Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Mười, 2011

Bài 3: Các giả thuyết xây dựng Kim Tự Tháp (tiếp theo)

Biên Khảo : Đức Chính

3.- Một vài hình ảnh nghệ thuật trong Kim Tự Tháp:

Kim Tự Tháp không chỉ vĩ đại và hào nhoáng ở kiến trúc bên ngoài, bên trong nó chứa đựng một nền văn hóa hồn hậu khiến người ta phải nghiêng mình thán phục khi biết những vật thể này có cách nay không dưới 3.000 năm. Những nét nghệ thuật trên tranh tượng trong Kim Tự Tháp khiến người ta phải nghi ngờ quan niệm Kim Tự Tháp do các nô lệ của các pharaoh tạo nên. Vì trong mỗi Kim Tự Tháp có vô số các hình tượng nghệ thuật nhưng khó tìm thấy nét sơ cứng của tư duy người nô lệ hiện lên trên chúng. Hình như các nghệ phẩm đều toát lên một nét thành kính trong tạo tác, như là một hoạt động tín ngưỡng tâm linh rất thiêng liêng khi người nghệ sĩ thực hiện.

Tuy chưa ai đặt giả thuyết về diễn biến của nền văn hóa này, nhưng khó phủ nhận đó là một đề tài còn tiếp tục làm các nhà Ai Cập học đau đầu. Chúng chứa đựng nhiều mặt văn hóa, ở đây chỉ nêu vài khía cạnh về mặt mỹ thuật.

a.- Điêu khắc:

Nghệ thuật điêu khắc Ai Cập cổ đại chủ yếu thể hiện hình ảnh các vị thần, các pharaoh và hoàng hậu. Khi nhân loại vẫn còn mơ màng trong thời kỳ mông muội tiền sử và thể chế bộ lạc, các bức tượng này đã có nét tả thực và trình độ tạo tác rất cao. Chừng mực nào đó chúng chẳng thua kém nghệ thuật tạo hình hiện đại.

Rõ ràng chân dung Pharaoh Djoser được thể hiện rất chi tiết, dù có bị hư hại khá nhiều.

Tượng hoàng hậu Nefertiti đường nét rất tinh tế và cân đối về cơ thể học rất chuẩn mực so với những bức tượng minh họa mang tính tượng trưng của các nền văn minh khác cùng thời hay sau nó hàng ngàn năm. Nó còn bộc lộ cả tính cách nhân vật trên cơ mặt và đôi môi. Rõ ràng nghệ sĩ tạo bức tượng này hẳn phải có trình độ mỹ học và giải phẫu học tuyệt vời mới biểu cảm nhân vật sâu sắc đến như thế.

Nhìn chung đặc điểm các tượng đàn ông trong Kim Tự Tháp thường sậm màu hơn tượng dành cho nữ giới. Ở các tượng ngồi tay thường được bố trí đặt trên đùi.

Ở bức tượng Pharaoh và Hoàng hậu này những cấu trúc cơ thể học vẫn tuân thủ rất nghiêm túc. Tuy rằng sự thể hiện nét uy nghiêm có phần thô cứng nhưng dù sao cũng phải thừa nhận trình độ tạo hình của nó không hề thấp kém, nhất là khi chất liệu tạo hình bằng đá chứ không phải đất sét hay thạch cao.

Các phù điêu cũng vậy, chúng đều toát lên một văn hóa mỹ cảm hết sức tinh tế mà ngày nay cũng phải nghiêng mình thán phục.

Có lẽ nền văn hóa ấy không chỉ ở cung đình mà đã mở rộng ra tận các nghệ nhân dân gian. Chúng ta thấy nó thể hiện ở bức bích họa bên ngoài Kim Tự Tháp dưới đây.

Nét sinh động của bức chạm này thật tuyệt vời, nhất là sự đa dạng tư thế của con vật. Vẫn mềm mại trên môi trường khó thể hiện là vách đá. Để làm được điều này tác giả phải thật sự cảm xúc với đề tài chứ không đơn thuần “thực hiện công việc” như một người thợ.

