Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Chín 18th, 2012

Rồng đá, rùa đá bị chặt đầu: Hé lộ những ân oán lịch sử
Có những lời nguyền lịch sử tưởng mãi vùi sâu vào quên lãng. Nhưng có những phát hiện ngẫu nhiên trong lòng đất lại hé lộ những ân oán qua các vụ chặt đầu linh vật (?!).

Gần đây, khi thành nhà Hồ được UNESCO công nhận là di sản thế giới, khi kiểm lại kho báu di sản, các nhà khảo cổ mới thấy ngoài tòa thành đá đẹp nhất Đông Nam Á, các hiện vật phát lộ ngày một nhiều theo các cuộc khai quật khảo cổ, trong số đó có một cặp rồng đá lớn và độc nhất vô nhị, nhưng lại… mất đầu!

Rồng đá bị chặt đầu tại thành nhà Hồ.

Đôi rồng đá này được dân địa phương tìm thấy cách đây 74 năm khi một người nông dân xứ Thanh đang cày ruộng phát hiện được. Nơi tìm thấy rồng đá là giữa trung tâm Hoàng thành của thành Tây Đô này. Nhưng lạ một nỗi, cả đôi rồng đều bị chặt đầu. Không thể là một sự ngẫu nhiên. Từ bấy đến nay, quanh đôi rồng đá có bao sự tích truyền miệng.

Nhiều phóng viên đã lặn lội về tận nơi tìm hiểu thực hư. Nhưng có lẽ mỗi một người đều được giải đáp theo một cách.

Phải chăng rồng bị chặt đầu là do một nhóm người đập nát đầu rồng để tìm ngọc quý giấu trong đôi mắt? Chẳng thể có lý, khi mà chưa một rồng đá nào ở Việt Nam lại được yểm vàng bạc châu báu trong đôi mắt cả, kể cả những đôi rồng đá ở điện Kính Thiên và đền An Dương Vương. Mà những tay ăn trộm cổ vật thì quá khôn ranh, phải tìm đến đúng địa chỉ có cổ vật. Đó là các loại mộ táng, nhất là loại mộ gạch cách đây gần 2.000 năm có các đồ tùy táng quý, kể cả vàng, ngọc. Phần nhiều những mộ này khi khai quật khảo cổ thì đều đã bị đào trộm từ xa xưa mà dấu vết còn nguyên cả một ngách đào từ đỉnh gò mộ xuyên thẳng xuống.

Có thuyết lại cho rằng là do dân làng Xuân Giai ở ven cổng Nam tin rằng, làng hay bị cháy là do đầu rồng quay về hướng làng mà phun lửa, nên phải chặt đầu rồng? Cũng không có khả năng này, vì nếu thế thì nhiều ngôi làng sẽ bị cháy và nhiều rồng đá bị chặt đầu. Mà xem ra, chuyện rồng bị chặt đầu là chuyện hy hữu và chuyện rồng phun lửa đốt làng cũng không phải là tích chuyện phổ biến trong dân gian. Vả lại, chuyện chặt đầu một linh vật như thế, hẳn không phải người trong một làng mà dám làm như vậy.

Truyền thuyết cũng chỉ là truyền thuyết mà nhiều khả năng là truyền thuyết mới có sau khi rồng được đưa lên mặt đất, khó có thể coi là sự thật lịch sử. Mà sử cũ cũng không có dòng nào nói về chuyện chặt đầu rồng hiếm có này.

Đôi rồng đá mang đặc trưng của rồng thời Trần-Hồ, với thân hình uốn khúc, có bờm uốn lượn, bốn chân, ba móng. Chiều dài toàn thân khoảng hơn 3 mét. Rồng được đặt ở thềm bậc của cung điện, nhưng là cung điện nào trong thời đại ngôi thành đá này còn là chốn kinh đô? Cũng còn phải chờ thêm các cuộc khai quật mới trả lời được. Chỉ biết rằng, theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư thì khi đó, trong Hoàng thành có lầu son, gác tía điệp trùng như: điện Hoàng Nguyên, cung Nhân Thọ, cung Phù Dực, Đông Cung, Thái Miếu. Đôi rồng đá khi đó là biểu tượng của một triều đại ngắn ngủi, kéo dài có 7 năm (1400-1407) dưới sự trị vì của Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thương. Một thời điểm có nhiều cải cách cấp tiến như sử dụng tiền giấy, chế độ hạn nô, hạn điền, thi cử, chọn hiền tài…, nhưng cũng là thời điểm đầy những sự kiện bi thương. Lòng người chưa yên, phương Bắc nhà Minh đang rình rập.

