Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for the ‘Bảo Tàng’ Category

GII THIU V TRƯỜNG

Trường Cao đẳng Mỹ thuật Trang trí Đồng Nai tiền thân là trường dạy nghề Biên Hòa đã hình thành tồn tại và phát triển trong hơn 100 năm qua ( 1903-nay). Trong hơn 100 năm trường đã thay đổi khá nhiều lần từ tên trường đến quy mô đào tạo- ngành nghề đào tạo mục tiêu đào tạo. Trường đã trải qua ba thời kỳ: thời kỳ thuộc Pháp – dưới chế độ Sài gòn ( 1954-1975 ) và thời kỳ đất nước được hoàn toàn thống nhất.

Dưới thời kỳ đất nước ta bị đô hộ dưới ách thống trị của thuộc dân Pháp, mạng lưới Trường lớp đào tạo nghề ở cả nước là rất mỏng. Ở miền Nam trong một số rất ít trường được thành lập trong đó có trường dạy nghề Biên Hòa mà nhân dân thường gọi là( trường bá nghệ Biên Hòa). Do kinh tế chưa phát triển nên quy mô của Trường nhỏ bé số lượng học sinh ít.

Mãi đến năm 1964 ( sáu mươi năm sau ) từ trường dạy nghề mới phát triển thành trường Trung học chuyên nghiệp mang tên trường Kỹ thuật Biên Hòa.

Ngày đất nước hoàn toàn giải phóng 30-4-1975 sau mấy năm tiếp quản trường đổi tên thanh trường Mỹ thuật Trang trí Đồng Nai năm 1978 đến năm 1998 trường được nâng cấp thành trường Cao đẳng Mỹ thuật Trang trí Đồng Nai.

Trong hơn  100 năm qua trường trải qua 3 giai đọan phát triển.

Từ 1903 -1963 là trường đào tạo nghề tồn tại 60 năm

Từ 1964 -1997 là trường Trung học chuyên nghiệp tồn tại 33 năm

Từ 1998 đến nay là Trường Cao đẳng.

 Trường cao đẳng mỹ thuật trang trí Đồng Nai đã không ngừng mở rộng quy mô đào tạo. Đặc biệt là từ năm 1975 đến nay, nội dung đào tạo của trường đã chuyển dần sang lĩnh vực mỹ thuật ứng dụng nhằm phục vụ tốt hơn nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội.

Từ năm 1998 đến nay, trường đã mở thêm một số khoa, ngành mới nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội: thiết kế mỹ thuật truyền thông đa phương tiện; thiết kế thời trang. Hiện nay, Trường cao đẳng mỹ thuật trang trí Đồng Nai tổ chức đào tạo 7 khoa chuyên môn, gồm:

-khoa thiết kế đồ họa

-Khoa trang trí nội thất

-Khoa thiết kế thời trang

-Khoa thiết kế mỹ thuật truyền thông đa phương tiện

-Khoa nhiếp ảnh quảng cáo

-Khoa gốm mỹ thuật & điêu khắc

-Khoa  cơ bản.

Một chặng đường dài với biết bao thay đổi trong lịch sử của trường cùng lịch sử của dân tộc , biết bao thế hệ học trò đã trưởng thành từ đây , biết bao thế hệ thầy cô đã cống hiến sức lực và trí tuệ của mình cùng góp phần làm nên lịch sử của mái  trường .

đúng vào dịp kỷ niệm 110 năm thành lập, nhà trường vinh dự được đón nhận Huân chương Độc lập hạng nhì. Đây là thành quả lao động hăng say, miệt mài của tập thể cán bộ, giáo viên, sinh viên toàn trường. Điều này  khích lệ tập thể nhà trường phấn đấu hơn nữa để tiến lên trở thành trường đại học, đào tạo ngày càng nhiều nhân tài phục vụ cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.

nguồn : Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Trang Trí đồng Nai .

Khanhhoathuynga thực hiện :

*Mục Lục – Gốm Sản xuất Ở Miền Đông Nam Bộ

DANH MỤC TỔNG HỢP

MỤC LỤC – BẢO TÀNG

 

Advertisements

Read Full Post »

Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại thành phố Hồ Chí Minh tọa lạc tại số 2 đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, phường Bến Nghé, quận 1, bên cạnh Thảo cầm viên. Đây là nơi bảo tồn và trưng bày hàng chục ngàn hiện vật quí được sưu tầm trong và ngoài nước Việt Nam

Ngày 18 tháng 2 năm 1927 nhà sưu tập Holbé qua đời , đề lại nhiều cổ vật trị giá 45.000 bạc Đông dương ( một số tiền lớn lúc bấy giờ ) . Sau khi vận động một số nhà hảo tâm mua bộ sưu tập lớn đương thời là sưu tập Holbé với hàng ngàn hiện vật, hội Nghiên cứu Đông Dương đem tặng toàn bộ hiện vật mà họ sở hữu cho nhà nước thuộc địa và đề nghị chính phủ thuộc địa Pháp ở Nam Kỳ thành lập Viện Bảo tàng với điều kiện hội được đóng trụ sở và đặt thư viện trong Bảo tàng.

ngày 24-11-1927, Thống đốc Nam kỳ Blanchard de la Brosse ra nghị định thành lập Musée de la Cochinchine tức Bảo tàng Nam kỳ với trụ sở được chọn như hiện nay là tòa nhà lớn đang chuẩn bị xây vào năm sau đó: Năm 1928 – trong Thảo Cầm viên Sài gòn (ở phía trái cổng vào) do kiến trúc sư Delaval vẽ kiểu, mà trước đây dự kiến làm Musée du Riz (Bảo tàng Lúa gạo), sử dụng chung cổng ra vào với Thảo Cầm Viên.