Khi nói đến điêu khắc trong Kim Tự Tháp không thể không nói đến các vật dụng dùng trong mai táng. Ấn tượng đầu tiên về các tác phẩm thuộc loại này là chiếc quách của các pharaoh. Quách đã được nói qua trong các phần trước nên không bàn đến. Riêng phần nghệ thuật tạo tác đá còn có một yếu tố đáng chú ý: trần các phòng quàn xác ướp pharaoh. Các trần này cũng biểu hiện một nghệ thuật tạo hình bằng đá ở trình độ cao.

Ở Kim Tự Tháp Khufu và nhiều kim tự tháp khác vòm trần hình chữ V, nhưng ở Kim Tự Tháp Sesostrix hình bát úp.

Với kiến trúc này không đơn thuần là nghệ thuật xây dựng, mà nó còn hàm ‎ vừa mỹ thuật vừa tâm linh trong gian phòng này. Ý nghĩa của nó vẫn còn là câu hỏi.

b.- Hội họa và nghệ thuật viết chữ

Hội họa càng tuyệt vời hơn, các yếu tố tả chân, mềm mạu, sinh động, biểu cảm được bộc lộ hẳn ra. Thêm nữa chủ đề rất phong phú, hội họa khắc họa được nhiều mặt đời sống văn hóa và xã hội của Ai Cập cổ đại.

Tuy nhiên, trong Kim Tự Tháp ngành hội họa chủ yếu dùng trang trí các quan tài của pharaoh và hoàng hậu. Theo tục lệ cổ đại, hình bên ngoài chiếc quan tài phải khắc họa được chân dung người nằm trong đó. Chính nhờ vậy hội họa Ai Cập cổ đại trở thành một thành phần sử liệu để nghiên cứu thời kỳ này.

Yếu tố tả chân tuy vẫn còn nhưng nét mềm mại biến mất, đồng thời tính chất cách điệu đã chen vào. Nguyên nhân chủ yếu là lý‎ do tôn giáo: các pharaoh và hoàng hậu là những vị thần, khômng thể thể hiện những đường nét uyển chuyển phàm tục và cần cách điệu để thể hiện tính thiêng liêng của nhân vật. Điều này không lạ, nhiều nền văn minh sau này vẫn áp dụng cách thể hiện này để tôn vinh nét thần bí của nhân vật lên.

Bên cạnh hội họa, nghệ thuật viết và khắc chạm chữ cũng là một nguồn tư liệu rất qu‎í về văn hóa xã hội thời Ai Cập cổ đại. Trong các Kim Tự Tháp đầy rẫy những kinh văn tín ngưỡng giúp chúng ta tìm hiểu về đời sống tâm linh của họ. Cũng không loại trừ trong những kinh văn đó có chứa đựng những yếu tố lịch sử giúp hiểu thêm về các biến chuyển hưng vong xảy ra suốt chiều dài lịch sử những triều đại Ai Cập thời cổ.

Chữ viết được thể hiện bằng nhiều cách, như chạm trên đá hay khắc trên gốm, nhưng bản chất chữ viết Ai Cập cổ mang tính chất hội họa cao nên đưa vào mục này. Nhiều nhất là các bức chạm chữ viết trên vách hành lang, trên quách và quan tài, … Chữ Ai Cập cổ mang tính tượng hình đầy bí hiểm, sẽ được trình bày rộng hơn ở bài sau.

Gần như luôn luôn các bản văn đều kèm theo các hình vẽ nửa có tính trang trí nửa có tính minh họa. Các hình vẽ (hình trên) miêu tả một buổi lễ mai táng theo nội dung kinh văn, nhưng cách thể hiện cho cảm giác như là các họa tiết trang trí ở đầu trang sách.

Ngay chữ viết cũng là một bức tranh được giản lược bớt: chữ Ai Cập cổ vốn là chữ vừa tượng hình vừa tượng ý‎, nhưng tính chất tượng hình của nó tả chân hơn chữ của người Trung Hoa nhiều.

c.- Gốm sứ:

Mỹ thuật Ai Cập cổ đại thiên về đá nhiều hơn, nhưng không phải không có dấu vết gốm sứ dù khá hiếm hoi. Các nghệ nhân Ai Cập cổ đã tìm ra men gốm sứ và cải biến chúng để tráng men cả đồ đá nhỏ. Chất liệu men đó là starite mà phương Tây sau này gọi là “đá xà phòng” (soapstone).