Đôi rồng đá bị chặt đầu tại thành nhà Hồ, Thanh Hóa.

Có thể đôi rồng đá bị chặt đầu ngay sau khi triều đại Hồ Hán Thương bị sụp đổ. Ai là người oán ghét triều đại này đến nỗi “giận cá chém thớt”, chém luôn cả biểu tượng của một triều đại? Mọi chuyện dường như có nguyên do từ cuộc “chính biến” năm Kỷ Mão 1399 tức là trước khi Hồ Quý Ly lên ngôi một năm. Khi đó, Thượng tướng quân Trần Khát Chân mưu giết Hồ Quý Ly, nhưng việc bị bại lộ (về sau Trần Khát Chân được Vua Lê Thánh Tôn phong làm Trung thần Nghĩa sĩ). Ông bị hành hình trên núi Đốn Sơn cạnh thành nhà Hồ. 370 người gồm các tướng theo ông và gia quyến bị giết đến nỗi mà thư tịch ghi lại: “con gái bắt làm nô tỳ, con trai từ 1 tuổi trở lên bị chôn sống hoặc bị dìm nước”. Cuộc trả thù còn kéo dài vài năm nữa. Đó cũng là một dấu lặng buồn của lịch sử giống như  Nguyễn Trãi và Nguyễn Thị Lộ cũng bị “tru di tam tộc” trong vụ án oan Lệ Chi Viên, sau vụ án Trần Khát Chân 43 năm.

Những người dám cả gan chặt đầu một linh vật, biểu tượng triều đại, có thể là những người thoát được cuộc trả thù năm Kỷ Mão. Họ đã tìm về mảnh đất còn lưu dấu hình bóng một vương Triều, để chặt đầu rồng và có những lời nguyền lịch sử. Sau đó, lịch sử đã sang trang. Thành nhà Hồ đã trở thành phế tích, đôi rồng đá chứng nhân của lịch sử cũng bị vùi trong lòng đất dễ đến hơn 500 năm.
Những tưởng rồng đá bị chặt đầu đã là chuyện lạ, nhưng ngay cả rùa đá cũng bị chặt đầu. Có lẽ trong tâm thức người xưa, hai con vật thuộc diện “tứ linh” (Long, Ly, Quy, Phượng) mang một ý nghĩa biểu tượng sâu sắc, cho một sự suy thịnh của một vương triều. Vì thế, chém đầu các con vật thiêng này gần như là một cuộc đòi nợ “ân oán” nào đó mà sử sách không ghi lại một dòng nào, nhưng chứa đầy những thông điệp lịch sử không thành văn.

Một tượng rùa đá khá to sẽ mãi mãi chìm trong lòng đất và mang theo bao uẩn khúc của lịch sử, nếu như vào ngày 15/11/2004, các chiến sĩ thuộc Đơn vị E600, Bộ Tư lệnh Cảnh Vệ đã phát hiện ở độ sâu 1,3 m trong lúc đào móng xây dựng doanh trại ở cạnh vườn Bách Thảo Hà Nội. Rùa đá kích thước khá lớn: chiều dài mai rùa đã là 2,01 m. Chiều rộng mai là 1,58 m, chiều cao thân rùa là 43 cm. Tượng rùa là phần bệ để đỡ một tấm bia đá bị mất từ trước.  Một chân đế phẳng có độ dày khoảng 27 cm làm nền cho tượng. Phần thân rùa còn nguyên vẹn, mai có hình gần bầu dục, hơi cong vồng.

Rùa đá bị chặt đầu phát hiện ở gần vườn Bách Thảo, Hà Nội.

