Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Bảy, 2012

Một bài viết về phố Lê Công Kiều – TPHCM  của DENNIS COLEMAN mời các bạn xem .

ĐỒ ĐỒNG BẮT MẮT  , chao đèn và đồng hồ Pháp trường phái Art nouveau , cổ vật Việt Nam hay Trung Quốc ….nếu bạn đang để mắt tìm vài món trang trí hoặc chỉ thuần túy rong chơi ngắm nghía thì đường Lê Công Kiều đúng là nơi vậy gọi , nhưng chớ để cuốn mình theo cơn cám dỗ . Còn nếu tính đến chuyện mua bán nghiêm túc thì hãy tâm niệm câu “” tiền trao cháo múc ‘’ để cẩn trong trong giao dịch , nhất là với giới du khách lượn qua nơi đây để mua sắm trong phút chốc .

Con đường chẳng dài gì . ta có thể đi lướt qua trong vòng mười  phút hoặc chìm đắm trong một cuộc sục sạo lâu lắc hơn …Tôi đã gây dựng được quan hệ giao thương tốt đẹp với một số chủ tiệm ở đây và đối với lưu khách ngắn ngày tôi có lời khuyện chung là cứ thưởng thức cái kho tàng này – giồng như cái thú khám phá kho đồ cũ của bà ngoại  – nhưng việc mua sắm thực thụ để giành cho những ai có thời gian thâm nhập khu này .

Nguyên tắc một   : tránh những tiệm chèo kéo nồng nhiệt  hoặc trưng bày hàng loạt vật phẩm giống nhau . Tôi dám chắc với bạn những món ‘’đồ cổ’’ này có thâm niên chưa tới một năm . Những chủ tiệm điềm đạm và kín đáo thường có những đồ vật giá trị . Đây là những người nên tạo quan hệ mua bán . hãy thử vào tiệm số 21 có chiếc Vespa hồng dựng  trước cửa hoặc đi xuôi chừng mười tiệm , các thiên thần tình yêu đội đèn sẽ chào đón quý khách trong một tiệm tí xíu bề bộn gần ngôi trường học .

Nguyên tắc hai : nên hiểu biết chút đỉnh về những món bạn đang tìm kiếm hoặc nhờ sự giúp đỡ của ai đó am hiểu . Đi cùng một người bạn VN hoặc phiên dịch cũng tốt  , miễn sao người ấy hiểu biết hoặc đành giá được chút đỉnh các món đồ .

Chỉ cần vài câu hoi mào đầu là có thể phân biệt vàng thau .Bất cứ người bán nào khi được hòi về tuổi tác các pho tượng deco hoặc đồ thủy tinh mà trả lời bằng câu ‘’ chừng mấy trăm năm ‘’ thì theo tôi nên khẩn trương giã từ . Tương tự người nào dám quả quyết mớ hộp quẹt Zippo là kỷ vật chiến tranh thì cũng khó có thể coi là nghiêm túc .Những câu phán ẩu về về xứ sở và nguồn gốc ly kỳ của hiện vật cũng nên bỏ ngoài tai . chỉ nên quan tâm đến những thương nhân nào có thể nói về nguồn gốc của đồ vật một cách chi tiết hơn bình thường .

Sau khi cân nhắc  thận trọng mới nên tiến đến đánh giá món hàng mình muốn mua  có đúng là món họ trình bày hay không  , để mua với một giá phải chăng và cũng nên quan tâm đến việc khai hải quan và các thông số tương thích về điện chẳng hạn .

Với những ai mê các món kiểu Pháp và kiểu Victoria thì sẽ không tránh khỏi bị mê hoặc bởi các ngọn đèn dầu tinh xảo  , các chân nến và chụp đèn đủ màu sắc và đường nét . Chúng được đội trên đầu các thiên thần tình yêu hoặc gắn trong các chùm trang trí trần nhà khiến ai đó cảm thấy có sứ mạng phải giải thoát chúng khỏi chốn bụi băm này để đưa về một nơi lộng lẫy nào đó ở Sài Gòn hay ngoại quốc  . Điều kỳ diệu là một số chụp đèn thủy tinh , màu hồng hoa anh thảo . màu xanh vỏ chanh tao nhã hay màu trắng đục mờ , đã sống sót qua chiến tranh điêu tàn và bao bàn tay phũ phàng sẵn sang khoái trá quẳng đi những tạo vật đẹp đẽ chỉ đơn thuần vì chúng đã trở nên cũ kỹ .

Tuy nhiên nếu săm soi kỹ lưỡng , nhất là với con mắt nhà nghề như anh chàng Piers Allbrook bạn tôi  , thì thường thấy các món đồ là một sự giao duyên giữa tân và cựu .

Thử bắt đầu với ‘’’ đồ đồng ‘’ một từ được dùng rất dễ dãi  , mà khởi thủy nghĩa là hợp kim của đồng đỏ với thiếc nhưng thường được pha nhiều hợp chất khác . đây không phải điểm trọng tâm , mà vấn đề ta quan tâm nhiều hơn là nó được tạo hình thế nào và gọt giũa ra sao . Chính những nhà buôn có uy tín cũng thú nhận rắng mấy bức tượng đồng thiên thần tính ái và chân đuốc cổ điển thường chẳng thuộc thời art deco của Pháp mà được chế tạo trong vùng .Nhữn món nguyên thủy sẽ có dáng vẻ đồng nhất , tinh xảo và mềm mại hơn . Đồ đồng tốt thường có đường khắc sắc sảo , minh bạch và không có đường ráp như trường hợp các món đồ thời nay được đổ khuôn hai nửa ráp lại .

Có những món xem kỹ thấy được làm từ khuôn riêng và rỗng ruột , được hàn theo kiểu hiện đại , khác với kiểu hàn đổ khuôn ép trước kia . Miết ngón tay lên bề mặt hoặc nhìn dưới ánh mặt trời sẽ thấy được cách chế tạo này .Nhớ luôn luôn nhìn dưới đế món hàng , nhưng nếu muốn làm thế với một cái chân đèn cao vài bộ , chóa thủy tinh thì trí thông minh va phép lịch sự sẽ mách bạn phải nhờ họ tháo cái bòng đèn ra trước kẻo phải móc túi đền cho một mớ mảnh vụn ! Xem xét đồ xưa từ dưới đế , ngoài chuyện khám phá về tuổi tác còn đem lại cho ta nhiều thông tin xác thực khác .Những chiếc bù loong  hay đinh vít thời nay gần dưới đế là chứng cứ rành rành ! Một điểm nữa  : các bức tượng đồng thủ công khác với tượng sản xuất trong xưởng ở chỗ chúng có những vết khiếm khuyết rất riêng giống như những người thợ đã tạo ra chúng .

Cũng như đồng , đồ thủy tinh cũng đòi hỏi phân tích cẩn thận . Mặc dù nhiều món thủy tinh giả cổ ngày nay chỉ đơn thuần thuộc loại thô , các nghệ nhân ngày càng lão luyện trong việc sáng tạo những kỹ thuật phục chế . Tất cả thủy tinh làm bằng tay đều mang dấu ấn của que sắt kẹp trong quá trình thổi thủy tinh  – dấu ấn này không nói lên tuổi tác mà chủ yếu là chất lượng .

Nếu bạn đang nghiêm túc mua một món đồ thủy tinh kiểu deco thì hãy tìm kiếm dấu ấn những năm tháng phai mòn dưới đế . Những tỉ lệ kích thước quá hoàn hảo chứng tỏ sản phẩm được chế tạo hàng loạt chứ không phải làm thủ công từng chiếc .

Cón nếu nói về những bảo vật cao cấp như thủy tinh Galle and Daum thì cái giá không bao giờ dưới mức năm con số 0 nếu bạn muốn có được sản phẩm của những nghệ nhân trường phái Art Nouveau  này . Những chiếc đèn thủy tinh Galle dùng đá chạm hoặc kỹ thuật ghép lớp , ghép hoa văn thành lớp rồi cắt bằng acid để phơi ra mẫu thiết kế hình hoa lá hoặc phong cách mơ màng đến bất ngờ  . Cón rất nhiều điều để tìm hiểu nếu bạn đam mê thủy tinh nhưng nếu chỉ muốn tìm một tạo vật đáng mặt và đáng tiền thì Lê Công Kiều có khá nhiều .

Trừ phi bạn đang chuẩn bị lấy học vị khảo cổ hoặc nghiền ngẫm những cuốn như ‘’ Các kho tàng ở Hội An “” catalogue của Butterfield  năm  2000 hoặc ‘’ gốm Việt Nam ‘’ ( song ngữ Việt Anh , nhà sản xuất bản mỹ thuật , 1996 ) hoặc hoàn toàn sành sõi qui định hải quan khi định mang các món đồ ra khỏi Việt Nam ( giả sử như đó là ‘’hàng xịn ‘’ ) , còn lại thì không nên động đến mảng cổ vật này . nếu món đó có chút gì đó hao hao giống với bảo vật thì bạn có khả năng phải trình với bộ văn hóa ở Hà Nội để xin chứng nhận , đóng thuế hoặc có cả nguy cơ bị thu hồi . Những món bằng ngà cũng nằm trong danh sách hàng hóa bất hợp pháp cho nên nếu không muốn mua phải hàng nhái làm bằng nhựa thông hoặc xương bo thì bạn cũng  không nên động đến mảng này .

Những ai nhớ nhung sài Gòn xưa có thể sục sạo trong đống ảnh đen trắng để tìm vài tấm mang về nhà treo lưu niệm trên tường .Nhiều bức có ca chữ viết phía sau  – có khi là một chút vết tích về số phân những con người xa xứ nay gọi là Việt Kiều .

