dụng: Trong trang trí ngoại thất các cung điện triều Nguyễn: Loại hình này thường thấy trên các bờ nóc, bờ quyết, cổ diềm tại các cung điện điển hình như ở điện Sùng Ân (lăng Minh Mạng); điện Biểu Đức (lăng Thiệu Trị); điện Hòa Khiêm (lăng Tự Đức); điện Thái Hòa (Đại Nội) và các nghi môn ở các lăng trên cũng như khu vực Đại Nội; Pháp lam dựng trong trang trí nội thất: Đó là những hoành phi, câu đối, bình, chóe…; Pháp lam gia dụng và Pháp lam tế tự: Hiện vật nhóm này bao gồm các đồ dùng trong việc tế tự như lư hương, quả bồng, chân đế quả bồng, cơi trầu… và các đồ gia dụng như khay trà, tô, bát, tìm đựng thức ăn.

Trong đó, được chú ý nhiều nhất là loại hình Pháp lam trang trớ ngoại thất: những chi tiết trang trí hình rồng, mây… gắn ở các bờ nóc, bờ quyết của cung điện và các cửa tam quan trong lăng tẩm các vua Nguyễn; các ô, hộc trang trí theo lối “nhất thi, nhất họa” ở cổ diềm, đầu hồi, bờ mái… các ngôi điện lớn như điện Thái Hòa, điện Ngưng Hy (lăng Đồng Khánh); những bức hoành trước mộ vua Minh Mạng và trước điện Thái Hòa; các đồ án mây ngũ sắc, bầu thái cực các ô hộc trang trí bát bửu, tứ quý… chính giữa bờ nóc Minh Lâu, điện Sùng Ân (lăng Minh Mạng), điện Hòa Khiêm (lăng Tự Đức) hay ở bờ nóc bờ quyết của điện Biểu Đức (lăng Thiệu Trị)…

Màu sắc rực rỡ của những mảng Pháp lam nổi bật trên các phông màu xám cố hữu của các kiến trúc cổ kính rêu phong đó tạo nên những điểm xuyết sinh động, làm cho các công trình kiến trúc vốn uy nghi, trầm mặc có thêm phần tươi sáng và thanh thoát.

Nguồn gốc của Nghệ thuật chế tác Pháp lam

Dựa vào những tư liệu do Gaide và Henry Peyssonneaux cung cấp trong bài khảo cứu Les tombeaux de Hué: Prince Kiên Thái Vương đăng trên B.A.V.H. (No. 1/1925), đồng thời đối chứng với các sản phẩm pháp lam Huế hiện hữu trên các di tích triều Nguyễn ở Huế, trong Bảo tàng MTCé Huế và trong các sưu tập tư nhân, chúng ta có thể dễ dàng xác nhận rằng, kỹ nghệ pháp lam Huế đó tiếp thu kỹ nghệ Họa Pháp lang của Quảng Đông (Trung Quốc). Kỹ nghệ Họa Pháp lang dựng một lớp men lót tráng lên nền thai cốt, vẽ thêm các họa tiết trang trí bằng men ngũ sắc lên trên nền men lót, rồi đem nung mà thành sản phẩm. Sử sách cho biết trong quá trình xây dựng kinh đô Huế, vua Gia Long (1802 – 1919), Minh Mạng (1820 – 1840) cho mời một số nghệ nhân Trung Quốc sang đảm trách công việc chế tạo các loại gạch, ngói tráng men lưu ly và đồ men pháp lang để phục vụ việc kiến trúc và trang trí đền đài cung điện. Người Việt đó học được nghề, chế tạo được sản phẩm theo ý tưởng, sở thích, nhu cầu của mình, nên đã khai sinh chính thức tại Việt Nam. Do đó vua Minh Mạng đặt tên cho ngành mỹ nghệ cao cấp này là Pháp lam. Cố họa sĩ Phạm Đăng Trí nhận định về màu sắc pháp lam Huế: “Các nghệ sĩ làm pháp lam ở Huế đó sớm biết gia giảm liều lượng đậm lạt, nóng lạnh của màu sắc đến độ tinh vi, đã sáng tạo ra những phương thức dùng mảng, dùng màu và phát hiện ra những hòa sắc tương phản rất là chính xác…”. Pháp lam Huế chứa đựng những màu sắc tươi sáng lộng lẫy có cường độ mạnh nhưng vẫn quen mắt như các hòa sắc điển hình thường hiện ra trong cuộc sống, thường được phản ánh trong nghệ thuật. Trải qua các triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức, công xưởng chế tạo pháp lam tại kinh đô Huế đó sản xuất rất nhiều vật phẩm dựng để trang trí, cúng tế, sinh hoạt theo yêu cầu của hoàng gia và triều đình. Sau biến cố thất thủ kinh đô (1885), vua Đồng Khánh (1886 – 1888) cho tái lập Tượng cục pháp lam. Nhưng rất tiếc vì tài chính eo hẹp nên không đủ điều kiện nhập nguyên liệu từ nước ngoài về chế tạo pháp lam như trước. Các triều vua cuối Nguyễn (Thành Thái, Duy Tân, Khải Định, Bảo Đại) bãi bỏ Tượng cục pháp lam và ngành nghề này dần dần mất tích ngay tại cái nôi đã phát sinh. Nhưng di sản Pháp lam còn lại trên mảnh đất cố đô Huế khá đồ sộ, phong phú về số lượng; đa dạng về loại hình và kiểu thức, người đời sau phải thán phục. Giáo sư Nguyễn Du Chi nhận định: “Pháp lam Huế đó mang tư cách về một hướng đi đầu tiên của nền hội họa Việt.

