Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Chín, 2011

Bài 3: CÁC GIẢ THUYẾT XÂY DỰNG KIM TỰ THÁP  ( tt )  

Biên khảo : ĐỨC CHÍNH

D.- Đưa các khối đá vào xây dựng

Các phần trước có nói chiếc quách làm bằng đá granit đỏ của Pharaoh Khufu thôi cũng nặng từ 50 đến 60 tấn. Đưa chiếc quách siêu trọng này vào bên trong Kim Tự Tháp với sức người và các phương tiện thô sơ đúng là chuyện ngoài sức tưởng tượng. Thế nhưng chuyện còn làm chúng ta khó tin hơn khi với những phương tiện như thế họ đã nâng những khối đá nặng trung bình 2-3 tấn lên cao, nhất là khối đá cuối cùng ở chóp Kim Tự Tháp (dù có nhẹ hơn 2-3 lần) phải đưa lên độ cao trên 140 m.

Đưa một vật nặng thẳng lên độ cao như vậy là điều không thể. Nên nhiều chuyên gia cho rằng Kim Tự Tháp xây phần giữa từ dưới lên trên trước và chia thành nhiều tầng như Kim Tự Tháp bậc thang. Ở mội tầng có khoảng trống để làm không gian chuyển tiếp vật liệu cho tầng cao hơn. Khi phần giữa xây dựng xong, người ta mới ốp đá tạo mặt nhẵn bên ngoài từ trên xuống, cũng để có không gian chuyển tiếp vận chuyển vật liệu.

Dù vậy, vấn đề này vẫn còn làm đau đầu nhiều nhà nghiên cứu và cũng vì vậy mà có nhiều thuyết được đưa ra. Chúng ta lần lượt xem xét một số thuyết được nhiều người đồng tình nhất.

1.- Phương pháp dùng trục quay và dây kéo: các tác giả dựa trên nguyên lý‎ ròng rọc, loại phương tiện đơn giản khả dĩ người Ai Cập cổ đại có thể nghĩ ra.

Franz Löhner đề xuất phương pháp dùng dây kéo và trục quay. Trục quay là loại gỗ cứng, xoay trong một vòng bằng đồng. Dây tựa vào trục quay đó để kéo khối đá lên. Franz Löhner đề xuất mẫu trục quay sau:

Với trục quay theo kích thước ở trên và sợi dây có đường kính chỉ 5 cm, năm 1991 Löhner đã thử nghiệm nâng khối đá năng 5 tấn lên cao. Ông cho rằng loại thiết bị này neo vào Kim Tự Tháp dễ dàng nhờ vách của nó rất nặng và sườn lại dốc (gần 520). Chính có độ dốc như thế việc kéo đá bằng trục quay và dây kéo không bị vướng.

Có thể dùng thêm neo phụ ở trong sâu để bảo đảm sức bám của trục quay.

Nếu dùng thêm bàn trượt bằng gỗ đở khối đá tựa vào vách Kim Tự Tháp khi kéo lên, khả năng của hệ thống này khi dùng sức người có thể nâng những khối đá có trọng lượng trung bình 2,5 tấn lên cao 30-37m. Vì Kim Tự Tháp được xây dựng từng bậc một, với sức nâng như thế việc đưa các khối đá vào xây dựng là có thể.

Lực ma sát tĩnh giữa bàn trượt với đường ray và lực ma sát giữa dây kéo với trục quay có thể làm giảm bớt bằng chất bôi trơn. Chất bôi trơn cho bàn trượt có thể là một chất dầu có độ sệt nhẹ, cho dây kéo với trục quay là chất mỡ đồng chế bằng cách nghiền mịn đồng với mỡ động vật. Dây kéo có thể bện bằng sợi gai, chất sợi này dẽo có thể giảm được khá nhiều lực ma sát.

Phương thức kéo được đề xuất nhiều cách:

a.- Kéo ngược dốc: Franz Löhner đề xuất hai người đi ngược hướng với khối đá để giảm sức chịu nặng. Với sườn  dốc Kim Tự Tháp Khufu (gần 520), số lượng người kéo mỗi đội cần khoảng 50 người đủ đưa những khối đá nặng 2,5 tấn lên cao. Cơ sở tính toán là mỗi người có khả năng kéo 12-15 kg lực, trừ đi độ mõi khi kéo lên cao thì 2,5 tấn cần bấy nhiêu người.