Dù sao đi nữa , hãy sắm vai khách mua thân thiện để thưởng thức dãy kho tàng thích thú này .

 

DENNIS COLEMAN

 

 

Đúng như lời DENNIS COLEMAN nói  hãy sắm vai khách mua thân thiện để thưởng thức dãy kho tàng thích thú này … từ phố LCK này ta cũng có thể học hỏi được rất nhiều từ cách mua bán , giá cả hoặc những kinh nghiệm của họ  ,  nếu bạn là khách quen tại một cưa hàng náo đó , bạn có thể thoải mái lục lọi  , hoặc ngồi nói chuyện với họ hàng giờ mà có khi chẳng phải mua món gì cả  , vẫn niềm nở vẫn ần cần tiếp đón bạn một cách nhiệt tình  , đôi khi họ mua được những món đồ đúng với sở thích của mình , họ gọi điện thoại  nhắn tin hoặc để dành khi nào mình đến thì giới thiệu cho mình , đó cũng là một lợi thế khi là một khách quen của họ …..về giá cả thì ta cứ thoải mái trả giá  , vừa túi tiền ta đúng giá của họ thì ok …nhưng nếu bạn là dân mới tới phố lần đầu thì bạn cũng nên thận trong với những giá cả họ phán ra , bạn sẽ rất ngại khi phải trả giá một món đồ nếu chưa mua quen ở phố này , tình trạng nói thách của họ với giá nào của bạn trả cũng có thể …..bị hớ  , bây giờ ngoài dãy phố LCK  có nhiều cửa hàng đã mọc lên thêm trên con đường Nguyễn Thái Bình   một con đường cắt ngang đầu phố LCK …

Phố Lê công Kiều bây giờ chẳng còn nhộn nhịp như xưa nữa  , chắc có lẽ do tình hình kinh tế suy thoái  nên túi tiền của những người thích đồ xưa , đồ cũ ……cũng co lại  .Một buổi chiều tháng tư lang thang ngoài phố lê Công Kiều , con  đường tuy chẳng dài bao nhiêu ta có thể nhìn thấy từ đầu đường đến cuối đường một cảnh vật thật vắng vẻ và buồn ảm đạm , khg một bóng du khách hay những người khách thích thú với những  món đồ xưa cũ thường hay lùng sục tại các vỉa  hè phố LCK , chỉ thấy chủ cửa tiệm với những cái ngáp dài , đôi mắt mơ màng nhìn …. đâu đó , nhưng chính vì thế mà ta có thể mua được những món đồ ưng ý với một giá rẻ bất ngờ ….

Khanhhoathuynga .

*MỤC LỤC – GIẢI TRÍ – THƯ GIÃN

Advertisements

Read Full Post »

Tặng em Nguyễn Chí Hiền người đam mê cổ vật với hoài bão lớn .

 

Đồ cổ , như ta đã biết , được làm ra từ hàng trăm năm về trước , càng lâu đời càng quý , lâu đời và chất liệu độc đáo , làm đơn chiếc , hiếm thấy lại càng quý giá hơn .Một pho tượng cổ , một bức tranh cổ có thể trị giá bằng cả một tòa nhà . Một bộ tam đa cổ ( ba ông ) bằng gốm có thể bán tới 4-5 cây vàng .

Do đồ cổ là thứ hàng xưa đều rất đắt nên người ta tìm mọi cách để làm giả . Làm giả đồ cổ trở thành một loại nghề nghiệp hốt bạc , khá phổ biến ở Việt Nam , cũng như trên thế giới .Những vật dụng được sản xuất hôm nay không thể coi là đồ cổ , nếu làm giống như đồ cổ thì chỉ là thứ đồ giả cổ .Tuy giả cổ , song chúng rất được giá . Đương nhiên , làm đồ giả cổ phải rất công phu , như đồ gỗ , đồ gốm , đồ đồng giả cổ  chẳng hạn . Hiện nay , nghề làm đồ giả cổ phát triển mạnh . đem lại nguồn thi khá lớn cho ngân sách nhà nước , giải quyết công ăn việc làm cho hàng triệu lao động trong cả nước , có ý nghĩa tích cực về đời sống kinh tế – xã hội , đáp ứng nhu cầu ngày càng tang của người tiêu dung trong và ngoài nước .Điều đó giải thích vì sao hàng giả cổ chẳng những không bị cấm mà còn khuyến khích sản xuất , trong khi các loại hàng giả khác đều bị cấm sản xuất và buôn bán .

Tuy vậy , lợi dụng tính hợp pháp của việc sản xuất , kinh doanh các mặt hàng giả cổ , một số người đã làm đồ cổ giả để đánh lừa khách hàng . Bằng các thủ pháp kỹ thuật , họ làm cho đồ giả ‘’ có màu thời gian ‘’ , biến đồ giả thành đồ cổ thật và bán cho những khách hàng cả tin với giá cắt cổ . Việc sản xuất , kinh doanh kiểu ấy được coi là hoạt động phi pháp , cần phải nghiêm trị , bởi vì nó làm phương hại đến lợi ích chính đáng của người tiêu dung , gây hậu quả xấu về kinh tế , xã hôi .

1/ ĐỒ GIẢ CỔ VÀ ĐỒ CỔ – THẬT GIẢ LẪN LỘN

Trên thế giới , việc làm đồ cổ giả đã diễn ra khá phổ biến ở bất cứ thời kỳ nào . Không hiếm những người thành thạo trong lĩnh vực này , mà một đại diện trong số họ V.Migio ( Meegere ) .

Năm 1947 , tãi Amsterdam , thay vì lãnh án tù chung thân về tội thông đồng với phát xít Đức chống lại lợi ích quốc gia , V.Migio chỉ bị tòa kết án một năm tù vì tội mạo chữ ký của danh họa Hà Lan Van Vermeer . Nguyên do là V.Migio đã từng bán cho Gocring một tên trùm phát xít Đức bức kiệt tác Chúa Cứu Thế và con dâm  phụ  do Van- Vec-mia  sang tác từ thế kỷ XVII . Nhưng trước tòa V-Migio đã chứng minh bằng tài nghệ của mình – kiệt tác mà ông bán cho Gocring chỉ là một bức tranh giả của kiệt tác kia … và đến lúc ấy , người ta mới biết rằng : từ năm 1936 đến khi phải ra tòa , V-Migio đã làm và bán trót lọt  8 bức tranh giả cổ , mỗi bức 60- 120 nghìn livres , cho một số nhà bảo tàng lớn và giới sưu tập tranh chuyên nghiệp .

Để qua được con mắt các nhà chuyên môn , nói cách khác là ‘’ qua mắt thiên hạ ‘’, là V-Migio phải bỏ ra  ba năm khổ luyện tay cọ cho nét vẽ giống hệt bút pháp của Van Vermeer . Sau đó , ông sưu tầm những tranh cùng cỡ , cùng thời với tranh của Van Vermeer , đem tẩy rửa sạch lớp sơn dầu cũ cho thật khéo để có các tấm vải nền cùng thời với vải nền các tranh vẽ vào thế kỷ XVII . Tranh giả khi vẽ xong lại phải làm lại cho cũ đi , giới làm đồ giả gọi  ‘’ nhuốm màu thời gian ‘’ . Tranh sơn dầu cũ thường có vết ran . V.Migio đã dung loại dầu đặc biệt để pha sơn , để sao cho khi sấy nóng tranh không đổi màu mà vẫn rạn mặt , đó là cách làm giả rất tinh vi của ông .

Người ta thán phục V.Migio bởi  các tranh giả cổ của ông tinh xảo và hoàn thiện đến mức , những chuyện viên sừng sỏ trong nghề giám định , có sự giúp sức của các thiết bị hiện đại , chuyện dụng trong thẩm định cũ , mới cũng phải bó tay . Những người làm đồ cổ giả cỡ như V.Migio tuy không nhiều , nhưng ở đâu và thời nào cũng có . Một lần , có nhà nghiên cứu đem đến một bức tranh có chữ ký của Picasso để hỏi nhà danh họa có phải tranh của ông không . Picasso nhìn kỹ tác phẩm rồi thốt lên : đúng là chữ ký của ông , nhưng chính ông cũng không biết đấy có phải tranh của mình hay tranh giả !

Những người làm tranh giả , tranh cổ giả và đồ cổ giả nói chung , phần lớn đếu là nghệ nhân vô danh , đầy tài năng ,am tường về đồ cổ . Họ có tài , lại thừa hưởng kho kinh nghiệm quý báu trong các nghề thủ công truyền thống do các thế hệ trước tích lũy , lưu truyền .Trong số họ phải kể đến các chuyên gia phục chế cổ vật của các viện bảo tàng . Nghề phục chế cổ vật có vai trò quan trọng trong việc trả lại cho hiện vật bộ mặt ban đầu của nó , nhân bản cổ vật quý hiếm để trưng bày , nhằm bảo vệ cổ vật gốc trước nạn đánh cắp gia tăng , đồng thời để cung cấp bản sao cổ vật cho các bảo tàng và có thể bán cho các nhà sưu tầm .

So với đồ cổ thật , sản phẩm được làm giả vừa phải đúng về chất liệu , kích cỡ , trọng lượng , vừa phải có ‘’ màu thời gian ‘’ và phải hệt như bản gốc ngay cả những vết sứt sẹo , rạn nứt nhỏ nhất .

Ở Việt Nam , nghề làm đồ cổ giả cũng có lịch sử lâu đời , với không ít nghệ nhân vô danh và lưu danh .