Hình trên mô tả một lối sinh hoạt thời đó, nhưng đa số các đồ gốm trong Kim Tự Tháp lấy đề tài thần linh. Thường nhất gốm sứ là vật ghi lại kinh văn.

Chất liệu gốm hẳn còn thô sơ so với kỹ thuật chế tác tinh xảo. Vì sao nghệ thuật gốm không phát triển so với đá là một đề tài lớn cần nghiên cứu.

(còn tiếp)

 

MỤC LỤC – KIM TỰ THÁP

Advertisements

Read Full Post »

Bài 3: Các giả thuyết xây dựng Kim Tự Tháp (tiếp theo)

Biên Khảo : Đức Chính

2.- Phương pháp dùng giàn trượt:

Là lý thuyết được đề ra khá sớm. Nó dựa vào các dấu vết còn sót lại được tìm thấy ở các Kim Tự Tháp Meïdoum, Sekhemkhet và Khufu, cũng như cả ở Assouan và Sinki.

Tuy nhiên nó không đủ cơ sơ thuyết phục về mặt kỹ thuật nên chưa thể cắt đứt các tranh cãi về phương pháp xây dựng Kim Tự Tháp. Các tính toán cho thấy mô hình giàn trượt chính diện như dấu vết tìm thấy ở Assouan không thể nào hoàn thành công trình Kim Tự Tháp Khufu được.

Nhưng không ít nhà khoa học vẫn dựa vào phương pháp này đề ra nhiều giải pháp kỹ thuật để chứng minh. Tựu trung có các giải pháp: giàn trượt chính diện, giàn trược xoắn ốc, giàn trượt bên hông giàn trượt bên trong. Thậm chí có tác giả như Jean-Pierre Houdin đưa ra giải pháp kết hợp vừa dùng giàn trượt chính diện vừa dùng giàn trượt bên trong; hay kết hợp với các công cụ đơn giản phù hợp với trình độ kỹ thuật thời đó như các tác giả Auguste Choisy, Hermann Strub-Roessler, Louis Croon, …

a) Giàn trượt chính diện bằng gạch thô: lý thuyết này do nhà Ai Cập học người Đức Ludwig Borchardt đưa ra nhằm giải thích dấu vết giàn trượt ở Kim Tự Tháp Meïdoum.

Giàn trượt này đặt thẳng góc với mặt Kim Tự Tháp với độ dốc không đổi dù có lên cao đến mấy. Dĩ nhiên độ dốc giàn trượt lài hơn độ dốc Kim Tự Tháp nên tránh được hạn chế gia tốc trọng trường của phương pháp Franz Löhner. Nhưng cũng vì vậy giàn trượt phải càng ngày càng dài ra tương ứng với số tầng Kim Tự Tháp được xây lên.

Các khối đá sẽ đặt lên trên bàn trượt và dùng sức người kéo lên dọc theo giàn trượt này. Phương pháp kéo có thể áp dụng kiểu kéo ngược dốc của Franz Löhner và dưới bàn trượt có thể dùng dầu làm chất bôi trơn.

Nhược điểm chính của phương pháp này là giàn trượt phải kéo dài ra mãi, đến khi đạt độ cao của Kim Tự Tháp Khufu thì giàn trượt trở thành một công trình đồ sộ không kém. Khắc phục điều này Jean-Philippe Lauer đưa ra một giải pháp cải tiến: khi còn thấp thì có độ dốc không đổi, đến khi lên cao mới áp dụng độ dốc không đổi.


Cả hai đề xuất này đều vướng vào mấy điều kiện kỹ thuật và xây dựng sau :

– Một là giàn trượt có độ dốc nhỏ và dài. Trường hợp này khối lượng vật tư xây giàn trượt rất lớn tương ứng với quy mô của từng Kim Tự Tháp; rồi khi hoàn thành phải tốn rất nhiều công sức để dẹp nó đi;

– Hai là có độ dốc tăng dần theo độ cao xây dựng. Như vậy càng lên cao lực nâng các khối đá gia tăng.