Đội kéo chia làm hai nhóm, mỗi nhóm kéo một đầu dây ở hai bên đà trượt. Như thế, dây buộc khối đá là dây đôi, khi lòn qua trục quay sẽ chia làm hai ngã. Khi kéo đến, bàn trượt sẽ được di chuyển trên đà trượt đến nơi quy định.

Riêng khối chóp cuối cùng của Kim Tự Tháp sẽ có một đội ít người hơn người đứng đứng trên giàn đở (k‎ý hiệu A) đầu đối diện hướng vừa để kéo phụ lực vừa để điều chỉnh vị trí đỉnh chóp.

Dĩ nhiên công việc này cần có người chỉ huy cũng đứng trên giàn đở (k‎ý hiệu D) để xác định vị trí của chóp. Khi bàn trượt kéo lên đến méo thành chóp kim tự tháp, đội điều chỉnh phía bên kia chằng dây kéo phụ để điều khiển khối đá ăn vào vị trí đã định. Công việc này có nhiều xê dịch tới lui, phải phối hợp với đội kéo chính có nhiệm vụ nâng khối chóp này. Thực tế đội kéo chính và đội kéo điều chỉnh khó phán đoán vị trí chính xác cần đưa vào. Người chỉ huy phải làm việc này và ra những lệnh điều chỉnh thích hợp. Vị trí đã ăn khớp, đòn bẫy sẽ dùng để kéo bàn trượt ra. Khi kéo bàn trượt ra người chỉ huy cần có kinh nghiệm để khối chóp ở đúng vị trị hay ít phải xê dịch điều chỉnh quá nhiều.

b.- Nâng thẳng đứng: đây là một đề xuất phụ của một tác giả khác: James Frederick Edwards (2003). Phương pháp này đưa các khối đá vào trong lòng Kim Tự Tháp và từ đó kéo lên. Đặc biệt phương pháp này tỏ ra khả thi khi vận dụng để nâng và hạ khối đá siêu trọng như chiếc quách của Pharaoh vào đúng phòng quàn xác ướp.

Phương pháp này dùng hệ thống 2 trục quay đặt trên dưới nhau. Như thế lực nâng bị chia ra và người kéo có thể ghì đở chịu mõi. Hơn thế nữa, nười kéo sẽ làm việc trên một mặt phẳng nên năng suất và độ an toàn cao hơn.

Do kéo thẳng đứng nên khối đá chịu thêm một lực do gia tốc trọng trường tác động vào. Do vậy, hệ thống này phải dùng một đội kéo đông hơn chia thành 4 nhóm kéo theo 4 phương thẳng góc nhau. Hệ thống trục quay cũng thay đổi: thay vì nằm ở giữa sẽ dười ra 4 cạnh của hệ thống. Dây kéo sẽ luốn quan khối đá và đưa ra ở 4 trục quay trên. Nhóm kéo sẽ dùng sức kéo đầy dây này.

c.- Nâng chuyển khối siêu trọng của chiếc quách: chiếc quách này như đã nói nặng 50-60 tấn. Tác giả sử dụng phương pháp đối trọng bằng những khối đá nhỏ hơn.

Thay cho sức kéo, tác giả đề xuất dùng 8 khối đá có trọng lượng 5-6 tấn mỗi khối, mỗi khối do một đội kéo khoảng 80 người điều khiển, để nâng hay hạ thẳng đứng. Những khối đá này được thả từ từ ngược hướng nâng của khối siêu trọng.

Như vậy việc nâng chuyển chiếc quách siêu trọng được giải quyết bằng 8 đội kéo thả từ từ 8 khối đá 5-6 tấn xuống làm đối trọng cho chiếc quách, khi cần kéo lên hay thả xuống. Số lượng nhân công làm việc này lên đến 640 người. Điều kiện mọi người phải làm việc đều tay sao cho ăn khớp nhau, tránh có khối đối trọng nào đi quá nhanh (vì nó sẽ gây tai nạn), đó là vai trò của người chỉ huy.

(còn tiếp)

Xin vui lòng liên hệ với tác giả Đức Chính :

<ducchinhfriends@yahoo.com.vn>

trước khi sao chép các tư liệu trên .