Năm 1903 , thành lập trường Mỹ Nghệ Thực Hành  Biên Hòa , người Pháp đặt vào đó hy vọng đào tạo những lớp thợ giỏi để có thể sản xuất hàng loạt đồ gốm giả cổ Trung Quốc , bởi họ biết rõ thế mạnh của các nghệ nhân Việt Nam ( khéo tay , cần cù , óc sáng tạo , tính nhạy bén tiếp thu cái mới … ) Thế nhưng phải mất 18 năm nghiên cứu , thực nghiệm với sự hỗ trợ của chuyên viên cao cấp người Pháp về gốm  , trường này mới tìm ra kỹ thuật sản xuất gốm cổ – đó là cách chế men gốm cổ , loại đất sét làm xương gốm và độ lửa nung gốm cần thiết xưa .

Đầu những năm 60 của thế kỷ XX , hang Thành Lễ , một cơ sở tư nhân chuyên sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ tại Thủ Dầu Một ( Sông Bé ) đã khá nổi tiếng , cũng bắt đầu chập chững đi tìm kỹ thuật làm đồ gốm giả cổ .Phương pháp tìm tòi , thể nghiệm của hang Thành lễ được tiến hành như sau :

-Bước đầu tiên là sưu tầm , hãng cử người đi khắp nơi săn lung , tìm mua các loại đồ gốm cổ của Việt Nam và của Trung Quốc .

-Bước hai – nghiên cứu và thẩm định , khi có số lượng đồ cổ cần thiết , hãng mới mời chuyên viên về gốm ( đa số đã tốt nghiệp Phân ban Gốm của trường Mỹ Nghệ Thực hành Biên Hòa ) và các họa sĩ có tài đến xem xét kỹ lưỡng kiểu dáng , hoa văn , họa tiết , thẩm định chất liệu gốm ( xương gốm , men , độ nung .. .) xác đinh niên đại và xuất xứ từng loại , từng thứ cổ vật .

-Bước cuối cùng là thử nghiệm , sản xuất . Khi đã nghiên cứu , phân tích mọi mặt , nắm vững về chất liệu và kỹ thuật hãng bắt tay vào sản xuất thử nghiệm và thử mãi đến khi thành công mới tiến hành sản xuất hàng loạt để bán ra thị trường . Ở cơ sở Thành Lễ , việc nghiên cứu gốm cổ tiến hành trên cả hai mặt , đó là tìm hiểu các kiến thức gốm trong sách vở , tài liệu va phân tích sâu sắc từ trên sản phẩm gốm xưa, đem kết quả thu được đưa vào thử nghiệm sản xuất .

Do tiến hành nghiên cứu , sản xuất rất công phu , có phương pháp khoa học như thế , nên trước năm 1975 hãng Thành Lễ đã làm ra nhiều chủng loại gốm giả cổ : đồ đất nung , gốm thô , gốm men ngọc , men hoa nâu , men Celadon .vv…Nghĩa là , Thành Lễ trên thực tế đã làm được hàng loạt đồ cổ giả như đồ cổ thời Lý , Trần , Lê , Nguyễn của Việt Nam , cũng như giả đồ cổ các đời Xuân – Thu chiến quốc , Khang Hy , Càn Long … của Trung Quốc .

Sự kinh doanh  đồ cổ  kéo theo việc săn tìm đồ cổ . Kinh doanh đồ cổ phát triển rầm rộ còn lôi cuốn những người làm đồ giả cổ và cả đồ cổ giả . Ngoài kết quả sản xuất đồ gốm giả cổ của cơ sở Thành Lễ , các nghệ nhân có tay nghề cao ở nhiều địa phương trong nước đã tìm cách làm ra các đồ gỗ giả cổ , các sản phẩm khắc đá , đúc đồng giả cổ …. Được khách hàng rất ưa chuộng .

Tuy kỹ thuật làm cho các sản phẩm giả cổ có ‘’ màu thời gian ‘’ nhiều khi rất thô sơ , nhưng nhờ khéo tay , một số ‘’ nghệ nhân ‘’ đã làm cho đồ giả y như đồ cổ thật .Hoạt động này đã gây rất nhiều khó khăn trong  xã hội , làm cho người mua bị mắc lừa , thậm chí ngay cả các chuyên viên giám định đồ cổ ở các cửa khẩu cũng không phân định rạch ròi đâu là đồ cổ , đâu là đồ cổ giả , nếu họ thiếu kinh nghiệm và sự thận trọng cần thiết .

Mấy năm gần đây , tham gia vào  việc làm đồ cổ giả còn có một số xí nghiệp , công ty và một số cơ quan nhà nước . Các cơ sở sản xuất gốm sứ Bát Tràng đua nhau làm đồ gốm sứ giả cổ . Một số hộ đúc đồng Ngũ Xá ( Hà Nội ) làm nhiều đồ đồng giả cổ . Nhìn chung các đơn vị chế tạo đồ giả cổ đang cố gắng thực hiện chương trình nghiên cứu một cách nghiêm túc về đồ cổ .Mục đích cuối cùng của họ là làm được các loại sản phẩm hoàn hảo . Để làm được các sản phẩm giả cổ chất lượng cao , các nghệ nhân , các chuyên gia đang cố gắng kế thừa những kinh nghiệmcổ truyền , kết hợp kinh nghiệm quý báu ấy với các thành tực khoa học – kỹ thuật hiện đại , khắc phục dần nhược điểm , yếu kém trong nghề làm đồ giả cổ ở nước ta .Chúng tôi xin nhấn mạnh rằng  : sản xuất các mặt hàng giả cổ hiện đang là thế mạnh của ngành thủ công mỹ nghệ Việt Nam , xuất khẩu và tiêu thụ hàng giả cổ trên thị trường trong nước đã thu cho ngân sách nhà nước khoản tiền lớn .Nhưng , ngay ở lĩnh vực sản xuất kinh doanh này rõ ràng vẫn có sự lấn cấn ít nhiều giữa giả và thật . Hơn nữa , một số người đã và đang chế tạo ra những đồ cổ giả rồi tung vào ‘’thị trường ngầm ‘’ càng làm cho tình hình quản lý , mua bán đố cổ phức tạp hơn .

2/KỸ THUẬT LÀM ĐỒ CỔ GIẢ – ĐỒ ‘’ THẬT GIẢ ‘’ TRÊN THỊ TRƯỜNG

Đồ cổ vốn đắt giá . Vì thế , đồ cổ giả thường đem lại những khoản lợi kếch xù cho người làm ra và người kinh doanh nó . Song công việc làm đồ cổ giả đến mức tinh xảo và hoàn thiện thì không phải là dễ dàng . Quá trình tìm đạt các yếu tố cần và đủ để món đồ giả được chấp nhận như đồ cổ thật là quá trình đầy gian nan , tốn phí nhiều thời gian , công sức , tiền bạc … kinh nghiệm trong lĩnh vưc  này vì vậy luôn luôn là bí quyết , bí mật , nhiều khi vĩnh viễn thất truyền .

Đồ cổ tức là các vật dụng ,   hiện vật xưa , phải lâu đời , phải mang cái màu đặc trưng “’màu thời gian ‘’ . Vậy mà những đồng tiền cổ thời Hồng Đức , tiền đồng thời Minh Mạng , thới Vạn Lịch … đậm nét dấu vết tàn phá của thời gian , được bày bán trong các hộp nhỏ hoặc trong tủ kính dọc đường Đồng Khởi ( TPHCM ) thường là ‘’ đồ cổ ‘’ mới làm hôm qua !Giới làm đồ cổ giả ( đồ dởm ) biết cách tạo ra ‘’màu thời gian ‘’ đơn giản mà rất nghệ thuật , đống và thau hóa ra màu rỉ xanh đặc biệt , kẽm hóa ra màu xám , xỉn , đồng đỏ hóa đồng đen , giấy mới tinh hóa thành giấy cũ ố vàng … Thực sự kỹ thuật này không có gì phức tạp .

Để có ‘’ màu thời gian ‘’, biến vật mới thành cũ , người ta chỉ việc ngâm đồ kim khí vào a- xít trong một thời gian cần thiết , lâu hay mau tùy ý . Không cần cọ rửa kỹ , rồi để chừng vài giờ , vật kim khí bị ăn mòn ít nhiều ấy sẽ có màu xỉn và trở nên u ám như đã chon vùi hàng thế kỷ .

Muốn có một văn bản cổ ư ? người ta dung loại giấy dó thủ công , đem viết bằng bút long , mực tàu một bài văn bản cổ bằng chữ Hán hoặc chữ Nôm ,hoặc kiếm loại giấy khá dày ( chọn giấy sản xuất thủ công càng tốt ) đem viết một văn tự chuyển nhượng nào đó bằng loại ngòi bút cũ như loại ngòi là tre , ngòi búp đa , ngòi viết rông (rond) , với mực gói pha và kiểu  chữ  gô –tích ( gothique ) chứ tuyệt đối không dung bút bi , bút dạ là các loại bút viết và loại mực mới xuất hiện gần đây . Văn bản được nhúng qua nước Javel cho phai nhạt bớt màu giấy mực mới , rồi phơi khô .Xong đem nhuộm ‘’ màu thời gian ‘’bằng … nước trà đặc . cần cho chỗ đậm nhạt chỗ nhạt chỉ việc tạo bằng cách điểm xuyết cho văn bản vài giọt javel vài giọt nước trà .Để tạo giấy nhăn nheo , người ta kiên trì ngồi xếp lại thành tập rồi mở ra hàng trăm lần . Muốn cho nó mềm nhũn thì lấy ống sắt mà cán .