Tuy nhiên trở ngại lớn nhất của cả hai là đòi hỏi nhiều vật tư và khoảng trống xây công trình thi công giàn trượt. Nó là điểm khó thuyết phục các học giả khác.

b) Giàn trượt zic-zắc bằng gạch thô: rõ ràng khoảng trống quá lớn để làm giàn trượt chính diện là điểm khó thực tế ở môi trường xây dựng Kim Tự Tháp Khufu. Lý thuyết giàn trượt zíc-zắc được đề xuất và nhận nhiều tán đồng.

Các giàn trượt được dựng song song với các mặt của Kim Tự Tháp và cho kéo các khối đá từ tầng này lên tầng khác: không cần kéo thẳng một lần lên các tầng cao. Mặt bằng cho giàn trượt gần như không đáng kể so với mặt bằng công trình. Nhờ vậy các khối đá được nâng lên xây lõi từ dưới lên cao và từ trên cao làm phẳng bề mặt Kim Tự Tháp trở xuống. Khi đặt chóp Kim Tự Tháp, giàn trượt sẽ tháo dần theo tiến độ làm phẳng bốn mặt của các tầng bên dưới.

Tuy nhiên thuyết này cũng gặp phản bác: loại giàn này không phù hợp với điều kiện địa kỹ thuật của vật liệu được dùng (gạch thô) và nó đòi hỏi một nguồn nhân lực khổng lồ. Lại nữa, nhân công dùng kéo khối đá theo giàn trượt này rất đông, với số đông như vậy làm sao đủ diện tích để họ làm việc ở những khúc quanh. Có nghĩa là nó không có giá trị khi xét về mặt cơ học hợp lực kéo.

c) Giàn trượt bên bằng gạch thô: lý thuyết này do nhà Ai Cập học người Đức Uvo Hölscher đề xuất. Giàn gồm nhiều giàn trượt nhỏ bên hông từng bậc Kim Tự Tháp ghép với nhau theo hình xoắn ốc nên còn gọi là giàn trượt xoắn ốc.

Trở ngại chính của đề xuất này là độ dốc lớn do giới hạn chiều dài của từng tầng Kim Tự Tháp. Vì thế nó chỉ có hiệu quả trong việc xây dựng Kim Tự Tháp bậc thang nhỏ với khối đá chuyển tải lên nặng dưới 350 kg.

Khắc phục điều này, nhà Ai Cập người Đức Rainer Stadelmann thiết kế loại giàn trượt bên mở rộng ra phía trước Kim Tự Tháp để giảm độ dốc.

3.- Các phương pháp kết hợp:

Năm 2000, kiến trúc sư người Pháp Jean-Pierre Houdin đề nghị dùng 2 giàn trượt chính diện phối hợp với giàn trượt bên trong. Theo đề nghị này 40 m đầu tiên của Kim Tự Tháp dùng giàn trượt chính diện đôi: một giàn để đưa lên và một giàn nâng tiếp lên cao hơn. Tiếp theo dùng giàn trượt bên trong dạng xoắn ốc, tổng chiều dài lên tới đỉnh 1,6 km chia thành 21 đoạn. Do đặt ở trong nên tại vị trí các cạnh Kim Tự Tháp không thiếu mặt bằng cho thợ làm việc như phương pháp của Uvo Hölscher.

Phương pháp này khác phục được trở ngại dốc trượt quá cao, thiếu diện tích cho thợ thi công hay lượng vật tư cần dùng quá lớn của các phương pháp khác.

Đề nghị kết hợp thứ hai là dùng giàn trượt zíc-zắc với hai loại công cụ: cần trục con dê và tời đứng. Jean-Pierre Adam đề nghị ở mỗi mặt làm một giàn trượt zíc-zắc ; bổ sung thêm cho 4 giàn trượt này là những cần trục con dê theo ‎ý kiến Auguste Choisy, hay tời đứng kéo tay[1].


[1] Jean-Pierre Adam cho rằng vào thời này người Ai Cập đã biết đến bánh xe.

 

MỤC LỤC – KIM TỰ THÁP

Read Full Post »