MỤC LỤC – KIM TỰ THÁP

Advertisements

Read Full Post »

Bài 3:  CÁC GIẢ THUYẾT XÂY DỰNG KIM TỰ THÁP ( tt )

Biên Khảo : ĐỨC CHÍNH

C.- Khai thác và vận chuyển đá

Các nghiên cứu gần đây trên cơ sở hóa học cho thấy đá granit đỏ trong Kim Tự Tháp Khufu lấy từ mỏ đá Aswan, nằm ở thượng nguồn sông Nil cách Giza 934km (tính theo đường chim bay 700 km). Riêng chiếc quách làm bằng đá granit đỏ của Pharaoh Khufu thôi cũng nặng từ 50 đến 60 tấn (kích thước 1,3×1,8x8m)

Bên cạnh, có những khối đá vôi lấy từ thiên nhiên ở các mỏ gần đó như đã nói ở phần trước. Các nghiên cứu gần đây cho thấy phần đá vôi khai thác tại mỏ Tura, bên bồ Tây Sông Nil (phía nam Cairo) cách Giza 13-17 km. Một mỏ đá khác nằm ngay vùng Giza (gọi là mỏ Giza) nhưng cũng cách công trường vài cây số.

Dù gần hay xa, vấn đề khai thác và vận chuyển cũng đặt thành vấn đề nan giải. Chẳng hạn di chuyển khối đá granit dùng làm chiếc quách nặng trên 60 tấn vượt gần 1.000 cây số với sức người và công cụ thô sơ?!

1.- Khai thác và chế tác đá:

Khai thác đá tức lấy từ khối địa chất tại mỏ đá ra những thể tích theo đúng yêu cầu xây dựng: cắt đá mỏ ra thành khối. Vấn đề này tưởng chừng đơn giản này lại là vấn đề gây nhiều tranh cãi chỉ vì một l‎ý do đơn giản: các khai quật không tìm thấy dấu vết dụng cụ khai thác đá nào cả. Các cuộc tranh cãi cứ đặt trên nền tảng những thử nghiệm và phán đoán.

Một số nhà nghiên cứu cho rằng công cụ tạo hình các khối đá là búa và đục bằng đồng. Nguyên lý‎ thông thường dụng cụ chạm đẽo đá phải có độ cứng cao hơn đá. Dựa vào thang độ cứng Mohs, đá vôi là 4. đá granit từ 6 đến 8. Trong khi đó độ cứng của đồng nguyên chất chỉ có 3. Nên trái với những giả thuyết trước đây, Franz Löhner đoan chắc nếu không dùng dụng cụ rèn từ sắt thì việc cắt các khối đá là chuyện không thể (độ cứng sắt rèn là 7-8, theo thang Mohs). Nhưng nhà Ai Cập học người Anh Denys Stocks chứng minh được các loại khoan và cưa làm bằng hợp kim đồng (chứ không phải đồng nguyên chất) vẫn gia công chế tác đá tốt. Thực tế các khảo cứu gần đây cho thấy chất đồng thời Ai Cập cổ đại không là đồng nguyên chất. Nó được chế tác từ khoáng đồng có lẫn arsenic và de bismuth, nên sản phẩm của nó là một hợp kim có độ cứng cao hơn đồng nguyên chất nhiều.

Stocks còn thử nghiệm cưa đá bằng công cụ hợp kim đồng có gia thêm cát thạch anh ở phần tiếp xúc với đá nhằm gia tăng độ ma sát. Phương pháp này khá thuyết phục vì cát thạch anh có sẳn ở sa mạc Ai Cập và công cụ dùng chung với nó không đòi hỏi phải tinh xảo lắm. Thuyết này hiện được đông đảo thừa nhận.

Mặt khác, lý‎ thuyết cơ học cho biết các vật bén nhọn cho phép cắt đẽo những vật có độ cứng hơn nó (phản bác lý‎ luận của Franz Löhner). Như thế đục bằng đồng vẫn có thể đục chạm các khối đá. Việc này đã được thực nghiệm chứng minh.

Cắt chuẩn xác góc cạnh cho khối đá

Kim Tự Tháp Khufu có góc nghiêng khoảng 520. Yếu tố kỹ thuật này đòi hỏi các khối đá khi khai thác phải đáp ứng thì việc xây dựng sau đó mới dễ dàng và an toàn. Như vậy, các khối đá nằm ở mặt ngoài Kim Tự Tháp không những đạt tiêu chuẩn độ phẳng thích hợp mà còn phải đảm bảo yếu tố kích thước và góc cạnh theo yêu cầu xây dựng.