Văn bản thời trước , nhất là thời Pháp thuộc ,thường có dấu rỉ sắt đinh ghim . Người ta dùng kim ghăm , kẹp sắt ngâm acid loãng rồi đem ghim tập văn bản đã xử lý trên . Còn con dấu và chữ ký chỉ là việc vặt vãnh của những người có tay nghề làm giả . Các văn bản cổ giả như vậy dễ dàng gây cho ta niềm tin rằng chúng vừa được lấy ra từ một ván khố cổ của kho lưu trữ nào đó và đấy là một tài liệu gốc!

Các tranh giả mới vẽ , mới sao chép hôm qua mà trông như đã để hàng trăm năm trong các bảo tàng hay trong các bộ sưu tập tư nhân .Kỹ thuật khá đơn giản : cho tranh vào lò sấy như lò bánh mì . Chừng vài giờ sau thì cả khung gỗ , cả mặt tranh đều có những vết rạn đầy nghệ thuật . Bụi thời gian ư ? có gì khó . Qua một số công đoạn kể trên , tức khắc nó được liệt vào loại tranh cổ . Còn giá bán tranh thì tùy đối tượng cần mua .

Đồ gốm , sứ cũng không thoát khỏi cảnh bị làm giả . Làm một chiếc bát cổ , lọ cổ rạn vỏ trứng , rạn vảy rắn , rạn hột mè cũng không phải là chuyện khó . Người ta làm cho nó nóng nguội đột ngột là men bị rạn ngay . Rồi đem ngâm nó vào nước trà đặc . Cách này có  thể tạo ra các đồ gốm men rạn y như đồ được làm từ thời Lý , Trần , Lê vậy .Chỉ có điều làm gốm men rạn giả , sau khi tạo vết rạn trong môi trường nhiệt bất thường , người ta nhúng nó trong chậu mực xanh để mực ngấm vào sâu trong men gốm theo các vết rạn nứt , rồi mới nhúng vào nước trà để tạo ‘’ màu thời gian ‘’ .

Nhiều loại tượng gỗ , tượng đá , tương đồng cổ được làm giả không chỉ bằng trình độ cao về kỹ thuật mà còn bằng các thủ thuật . Chẳng hạn trường hợp pho tượng cổ Chăm bằng đá được làm giả bằng  xảo thuật :những công đoạn cuối cùng hoàn chỉnh pho tượng cổ giả vừa hoàn thành , người nghệ nhân suy nghĩ một lát và bỗng cầm búa chặt mạnh vào cổ pho tượng , làm nó gãy đôi , đầu một nơi , thân một nơi .Bạn đọc đừng vội ngạc nhiên . Ông ta  làm như thế là làm theo yêu cầu của chủ hàng . Cách đây vài năm , chính ông đã sơ ý làm vỡ một pho tượng giả cổ do mình tạo .Chưa kịp gắn lại thì có một du khách mua ngay phần thân tượng  . Gần đây , người khách ấy quay lại cửa hàng bỗng thấy đầu tượng .ông ta thích quá mau ngay đầu tượng với giá đắt gấp ba lần thân tượng trước đó . Thế là mỗi pho tượng do nghệ nhân này làm xong , chủ cửa hàng đều đề nghị ông đập gãy đôi , gãy ba , gãy bốn …

Đó là kiểu khá phổ biến trong kinh doanh đồ giả cổ ở thị trường nước ta hiện nay ,tìm đủ cách , dung cả kỹ thuật lẫn xảo thuật để bán đồ giả với giá của đồ cổ thật .

Người kinh doanh đồ cổ giả không chỉ lừa những kẻ ‘’gà mờ’’. Họ còn qua mắt người sành chơi đồ cổ .

Người sành đồ cổ , sính đồ cổ hay có cái hiếu kỳ muốn cho món đồ cổ của mình có lai lịch , càng ly kỳ càng tốt .

Họ còn phân biệt đồ cổ và đồ cổ giả theo những nguyên tắc  nhất định .Tính hiếu kỳ và các nguyện tắc ấy không phải là bí mật tuyệt đối , giới làm đồ cổ giả cũng nắm vững và tìm ra đối sách hữu hiệu .Các chủ hiệu đồ cổ , nhất là những tay bán đồ cổ dởm cũng dán cho hàng mình môt lai lịch , thậm chí còn ‘’sáng tác’’ra lai lịch ly kỳ nữa .Có tới hàng ngàn ví dụ thực tế về điều ấy , như một bình vôi vô danh ( thuộc loại vứt gốc đa , sau miếu , lăn lóc không ai thèm nhặt ) đã được bán với giá bằng cả một căn nhà khang trang , nhờ được gắn một lai lịch ‘’  bình vôi của Ngài Ngự ‘’ – bà Từ Cung Thái Hậu thời nhà Nguyễn (! ). Một viên ngọc ( hay đá ? ) màu trắng đục , bên trong có hai vân đá quấn lấy nhau , được chủ buôn gắn cho cái lai lịch ‘’ viên ngọc rắn ‘’ . Ly kỳ hơn nữa , người ta bảo : đem ngâm viên ngọc ấy trong sữa của bà mẹ có con so sẽ thấy ngọc trong hơn và hai con rắn cựa quậy ( ! ) . Rắn có ngọc là phi lý và phản khoa học . Song có nhiều người chơi đồ cổ cố tin vào câu chuyện hoang đường ấy . Theo họ , con gì cũng có ngọc , miễn là tu luyện lâu năm , kể cả con người . Ở Hà Nội , không mấy ai chơi đồ cổ lại không nhớ câu chuyện hoang đường gắn liền với ông Hoàng Cao Khải có ‘’huệ nhỡn ‘’đã biết trước trong đầu cậu bé ( đầu to khác thường ) có viên ngọc to …bằng trứng gà con so (!) .

Người sính đồ cổ thì mê đồ cổ . Đã mê thì dễ tin . Dễ tin thì dễ bị lừa gạt . Cái lô-gich nghìn đời vẫn thế .

Hiện nay , thật khó đoàn định chính xác số lượng , chủng loại đồ cổ giả đã và đang lưu hành trên thị trường , khó có thể thống kê số đồ giả được coi như các bảo vật đã được sưu tập trong các gia đình hay đang trôi nổi trên thương  trường trong và ngoài nước . Chỉ biết rằng , sản xuất và kinh doanh đồ cổ giả , dù công khai hay ngấm ngầm , thì từ lâu đã thành nghề và nghiệp sống còn của không ít người .

Bên cạnh lấy tân làm cổ , còn có nghề tân trang – lấy cổ làm tân . Thượng vàng hạ cám , bất cứ cái gì cũ làm cho mới thì đều có giá . Đó là những nghề tân trang đồng hồ , máy hát , ti vi , tủ lạnh , máy giặt , ô tô , xe máy , xe đạp , dây chuyền công nghệ và thiết bị cũ , kể cả con người ( như tân trang sắc đẹp , chỉnh hình ) mà phần lớn đều mới xuất hiện ở Việt Nam .Nếu như những năm trước việc tân trang đồng hồ cũ hỏng thành đồng hồ mới ( đồng hồ dởm , đồng hồ cốp ) dễ thu lợi thì bây giờ  , khi thị trường TP HCM rộ lên việc mua bán cao giá đồng hồ cổ , đồng hồ cũ của Thụy Sĩ , của Pháp , đã kéo theo sự phát triển việc làm đồng hồ cổ giả , tức là làm cho đồng hồ mới có hình thức tương tự biến thành đồng hồ cổ , như chúng ra đời hàng trăm năm trước .

Ngành bảo tồn bảo tàng có khoa phục chế , dạy cho người ta các phương pháp làm đồ cổ giả .Nhưng trong giới sản xuất , chế tác đồ cổ giả , ngoài các chuyên gia và nghệ nhân giỏi , rất am tường đồ cổ cả về lý thuyết lẫn thực hành , còn khá nhiều người không hề qua trường lớp nào , không được kế thừa kinh nghiệm gia truyền , nhưng tay nghề của họ có khi rất cao , sản phẩm của họ có thể qua mặt các chuyên gia trong ngành giám định cổ vật . Quả thật , những tay nghề cỡ ấy rất đáng khâm phục , song xét về mặt kinh tế – xã hội thì không khuyến khích các hoạt động của họ , bởi nó gây nên và để lại hậu quả tiêu cực nhiều khi hết sức phức tạp .

Ngăn chặn và làm giảm hẳn nạn làm đồ giả , cần có nhiều biện pháp quản  lý , kiểm tra . Giám định là một biện pháp kiểm tra hữu hiệu trong việc chặn đứng nạn ‘’chảy máu đồ cổ ‘’ , phân định đâu là đồ cổ thật , đâu là đồ cổ giả .

 

Thạc Sĩ Bùi Văn Vượng .

 

 

Xin  giải thích theo cách hiểu của tôi :

– Đồ cổ : đồ nguyên bản có tuổi (original )

– Đồ giả cổ : là đồ sao chép chính xác từ nguyên vật liệu đến hình dáng của món đồ nguyện bản ( theo luật định của Việt Nam phải được sự đồng ý của chủ sở hữu món đồ cổ đó mới được tái bản và món đồ đó được gọi là đồ giả cổ và phải xin phép cơ quan quản lý cổ vật )

– ĐỒ CỔ GIẢ  : là đồ giả cổ nhưng không được sự đồng ý hoặc chủ sở hữu không biết đến việc sao chép lại món đồ cổ đó hoặc không xin phép cơ quan quản lý cổ vật

-Đồ phỏng cổ : cũng là đồ sao chép nhưng không chính xác từ nguyên vật liệu cho đến hình dáng do đó không cần xin phép chủ sở hữu món đồ đó .