Về mặt quản lý  , trong nghị định thành lập  , Bảo tàng Nam kỳ có quy chế riêng  trực thuộc trường  Viễn Đông Bác cổ , nhưng hội nghiên cứu Đông Dương lại được đặt trụ sở trong Bảo tàng  . Vì vậy  ngày  8 tháng 6 năm 1928, viên Bảo thủ văn thư của Hội  nghiên cứu Đông Dương là Jean Bouchot đồng thời cũng là thành viên của trường Viễn Đông Bác Cổ được cử làm Giám thủ đầu tiên của Bảo tàng  ( tương đương chức Giám Đốc  ) . Sau đó, có lẽ vì muốn cho thấy vai trò của người Pháp trong việc hình thành hệ thống Bảo tàng ở Đông Dương nên ngày 6-8-1928, lại có một nghị định đổi tên Bảo tàng Nam kỳ thành Bảo tàng Blanchard de la Brosse  tức lấy tên người ký nghị định thành lập Bảo tàng làm tên Bảo tàng –  và ngày 1-1-1929 Bảo tàng chính thức ra mắt công chúng.

Nhiệm vụ của Viện Bảo tàng Blanchard de la Brosse là như sau: “… có mục đích tập trung và gìn giữ tất cả các vật cũ ở Đông dương có tính cách mỹ thuật và khảo chứng, đặc biệt là những vật tìm thấy trong những dịp đào đất hay làm công tác gì trên địa hạt Nam kỳ, kể cả những vật điêu khắc riêng biệt mà sự bảo vệ khó thực hiện được chu đáo ở nơi phát hiện vì tình thế, chất liệu hoăc kích thước của vật đó.”

Trong 18 năm tồn tại dưới chính quyền thực dân Pháp . Bảo Tàng Blanchard de la Brosse   trải qua  2 đời Giám Thủ  :

1.    Jean Bouchot : nhà nghiên cứu, Giám thủ từ năm 1928-1932.
2.    Louis Malleret: nhà khảo cổ học, Giám thủ từ năm 1932-1946.

Năm 1945, sau khi Cách Mạng tháng 8 thành công,  Ngày 20 tháng 10 năm ấy, Bộ Quốc gia Giáo dục nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra nghị định đổi tên các Học viện, Thư viện và Bảo tàng. Theo đó, Bảo tàng Blanchard de la Brosse được đổi tên là Gia Định Bảo Tàng Viện. nhưng thực ra chính quyền người Việt ở Nam  Kỳ không  nắm quyền quản lý Bảo tàng mà phải theo mô hình  cũ cũng như nhờ đến sự trợ giúp của người Pháp , đã có những người Pháp do trường Viễn Đông Bác Cổ  biệt phái tiếp tục thay nhau làm Giám Thủ Bảo Tàng  :

1/Louis Malleret , tiếp tục được lưu dụng  1946 – 1948

2/Pierre Dupont  , nhà nghiên cứu – 1948 – 1950

3/Bernard Groslier , chuyên gia nghiên cứu văn hóa Champa -1951-1954

Từ năm 1948 Vương Hồng Sển đã vào làm việc tại Bảo tàng, đến năm 1954 khi cử Vương Hồng Sển làm Quyền Giám thủ, chế độ Sài gòn mới thực sự quản lý Bảo tàng, Bảo tàng không còn trực thuộc hội Nghiên cứu Đông Dương cũng như không còn các nhân viên người Pháp nữa.

Ngày 16 tháng 5 năm 1956, theo nghị định 321-GD/NĐ, chính quyền Sài gòn đổi tên Bảo tàng Blanchard de la Brosse thành viện Bảo tàng Quốc Gia Việt Nam (Sài Gòn). Dưới chế độ Sài gòn, về mặt quản lý, Bảo tàng cũng có quy chế riêng trực thuộc Viện Khảo cổ của bộ Quốc gia Giáo dục (sau là bộ Văn hóa Giáo dục và Thanh niên) chính quyền Sài gòn nhưng căn phòng phía sau đại sảnh bát giác vẫn còn dành cho hội Nghiên cứu Đông Dương làm thư viện hội.

Nhiệm vụ của Viện Bảo tàng Quốc Gia Việt Nam tại Sài Gòn được quy định rất đơn giản

*Nghiên cứu sưu tầm và trưng bày trong viện những di tích và các  tài liêu cổ  thời  thuộc về mỹ thuật , sử học , cổ học và nhân chủng học gồm chung của nước Việt Nam cũng như các nước lân cận hoặc đồng hóa : Trung Hoa , Nhật Bản , Cao  Ly , Cao Miên , Phù Nam , Lào , Thái Lan , Tây Tạng , Ấn Độ , Cổ Chiêm Thành …

*Tập trung về một chỗ và tàng trữ chung tại Viện  những cổ vật hoặc di tích còn ẩn tàng trên lãnh thổ Việt  Nam …

Từ năm 1956- 1975 Bảo tàng đã được quản lý bởi các quản thủ sau:
1.    1956-1964:Vương Hồng Sển, nhà nghiên cứu
2.    1964-1969: Nguyễn Gia Đức, kiến trúc sư
3.    1969-1975: Nghiêm Thẩm, giáo sư Dân tộc học.

.