Như trình bày ở trên, người Ai Cập có phương thức seked, nhưng phương thức này gây khó khăn khi xác định ngay tại công trường. Mỗi lần như thế phải dùng dây dọi để xác định tỷ lệ tương ứng với seked như hình vẽ dưới đây.

Rõ ràng thiếu dây dọi sẽ làm lệch độ nghiêng vì sai lệch đoạn thẳng tương ứng mà ra, còn dùng dây dọi quả cản trở khá nhiều tiến độ chế tác đá vì quá trình này đòi hỏi kiểm tra lại nhiều lần. Khắc phục điều này, người Ai Cập chế sẳn cái lường bằng gỗ theo góc nghiên cho trước.

2.- Thủy vận các khối đá :

Dấu vết các khu Kim Tự Tháp đều có các con kinh lớn dẫn vào khu gần Kim Tự Tháp. Tại đó có một bến cảng nhỏ để tiếp nhận các khối đá. Vết tích các bến cảng này được giới khảo cổ gọi là hố thuyền. Như bài 2 đã nói, phần lớn các Kim Tự Tháp đều có dấu vết hố thuyền.

Đó là lẽ đương nhiên và là lựa chọn của các pharaoh khi xây dựng các Kim Tự Tháp bên cạnh bờ sông Nil: khai thác thủy lộ để vận chuyển đá. Nhưng đó cũng là câu hỏi đối với các nhà khoa học: phương thức và phương tiện thủy vận như thế nào?

Đề xuất thứ nhất là chuyển các khối đá lên một chiếc xuồng được thiết kế dùng cho việc này, lợi dụng sức gió theo hướng Bắc Nam và sức đẩy của dòng nước (vì các mỏ nằm vùng thượng lưu còn khu Kim Tự Tháp đa phần nằm ở hạ lưu) của sông Nil để chuyển vận. Khi sức gió và dòng nước không đủ để con tàu di chuyển, người ta dùng mái chèo và dây kéo bằng sức người ở hai bên bờ. Ở gần công trường, họ khơi một con kinh đủ rộng để việc thủy vận tiến vào sát vào công trường.

Bài toán này có vẽ hợp l‎ý với những khối đá thông dụng 5-6 tấn. Nhưng với những khối đá siêu nặng như chiếc quách của vua Khufu (60 tấn) vấn đề chuyển lên và chuyển xuống (trong trường hợp con thuyền đủ sức chịu đưng) không là chuyện đơn giản ngay cả trong điều kiện ngày nay. Vậy người Ai Cập cổ đại giải quyết thế nào?!

Franz Löhner đề xuất một giả thuyết có nhiều tính khả thi: người Ai Cập chuyển khối đá siêu trọng đó lên một chiếc bè, cặp chiếc bè đó có hai chiếc thuyền lai dắt đi.

Với những khối đá này khi di chuyển lên bè (tương đối ngang mặt nước, thuận lợi hơn thuyền vì thuyền có thành nhô cao) phải dùng đến sườn dốc để đẩy. Loại sườn dốc này sẽ gặp lại trong phần D: đưa các khối đá lên Kim Tự Tháp.

3.- Vận chuyển trên bộ :

a.- Dùng trâu bò kéo trên xe trượt: có thể phương thức này dùng sức người để kéo. Theo tài liệu cổ của Ai Cập, có hình vẽ tượng pharaoh đặt trên các xe trượt để thần dân kéo đi. Theo mô tả của thư tịch tượng này cao 13 cubits (6,81 m), nặng đến 60 tấn (tương đương chiếc quách bằng đá granit hồng của Khufu)

Tuy nhiên với số lượng đá khổng lồ và không đòi hỏi quá nhiều câu nệ lễ nghi như đối với tượng pharaoh, sức người có thể thay thế bằng sức gia súc.

Theo các nhà khoa học, họ dùng xe trượt vì thời ấy người Ai Cập chưa sáng kiến ra bánh xe. Chính vì thế lực ma sát với mặt đường lớn và đòi hỏi nhiều sức kéo. Đòi hỏi này đặt thành vấn đề cần bao nhiêu nhân lực để kéo (nếu dùng sức người) hay có giải pháp nào để dung hòa với việc canh tác (nếu dùng gia súc kéo). Dồn hết sức gia súc cho việc xây dựng Kim Tự Tháp sẽ có vấn đề cung ứng lương thực cho nhân công tại đây.

b.- Đề xuất của kéo trục lăn của Löhner. Các khối đá đặt trên các trục lăn bằng gỗ và dùng dây kéo. Các trục lăn này đặt trên các đường ray nên trượt đi khá dễ dàng.