Do vậy về giá cả đồ phỏng cổ không đắt bằng đồ giả cổ , đồ cổ và ĐỒ CỔ GIẢ có thể bạn sẽ mua ngang giá vì bị lừa .

tùy theo sự hiểu biết và cảm nghĩ của mỗi người mà có thể diễn đạt ngôn ngữ có khác biệt và gây nhầm lẫn đôi chút

 

Khanhhoathuynga .

*MỤC LỤC – GIẢI TRÍ – THƯ GIÃN

Read Full Post »

Tặng bạn Đỗ Hữu Thái , một người đam mê cổ vật chân chính 

 

I /  ĐỒ CỔ

Đồ cổ là những sản phẩm văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá khứ lịch sử , bằng nhiều chất liệu khác nhau , được bảo tồn đến nay .

Đồ cổ có rất nhiều loại ,bằng nhiều chất liệu và có giá trị trên nhiều mặt . Từ những đồ cổ được sưu tập , sắp xếp có hệ thống và xác định niên đại hoặc thời đại , người ta có thể thấy được trình độ kỹ thuật , thẩm mỹ , tư tưởng , tình cảm của con người và cộng đồng dân tộc trong mỗi triều đại , thời kỳ lịch sử , có thể hiểu được nền văn hóa , văn minh của dân tộc ấy . Thông thường , đồ cổ có ý nghĩa và giá trị nổi bật trên hai mặt mỹ thuật và kinh tế . về mặt mỹ thuật , đồ cổ đem lại cho chúng ta tình cảm thẩm mỹ , thưởng thức cái đẹp hiếm có do người xưa để lại . về mặt kinh tế , đồ cổ có thể được định giá bằng tiền bạc , bằng vàng với giá trị vật chất lớn , do đó đồ cổ có thể được trao đổi , mua bán như những hang hóa đặc biệt .Thú chơi đồ cổ xuất phát chủ yếu từ yếu tố mỹ thuật của đồ cổ . Nghề buôn đồ cổ xuất phát từ giá trị kinh tế của sản phẩm này . Từ giá trị to lớn của đồ cổ và nhu cầu sử dụng rộng rãi chúng đã nảy sinh nghề làm giả đồ cổ . Thú chơi ấy , các nghề ấy xuất hiện và song song tồn tại ở nước ta , cũng như trên thế giới từ lâu đời .Việc sưu tầm săn lung và buôn bán đồ cổ xưa nay đã đem lại không ít vinh quang , sự giàu có , nhưng cũng xảy ra nhiều bất hạnh , đắng cay cho con người .

Người Việt Nam , từ Huế vào Nam thường gọi các loại mỹ nghệ phẩm được làm khoảng trăm  năm về trước là đồ xưa , còn người Miền Bắc thì gọi chúng là đồ cổ . Bây giờ thuật ngữ đồ cổ đang được dùng rộng rãi trong cả nước , chỉ tất cả các sản phẩm cổ xưa , phần lớn đều quý hiếm , đồ đồng , đồ đá , đồ vàng bạc , đồ gỗ , sách cổ , vv …. Từ trống đồng , tượng đồng , tượng đá , đồ gốm , bàn ghế , hòm tủ , đến câu đối , hoành phi , tranh khắc , tiền cổ …. Còn nghành bảo tàng thì gọi chúng bằng thuật ngữ cổ vật , hiện vật cổ .

1/ Cổ vật bảo tàng .

Cổ vật quốc gia được lưu giữ ở các bảo tàng trong nước .Xin hãy đến Viện bảo tàng Hà Nội , nơi đang lưu giữ bảo quản tới 5.500 cổ vật …. Trong hầm tối – theo đúng nghĩa của từ này . Các nhà chuyện môn cho biết đây là một kho tàng vô giá , có một không hai ở Việt Nam . Người duy nhất đang có trách nhiệm quản lý kho cổ vật này là bà Nguyễn Kim Nguyên , tốt nghiệp khoa Bảo tàng Đại học Lômônôxốp ( Liên Xô cũ ) , chuyên viên cổ vật của viện Bảo tàng Hà Nội . Đến nay , Viện đã có bộ hồ sơ hàng nghìn trang về các cổ vật của mình , do bà Lê Kim Nguyên âm thầm thiết lập trong suốt 4 năm qua .

Mỗi trang hồ sơ ấy mô  tả một cổ vật , bằng 4 tấm ảnh , kèm theo một bảng lý lịch ghi rõ tên cổ vật , nơi xuất xứ , chất liệu kích thước , kiểu thức trang trí . Niên đại , ngày xác định niên đại , người xác định niên đại , vv …chồng tài liệu dày 3300 trang chất cao từ nền nhà lên quá đầu người . Nếu một người xem liên tục có lẽ phải mất một tháng mới hết bộ hồ sơ này , bà Lê Kim Nguyên giải thích : ‘’ Có tất cả 5500 hiện vật , nhưng chúng tôi mới phân loại được 3300 cái ‘’ .

Thực ra , người chuyện viên cổ vật rất đáng khâm phục này chỉ trông coi cổ vật qua ảnh chụp trong bộ hồ sơ lớn đó  , đồng thời cũng là công cụ để bà giới thiệu vốn cổ vật với đồng nghiệp và khách thăm quan , nghiên cứu khi cần thiết . Còn kho đồ cổ thì để ở dưới tầng hầm kiên cố của tòa nhà Bảo tàng . Cửa kho luôn luôn có giấy niêm phong và lần lượt ba lớp khóa . Theo phóng viên tờ tuần báo Thanh Niên Huỳnh Ngọc Chênh ( số 22 (462 ) ra ngày chủ nhật  27 -2-1994 )thì trước đây , người tiền nhiệm của Lê Kim Nguyên đã phải bị tù oan trong Hỏa Lò chỉ vì đánh rơi tượng ngọc bích vào trong một lọ bình mà ba năm sau mới tình cờ phát hiện được .

Kho cổ vật có hang ngàn hiện vật từ tranh , tượng cổ của Trung Quốc , Nhật Bản đến đồ đồng cổ Việt Nam , từ đồ gốm đời Minh , Thanh đến đồ gốm sứ , ngà ngọc đời Lý Trần cho đến các vật dụng cổ của người Châu Âu . Theo Niên đại trong kho này có có mặt đầy đủ các hiện vật từ trước Công Nguyện cho đến đầu thế kỷ XX . Các cổ vật ở đây – dấu tích văn hóa hang nghìn năm của Việt Nam và nhiều dân tộc khác , một di sản quý giá của nhân loại được dồn nén lại trong một diện tích 50m vuông của căn hầm .

Nếu phân loại theo chất liệu , kho cổ vật này có các loại : đồ gốm , đồng , đá ,ngà , ngọc , vàng , bạc , thủy tinh , da , gỗ , giấy ..vv ., phân theo chủng loại , có tới 40 loại , gồm tranh , tượng , chuông , trống , bình , lọ , thạp , thống , chóe , chén , bát , ly , tách , bình vôi , nậm , đồng hồ , bàn là ….vv . , theo quốc tịch , chúng có xuất xứ ở Việt Nam , Trung Quốc , Nhật Bản ,Triều Tiên , Thái Lan , Ấn Độ và một số nước Châu Âu . Các cổ vật được xếp chồng trên các bệ gỗ , được bày la liệt trên sàn hầm , được đựng trong các thùng gỗ , hòm thiếc , giỏ tre ….

Nguyên là những cổ vật trôi nổi , chúng được tập hợp lại một cách khác thường .Loại cổ vật đầu tiên mà Bảo Tàng Hà Nội hiện có là do lượm nhặt được từ đống vật dụng bát nháo . Trong số ấy , quan trọng nhất là nhóm đồ đồng Đức Giang . Người ta định gom lại để đưa đi nấu đồng , nhưng may sao một vài người có trách nhiệm biết được đó là đồ cổ rất quý giá nên nhặt ra và đem về giao cho Bảo Tàng cất giữ .Đồng thời , hàng trăm đồ sành sứ , gốm quý hiếm thời Minh , Thanh và  Lý , Trần cũng được thu lượm theo con đường này .

Một loại tượng bằng đồng , gỗ , sành …. Của nhiều đình ,chùa ,am , miếu  được thu về khi các nơi tôn nghiêm ấy bị sập đổ , bị bom đạn chiến tranh , bị phá dỡ hay biến thành nhà kho , văn phòng hợp tác xã , hoặc tượng bị thu giữ chuẩn bị hủy trong phong trào chống mê tín dị đoan và nhiều hoàn cảnh xót xa khác .

Số khá lớn đồ cổ khác nữa của Bảo tàng Hà Nội do các cơ quan quản lý văn hóa và bảo vệ pháp luật ( Công an , hải quan , quản lý thị trường ) chuyển giao . đó là kết quả điều tra và khám phá các vụ buôn lậu đồ cổ ra nước ngoài . Trong số đồ cổ chuyển giao , có đôn nghê bằng đồng trị giá hàng triệu đô la Mỹ , nhưng năm 1991 bọn buôn lậu đã đem bán cho một người nước ngoài với giá 50.000 USD , cơ quan công an kịp phát hiện và thu lại được . Hoặc như bộ Long Đỉnh Bát Tràng , các đỉnh sứ , lục bình cao 1,40m có niên đại thế kỷ XIV, vv…. Cũng tịch thu được từ bọn buôn lậu .

20 trống đồng Cổ Loa cũng được tàng trữ tại kho cổ vật này . Chúng được tập hợp từ 20 địa điểm khác nhau , vơi những bối cảnh riêng biệt .Đây là bộ sưu tập vô cùng quý giá , khá hoàn chỉnh về trống đồng Cổ Loa ( từ thời An Dương Vương về sau ) mà không nơi nào có được , kể cả viện Bảo Tàng Lịch Sử Việt Nam (Bác Cổ , Hà Nội ) .