Sau ngày 30 tháng 4  năm 1975, Bảo tàng được được Chính quyền Cách mạng tiếp thu nguyên vẹn. Sau đó, vào ngày 26 tháng 8  năm 1979, ngành chức năng đã cho đổi tên là Bảo tàng Lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh. Sau đổi lại là Bảo tàng Lịch sử Việt Nam – Thành phố Hồ Chí Minh cho đến nay.

Bảo tàng  Lịch Sử có chức năng bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc qua các hoạt động nghiên cứu , sưu tầm , giám định , kiểm kê , bảo quản , bảo vệ , phục chế , phục hồi , trưng bày , thuyết minh , tuyên truyền , xuất bản , ấn phẩm , maketing … giới thiệu các  tư liệu , hiện vật có liên quan đến lịch sử VN , các nước trong khu vực  nhằm góp phần giáo dục truyền thống cho thế hệ trẻ VN  , đáp ứng  thỏa mãn nhu cầu tìm hiểu  , nghiên cứu  cũng như thưởng ngoạn của khách tham quan trong và ngoài nước  về lịch sử và các  sưu tập cổ vật

Hệ thống trưng bày của Bảo tàng hiện có 2 nội dung :

1/  Lịch sử Việt Nam từ khởi thuỷ đến hết thời Nguyễn (1945) với 10 phòng trưng bày:

* Việt Nam thời Tiền sử

*Thời Hùng Vương

*Thời Đấu tranh giành độc lập dân tộc

*Thời Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý

*Thời Trần

*Văn hoá Champa

*Văn hoá Óc Eo

*Thời Lê

*Thời Tây Sơn

*Thời Nguyễn

2/ Một số sưu tập về lịch sử – văn hoá các nước trong khu vực với 8 phòng và khu trưng bày:

* Tượng Phật một số nước Châu Á:

*Súng thần công thế kỷ 18-19

*Điêu khắc đá Campuchia

*Gốm một số nước Châu Á

*Xác ướp Xóm Cải (TPHCM)

* Sưu tập Vương Hồng Sển

*Văn hoá các thành phần dân tộc phía Nam

*Một phòng trưng bày ngắn hạn luân phiên trưng bày từ 3 đến 9 tháng, giới thiệu những sưu tập cổ vật mới phát hiện.

 

Vị trí và Kiến Trúc

Bảo tàng Blanchard de la Brosse được đặt tại một công thự nằm trong một khu vườn rộng lớn (trở thành Thảo Cầm Viên Sài Gòn  năm 1864) ở phía đông thành Phiên An, gần dinh Tân Xá (do chúa Nguyễn Ánh sai dựng để Giám mục Bá Đa Lộc  làm nơi dạy dỗ Hoàng Tử Cảnh ).

Công thự do kiến trúc sư người Pháp  Delaval thiết kế theo lối Đông Dương cách tân và được hãng  thầu  Etablissements Lamorte Saigon thực hiện trong  3 năm : 1926 – 1927 – 1928

Phần giữa công thự có một khối bát giác (gợi nhớ quan niệm về bát quái củaKinh Dịch ) có 2 nóc mái lợp ngói  ống, có gắn vật trang trí hình phụng , hình rồng  cách điệu. Trên cùng, là 4 quả cầu nhỏ dần và đặt chồng lên nhau. Vì vậy, có người cho rằng phần nóc mái này, mang nhiều yếu tố của kiến trúc cổ Trung Quôc ..

Vào những năm đầu 70 của thế kỷ 20, Bảo tàng được mở rộng diện tích bằng việc xây thêm phần sau dạng chữ U theo thiết kế của kiến trúc sư Nguyễn Bá Lăng. cùng là dãy nhà ba tầng với hai lớp mái, có gắn đầu rồng kiểu gặm trang trí ở các góc mái. Nhờ các cửa đều hướng ra hồ cây cảnh, nên phòng trưng bày khá thoáng mát và sáng sủa.

Thông tin bạn cần biết :

Tại Bảo tàng Lịch sử, quý khách còn có thể tham quan:

1. Đền thờ Hùng Vương- một công trình xây dựng đầu thế kỷ 20 theo kiến trúc cổ Phương Đông được công nhận “Di tích cấp nhà nước” năm 2012- từ năm 1956 được chọn là nơi thờ kính, tưởng nhớ các vua Hùng và các vị Tổ tiên thành lập nước Văn Lang.

2.  Tra cứu tư liệu tại Thư viện Bảo tàng với trên 12000 đầu sách có niên đại từ thế kỷ 19 đến nay với các loại ngôn ngữ: Việt, Pháp, Anh, Hoa, Nhật, Thái…(trước đây là thư viện của Hội Nghiên Cứu Đông Dương, thành lập từ cuối thế kỷ 19).

3. Xem trình diễn Múa Rối Nước- một hình thức biểu diễn văn nghệ dân gian của nước Đại Việt xuất hiện từ hơn 1000 năm trước.

4. Mua sách về cổ vật cũng như những vật dụng kỷ niệm và thưởng thức café trong shop Bảo tàng…

*Giá vé người lớn : 2000 đ

*Miễn phí cho trẻ em từ 15 tuổi trở xuống tham quan Bảo tàng trong dịp hè ( 2012 ).

*Giờ mở cửa  : 8g – 17g từ thứ ba đến  chủ nhật .

*Thứ hai hàng tuần nghỉ  .

* Chụp hình – quay phim  giá vé : 22.000 đ .

* ĐT : 08.38298146  – 38290268  .