Năm 1991, Löhner đã thử nghiệm phương pháp này tại Đức và kéo được khối đá nặng 5 tấn. Nhưng thử nghiệm này không giải quyết được vấn đề di chuyển các khối đá lớn như chiếc quách của Khufu. Bởi lẽ :

– Sức chịu lực của các trục tròn không lớn như trục dẹt của xe trượt. Vậy giới hạn sức nặng khối đá bao nhiêu để trục lăn bằng gỗ không bẹt dúm.

– Việc xây dựng đường ray qua nhiều địa hình không phải dễ dàng và dĩ nhiên kích thước khối đá đến một giới hạn nào đó phải có đường ray lớn thích hợp.

Nhưng phải thừa nhận đa số các khối đá dùng xây dựng Kim Tự Tháp đều thỏa với thí nghiệm và mỗi Kim Tự Tháp đều có dấu vết con đường đấp dẫn đến tận chân Kim Tự Tháp cùng với con kinh lớn xẻ từ sông Nil vào bến cảng công trường. Có thể phương pháp này rất hiệu quả cho việc vận chuyển những khối đá thông dụng từ bến cảng đến khu chế tác và từ khu chế tác đến chân Kim Tự Tháp.

Xin vui lòng liên hệ với tác giả Đức Chính :

<ducchinhfriends@yahoo.com.vn>

trước khi sao chép các tư liệu trên .

 

MỤC LỤC – KIM TỰ THÁP

Read Full Post »

BÀI 3 : CÁC GIẢ THUYẾT XÂY DỰNG KIM TỰ THÁP

BIÊN KHẢO : ĐỨC CHÍNH

Qua các Kim Tự Tháp khảo sát ở bài 2, rõ ràng không phải tất cả các Kim Tự Tháp đều đồ sộ làm choáng ngợp mọi người. Có những Kim Tự Tháp xây dựng bằng gạch bùn và nhiều Kim Tự Tháp quy mô không to. Thế nhưng câu hỏi ai và làm thế nào xây dựng Kim Tự Tháp vẫn là đề tài đến tận ngày nay còn tranh cãi. Câu hỏi đó thật tế tập trung vào Kim Tự Tháp Lớn (tức Kim Tự Tháp Khufu , hay còn gọi là Kim Tự Tháp Đỏ) ở khu quần thể Giza.
Cần nhắc lại Kim Tự Tháp Khufu, do tể tướng Hemon chỉ huy xây dựng trong khoảng thời gian 14-20 năm, cao 146,6 m; tương đương tòa nhà 50 tầng và nặng khoảng 5,9 triệu tấn. Người ta ước tính Kim Tự Tháp chính và các Kim Tự Tháp nhỏ ngốn mất chừng 2.500.000 m3 đá. Như thế , từ lúc dọn mặt bằng đến khi công trình hoàn tất với thời gian khảo cứu như nói trên, với một người thợ mỗi năm làm 350 ngày (vì có ngày nghỉ do lễ lạc), mỗi ngày làm việc 12 giờ, số người tham gia xây dựng được huy động hết sức đông đảo (cho dù là sử dụng nô lệ đi nữa). Khả năng huy động này nói lên yếu tố trung ương tập quyền cao độ của xã hội Ai Cập Cổ đại và lý‎ giải vì sao khi sự tập trung quyền lực đó không còn nữa thì thời đại Kim Tự Tháp cũng chấm dứt để thế vào là Thung lũng các vì vua.

Quả thật, với công cụ và phương tiện kiến trúc phổ thông thời đó, việc xây dựng Kim Tự Tháp Khufu vượt khỏi trí tưởng tượng của loài người. Đến nỗi rất nhiều người không

tin dân tộc Ai Cập cổ đại có thể làm được, mà do một nền văn minh khác có trình độ không thua kém chúng ta ngày này dựng lên, thậm chí có người tin đó là công trình của người ngoài Trái đất. Dĩ nhiên những ước đoán đó không đủ cơ sở chứng minh và thực tế diễn biến từ cao đến thấp của các loại hình Kim Tự Tháp bác bỏ. Lời bác bỏ sẽ trở nên thuyết phục khi chứng minh được các Kim Tự Tháp được xây dựng lên bằng chính các phương tiện đương đại của thời ấy. Chính điều này đã dấy lên một trào lưu nghiên cứu cách thức người Ai Cập cổ đại xây dựng chúng.