Phân loại Pháp lam

Dựa vào phương pháp chế tạo thai cốt và kỹ thuật thể hiện men màu, họa tiết, cú thể chia chế phẩm Pháp lang thành 4 loại:

1. Kháp ti Pháp lam (Cảnh Thái lam): Pháp lang làm theo kiểu ngăn chia ô hộc. Chế tác bằng cách dùng những sợi tơ đồng mảnh và nhỏ kết thành các hoạ tiết gắn lên cốt bằng đồng. Sau đó, đổ đầy men pháp lam nhiều màu lên phần trong và phần ngoài các ô trang trí ấy rồi đưa vào lò nung đốt nhiều lần, cho đến khi bên ngoài sản phẩm phủ kên men pháp lam với độ dày thích hợp. Mài nhẵn và mạ vàng (nếu có) các đường chỉ đồng là khâu cuối cùng, hoàn thành sản phẩm.

2. Hoạ Pháp lam: Pháp lang làm theo kiểu vẽ trên nền men như các tác phẩm hội họa, kiểu này được phát minh ra tại thị trấn Limoges của Pháp trong thế kỷ 15. Là kỹ thuật dựng men pháp lam một màu quét trực tiếp lên cốt kim loại. Theo màu sắc thiết kế của hoa văn, dùng men pháp lam vẽ nên các họa tiết, sau đó đưa vào lò nung ở nhiệt độ cao. Sản phẩm sau khi đưa ra khỏi lò được mài bóng để hoàn chỉnh. Trên thực tế nhiều hoạ tiết vẽ trên cốt đồng là nhân vật, phong cảnh với các điển tích lịch sử…

3. Tạm thai Pháp lam: Phương pháp chế tác giống Kháp ti pháp lam, chỉ khác ở chỗ hoa văn tô điểm bên ngoài, cốt sản phẩm, được khắc lõm xuống khiến đường viền hoa văn nổi lên. Ở phần lõm này được phủ đầy men pháp lam, sau khi nung đốt thì đem mài bóng để hoàn thiện. Các đường nổi trên sản phẩm Tạm thai Pháp lam tuy rắn rỏi nhưng đạt được sự trang trọng mà mộc mạc trong nghệ thuật.

4. Thấu minh Pháp lam: Chỉ tráng men Pháp lam trong suốt lên cốt bằng vàng, bạc hoặc đồng sau khi được chạm nổi, khắc chìm, rồi đem nung là hoàn thành. Cốt hoa văn được chạm nổi hoặc khắc chìm, đôi khi các đường nét hoa vàn chạm khắc này được thiếp vàng, bạc, hiện ra xuyên qua lớp men Pháp lam một màu như: vàng, lục, lam, tớm… Loại hình Pháp lam này lợi dụng tính chất của lớp men trong suốt hoặc trong mờ để biểu thị sự biến đổi của đồ án hoa văn do độ sáng tối, đậm nhạc mà có.

Pháp lam Huế thuộc Họa Pháp lang và một số vật dụng khác là đồ ký kiểu thuộc Kháp ti Pháp lang được đặt mua tại Trung Hoa.

Hồi sinh một nghệ thuật Pháp lam

Trải gần hai thế kỷ tồn tại trong môi trường khí hậu và thời tiết khắc nghiệt như xứ Huế, lại bị chiến tranh tàn phá, nên nhiều mảng pháp lam trang trí trên các cung điện Huế đó biến mất hoặc bị xâm hại nặng nề. Tìm hiểu các tài liệu, thư tịch và hiện vật pháp lam ở bảo tàng Mỹ thuật Cung đình Huế, cũng như ở trên các công trình kiến trúc thời Nguyễn cho thấy kỹ nghệ chế tác Pháp lam được nghệ nhân Việt Nam tiếp thu, sáng tạo, làm nên những sản phẩm tuyệt mỹ, những hiện vật vô giá được trưng bày, quản lý cẩn thận ở Bảo tàng Mỹ thuật Cung đình và trên các di tích khác ở Huế.