Đáng ngạc nhiên là tượng rùa bị chặt đầu và chặt một bên chân sau. Vẫn còn thấy 3 chân còn lại, có 5 móng nhọn sắc, quặp xuống và phần đuôi tròn uốn lượn, nằm vắt lên mai rùa. Rùa bị chặt đầu và chân một cách có chủ ý, vết chặt còn gọn và sắc. Người chặt đầu rùa chắc là phải có ân oán gì đó sâu nặng lắm mới “ra tay” một cách ghê gớm nhường vậy?!.

Đi tìm niên đại của rùa Bách Thảo là một công việc khó khăn, vì rùa đã bị mất đầu, vốn là bộ phận lưu dấu nhiều họa tiết tạo hình đọng lại dấu ấn thời gian. Nhưng qua so sánh với 82 tấm bia ở Văn Miếu khắc tên của 130 vị Tiến sĩ, có thể thấy rùa đá này giống với rùa của bia năm 1466 và 1478 ở đặc điểm chân có 5 móng thò ra ngoài, mai rùa hình bầu dục, cong vồng, phần đuôi cong uốn lượn… Rùa Bách Thảo cũng có nét giống với rùa trên bia đá Lam Kinh, Thanh Hóa. Vì thế, có thể đoán định “ngày sinh” của rùa vào khoảng thời Lê Sơ là hợp lý. Đi tìm lý do nào khiến rùa bị chặt đầu đã hấp dẫn các nhà khảo cổ để giải tỏa nỗi oan khiên, dễ đến khoảng 500 năm cho rùa.

Vị trí rùa được tìm thấy chỉ cách điện Kính Thiên thời Lê khoảng 700 m, liệu có liên quan gì đến Hoàng thành Thăng Long? Đây cũng là địa giới của thôn Khán Sơn xưa, bị phá từ cuối thế kỷ XIX để làm vườn Bách Thảo. Trước đây thôn có một ngôi chùa tên là Khán Sơn tự, có mặt trên bản đồ Hồng Đức từ năm 1490. Liệu đây có phải là rùa đội bia đá chùa Khán Sơn?

Vậy rùa đá có tội gì mà bị chặt đầu? Có lẽ câu trả lời nằm ở chỗ phải có những người ghét cay ghét đắng nhà Lê mới tìm đến để trả thù biểu tượng trường tồn của triều đại này. Họ hoặc con cháu họ bị oan khiên lớn lắm trong thời Lê thì mới tìm về để chặt đầu một vật vô tri vô giác là tượng đá?.

Thực ra, các nhà khoa học còn biết đến 2 con rùa đá bị chặt đầu nữa nằm ngay ở trong khuôn viên Văn Miếu Quốc Tử Giám. Đó là năm 1976, tìm được trong lòng hồ Văn Miếu tượng rùa đá có chiều dài 1,15 m, cũng bị chặt đầu. Năm 1990, lại tìm thêm được một rùa đá nữa dài 1,36 m và đầu cũng bị chặt. Hai con rùa đá này trên lưng vẫn còn được khoét rãnh để đặt bia. Rõ ràng đây là những rùa đá đội bia tiến sĩ. Tiếc rằng bia không còn nữa, vì thế khó đoán niên đại rùa.
Việc khai quật được thêm 2 rùa đá bị chặt đầu ở Văn Miếu, đã cho thấy xưa nay nhiều người quan niệm Văn Miếu chỉ có 82 tấm bia còn nguyên đặt trên lưng 82 con rùa là không chính xác.

Thực ra nếu tra cứu thư tịch cổ, số năm có khoa thi, số năm tổ chức khắc bia thì con số bia và rùa còn nhiều hơn thế. Trải bao năm tháng, bia và rùa cũng tản mát các nơi. May mà 2 rùa đá bị chặt đầu vớt được dưới hồ Văn Miếu, mới nâng tổng số rùa đá lên đến 84 con. Ngày nay, đến Văn Miếu, khách tham quan có thể thấy có 2 con rùa đá để ngay cạnh cổng đi vào khu nhà bia. Vẫn đội mưa nắng vì không có mái che như 82 con rùa đá khác. Cũng một chút ngậm ngùi cho số phận đôi rùa này, người đời giận nhau mà rùa bị chém đầu, nay lại còn không được nằm trong nhà bia như đồng loại.