* Email  : btlsvnhcm@yahoo.com


Khanhhoathuynga tổng hợp .

Nguồn tham khảo : Bảo tàng Lịch Sử VN – TPHCM

Trích dẫn môt số bài viết của TS Phạm Hữu Công ( PGĐ  BTLSVN – TPHCM ) .

BẢO TÀNG LỊCH SỬ VIỆT NAM – TP.HCM – P I

BẢO TÀNG LỊCH SỬ VIỆT NAM – TP.HCM – P II –  CỔ VẬT MỘT SỐ NƯỚC ĐÔNG NAM Á

BẢO TÀNG LỊCH SỬ VIỆT NAM – TP.HCM – P III –

 

 

MỤC LỤC – BẢO TÀNG 

DANH MỤC TỔNG HỢP

 

Read Full Post »

DANH MỤC TỔNG HỢP

*Bảo tàng lịch sử VN – Tp.HCM

*Bảo tàng mỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh

*Bảo tàng nghệ thuật điêu khắc Chăm

*Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Trang Trí Đồng Nai

Read Full Post »

Viện Bảo Tàng Điêu Khắc Chăm Đà Nẵng tọa lạc tại góc đường Bạch Đằng và Trưng Nữ Vương với diện tích là 6.673 m vuông  . Tòa nhà được thiết kế bởi hai kiến trúc sư người Pháp là Delaval và Auclair. Trong quá trình xây dựng và vận động để đề án được thực hiện có sự đóng góp lớn của chuyên gia khảo cổ Henri Parmentier, của EFEO và là một trong những người đầu tiên có đóng góp quan trọng trong việc sưu tầm, nghiên cứu di sản văn hóa Chăm .

Được xây dựng trên một gò đất cao , toàn bộ phía ngoài  viện bảo tàng sơn một màu vàng nhìn đơn giản và rất cổ kính ,với một không gian thoáng mát và trong lành ,những hàng cây trồng dọc theo các lối đi , cây cổ thụ làm tăng thêm vẻ cổ kính của bảo tàng , phía ngoài khuôn viện của bảo tàng các mảng đài thờ , tượng đá được xếp đặt rải rác  hài hòa với cảnh vật xung quanh , tạo cho người đến tham quan có một cảm giác ngỡ ngàng và  hứng thú khi tiếp xúc với những tác phẩm điêu khắc mà thoạt nhìn ta thấy có vẻ bí ẩn và xa lạ .

Từ những năm cuối thế kỷ XIX  khi một số người Pháp bắt đầu chú ý đến di tích Chăm thì rất nhiều các tháp Chăm đã ở trong tình trạng hư hỏng và đổ nát  , họ là những người Pháp yêu nghành khảo cổ và những người làm việc cho trường Viễn Đông Bác Cổ của Pháp ( L’ École francais d’ Éxtrême – Orient, viết tắt là EFEO) , họ và   những đồng nghiệp người Việt Nam đã cùng nhau bắt đầu  thu thập , bảo tồn và nghiên cứu tác phẩm điêu khắc Chăm .  Đến  đầu thế kỷ XX một số hiện vật được chuyển đi  Pháp , một số được  chuyển ra Bảo Tàng Hà Nội & Bảo Tàng Sài Gòn , nhưng phần nhiều các tác phẩm tiêu biểu vẫn còn để lại tại Đà Nẵng . Từ năm 1902 với ý định xây dựng một bảo tàng tại Đà nẵng để lưu giữ và trưng bày những tác phẩm điêu khắc Chăm mà họ thu thập được và sau 17 năm thì tòa nhà đầu tiên của bảo tàng chính thức hoàn thành .

Bảo tàng điêu khắc Chăm Đà Nẵng được xây dựng năm 1915 chính thức khánh thành vào năm 1919 là một bảo tàng trưng bày các hiện vật Chăm quy mô và độc đáo nhất Việt Nam  chuyên sưu tập , cất giữ và trưng bày các di vật điêu khắc Chăm được tìm thấy ở các tháp , thành lũy Chăm ,  các vùng tại Đà nẵng , Quảng nam và các tỉnh  lân cận   Các tác phẩm được trưng bày ,  lưu giữ tại bảo tàng điêu khắc Chăm là những tác phẩm tượng , đài thờ , phù điêu và vật trang trí , hầu hết là  các tác phẩm  nguyên bản được làm từ 3 chất liệu chính là Sa Thạch ,đất nung và đồng , phần lớn là sa thạch có niên đại từ thế kỷ thứ VII đến thế kỷ XV thuộc nhiều phong cách nghệ thuật khác nhau   được phân  theo các gian tương ứng với các khu vực địa lý nơi chúng được phát hiện như Mỹ Sơn ( thế kỷ thứ VII – VIII )  , Đồng Dương  ( thế kỷ thứ  IX ),  Trà Kiệu ( thế kỷ thứ X ) Tháp Mẫm  ( thế kỷ thứ  XII – XIV ) và các hành lang Quảng Trị , Quảng Nam , Quảng Ngãi , Kon Tum , Quảng Bình và Bình Định . Các tác phẩm  tiêu biểu của nền nghệ thuật này có một vẻ đẹp kỳ lạ độc đáo , gần gũi thiêng liêng , tinh tế  , một thế giới thần linh và kỳ bí  .. tất cả đều sống động , chi tiết và một sức hấp dẫn vô cùng mãnh liệt  . Đó là phần còn lại của cà một hệ thống tín ngưỡng , một kho tàng văn hóa phong phú .