A.- Cơ sở của các nghiên cứu phương thức kiến trúc Kim Tự Tháp

Cơ sở của các nghiên cứu trong trường hợp này là những điểm li kỳ ở Kim Tự Tháp Khufu. Chúng là những sự kiện khiến người ta vừa hoài nghi vừa thán phục trình độ xây dựng của một dân tộc cổ đại cách nay trên 4.500 năm[1] (một khoảng thời gian quá lớn so với đời người ngắn ngủi khó vượt quá ba vạn sáu ngàn ngày). Để có một vài hình ảnh so sánh, chúng ta mượn một vài niên biểu: Phật Thích Ca đản sinh năm 544 trước Công nguyên, Lão Tử giáng thế năm 471 trước Công nguyên, Khổng Tử năm 491 trước Công nguyên và Chúa Jesus phải hơn 2500 năm sau mới giáng sinh. Riêng ở Việt Nam, thời kỳ lập quốc của Hùng Vương, dù chỉ là truyền thuyết, vẫn chưa ra đời.

Chỉ riêng việc tổ chức làm việc với quy mô công trình như thế ngay cũng đủ chứng tỏ xã hội Ai Cập thời cổ đại có tổ chức cao và trình độ phân công lao động hết sức khoa học. Bỏ qua yếu tố xã hội, công trình vĩ đại Kim Tự Tháp thu hút sự chú ‎ của nhiều giới khoa học gia ở những điểm sau:

1.- Vật liệu xây dựng: các khối đá.

Khối đá ở đáy Kim Tự Tháp Khufu có trọng lượng trung bình 2,5 tấn với kích thước thường thấy 1,17×1,17×0,73 m mỗi khối. Dĩ nhiên càng lên cao các khối đá có kích thước nhỏ dần

Tại các mỏ đá, người ta dùng cát cưa ra thành từng khối theo yêu cầu kích thước. Sau khi khai thác từ các mỏ đá, các khối đá được đẽo bằng đục làm bằng đồng để làm phẳng mặt. Nếu không chúng chẳng thể chồng khít vào nhau khi đưa vào xây dựng. Để có được lượng đá như thế số lượng đồng chế tác đục (đồng mềm nên dễ hỏng) không nhỏ và lực lượng lao động cho công việc này cũng khổng lồ không kém. Vì thế, việc xây dựng Kim Tự Tháp không chỉ đóng khung nơi công trình, mà nó có tác động rất rộng đến toàn xã hội như lượng đồng cung ứng làm công cụ, và nhất là lượng lương thực cần thiết nuôi những công nhân.

Chắc chắn các mỏ đá không nằm sát bên nơi xây dựng Kim Tự Tháp, chí ít loại đá có sẳn ở địa phương cùng nằm cách xa nhiều cây số. Với địa hình vùng Thung lũng sông Nil như thế và trong điều kiện trình độ cơ giới hạn hẹp, bài toán vận chuyển cũng làm người ta đau đầu không ít.

Gần đây có một vài nghiên cứu cho rằng các khối đá đó không là đá tự nhiên mà là khối vật liệu đúc theo kiểu đúc bê-tông[1]. Theo Joseph Davidovits, khối đá đó được đúc từ loại đất sét chứa vôi vốn sẳn có ở địa phương. Đất sét này nhào trộn với nước và gia thêm chất kết dính là khoáng natron và vôi. Hỗn hợp này cho vào khuôn và tự đông cứng thành đá và cứng chẳng kém đá tự nhiên. Ông và đồng sự đã tiến hành thử nghiệm, kết quả chứng minh lý‎ thuyết này có tính thuyết phục.

Ngày 30 tháng 11 năm 2006, tạp chí khoa học Journal of the American Ceramic Society (Tập san Hội Gốm Sứ Hoa Kỳ) công bố nghiên cứu vi thành phần ở khối đá lấy từ Kim Tự Tháp cho thấy có silic kết hợp với nhiều nguyên tố khác như calci và magné. Những thành phần này không hề có trong đá vôi tự nhiên ở địa phương. Phân tích này góp phần củng cố thêm lý‎ thuyết của Joseph Davidovits.