Bia thì bị vứt, cho đến nay không tìm được. Rùa đội bia cũng mang vạ lây. Có thể đây là cách trả nợ ân oán giữa các triều đại. Khi mà người ta còn thấy một số bia Văn Miếu cũng bị đục bỏ một số chữ, thường là có tên các chúa Trịnh và một số tên các vị tiến sĩ. Một giả thuyết cho rằng khi Vua Minh Mạng nhà Nguyễn Bắc tuần năm 1821, đã ra lệnh đục những chữ liên quan đến chúa Trịnh. Chắc là vị vua này vẫn còn nhớ đến thuở Trịnh – Nguyễn phân tranh thuở nào hay cho rằng chúa Trịnh không thể sắp ngang hàng với vua Lê, kể cả trên bia đá?
Vì thế chuyện rùa bị chặt đầu, nhiều khả năng liên quan đến các ân oán triều đại. Có thể chính rùa đá Bách Thảo cũng là một trong số nhiều rùa vốn đội bia tiến sĩ Văn Miếu, vì thời thế đổi thay mà phải chịu cụt đầu và lưu lạc tới tận thôn Khán Sơn xưa.

Trong tương lai, có thể khảo cổ học sẽ phát hiện ra các tượng rùa đá nữa, vốn là linh vật đội bia Văn Miếu, bị chặt đầu và còn vùi trong đất, vì số lượng bia Văn Miếu vẫn còn chưa đủ so với sử sách ghi lại. Còn nhiều vấn đề ân oán nữa mà chính sử  không ghi, nhưng một điều  cho thấy rằng việc chặt đầu các linh vật như rồng đá, rùa đá cũng là những thông điệp lịch sử quan trọng để nghiên cứu sự thăng trầm của lịch sử cũng như bài học cho các thế hệ sau.

* Ảnh minh họa của Viện Khảo cổ học

Theo PGS.TS Trịnh Sinh (An Ninh Thế Giới)

 

 

 

Advertisements

Read Full Post »

VÀI GIAI THOAI VỀ VỊ HOÀNG ĐẾ TRUNG HOA XUẤT THÂN TỪ ĂN MÀY – CHU NGUYÊN CHƯƠNG

Minh Thái Tổ – Chu Nguyên Chương là người tay không dựng nghiệp lớn, đánh đuổi được người Mông Cổ, giành lại quyền tự chủ của người Hán. Bản thân không có một tấc đất nương thân, nhưng qua tự lực phấn đấu mà khai sáng được giang sơn Đại Minh gần 300 năm. Vì vậy, trong dân gian không chỉ ở Trung Hoa lúc đương thời, mà ở nhiều nước trong khu vực châu Á xưa cũng như nay vẫn còn lưu truyền nhiều giai thoại lạ lùng về ông.

Chén men đỏ dưới men vẽ hoa dây hoa mẫu đơn thời Hồng Vũ  – Bảo Tàng Cung Điện Quốc Gia Đài Loan.

 

I – Vị hoàng đế xuất thân từ ăn mày

Có thể nói, Chu Nguyên Chương là vị Hoàng Đế có một xuất thân khiêm nhường nhất trong lịch sử Trung Hoa. Xuất thân trong một gia đình bần nông, cha mẹ là những nông dân nghèo. Năm 16 tuổi, ông đi chăn gia súc thuê và không lâu sau thì bị chủ đuổi vì lén thui một con gia súc trong đàn để ăn. Năm 1344, một bệnh dịch tấn công làng nơi ông ở và giết chết cha mẹ cùng những người anh lớn chỉ trong vòng vài tuần. Chẳng bao lâu sau, ông phải tá túc làm sư ở một chùa để tránh nạn hạn hán và đói kém, nhưng chùa cũng không thể đủ sức nuôi hết các sư trong chùa, do đó ông lại phải rời chùa để kiếm sống trong 3 năm bằng cách đi ăn mày. Sau đó, ông lại trở về chùa làm sư trong 3 năm nữa. Chính trong thời gian này ông mới bắt đầu học đọc và viết. Cho đến một ngày khi một trong những sư sãi báo với chính quyền rằng ông có những mối liên hệ với một nhóm  băng đảng phản loạn mang tên Hồng Cân ( Khăn đỏ) khiến ông bỏ trốn và tham gia với chính nhóm phản loạn đó chiến đấu chống lại triều đình nhà Nguyên.