Cho đến nay công việc phân loại cổ vật của viện Bảo Tàng Hà Nội mới tiến hành được chưa quá 2/3 số cổ vật chưa lập hồ sơ , phân loại còn hơn 2.000 đơn vị . Hiện trạng đó cần phải khắc phục , nhưng do những  khó khăn thực tế về tài chính và cơ sở vật chất . Thêm vào đó , viện chưa có một địa điểm trưng bày nên cổ vật vẫn bị ‘’giam’’trong hầm kín ! bao trùm lên hết thẩy các trở ngại ấy là yêu cầu bảo vệ an toàn đối với cổ vật quốc gia một khi đem ra trưng bày , giới thiệu rộng rãi .

Bà Lê Kim Nguyên cho biết : cổ vật có giá trị rẻ nhất cũng khoảng  8 triệu đồng . cái đắt nhất cũng tính đến triệu USD . Nhưng theo bà , đồ cổ còn có một giá trị khác , rất cao , không thể định giá bằng tiền bạc . Chúng là nguồn tài liệu ( hiện vật ) hết sức quý  giá cho những người nghiên cứu lịch sử , văn hóa , khảo cổ học .Chúng góp phần quan trọng  cho việc hoàn thành nhiều công trình , đề tài nghiên cứu khoa học về quá khứ .

Vậy thì cổ vật Bảo Tàng cần đem ra giới thiệu cho công chúng , nó không thể bị ‘’ giam ‘’ , nhưng phải giữ gìn và bảo vệ nghiêm ngặt .

2/ Những cổ vật men Celedon ( Xêladong ) ở Hòn Dầm , Phú Quốc .

Khoảng 200 loại đại diện cho 15.359 đơn vị cổ vật ( đồ cổ ) tất cả đều là gốm men Celadon , trục vớt ở biển ven Hòn Dầm . Phú Quốc ( Kiên Giang ) đã được đem triển lãm tại Bảo Tàng Mỹ Thuật Thành Phố Hồ Chí Minh , khai mạc vào ngày 1-9-1993 .

Kho tàng gốm cổ có giá trị này do tỉnh Kiên Giang và luên hiệp Xí Nghiệp trục vớt cứu hộ ( Visal) không có liên doanh với một công ty nước ngoài nào ,  trục vớt tại Hòn Dầm vào năm 1991 . Khu vực tàu chìm tương đối cạn , chỉ khoảng 20m bề sâu , nên việc trục vớt thuận lợi . Đây là cuộc trục vớt đồ cổ tàu đắm tại Hòn Dầm có quy mô và bài bản nhất , cũng là lần vớt triệt để các cổ vật trong con tàu đắm này .

Nói lần vớt quy mô , bài bản và triệt để nhất , bởi trước đó cổ vật ở đây đã được dân vớt khá tự do sau khi phát hiện ra ‘’ kho báu ‘’ .

Trở lại khởi điểm cách đây khoảng 20 năm , có vài ngư dân ở Phú Quốc , có lần đã câu được … cái tô! Lưỡi câu của họ mắc vào cái tô dính hầu (hà ) . Họ cho rằng cái tô đó của ‘’bà’’ của ‘’ cậu ‘’ nên vội khấn vái và thả xuống biển để trả ‘’thần ‘’ .Trong số họ . có người táo tợn hơn mang về nhà , như ông Nguyễn Văn Hoành ( xóm 3 , ấp 1 , xả An Thới , Phú Quốc ) cũng chỉ dám để trên bàn thờ làm đồ thờ .

Thời gian qua đi , câu chuyện những cái tô kỳ lạ như truyền thuyết chắc không còn làm cho ngư dân trong vùng biển Hòn Dầm chú ý , nếu không diễn ra sự  kiện mới . Đó là sự kiện các cổ vật trục vớt ở Hòn Cau , Côn Đảo được đem đấu giá tại Amstredam được 6,7 triệu USD vào năm 1990 , làm xôn xao dư luận . Thế là các thợ lặn ở Phú Quốc thi nhau đến vùng ông Đực vớt đồ tàu đắm .Họ vớt lên rất nhiều đồ gốm và tiền cổ . Đồ vớt được đem bán rẻ như ở chợ An Thới .Cấp ủy xã An Thới thấy vậy , đã kịp thời báo cáo lên huyện . Lãnh đạo huyện không hiểu hết giá trị  các đồ vật ấy ,cho là vật bình thường , nên không đánh thuế và để cho dân vớt bán tùy ý . Ngay cả một số đơn vị , cơ quan ở địa phương cũng đi vớt đồ cổ , bán gây quỹ . Bán 3 lô gốm cổ đi gán nợ , bình quân mỗi cái chỉ 5.000 đồng . mà chủ nợ cũng không nghe !

Đã có bao nhiêu đồ cổ được mò vớt tự phát và mua bán tự do như thế  , đến nay vẫn chưa ai thống kê được .

Đầu tháng 5 năm 1991 , các cơ quan hữu trách của tỉnh Kiên Giang đã kiểm tra đánh giá tình hình nói trên và cho tiến hành trục vớt . Kết quả thật bất ngờ . Trừ những chiếc bị vỡ hỏng  còn lại 15.539 cổ vật gốm Celadon đã được vớt lên nguyên vẹn , cùng với chiếc ngà voi ( sơ chế , đường kính 2,5 cm  dài 20 cm ) 7 cục thiếc lớn , 8 trong 10 đồng tiền cổ còn nguyên (  hình tròn có lỗ vuông ) mang dòng chữ Hoàng Tông thông bảo , Chí Nguyên thánh bảo , Tường Phù thông bảo , Vĩnh Lạc thông bảo đều của Trung Quốc đương thời ) .

Gốm men Celadon ở Hòn Dầm là một loại gốm rất quý thời Tống – có màu xanh lá cây nhạt , có điểm lấm tấm như hạt bụi – gọi chung là gốm Tống .

Thợ gốm Trung Quốc thời nhà Tống ( 980 – 1279 ) phát hiện và sử dụng men ấy để trang các loại tô , bát đĩa , bình chậu , thống …. Thoạt đầu thợ giỏi sản xuất gốm tập trung ở Hồ Nam .Bị quân Kim đánh chiếm , thợ Bắc Tống , nhất là thợ gốm hoàng gia phải chuyển tới Hàng Châu để tiếp tục sản xuất , đồng thời cũng xuất hiện một số lò gốm tại Thổ Cương .

Năm 1279 nhà  Tống bị tiêu diệt ‘’ theo một vài sách kể , thì thợ gốm di thần nhà Tống , không khứng phục nhà Nguyên , đã kéo đi lập nghiệp nơi ba chỗ khác nhau đều có sản xuất Celadon , đó là : Cao Ly Quốc , An Nam Quốc ( vùng Thanh Hóa ) và Xiêm La quốc ( vùng Sanvankhalog ) .

Các loại gốm Tống . do hình dáng và màu men độc đáo , ngay thế kỷ 15 đã được ưa chuộng ở vùng cận Đông  , và sau đó , bắt đầu xuất hiện tại thị trường Châu Âu vào thế kỷ 17 . Ở Pháp dưới thời vua Louis 16 ( 1774- 1791 ) , loại gốm này trở thành món hàng thời trang của giới quý tộc cung đình và thị dân khá giả . Người ta đặt cho nó cái tên Pháp là gốm Celedon ( celadon là tên chàng rất lãng mạn trong cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của nhà văn Honoré d’Urté – ý nói là đồ gốm lãng mạn ) .

Trở lại cổ vật gốm Celadon ở Hòn Dầm . Theo kết quả giám định của hội đồng giám định cổ vật thuộc Bộ Văn Hóa – thông tin các đồ gốm này được kết luận  : Chúng xuất xứ từ Thái Lan , do Thái Lan sản xuất vào thời kỳ đầu thế kỷ 15 .

Văn phòng chính phủ nước ta chỉ thị giữ lại cho Bảo Tàng Lịch Sử Trung Ương , Bảo Tàng Mỹ Thuật và Bảo tàng Kiên Giang mỗi nơi 2 bộ  , bao gốm các bộ gốm nguyên vẹn ( lành lân , men bóng , sang ) và tiền cổ vớt ở Hòn Dầm .Tổng số đồ gốm giữ lại là 126 chiếc , tiền cổ không nhiều lắm , được lựa chọn kỹ càng , đánh ký hiệu lưu trữ và dĩ nhiên được bảo vệ lâu dài .Số cổ vật còn lại , chiếm phần lớn , tới hơn 15 nghìn chiếc được đem trưng bày và bán trong nước , nước ngoài .

Kết Quả giám định về xuất xứ đồ gốm cổ ở Hòn Dầm của cơ quan chức năng ngành văn hóa chưa làm cho một số nhà nghiên cứu gốm cổ nhất trí . Người ta còn nghi vấn về xuất xứ các cổ vật này . Trên tờ Nguyệt san Thanh Niên ( số 32 , tháng 11 -1993 ) tác giả Q.H ( khg ký rõ tên ) nêu lên nhận xét và quan điểm của mình về sự ‘’ nghi vấn ‘’ ấy .

‘’ Đồ gốm Tống …. Vào thế kỷ 15 được sản xuất tại 4 nơi : Trung Quốc , Cao Ly ( Triều Tiên ) Savankhalog ( Thái lan ) và Thanh Hóa ( Việt Nam ) . Đồ Tống Thanh Hóa rất mỏng manh . nhẹ làm bắng đất nung , men ngà ngà và bóng , không có ánh kim sa . Cao Ly quốc ở quá xa vùng biển Phú Quốc , như thế đồ cổ vớt được ở Hòn Dầm chỉ có thể là gốm Trung Quốc hoặc Savankhalog .