Dù có phủ nhận nguồn gốc đá tự nhiên, nhưng với thành tựu như vậy làm con người phải bái phục khía cạnh khác : trình độ công nghệ vật liệu xây dựng.

Tuy nhiên phần đá granit đỏ ở trong lõi và mặt ốp ngoài của Kim Tự Tháp vẫn phải khai thác từ các mỏ đá về. Hiện nay các nhà khoa học như giáo sư Gilles Hug, thuộc Cơ quan Nghiên cứu Hàng Không và Không gian Pháp (L’Agence Nationale de la Recherche Aérospatiale), và giáo sư Michel Barsoum, thuộc Đại học Drexel ở tiều bang Philadelphia, cho rằng các Kim Tự Tháp ở Giza dùng hai loại đá «vôi»: một loại lấy từ các mỏ đá và một loại nhân tạo. Nói khác đi bài toán khai thác và vận chuyển đá từ mỏ đến công trường vẫn chưa hoàn toàn bị loại bỏ.

2.- Bài toán vận chuyển: từ mỏ đá vượt chặng đường xa xôi trong điều kiện gần như đường sá chưa có, trừ con sông Nil làm thủy lộ. Nhưng từ mỏ đá ra sông Nil và từ sông Nil vào khu xây dựng là một bài toán nan giải. Phải mất nhiều công sức các nhà khoa học mới vạch ra một số giả thuyết cho bào toán này (sẽ nói ở phần C)

3.- Bài toán đưa các khối đá vào xây dựng

Việc vận chuyển vốn là một kỳ công, việc nâng các khối đá đó lên (không tính giả thuyết nó được đúc) cả là một vấn đề nan giải gấp bội. Cũng nần nói thêm khối đá cuối cùng phảo vượt lên độ cao 145 m của Kim Tự Tháp. Cho dù khối đá ở đỉnh có nhỏ và nhẹ hơn thì chúng cũng phải nặng cả tấn : đưa một tấn vật liệu lên độ cao như thế với phương tiện kỹ thuật thô sơ không phải là bài toán dễ có lời giải đáp.

Rất nhiều giả thuyết dựa trên điều kiện kỹ thuật thời đó được đề xuất, nhưng hình như chưa có lời giải hoàn hảo nào. Phần sau sẽ khảo sát nhiều hơn các giả thuyết này, ví dụ : các giả thuyết dùng giàn dốc (ramp) để đẩy lên, giả thuyết dùng dây và ròng rọc kéo lên, … Trong bài sẽ dành một mục (phần D) nói về vấn đề khá dài dòng này.

4.- Xác định phương hướng và kích thước chính xác :

Không riêng gì Kim Tự Tháp Khufu, nhiều Kim Tự Tháp khác các mặt hướng về 4 phương chính. Mặt phía Bắc rất quan trọng vì phần đông các cửa vào bên trong Kim Tự Tháp trỗ ra hướng này, và ống thông «dẫn Pharaoh lên trời» cũng nằm ở mặt Bắc để trực chỉ lên vùng có chòm sao Bắc đẩu. Các khảo sát cho thấy trục bắc-nam của Kim Tự Tháp Khufu chỉ lệch chưa tới 3 phút (chính xác là 2′ 28”) và các cạnh đáy của nó cũng có sai số rất nhỏ. Rõ ràng công trình sư của Kim Tự Tháp hẳn có một phương pháp tính toán hết sức chính xác với những công cụ đo đạc thô sơ.

Otto Neugebauer đề xuất một giải pháp giả thuyết hết sức đơn giản và phù hợp với điều kiện thời đó cho vấn đề xác định phương hướng của Kim Tự Tháp :

Trên mặt bằng dự kiến xây dựng Kim Tự Tháp, họ làm một kim tự tháp mẫu bằng gỗ hay bằng đá, nhỏ nhưng có trục Bắc Nam thật chính xác. Căn cứ vào các cạnh của kim tự tháp mẫu họ xác định hai đường chéo cho Kim Tự Tháp. Từ đó họ dùng phương pháp hình vuông xác định 4 góc và sau đó là các cạnh đáy. Xác định xong họ dời kim tự tháp mẫu đi và xây dựng lên khoảng nền đó.