Trước khi nhà Minh được sáng lập, Trung Hoa nằm trong tay Nhà Nguyên (1271 – 1368), do người Mông Cổ cai trị. Dù đã Trung Quốc hóa, triều Nguyên vẫn là triều đại của kẻ chinh phục ngoại tộc, do đó trong thời kì này, xã hội Trung Quốc tồn tại hai mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn dân tộc và mâu thuẫn giai cấp. Theo nhiều nhà nghiên cứu, sự kỳ thị của người Mông Cổ với người Hán chính là nguyên nhân số một dẫn tới sự chấm dứt của triều đại này. Sự kỳ thị này dẫn tới nhiều cuộc nổi dậy của nông dân buộc nhà Nguyên phải rút lui về các thảo nguyên Mông Cổ. Tuy nhiên, một số nhà sử học như J.A.G Roberts (giáo sư ngành Lịch sử thuộc Đại học Huddersfield) lại chưa chấp nhận giả thuyết trên. Bên cạnh đó, còn có nhiều nguyên nhân khác dẫn đến sự suy thoái của triều Nguyên như dưới thời Nguyên Huệ Tông, tiền giấy được phát hành quá nhiều khiến gia tăng lạm phát lên gấp mười lần. Ðặc biệt cuối đời Nguyên, người Mông Cổ ngày càng xa xỉ, trong khi đó nông nghiệp trở nên trì trệ, đê điều hỏng nặng không sửa chữa, các loại thiên tai thường xuyên xảy ra, dịch bệnh lan tràn, do đó nhân dân càng khốn khổ. Trong hoàn cảnh ấy, các hình thức tôn giáo như đạo Di Lặc, đạo Bạch Liên và Minh giáo đang âm ỉ lưu truyền rộng rãi trong nhân dân, nhất là ở vùng lưu vực sông Hoàng Hà

Năm 1351, đê Hoàng Hà nhiều lần bị vỡ, nhà Nguyên bất đắc dĩ phải điều 15 vạn dân phu đi đắp đê. Nhân cơ hội ấy, giáo trưởng đạo Bạch Liên là Hàn Sơn Đồng cùng đồ đệ của mình là Lưu Phúc Thông mưu tính việc khởi nghĩa. Ðể tranh thủ sự đồng tình của quần chúng, Lưu Phúc Thông phao tin rằng Hàn Sơn đồng là cháu 8 đời của Tống Huy Tông từ Nhật Bản đem quân về đánh đổ triều Nguyên. Nhưng trong khi chuẩn bị khởi nghĩa thì kế hoạch bị bại lộ. Hàn Sơn Ðồng bị bắt và bị giết chết. Tuy vậy, Lưu Phúc Thông vẫn tiếp tục lãnh đạo khởi nghĩa.
Ðược tin Lưu Phúc Thông dựng cờ khởi nghĩa, nhân dân nhiều nơi nổi dậy hưởng ứng, trong đó có những nhóm tương đối lớn như lực lượng của Từ Thọ Huy ở Hồ Bắc, Quách Tử Hưng ở An Huy. Quần chúng khởi nghĩa đều chít khăn đỏ làm hiệu nên gọi là quân Khăn đỏ ( Hồng Cân quân ). Khẩu hiệu đấu tranh của họ là đánh đổ nhà Nguyên, khôi phục nhà Tống.

Lúc đầu lực lượng khởi nghĩa của Lưu Phúc Thông đã giành được thắng lợi to lớn, đã tôn con Hàn Sơn Ðồng là Tiểu Minh Vương Hàn Lâm Nhi lên làm vua, và đặt tên nước là Ðại Tống. Nhưng đến năm 1363, Lưu Phúc Thông bị Trương Sĩ Thành, một thủ lĩnh nông dân đã thuần phục nhà Nguyên, đánh bại.