‘’ Vậy căn cứ vào đâu để phân biệt hai loại đồ gốm cùng cấu trúc , cùng hình dáng , cùng có màu men Celadon đặc trưng này ? Nếu đúng là thuyền Thái Lan , tại sao trên thuyền chỉ có tiền cổ Trung Quốc tương ứng với thời gian tiền ấy được sử dụng ? Theo chúng tôi biết , lúc ấy ở Việt Nam không dung tiền Hán để trao đổi mua bán ! và dẫu sao , thủy thủ nước nào cũng phải ‘’lận lưng’’ vài đồng bạc của mình . Lại nữa , nếu thuyền Thái Lan chở đồ về hướng Phú Quốc , thì chắc chắn không phải để xuất khẩu sang vùng Cận đông  hoặc Phương Tây …Một đoàn du khách nước Đức ( do cán bộ VN hướng dẫn ) đến thăm nơi trưng bày cổ vật Hòn Dầm ( vào ngày 4- 9-1993 ) , nhận xét : ‘’ Đây là đồ cổ Trung Quốc “” .

Toàn bộ gốm cổ này đều bằng chất liệu nặng màu trắng , hoặc phủ một lớp men Celadon có trang trí hoa văn chìm hoặc để trơn ( không tráng men , không hoa văn ) . Chúng đều được nặn bằng một thứ nguyên liệu : sa thạch , có thể chia thành 7 chủng loại  chính , mỗi chủng loại được dung 3 loại nguyên liệu đất khác nhau , tạo thành các sản phẩm có trong lưỡng và kích thước khác nhau . Như vậy , 15.359 món đồ cổ này bao gồm 21 loại khác nhau .

Mặc dù vẫn chưa thống nhất về xuất xứ của ‘’kho báu ‘’ Hòn Dầm , từ Thái Lan hay từ Trung Quốc , nhưng về giá trị của nó thì ai cũng thừa nhận là quý và cổ . Đây là kho cổ vật quý , có thể làm phong phú thêm kho tàng cổ vật của nước ta , mặt khác , đã đem lại số tiền , nhất là ngoại tệ mạnh cho ngân sách nhà nước .

Việc giới thiệu , trưng bày các cổ vật này ( chủ yếu là đồ gốm Celadon ) có ý nghĩa tích cực , góp phần nâng cao kiến thức về một loại đồ cổ rất quý giá : gốm Tống hay gốm men Celadon .

II / THÚ CHƠI ĐỐ CỔ

Một thú chơi sang trọng , thanh tao , thi vị phát sinh trong xã hội loài người ở khắp nơi trên thế giới từ rất lâu đời là thú chơi đồ cổ .

Ngoài Trung Quốc có bản tính hiếu cổ .Các triều vua thời Đường , Tống , Minh , Thanh đều thích sưu tầm cổ vật quý  , như cổ khí , văn vật từ thời Hạ , Thương , Chu … để làm quốc bảo vật . Còn ở phương Tây , các nhà cầm quyền và giới quý tộc phong kiến , ngay từ thế kỷ XV , đã say mê tìm kiếm các loại cổ vật của phương Đông .

Thú chơi đồ cổ ở Việt Nam nảy sinh từ khá sớm .Có lẽ nó có nguyên nhân chủ quan và khách quan sau đây :

1/Nhu cầu thưởng ngoạn , giải trí của vua chúa , của các nhà quyền quý , của các nghệ nhân , trí thức nước ta .

2/sản phẩm thủ công cao cấp của ta rất đẹp , được làm từ rất xa xưa , nhiều loại không thua kém Trung Quốc , Nhật Bản .

3/Nhiều sản phẩm thủ công tuyệt hảo của nước Trung Quốc làng giềng sớm du nhập vào Việt Nam .

Dưới chế độ quân chủ chuyện chế , đồ cổ và các vật quý khác ( vàng , ngọc , ngà …) đều giành riêng cho vua và quan lại cao cấp sử dụng . Ngay cả những của ngon vật lạ , sơn hào hải vị , đặc sản quý đều phải cung tiến vua và triều đình phong kiến theo quy định . Vì vậy , dân gian gọi nhiều loại đặc sản do mình làm ra là ‘’tiến ‘’như  nhãn tiến (nhãn lồng ) vải tiến ( vải thiều ) , vv…Luật lệ cũ của triều đình không cho phép thường dân xây dựng nhà cửa to lớn , không sử dụng đồ vật sang trọng , quý báu như của vua , chúa và những người có phầm hàm , chức tước . Nhân gian nếu có đồ cổ , vật quý đều phải nộp cho triều đình , hoặc phải cúng kiến vào chùa chiền , đền miếu làm đồ thờ cúng .

Trước kia đồ cổ không phải là vật phẩm để chơi cho tất cả mọi người , như quan niệm ngày nay .

Mãi đến cuối thế kỷ XIX , khi d8a6t1 nước ta hoàn toàn rơi vào tay thực dân Pháp , mọi trật tự xã hội và quan niệm truyền thống bị đảo lộn , thay đổi , uy quyền của vua chúa mất dần , nhà nước phong kiến suy yếu , thế lực địa chủ , thương nhân mạnh dần lên .Chính những người mới phất lên thành  giàu sang này đã nghĩ đến việc chơi đồ cổ .Bởi vì bấy giờ mới có điều kiện cả về kinh tế cả về xã hội để họ thực hiện mong ước của mình , cũng là mơ ước lâu đời của người dân .Do có tiền và muốn chơi sang , để chọi lại giới quyền quý xưa , cũng là để giải trí , những người chơi đồ cổ hồi bấy giờ cố công sưu tầm cổ vật quý Việt Nam và tìm mua đồ gốm sứ , hoặc các loại đồ gỗ gia dụng quý giá của Trung Quốc , sản xuất vào các thời Minh – Thanh . Họ bày  biện , trang trí nhà cửa bằng những đồ cổ ấy , nhiều khi được lựa chọn kỹ càng và sắp xếp theo yêu cầu mỹ thuật rất cao , nhằm tạo ra vẻ mỹ cảm đặc biệt hoặc nhấn mạnh sự giàu sang . Từ đó , thú chơi đồ cổ dần dần lan rộng trong nhân dân . Những kiến thức mới về khảo cổ và mỹ thuật được giới trí thức tân học tiếp thu rồi phổ biến trong dân chúng .

Từ cuối thế kỷ XIX đến những năm đầu thế kỷ XX , do kết quả của khảo cổ học , dân tộc học và nghiên cứu văn hóa song song với hoạt động của Viện Viễn Đông Bác Cổ ( Hà Nội ) và Hội Đô Thành Hiếu Cổ ( Huế ) các viện bảo tàng được thành lập ở Bắc Kỳ , Trung Kỳ và Nam Kỳ đã mở các cuộc triển lãm cổ vật giới thiệu những di sản văn hóa của dân tộc cho công chúng thưởng thức .

Tại kinh đô Huế , dưới triều Khải Định ( 1916 – 1925 ) , Viện bảo tàng Khải Định được mở ra . Bảo tàng này đã trưng bày các bảo vật của Hoàng gia , vốn trước đó được cất giữ bí mật .Cần nói them rằng : Khải định là ông vua rất ham thích đồ cổ . Dưới thời ông , các đại thần , quý tộc , hoàng thân quốc thích đều thi nhau chơi đồ cổ . Trong các nội phủ , các dinh thự vàng son , đồ cổ không chỉ để bày biện , trang trí , mà còn được dùng trong cúng tế , yến tiệc và cả trong sinh hoạt hàng ngày . Hơn nữa , ngay tại đất cố đô , nghề buôn đồ cổ được phép hoạt động . Lúc ấy , các nhà buôn đồ cổ tiếng tăm lừng lẫy ở Huế là các ông Tham Hòa , Nghè Hưng , Cửu Sung .

Trong thời gian ấy ở Bắc Kỳ , các nhà chính trị và giới thương gia cũng đua nhau chơi đồ cổ . Những viên quan khét tiếng như khâm sứ Hoàng Cao Khải  , tổng đốc Hoàng Trọng Phu , tổng đốc Nguyễn Văn Định … trưng bày la liệt kỳ trân , bảo vật trong nhà , ngoài sân dinh thự nhằm thỏa mãn thú chơi quyền quý , cao sang một thời .

Ở Hà Nội , trong giới chơi đồ cổ là các thương gia những năm đầu thế kỷ , đến nay người Hà Nội vẫn cón nhắc tới tên tuổi : Ông Hương Ký ( chủ hiệu ảnh Hương Ký ) ông Nguyên Ninh ( chủ doanh nghiệp bánh cốm Nguyên Ninh ), ông Mỹ Thắng ( phố Hàng Bạc ) và hai nhân vật nữ không kém nổi tiếng là bà Bé Tý , cô Tư Hồng . Các ông Hương Ký , Nguyên Ninh , Mỹ Thắng đều rất sành về đồ cổ , có những bộ sưu tập quý hiếm .

Đặc biệt , ở phố Hàng Trống lúc bấy giờ , có nhà buôn đồ cổ lừng tiếng Hàn Liên . Cụ là người kỳ cựu trong nghề buôn bán cổ vật , mà tiếng tăm đã vang khắp nơi trên Đông Dương và tới tận Pari , thủ đô nước Pháp .