Mặc dầu đã qua hai lần mở rộng , lần đầu là đầu năm 1930 – 1936  xây dựng thêm hai phòng trưng bày hai bên thẳng góc về phía trước của tòa nhà cũ,  để trưng bày các hiện vật thu thập được 1920 – 1930 Theo ý tưởng của Henri Parmentier,  hiện vật được phân loại để trưng bày theo nguồn gốc địa điểm nơi chúng được phát hiện hoặc khai quật. Không gian của toà nhà bảo tàng gần 1000 m2 đã được bố trí thành những khu vực trưng bày, tạm gọi tên như sau:

*Phòng Mỹ Sơn – Quảng Trị,

*Phòng Trà Kiệu,

*Phòng Đồng Dương,

*Phòng Tháp Mẫm

*các hành lang Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Kon Tum.

Ngoài ra còn có một phòng nhỏ làm kho. Cách bố trí không gian trưng bày này cơ bản vẫn được duy trì cho đến hiện nay.

Lần thứ hai xây thêm một toà nhà hai tầng ở phía sau khu nhà cũ, với diện tích sử dụng khoảng 2.000 m2 dành cho việc trưng bày và hơn 500 m2 dành làm kho, xưởng phục chế và phòng làm việc. Tại tầng 1 của khu nhà mới này hiện đang trưng bày những hiện vật trước đó còn để trong kho và một số hiện vật sưu tầm được sau năm 1975. Tầng 2 trưng bày về văn hóa Chăm đương đại bao gồm sưu tập về trang phục, nhạc cụ và hình ảnh lễ hội của đồng bào dân tộc Chăm.

Sau hai lần mở rộng Toàn bộ toà nhà và phong cách kiến trúc ban đầu của bảo tàng vẫn còn giữ lại cho đến ngày nay

Trước năm 2007, Bảo tàng Điêu khắc Chăm là một bộ phận của cơ quan Bảo tàng Đà Nẵng. Ngày 02 tháng 7  năm 2007, Ủy ban nhân dân thành phố Đà Nẵng có Quyết định số 5070/QĐ-UBND về việc thành lập Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng, là một đơn vị độc lập với Bảo tàng Đà Nẵng, trực thuộc Sở Văn hóa – Thông tin, nay là Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thành phố Đà Nẵng.

Hãy đến và hãy ghé tham quan bảo tàng  , đừng bỏ qua nếu bạn có dịp ghé thành phố Đà Nẵng , một điểm đến lý thú và đầy bất ngờ đối với khách du  lịch

Một số thông tin cần biết :

1/ ĐỊA CHỈ :

*Văn Phòng : số 01-  đường Trưng Nữ Vương – Đà Nẵng

*Lối vào tham quan : Số 02 – đường 2 tháng 9 – Đà Nẵng

*Lối ra : Số 02 B  – đương 2 tháng 9 – Đà nẵng

2/ ĐƯỜNG ĐẾN :

* Từ sân bay Đà Nẵng  : đến Bảo tàng khoảng 4 km

*Từ ga xe lửa Đà Nẵng : đến Bảo tàng khoảng 6 km

*Từ Hội An đến Bảo Tàng : Khoảng 30 km

3/ GIỜ MỞ CỬA :

* Từ 7 giờ đến 17 giờ 30 hằng ngày.

4/VÉ VÀO CỬA :

*Người lớn: 30.000 đồng/người

*Học sinh – sinh Viên : 5000 đồng / người  ( xuất trình thẻ  )

*Trẻ em dưới 16 tuổi : miễn phí

5/HƯỚNG DẪN VIÊN :

*Những đoàn khách từ 5 người trở lên có yêu cầu về hướng dẫn viên có thể liên hệ trước tại quầy vé để sắp xếp.

*Thời gian:

từ 8 g –  10 g 30

từ 14 g – 16 g 30.

6/ QUY ĐỊNH :

*Khách đến tham quan phải mua vé.

*Không được mang theo vũ khí, chất nổ, chất dễ cháy vào Bảo tàng.

*Phải gửi hành lý ở phòng thường trực, lưu ý không để tiền, vật quý trong hành lý

*Không sờ vào hiện vật .

*Không hút thuốc trong các gian trưng bày. Giữ gìn trật tự vệ sinh.

*Được phép chụp ảnh, quay phim với máy cầm tay. Các chương trình quay phim, chụp ảnh đặc biệt phải được sự đồng ý của Bảo tàng. Không được sử dụng hình ảnh, phim về Bảo tàng ĐKC và về hiện vật của Bảo tàng ĐKC để in, đăng trên bất kỳ phương tiện thông tin nào, kể cả trên các trang web, khi chưa có sự cho phép của Bảo tàng Điêu khắc Chăm.

7/SƠ ĐỒ BẢO TÀNG

8/LƯU NIỆM :

*Cửa hàng lưu niệm tại hành lang của Bảo tàng hoạt động theo giờ mở cửa của Bảo tàng

9/LIÊN HỆ :

• Quầy vé:

– Tel: (511) 3470114

 • Bảo vệ:

– Tel:  (511) 3572414

 • Phòng Tổ chức – Hành chính:

– Tel: (511) 3470116
– Fax: (84 511) 3574801

 • Phòng Hướng dẫn – Tuyên truyền:
– Tel: (511) 357 2935

 • Phòng Sưu tầm – Bảo quản:
– Tel: (511) 3821951

 • Góp ý : ChamMuseum@gmail.com

Một số hình ảnh được chụp tại bảo tàng điêu khắc Chăm

This slideshow requires JavaScript.