Khi quân khăn đỏ của Lưu Phúc Thông đang tiến quân thuận lợi ở miền bắc thì nghĩa quân do Từ Thọ Huy lãnh đạo cũng thu được nhiều thắng lợi ở vùng lưu vực Trường Giang. Năm 1360, Từ Thọ Huy bị một viên tướng của mình là Trần Hữu Lượng giết chết. Trần Hữu Lượng tự xưng là vua, đặt tên nước là Hán. Năm 1362, một tướng khác của Từ Thọ Huy là Minh Ngọc Trân không phục Trần Hữu Lượng cũng xưng vương ở vùng Tứ Xuyên Vân Nam, đặt tên nước là Hạ.

Cũng trong thời kì này, lực lượng quân khăn đỏ do Quách Tử Hưng lãnh đạo không ngừng phát triển. Trong hàng ngũ họ Quách có một nhân vật về sau trở nên rất quan trọng, đó là Chu Nguyên Chương. Chu Nguyên Chương tham gia lực lượng khởi nghĩa do Quách Tử Hưng lảnh đạo năm 1352, đến năm 1355, Quách Tử Hưng chết, Chu Nguyên Chương trở thành người lãnh đạo chính của nghĩa quân. Chu Nguyên Chương là thủ lãnh duy nhất trong số các nhóm quân Hồng Cân là người có thể hiểu được ý nghĩa của việc đói khát. Ông không phí phạm bất cứ cái gì, ngay cả khi đã trở thành một thủ lãnh khu vực. Khi bộ đồ mặc ngoài đã quá cũ và rách ông vẫn dùng nó thay làm lớp áo phía trong, khi nó mòn thêm lần nữa ông lại thay vào lớp bên trong nữa cho đến khi nó không thể được dùng trở lại nữa. Khi một yên ngựa được trang hoàng bằng vàng và ngọc được đưa đến ông , ông từ chối và nói: “Tôi chịu trách nhiệm lãnh đạo vùng này, tôi cần binh lính và người dân, lúa gạo và quần áo hơn tất cả những cái khác, tất cả những của cải không phải là ước nguyện của tôi.”
Năm 1356, Chu Nguyên chương thành lập chính quyền ở Kim Lăng ( Nam Kinh ), được Tiểu Minh Vương Hàn Lâm Nhi  tiến phong làm Ngô quốc công, rồi đến năm 1364 thì xưng làm Ngô vương. Sau khi lần lượt đánh bại các toán quân của Trần Hữu Lượng, Trương Sĩ Thành… đến năm 1367, Chu Nguyên Chương đã thâu tóm hết miền Nam Trung Hoa rộng lớn.
Ngay năm đó, Chu Nguyên Chương sai tướng đem quân đánh miền bắc, đồng thời truyền hịch nói rõ mục đích của việc tiến quân là để đánh đuổi giặc Hồ, khôi phục Trung Hoa, lập lại cương kỉ cứu vớt nhân dân, khôi phục uy nghi cho quan lại người Hán.
Trong khi quân Bắc tiến không ngừng thu được thắng lợi, năm 1368, Chu Nguyên Chương lên ngôi hoàng đế ở Kim Lăng, đặt tên nước là Minh. Mùa thu năm đó, quân đội của Chu Nguyên Chương tấn công Ðại Ðô, triều đình nhà Nguyên vội vàng chạy lên phía Bắc, ra khỏi Trường Thành. Nền thống trị của nhà Nguyên ở Trung Quốc kết thúc. Tiếp đó, Chu Nguyên Chương tiêu diệt thế lực cát cứ của Minh Ngọc Trân và các lực lượng còn lại của triều Nguyên, đến năm 1387 thì hoàn toàn thống nhất Trung Hoa

II – Vị Hoàng đế khiêm nhường

Cuộc nổi dậy thành công và nhà Minh được thành lập năm 1368. Chu Nguyên Chương lên ngôi Hoàng đế, tức là Minh Thái Tổ. Ông lấy niên hiệu là Hồng Vũ, đặt quốc hiệu là Minh, xác lập quyền thống trị quốc gia cho gia tộc họ Chu. Ông đã đặt tên tân triều đại Minh của ông với hai lý do