Trong nỗ lực trùng tu, tôn tạo các công trình kiến trúc thời Nguyễn – có dấu ấn của Pháp lam Huế, nhiều nhóm chuyên gia bảo tồn đã dày công nghiên cứu chất liệu Pháp lam cổ, xây dựng phương pháp, kỹ thuật chế tác trong điều kiện các thư tịch, bí quyết đều thất truyền. Sau nhiều năm nghiên cứu, trải qua vô số hoạt động thử nghiệm, nhóm nghiên cứu của Thạc sĩ Đỗ Hữu Triết (công ty cổ phần Kỹ nghệ Pháp lam Sao Khuê – Khuestar JSC) đó thành công và tự hào phục hồi – tôn vinh nét văn hoá – nghệ thuật độc đáo của dân tộc. Hơn một thế kỷ thất truyền, pháp lam Huế đang trở lại nhờ những bàn tay tài hoa của nghệ nhân hiện đại, tâm huyết của những con người yêu quê hương.

Pháp lam Huế ngày nay không dừng ở việc chế tác phục vụ trùng tu, bảo tồn các công trình kiến trúc thời Nguyễn và cũng không dừng lại ở loại hình hoạ Pháp lam truyền thống. Khuestar JSC đang nỗ lực kết hợp pháp lam với các ngành mỹ nghệ khác như chạm, khảm… nâng lên thành những tác phẩm có giá trị về mặt hội hoạ và hàm lượng nghệ thuật cao.Sự kết hợp phong phú và đa dạng các ngành nghề thủ công truyền thống trong sản phẩm pháp lam vừa tạo sự hấp dẫn riêng biệt mang đậm nét văn hóa truyền thống cho sản phẩm vừa là một cầu nối cho các ngành truyền thống có thể kết hợp lại với nhau.

Sau gần 200 năm thất truyền, Pháp lam Huế giờ đó được tái sinh, có giá trị thiết thực trong việc làm sáng lại kỹ nghệ trang trí pháp lam trên các đền vàng điện ngọc ở cố đô, niềm tự hào của mỹ thuật thời Nguyễn trên đất Huế. Vào thời đó, Pháp lam được xem là vật báu xa xỉ, quý hiếm, sang trọng chỉ được dùng để trang trí ở cung điện, tôn miếu uy nghiêm.

Cinet tổng hợp

MỤC LỤC – GỐM NGHỆ THUẬT VIỆT NAM & QUỐC TẾ


Read Full Post »

Sứ nghệ thuật của Minh Long

Ngày 1-7-2009 tại Trung tâm thương mại Minh Sáng Plaza tỉnh Bình Dương, Công ty Minh Long 1 đã khai trương showroom có diện tích trên 300m2 trưng bày và bán các sản phẩm gốm sứ nghệ thuật.

Đây là lần đầu tiên Minh Long giới thiệu đến khách hàng những tác phẩm gốm sứ nghệ thuật được công ty chuẩn bị đầu tư sau gần 5 năm với 30 nghệ nhân và những họa sĩ giỏi đến từ các nước có nền gốm sứ phát triển lâu đời như Trung Quốc, Thụy Sĩ, Hà Lan.

Tại xưởng vẽ, nữ nghệ nhân đang trổ tài sáng tạo các họa tiết trên thành bình đã được nung 1.380 độ C

Tại xưởng vẽ, nữ nghệ nhân đang trổ tài sáng tạo các họa tiết trên thành bình đã được nung 1.380 độ C

Ông Lý Ngọc Minh, Tổng giám đốc Công ty Minh Long 1 cho biết, khác với nhiều nhà sản xuất gốm sứ trên thế giới thường chỉ vẽ màu nung trên nhiệt độ 850 độ C thì điểm nổi trội của dòng gốm sứ cao cấp này là được công ty Minh Long I ứng dụng thành công công nghệ vẽ màu trên nhiệt độ cao 1.250oC.

Nhờ công nghệ này khiến những đường nét vẽ tay trên tác phẩm còn nguyên vẹn, sự dịch chuyển của màu sắc tạo cho sản phẩm có độ bóng, những hình ảnh được chìm trong lớp men giúp có chiều sâu của không gian ba chiều trông rất sống động và bắt mắt.