Khanhhoathuynga

MỤC LỤC – BẢO TÀNG 

MỤC LỤC – NGHỆ THUẬT ĐIÊU KHẮC & VĂN HÓA CHĂM

Read Full Post »

Tọa lạc tại số 97 A Phó Đức Chính  – phường Nguyễn Thái Bình – Q 1 – TP Hồ Chí Minh . Bảo tàng Mỹ Thuật  Thành Phố Hồ Chí Minh được thành lập  ngày  05 thánh 09 năm  1987  .

Khu nhà  của Bảo tàng Mỹ Thuật  trước đây là  của dòng họ  Hui  Bon Hoa  –  hay còn gọi là Hứa Bổn Hòa  ( tục gọi là CHú Hỏa  ) , một thương nhân người Hoa  giàu  có và nổi tiếng  nhất  Sài Gòn lúc bấy giờ  . Ngoài ngôi nhà trên  chú Hỏa  còn xây dựng nhiều công trình  nổi tiếng khác như    :  Khách sạn Majestic  , bệnh viện Từ Dũ  , trung tâm cấp cứu Sài Gòn  …..vv

Toà nhà do  ông   Rivea một kiến trúc sư  người Pháp thiết kế  theo phong cách kiến trúc Pháp cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX kết hợp một cách hài hòa của kiến trúc phương Đông trong trang trí bên ngoài, mái ngói, cột ốp gốm và các trang trí bằng gốm trên mái nhà … Trong các toà nhà này đã từng tồn tại nhiều đồ vật có giá trị mỹ thuật bằng nhiều chất liệu và có giá trị thẩm mỹ; từ đồ gỗ cẩn ốc xà cừ, đồ gỗ chạm tinh xảo, đồ gốm …

Khu nhà được xây dựng không phải với công năng của một bảo tàng, mà là nhà ở và làm việc. Đến  năm 1987  ngôi nhà  được cải tạo sửa chữa thành Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh và chính thức mở cửa đón khách tham quan vào cuối tháng 5 /1989  cho đến nay .  Bảo tàng có chức năng nghiên cứu, sưu tầm, bảo quản, trưng bày tài liệu, hiện vật tiêu biểu có giá trị về mỹ thuật và phản ánh  những nét đặc sắc của mỹ thuật cổ Việt Nam , các tác phẩm thế giới, đặc biệt là các tác phẩm mỹ thuật tiêu biểu của khu vực phía Nam.

Bảo tàng Mỹ Thuật thành Phố Hồ Chí Minh là một trung tâm mỹ thuật lớn của Việt Nam , tọa lạc trên một diện tích rộng có không gian đẹp ở trung tâm Thành phố .  với tổng diện tích xây dựng là 3.514 m vuông  gồm 03 tầng lầu . Mặt bằng tổng thể khối nhà hình chữ U  được  đúc kiên cố , tường xây dày từ  40 cm – 60 cm  , cấu trúc bên trong tòa nhà gồm : tầng hầm dành cho khối văn phòng làm việc; tầng trệt dành cho các gallery hoạt động triển lãm và kinh doanh tranh  , lầu 1 là nơi trưng bày tranh tượng mỹ thuật; lầu 2 trưng bày các đồ gốm sứ, thủ công mỹ nghệ truyền thống  .

Ngoài các khu vực trưng bày cũ   , hiện nay  Bảo Tàng mở rông thêm khu trưng bày mới  có diện tích 1500 m vuông là nơi dành riêng để giới thiệu trưng bày các bộ sưu tập mỹ thuật  đặc trưng ,  khu trưng bày mới  này được xây dựng ngay cạnh Bảo tàng Mỹ thuật TP HCM, vẫn thuộc quần thể kiến trúc chung của bảo tàng.

Tháng 5 năm 2012 Bảo tàng đã được công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp thành phố .

Một số hiện vật được trưng bày tại Bảo Tàng Mỹ Thuật  Thành phố Hồ Chí Minh :

1/ Nghệ thuật điêu khắc cổ đồng bằng Nam Bộ

Tại phòng trưng bày nghệ thuật điêu khắc cổ đồng bằng Nam Bộ  gồm có các tác phẩm điêu khắc như các tượng  thần Ấn Độ Giáo và Phật Giáo có niên đại từ thế kỷ IV – XI

Tượng Thần Ấn Độ Giáo : gồm tượng  Vishnu, Surya, Laksmi, Uma, Ganesa, các nam thần và nữ thần có niên đại từ thế kỷ V-XI  với chất liệu sa thạch mịn

tượng Phật có niên đại từ thế kỷ IV – X, chất liệu gỗ bằng lăng và sa thạch mịn. Ngoài ra, còn có các hiện vật kiến trúc như các bức trang trí tạc nổi hình rắn Naga và chim thần Garuda, nam thần.

2/Nghệ thuật điêu khắc cổ Champa

Nghệ Thuật điêu khắc cổ Champa là một trong những nền nghệ thuật đặc sắc trong kho tàng di sản nghệ thuật Việt Nam , với nền văn hóa đa tôn giáo và đa dân tộc của Việt Nam , góp phần không nhỏ vào nền văn hóa đa dạng đó có văn hóa tôn giáo dân tộc Chăm  với nền văn hóa bản địa  lâu đời   ,  khi  các tôn giáo Ấn Độ du nhập vào Champa cũng giống như một số nền văn hóa trong khu vực Nam Á, Đông Nam Á, ngoài những ảnh hưởng tôn giáo của ấn Độ , người Chăm còn tiếp thu  cả nền văn hóa , phong tục và đặc biệt nghệ thuật kiến trúc , điêu khắc của Ấn độ  và   khi tiếp thu những thành tựu văn minh Ấn Độ  , người Chăm đã bản địa hóa  nhanh chóng và  sớm tạo nên những nét độc đáo hấp dẫn  đặc sắc  riêng của một phong cách Chăm trên  từng tác phẩm  điêu khắc  .