  1.  Để biểu thị sự tôn trọng tất cả các chỉ huy của các nhóm quân phản loạn Hồng Cân – “Tiểu Minh Vương”. Bằng cách này tất cả những người phục tùng Tiểu Minh Vương cũng sẽ sẵn lòng đi theo nhà Minh của Chu Nguyên Chương.
  2. Minh là một Hán tự được  kết hợp từ hai chữ nhật và nguyệt – mặt  trời và mặt trăng. Các học giả Trung Hoa tin tưởng rằng các nhà cai trị đất nước luôn luôn tôn thờ mặt trời và mặt trăng , như vậy từ Đại Minh đã được dùng cho ý nghĩa tôn thờ này. Bằng cách này ông đã có thể chiếm được sự ủng hộ của các học giả cũng như nhiều giới khác .

Sau khi lên ngôi Hoàng đế, Chu Nguyên Chương vẫn giữ lối sống khiêm nhường như xưa. Một lần ông thấy hai thái giám trẻ tuổi trong cung đình mang những đôi ủng đi mưa mới và đi bộ tung tăng băng qua những đống bùn. Ông đã phạt họ với  lý do những người thợ làm giày đã phải tốn rất nhiều thời gian để làm đôi ủng đi mưa. Nếu những người hầu không quan tâm chăm sóc những đôi ủng là họ đã đi ngược lại ý chỉ của Hoàng Đế, ông sẽ phạt đánh gậy họ để họ nhớ không bao giờ quên. Lại một chuyện khác, có lần ông thấy một cung  nữ ném bỏ đi một đoạn lụa, ông đã triệu tật tất cả các cung nữ lại và khiển trách. Ông tính toán cho họ thấy phải tốn biết bao nhiêu thời gian để làm ra một cuộn lụa, bắt đầu từ việc sinh ra một con tằm, tằm nhả tơ cho đến khi hoàn thành được sản phẩm và rồi sau đó ông ra ý chỉ nếu việc này còn tái phạm thì sẽ không tha thứ mà sẽ bị chặt đầu. Liên quan đến các vật dụng nghi thức cho Hoàng Đế, ông đã ra lệnh phải hết sức tiết kiệm tiền bạc và phải tính toán kỹ lưỡng. Chẳng hạn nếu cái kiệu khiêng cần làm bằng kim loại vàng thì thay vào đó chúng được làm bằng đồng. Long sàng của Hoàng Đế chỉ là một giường bình thường với một khác biệt duy nhất là được khảm một con rồng bằng vàng.

Đồ án trang trí hoa cúc trên một đĩa thời Minh Hồng Vũ – Collection of Montague Meyer. Photo Sotheby’s

Một điều thú vị nữa chính là dưới thời Hồng Vũ, đồ gốm trong cung đình mặc dù vẫn được sản xuất nhưng không có sản phẩm nào được mang hiệu đề Hồng Vũ cả. Để chứng minh thêm rằng dưới thời Hồng Vũ không có đồ gốm sứ nào mang hiệu đề niên hiệu Hồng Vũ, viện bảo tàng Nam Kinh đã khai quật mở rộng địa điểm cung điện của hoàng đế Hồng Vũ tại Nam Kinh và tìm thấy hàng ngàn mảnh vỡ, nhưng không có cái nào được mang hiệu đề niên hiệu Hồng Vũ muốn tìm kiếm. Những món đồ cổ mang hiệu đề Hồng Vũ hiện nay được tìm thấy thực chất là do một nghệ nhân gốm sứ tên Yin-Chou-Sun làm. Yin-Chou-Sun chuyên làm nhái đồ gốm sứ thời đầu Minh vào năm 1937 – 1939. Ông ta đề dòng chữ ” Đại Minh Hồng Vũ niên Chế “‘ lên đồ gốm và trở nên rất nổi tiếng . Vậy nên một món sành sứ với hiệu đề Hồng Vũ thì  có lẽ đến 99,999 % nó là đồ giả. Cách hay nhất và đơn giản nhất để nhận dạng gốm sứ thời Hồng Vũ chính là gốm sứ sẽ mang phong cách nhà Nguyên, nhưng khác với phong cách truyền thống Nguyên. Điều này cũng được phản ánh trong các chính sách pháp trị thời Hồng Vũ, như là luật thuế thời ấy chỉ là ” những luật lệ thuế nhà Nguyên cải tiến ” những chính sách này có một chút xíu phong cách của nhà cai trị Minh.