Ông Minh cho biết thêm, mỗi tác phẩm đều mang một câu chuyện, một cái tên rất Việt Nam. Sản phẩm được sản xuất chủ yếu bằng phương pháp thủ công, cho ra đời từng chiếc một, nên sau vài năm nghiên cứu công ty chỉ cho ra đời được gần 200 sản phẩm.

Tác phẩm có tên "Đầm sen xanh", chỉ 10 chiếc thế này được sản xuất. Mỗi bình có giá 71,2 triệu đồng.

Tác phẩm có tên "Đầm sen xanh", chỉ 10 chiếc thế này được sản xuất. Mỗi bình có giá 71,2 triệu đồng.


Tác phẩm có tên "sen

Tác phẩm có tên "sen

Cũng là tác phẩm mang tên “Sen” nhưng chiếc bình này chỉ có một phiên bản duy nhất. Món hàng được giảm giá 30% và đã có khách đặt mua ngay. Giá công bố trước đây là 35,6 triệu đồng."Đêm sen" được chào bán với giá 41,5 triệu đồng, sản phẩm này được giảm giá 30% trong 10 ngày tính từ hôm 1/7.

Tác phẩm có tên "Đầm sen xanh", chỉ 10 chiếc thế này được sản xuất. Mỗi bình có giá 71,2 triệu đồng.

gal_4a50ccf505f06

Duyên đỏ” được niêm yết 71,2 triệu đồng, sẽ ra lò 10 sản phẩm. Một hội đồng thi gồm 8-10 người bao gồm ban giám đốc và các nhân viên kỹ thuật của hãng sẽ chấm điểm cho các tác phẩm gốm sứ nghệ thuật này. Theo đó, những mẫu hội đủ 8 tiêu chí sẽ được sản xuất số lượng chuẩn là 10 sản phẩm.

gal_4a50cd198398b

Cặp bình sứ có tên “Hoa hồng” và “Khoe sắc” này có giá gần 120 triệu đồng. Hầu hết khách tham quan đều xuýt xoa vì vẻ tao nhã, thanh lịch của sản phẩm và tròn mắt với mức giá của nó.

gal_4a50cd3d55da1

“Sắc đỏ” nóng bỏng vẫn đằm thắm hòa quyện với gam màu trắng dịu nhẹ, độ bóng và sâu của men sứ khiến cho các họa tiết nổi bật lên trên như vươn ra khỏi chiếc bình. Sản phẩm có giá 30,26 triệu đồng.

gal_4a50cd59b684d

Tác phẩm “Quyến rũ” với hai gam màu đen trắng làm chủ đạo trị giá 53,4 triệu đồng.

gal_4a50cda8db37e

Bình sứ “Hương xuân” làm toát lên vẻ đẹp tươi mới và ngọt ngào của mùa xuân, trên 50 triệu đồng.

gal_4a50cdcd743fd

Tác phẩm “Hương nấm”.

gal_4a50cdee7fa3b

gal_4a50ce1a1b87c

Chủ đề của bức tranh trên thành bình này mang phong cách Á Đông với tên gọi “Thủ tiết”. Nhân vật trong chiếc bình sống động và sắc sảo, các gam màu dịch chuyển tạo độ bóng, hình ảnh uyển chuyển, chìm vào lớp men tạo chiều sâu của không gian làm cho chiếc bình sứ trở nên sống động. Tác phẩm trị giá 53,4 triệu đồng.

Một khách tham quan thích thú với các mẫu bình sứ có họa tiết sinh động, thanh thoát đã tạo dáng chụp ảnh lưu niệm tại show room của Công ty Minh Long 1.

Một khách tham quan thích thú với các mẫu bình sứ có họa tiết sinh động, thanh thoát đã tạo dáng chụp ảnh lưu niệm tại show room của Công ty Minh Long 1.


Trung bình họa sĩ phải mất từ 2-3 tuần sáng tác và vẽ, chưa tính đến thời gian nung và gia công. Bộ sưu tập mới của Công ty Minh Long 1 được ra lò sau 5 năm nghiên cứu. Hiện nay công ty chỉ có 30 nghệ nhân và một số ít chuyên gia bậc thầy nghiên cứu và sản xuất dòng sản phẩm cao cấp này nên mỗi năm chỉ ra lò 40 chiếc, khách muốn mua phải đặt hàng trước.

Nguồn tin: Saigon Times online và tin247.com

* MỤC LỤC – TIN TỨC THỜI SỰ NGÀNH GỐM 

MỤC LỤC – GỐM NGHỆ THUẬT VIỆT NAM & QUỐC TẾ


Read Full Post »

Older Posts »