Còn trên đất Nam Bộ , thú chơi ‘’đồ xưa’’ cũng lan rộng trong nhân dân từ thành thị đến thôn quê . Ở Sài Gòn thời Pháp thuộc , nổi tiếng sành chơi cổ vật hơn cả bà Đốc Phủ Hà Minh Phải . Trên đất Vĩnh Long cũng có ông Phán Nuôi được người đương thời mệnh danh ‘’ đệ nhất về đồ xưa ‘’ . Tại đường Catinat ( nay là đường Đồng Khởi , TPHCM )  có tiệm Pháp Vũ chuyên bán đồ cổ .Tiệm này chuyên cung cấp các đồ quý lạ cho những người sành điệu . Ở Chợ Lớn bấy giờ cũng có nhà buôn Chánh Đào Ngọc chuyên cung cấp các loại bình thường cho người miệt vườn vùng Lái Thiêu và các tỉnh miền Tây Nam Bộ .

Như vậy , thú chơi đồ cổ cũng như thú chơi non bộ và cá cảnh Việt Nam phát triển rộng rãi từ Bắc đến Nam ăn sâu bắt rễ trong nhân dân , đem lại niềm say mê mỹ cảm rất lành mạnh . Đồ cổ không chỉ đẹp , mà còn quý hiếm , cho nên việc chơi đồ cổ thường đi liền với việc buôn bán đồ cổ . Có thể nói các nhà chơi đồ cổ và các nhà kinh doanh đồ cổ bao giờ cũng là người có công sưu tầm và bảo quản các đồ vật . Tính sôi động của thị trường đồ cổ , phần đông là thị trường ngầm lắt léo và phức tạp sẽ được nói tới ở phần sau . Còn bây giờ ta hãy tìm hiểu thú chơi , kiểu chơi đồ cổ của người Việt Nam .

III/ CÁC TRƯỜNG PHÁI CHƠI ĐỒ CỔ

Nhìn chung ở nước ta có hai trường phái chính : Trường phái cổ đồ và trường phái sưu tập .

1/ Trường phái cổ đồ :

Chơi cổ đồ là dùng đồ cổ để bày theo đúng quy cách mỹ thuật cổ điển . Những người thuộc trường phái này luôn thấm nhuần tư tưởng triết học và quan niệm thẩm mỹ phương Đông cổ .

Cách chơi này phổ biến ở miền Bắc , phần nào chịu ảnh hưởng truyền thống Trung Hoa , nó toát lên phong cách tao nhã , triết lý sâu xa . Nhưng vẫn rất đậm nét ngầm phô trương chủ nhân là người cao sang , giàu có .

Để bày đồ cổ , người ta không đòi hỏi phải có nhiều hiện vật , mà chỉ đòi hỏi phải có vài thứ đồ cổ đích đáng , hội đủ ba điều kiện : ‘’ cổ , quý , kỳ ‘’ . Đồ phải thật sự là cổ , càng xa xưa càng hay . Đồ càng xưa càng quý . Nhưng chúng phải là loại sản phẩm kỳ lạ , tức là chất liệu và tạo dáng phải thật độc đáo . Những đồ cổ đẹp , đơn chiếc , có một không hai thường được người chơi ưa chuộng  nhất .

Món đồ được chọn phải toàn bích , men màu , kích thước , hình dáng phải hoàn hảo , nhìn ngắm kỹ hoặc dùng kính lúp để soi đều không thể chê điểm nào được .

Nghệ thuật trưng bày đồ cổ để thưởng ngoạn đòi hỏi một bối cảnh không gia hài hòa , vừa thoáng đãng , sang sủa , vừa có vật cảnh tạo nền .Thông thường , người ta tạo nền bằng các đồ gỗ cổ hoặc giả cổ tạo tác tuyệt khéo và hài hòa .Nền có tác dụng làm nổi bật các thứ đồ cổ , làm tang them giá trị nhiều mặt cũa chúng .Quan trọng  nhất là chủ nhân phải thông hiểu nghệ thuật trang trí Trung Quốc thời cổ với những bài bản ,  quy tắc của nó ở từng thời đại , thông hiểu phong cách nghệ thuật trang trí cổ Việt Nam , có kiến thức cần thiết về đồ cổ nói chung ,  hay ít ra cũng phải am tường loại đồ cổ mà mình quan tâm .

Người chơi ‘’cổ đồ ‘’thường chỉ đem những món độc đáo và quý giá nhất ( món ruột ) ra bày vào dịp lễ tết , hay những dịp quan trong khác , để giới thiệu với quý khách , bạn bè tri âm , tri kỷ . Chủ nhân cho đốt đỉnh trầm xông hương , tự tay pha trà , chuốc rượu mời khách . trong không khí thân tình và trang trọng ấy , chủ khách cùng nhau thưởng thức đồ cổ , săm soi phẩm bình , có chen thơ phú , xướng họa , tận hưởng cái thú tiêu dao , nhàn tản đầy thi vị như tao nhân mặc khách xưa .

2/Trường phái sưu tập

Trường phái sưu tập là một khuynh hướng lớn thứ hai ở Việt Nam của giới chuyên chơi đồ cổ  . Chơi đồ cổ theo cách này là người chơi phải tự chọn và quyết định sưu tập hiện vật theo một đề tài mà mình ưa thích .

Đề tài để sưu tập rất nhiều .Chủ nhân , nghệ nhân chỉ có thể chọn một lĩnh vực nào đó , như đề tài gốm Lý , Trần ( theo triều đại lớn ) bình vôi , ấm trà , hoặc gốm men ngọc , gốm hoa lam ( theo loại hình ) , khắc gỗ , khắc đá , tượng gỗ ( chất liệu – loại hình ) ,vv…

Người sưu tập theo trường phái này không đòi hỏi phải có điều kiện kinh tế quá cao , cũng không hẳn phài có kiến thức sâu sắc về lịch sử Trung Quốc như những  chủ nhân thuộc phái cổ đồ .Điều cần thiết nhất là phải bền chí và có nhiều thì giờ . Bởi vì đã là người chơi đồ cổ , nhất là người sưu tập cổ vật thì ai cũng mất thời gian tìm kiếm những thứ vốn vô cùng hiếm hoi , phải đi nhiều nơi , giao thiệp rộng , có những hiện vật xưa rất rẻ như loại bình vôi chẳng hạn . Nhưng khi những vật dụng ấy được tập hợp lại  thành bộ , thành một hệ thống chúng trở nên vô giá !.

Người sưu tập thường có tính kiên trì , ngày nay qua ngày khác , năm nay qua năm khác nhặt nhạnh , tìm kiếm cổ vật , nhất là những đồ thuộc đề tài ưa thích của mình . Tiếp cận thường xuyện với hiện vật , cố gắng tích lũy kiến thức qua sách báo và tiếp xúc trao đổi với các nhà sưu tầm , nghiên cứu khoa học đã thành một nhu cầu của người sưu tập đồ cổ . Điều kiện ấy đã dễ dàng đưa họ bước vào lãnh vực nghiên cứu chuyên sâu .

Phần thưởng quý nhất giành cho người sưu tập là bản thân mình hoàn thành bộ sưu tập độc đáo , được dư luận và đồng nghiệp đánh giá cao , hay tình cờ phát hiện ra những điều bí ẩn trong món đồ cổ do mình có được sau bao năm âm thầm góp nhặt ‘’ đãi cát tìm vàng ‘’ .

Trường phái sưu tập một thời cực thịnh ở miền Nam . Nó ảnh hưởng  phương pháp Âu – Mỹ  . Người sang lập phái này là nhà sưu tập Vương Hồng Sển , giáo sư Dương Minh Thới và kỹ sư Dương Văn Khuê , họa sĩ Nguyễn Văn Rô , nhà văn Ngọc Sơn .vv…là những môn đệ xuất sắc của các lão sư  ấy . Những ai từng tiếp xúc , trao đổi đều cảm nhận ở các vị sự lịch duyệt và uyên bác trong chuyên môn , cũng như trường đời . Chính họ đã sưu tầm , gìn giữ cho Sài Gòn  – Gia Định nói riêng , cho nước nhà nói chung những bộ sưu tập đồ cổ tuyệt kỹ .

Cụ Vương Hồng Sển là người được giới sưu tập quý trọng nhất , do công lao sưu tầm hiện vật và nghiên cứu khoa học . Những công trình nghiên cứu và trước tác của cụ trong nửa thế kỷ nay đã trang bị cho các nhà sưu tập nhiều kiến thức về đồ cổ , đồng thời cũng cổ vũ những thế hệ sau rất mạnh mẽ . Năm 1991 , nhà xuất bản thành phố Hồ Chí Minh đã cho ấn hành cuốn sách Khảo Cứu Về Đồ Sứ Cổ Trung Hoa , một trong những cuốn sách có giá trị của Vương Hồng Sển , được các nhà nghiện cứu và sưu tầm gốm sứ đánh giá cao .

Thú chơi đồ cổ , xét cho cùng , là một thú chơi mang tính văn hóa – nó không những có ích cho bản thân , gia đình , mà còn có ích cho xã hội . Không ít bọ sưu tập của tư  nhân đã trở thành nguồn bổ sung cổ vật cho các bảo tàng của nhà nước .

Khi trong nước có nhiều người dân hiểu giá trị quý báu của đồ cổ , say mê đồ cổ và ra sức sưu tầm , bảo quản chúng thì có thể giảm bớt tệ nạn ‘’ chảy máu đồ cổ ‘’ của ta ra nước ngoài .

 

Thạc Sĩ Bùi Văn Vượng

 

 

*MỤC LỤC – GIẢI TRÍ – THƯ GIÃN

 

 

 

Read Full Post »