III – Một vài luồng ý kiến khác về thân phận hoàng đế Chu Nguyên Chương

                                                                                     Xông trầm hình cầu thời Minh Tuyên Đế

 

 Vật dụng kê bút thời Minh Tuyên Đế sản xuất tại nam Giang Tây, mang ký tự Ả Rập nhưng lại có hình dáng liên hệ đến “Ngũ Đại Sơn” của Đạo giáo.

 

Nhiều nguồn cho rằng Hoàng đế Chu Nguyên Chương có xuất thân từ Hồi giáo. Yusuf Chang (Yusuf  là tên thường thấy của người Ả Rập, Chang là họ Trung Quốc), một người Hoa Đạo Hồi tại Đài Loan thừa nhận rằng mình là con cháu xa của Chu Nguyên Chương khi tổ tiên ông đã cưới một vị công chúa nhà Minh. Ông đã trình bày nhiều bằng chứng gây sửng sốt để dẫn chứng cho những  bí mật của tìn ngưỡng đạo hồi trong dòng tộc Đại Minh như sau :

  1. Khi Chu Nguyên Chương còn trẻ gia đình của ông chết vì dịch bệnh và ông đã chôn họ bằng cách cuốn họ trong vải trắng, cuốn người chết bằng vải trắng là phong tục của Đạo Hồi.
  2. Những cận thần gần gũi nhất của Chu Nguyên Chương là những người Đạo Hồi.
  3. Chu Nguyên Chương đã thông qua một đạo luật nghiêm khắc cấm rượu. Có lần Hoàng Đế đã ra lệnh xử tử con của một vị cận thần vì vi phạm luật này. Uống rượu cũng bị nghiêm cấm tại thế giới Hồi Giáo.
  4. Hoàng hậu Ma (vợ Chu Nguyên Chương) là một người Hồi Giáo. Đích thân bà nấu tất cả những bữa ăn cho Chu Nguyên Chương ngay cả sau khi ông trở thành Hoàng Đế.
  5. Màu biểu trưng hoàng gia của triều đại Minh là màu xanh lá, đây cũng là màu biểu trưng của Đạo Hồi .
  6. Chu Nguyên đã ra lệnh xây một ngôi đền Hồi Giáo tại Nam Kinh ngay khi ông lên ngôi và đích thân viết một bài thơ ca tụng Đạo Hồi và giáo chủ Mohamet. Bài thơ này được những người theo Đạo Hồi gọi là “syahada”  – tức tự bạch về lòng kiên trung của họ Chu về Đạo Hồi .
  7. Nhiều người Hồi Giáo đã lên được những thứ bậc cao dưới triều đại nhà Minh. Một ví dụ cụ thẩ nhất là đô đốc Trịnh Hòa. Yusuf Chang công bố rằng Trịnh Hòa được Hoàng Đế nhà Minh gởi đi để thực hiện nhiệm vụ giáo đồ nhân danh ông , bởi vì Hoàng đế không thể làm như thế, và vì ông muốn dấu kín bí mật tín ngưỡng của mình đối với số đông những người không phải là Đạo Hồi. Đạo Hồi cho phép thực hiện theo cách nhân danh này .
  8. Triều Đại nhà Minh đã thiết lập nhựng mối giao hảo tốt với nhiều quốc gia Hồi Giáo.
  9. Lịch Hồi Giáo là lịch được công nhận là lịch chính thức dưới triều đại nhà Minh.

Khánh Hòa – Thúy Nga – Hòa Bình

Việc sử dụng các bài viết trên xin vui lòng liên hệ  : 

thuyngastocks@yahoo.com    –      khanhhoastocks@yahoo.com

 

*MỤC LỤC – GIẢI TRÍ – THƯ GIÃN

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

Read Full Post »