Trưng bày  tại bảo tàng Mỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh các bức  tượng  , phù điêu, bán phù điêu thần Ấn Độ Giáo, người, động vật như tượng Kinnara – vũ nữ thiên tiên, người cầu nguyện, phù điêu Dvarapala – thần Hộ Pháp, nữ thần, Kala – quái vật canh giữ đền đài, các hiện vật kiến trúc như đài thờ, trụ cửa, Bán phù điêu nam thần, sư tử. đều có niên đai từ thế kỷ thứ VII – XIV ,      với chất liệu chính là sa thạch thô , đất nung .

Điêu khắc cổ Champa có niên đại chung từ thế kỷ VII – XVI, với các phong cách Mỹ Sơn E1 (thế kỷ VII – VIII), Hòa Lai (đầu thế kỷ IX), Đồng Dương (cuối thế kỷ IX), Trà Kiệu (thế kỷ X), Tháp Mẫm (thế kỷ XII – XIII), Po Klaung Garai (thế kỷ XIV – XVI).

3/Tượng nhà mồ Tây Nguyên – đầu thế kỷ XX

Điêu khắc nhà mồ và tượng nhà mồ ở Tây Nguyên là một mảng điêu khắc khá độc đáo trong nền nghệ thuật điêu khắc Việt Nam. Tục dựng nhà mồ, tạc tượng gắn bó với người dân Tây Nguyên từ trong lòng xã hội nguyên thủy. Một phần từ các quan niệm tín ngưỡng cổ sơ còn lại cho đến ngày nay.
Cũng chính vì nghệ thuật mang tính nguyên thủy luôn tự do không bị hạn chế của chức năng ma thuật nên tượng nhà mồ Tây nguyên khá đa dạng, đặc sắc và không như những dòng nghệ thuật điêu khắc khác, công cụ để làm nên những pho tượng nhà mồ cũng hết sức đơn giản, đơn thuần là những công cụ sản xuất thuần túy: rựa và dao.Có thể nói đây là một biệt tài của nghệ nhân Giarai và Bana. Theo quan niệm của người Giarai, Bana tượng thay thế người, nên những hình tượng được làm quanh nhà mồ không gì khác hơn là để phục vụ cuộc sống vật chất và tinh thần của người chết. Phổ biến là tượng người ngồi khóc, tượng mẹ con, tượng đàn ông hoặc đàn bà khỏa thân, phụ nữ giã gạo…

Tượng nhà mồ ở Tây nguyên (cũng như tượng ở Châu Đại Dương và Châu Phi) đều phát triển theo chiều cao và trong phạm vi hình trụ, vì tất cả tượng đều làm theo thân cây. Ở đây nghệ nhân buộc phải dàn trải ý niệm của mình theo chiều cao và trong khuôn khổ tròn. Cũng do sự giới hạn đó của thân gỗ mà gờ dọc thành mũi, mắt, miệng thường được chạm chìm. Các pho tượng thường có lưng dài, chân ngắn không đúng tỉ lệ, thiếu chi tiết song đều thể hiện khái quát được đặc điểm chính của đối tượng, sự đồng nhất thiên nhiên với con người là sức truyền cảm mạnh mẽ của dòng nghệ thuật này. ( sử dụng nội dung bài trong trang Bảo Tàng Mỹ Thuật TPHCM )

4/Gốm Việt Nam từ thế kỷ XI đến đầu thế kỷ XX

Trải qua bao thăng trầm của lịch sử , ngành gốm truyền thống Việt Nam vẫn phát triển và tồn tại . Dưới thời Lý (1010 – 1225), thời Trần (1226 – 1400), thời Lê (1428 – 1527)   nghề gốm phát triển rất mạnh và đạt tới đỉnh cao của nghệ thuật và cả kỹ thuật , các thợ gốm thời bấy giờ đã cho ra đời một loại gốm quý rất đẹp nổi tiếng trên thế giới đó là gốm  men ngọc  , gốm men nâu , gốm men rạn , gốm hoa lam ….  Kéo dài đến cuối thế kỷ XIX , đầu thế kỷ XX , các trung tâm gốm sứ nổi tiếng ở Việt Nam như Bát Tràng , Thồ Hà , Phù Lãng , Hương Canh , Thanh Hóa , Bình Định , Biên Hòa , Thủ dầu Một  … tiếp tục cho ra đời những sản phẩm gốm hết sức đa dạng và phong phú từ kiểu dáng , chất liệu cho đến những đường net hoa văn được thể hiện trên gốm kết hợp với sự tinh tế điêu luyện và hài hòa  trong kỹ  mỹ thuật chế tác

Bảo Tàng Mỹ Thuật Thành Phố Hồ Chí Minh Trong phần trưng bày gốm Việt  đã giới thiệu một số dòng gốm nổi tiếng để người xem có thể thấy được sự phong phú đa dạng của gốm Việt Nam .

5/Mỹ thuật Nam Bộ thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XX

Cuối thế kỷ XVII  vùng đất Nam Bộ – Việt Nam đã được hình thành  , sự gặp gỡ của những di dân người Hoa với người Việt và Khmer trên vùng đất Nam bộ. Đó cũng là cuộc gặp gỡ của những người nông dân, thợ thủ công, những kẻ lưu lạc vì chiến tranh , đành phải rời bỏ quê hương của mình  ,  tìm đến vùng đất mới này để tạo dựng cho mình một cuộc sống mới . Trong số những lớp người di dân đến vùng đất Nam Bộ ngoài những thương nhân có không ít thợ thủ công , những đóng góp của họ không nhỏ đó là mở mang và phát triển  các hoạt động thủ công nghiệp  . Với khối óc sáng tạo , đôi bàn tay khéo léo   vùng đất Nam bộ  thưở ban đầu khai mở tạo điều kiện cho việc phát huy tài năng , tay nghề của các thợ thủ công  , họ đã sớm nhận ra tiềm năng gốm sứ  và biết tận dụng những nguồn nhiên liệu dồi dào , đất sét tốt  cộng với cả kinh nghiệm để làm ra những sản phẩm gốm sứ đáp ứng nhu cầu của người dân Nam Bộ và kỹ thuật chế tác điêu luyện  đã tạo nên một phong cách đặc sắc trong văn hóa gốm sứ của Việt Nam và vùng đất Nam bộ.

Phòng trưng bày giới thiệu khái quát về mỹ thuật Nam Bộ qua các sưu tập đồ gốm, đồ gỗ, đồ đồng… ở Sài Gòn và các vùng phụ cận từ thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XX.

 

6/Mỹ thuật đồng Việt Nam thế kỷ XIX – XX

Nghề đúc đồng là một nghề thủ công có truyền thống lâu đời ở Việt Nam và đặc biệt phát triển khá mạnh vào thế kỷ XIX.

         

     Theo thời gian, đồng chứng tỏ là một kim loại có nhiều ưu thế trong kỹ thuật chế tác cũng như sự bền chắc và trang trọng. Cùng với sự kết tinh của một bề dày kinh nghiệm, điêu luyện trong kỹ thuật, các nghệ nhân đã mang những cảm xúc thẩm mỹ và sự sáng tạo của mình hòa vào hiện vật. Tất cả đã mang lại cho những sản phẩm đúc đồng một sức sống mới với nhiều phong cách nghệ thuật thông qua các bộ sưu tập lư hương, tượng, ấm, bình… mang những đặc điểm truyền thống riêng biệt từng vùng tiêu biểu như: Ngũ Xã (Hà Nội), Phường Đúc (Huế), Tân Hòa Đông (Sài Gòn)…

 

     Các sản phẩm đồng mang một giá trị mỹ thuật cao trong việc tạo hình là những tư liệu quý góp phần vào việc nghiên cứu nghệ thuật và lịch sử của nghề đúc đồng thủ công Việt Nam.

 

     Bộ sưu tập của Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh rất phong phú, đa dạng về loại hình, kiểu dáng, đồ án trang trí.  ( sử dụng nội dung bài trong trang BTMTTPHCM)

7/ Mỹ thuật đương đại:

trưng bày những tác phẩm (tranh và tượng) tiêu biểu của các tác giả tiêu biểu, đại diện cho các xu hướng sáng tác của:

1.        Mỹ thuật giai đoạn từ đầu thế kỷ XX – 1975.

2.        Mỹ thuật giai đoạn từ 1975 – đến nay.

Thông tin cần biết

  • Bảo tàng Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh
    97A – Phó Đức Chính – phường Nguyễn Thái Bình – Quận 1 – TP. Hồ Chí Minh
    Điện thoại: (08) 38.294.441 – (08) 38.216.331
    Fax: (08) 38.213.508
    Web:   www.baotangmythuattphcm.vn
    Email:  btmthcm@hotmail.com
  • Giờ mở cửa
    Bảo tàng mở cửa từ 9h00 đến 17h00 hàng ngày, nghỉ ngày thứ hai hàng tuần.
  • Vé vào cửa
    * Người lớn: 10.000 đồng/1 người.
    * Trẻ em: 3.000 đồng/1 người.
    * Học sinh, sinh viên, quân nhân, các đối tượng chính sách tham quan tập thể, có chế độ miễn hoặc giảm.
  • Hướng dẫn khác
    * Có hướng dẫn, thuyết minh.
    * Không được quay phim, chụp ảnh trong các phòng trưng bày.
  • Nội quy tham quan
    * Mua vé tại phòng bán vé và xuất trình tại bàn trực.
    * Không được sờ vào hiện vật và tác phẩm trưng bày, mọi hư hỏng do khách gây ra phải chịu trách nhiệm bồi thường đúng giá trị hiện vật.
    * Không mang vũ khí, các chất dễ cháy nổ vào Bảo tàng, hành lý mang theo phải gửi vào tủ hành lý theo đúng quy định.
    * Không được chụp ảnh, quay phim các hiện vật trưng bày khi chưa được phép của Bảo tàng.
    * Giữ vệ sinh chung, không mang thức ăn, nước uống vào các phòng trưng bày.

*Theo thông tin từ cô nhân viên soát vé của bảo Tàng : một quý ( 4 tháng ) Các hiện vật trưng bày trong bảo tàng sẽ được thay đổi trưng bày và sắp xếp lại .

Mời các bạn xem :

 

 

Khanhhoathuynga

 

MỤC LỤC – BẢO TÀNG 

DANH MỤC TỔNG HỢP

Read Full Post »