Vậy việc xác định trục Bắc-Nam cho kim tự tháp mẫu tiến hành như thế nào? Họ dựa vào bóng Mặt trời vào nhiều thời điểm trong ngày. Trước tiên họ xác định trục Bắc-Nam sao cho có độ chính xác tương đối cao nhất. Rồi họ vạch hai đường thẳng của cạnh xuôi theo hướng Bắc Nam. Nếu trục bắc nam chính xác thì bóng ngã mặt trời của đỉnh kim tự tháp sẽ tạo một cung tròn cắt hai đường này (vì Mặt trời di chuyển biểu kiến theo hướng Đông-Tây) và đối với gai đường theo trục Đông-Tây thì bóng ngã không bao giờ vượt qua phạm vi. Dựa vào đó họ điều chỉnh kim tự tháp mẫu sao cho đạt độ chính xác cao nhất: vòng tròn này thực sự là cung của vòng tròn. Phương pháp này thực hiện vào những tháng mùa đông dễ dàng nhất vì lúc đó Mặt trời thấp hơn đường chân trời.

Một góc độ toán học khác hết sức quan trọng: độ nghiêng và dáng hình chóp của Kim Tự Tháp. Thực tế cho thấy các Kim Tự Tháp rất cân đối về các mặt; điều này đòi hỏi có sự giám sát rất chặt chẽ và khoa học. Nếu không, một công trình to lớn như thế sẽ bị xiêu lệch hay méo dạng, nhất là ở các cạnh gờ. Một trong những điều kiện để bảo đảm là phương pháp xác định tọa độ địa lý‎ từng điểm (ví dụ dùng định vị tọa độ toàn cầu như ngày nay). Khi xác định được điều này mới kịp thời điều chỉnh các sai lệch. Người Ai Cập cổ đại làm thế nào thực hiện đòi hỏi toán học cao như thế này ?! Thực ra những khái niệm cao cấp đó còn xa lạ với người Ai Cập, bù lại họ có phương pháp thực dụng khá độc đáo.

Người Ai Cập cổ đại giải quyết việc này bằng phương pháp xác định góc vuông. Họ không biết định lý Pythagore, nhưng kinh nghiệm dạy họ bộ ba con số 3:4:5 giúp xác định ra góc vuông (sau này người ta gọi là bộ ba Pythagore)[1].

Dữ liệu ghi lại cho biết các pharaoh có những vị quan chuyên lo đo đạc đất dai gọi là harpedonaptai. Các vị này luôn mang theo vòng dây thắt nút theo tỷ lệ 3:4:5. Căng vòng dây này sẽ cho một tam giác vuông, và như thế góc vuông đã được xác định. Chính góc vuông này xác định vị trí các góc của Kim Tự Tháp, góp một phần không làm méo nó.

Còn về góc nghiêng. Theo Franz Löhner góc nghiêng được xác định trước với độ chính xác tối đa có thể đạt được ngay trên khối đá tại khu chế tác đá tại công trường nhờ vào một dụng cụ bằng gỗ đo đạc.  Khi đưa vào vị trí xây dựng, nó lại được kiểm tra và xác định góc độ đặt để. Việc kiểm tra ở công trường được thừa nhận khi chiều dàu các cạnh như ngau và có góc vuông. Nếu có sai số, khối đá bị thay thế hay cắt gọt cho chính xác hơn.

Để tiện trình bày, ở đây xin nói quan các đơn vị đo chiều dài của người Ai Cập cổ đại. Họ có thang đo lường rất lạ, không dùng theo hệ thập phân. 1 cubit = 52.4cm (Meh Nesut) = 7 palm = 28 fingers. Suy ra, 1 palm = 7.48cm (Shesep hay Shep); 1 finger = 1.87cm (Yeba hay Zebo).

Tài liệu toán học Rhind chép trên giấy cói (Papyrus) có mô tả cách xác định các góc của khối đá chế tác ở mỏ dùng các đơn vị đo nói trên. Người Ai Cập dùng một thứ đơn vị khác gọi là seked (seqt, seqed hay sqd) để xác định các góc. Cách đo góc của họ không dựa vào cung độ của góc, mà dựa vào tỷ số chiều cao so với seked. Như hình trên 1 seked tương ứng với 1 cubic, đó là góc cần tính toán.

Như thế khi ra mệnh lệnh chế tạo đá họ sẽ dùng các tỷ lệ này để thông báo. Chằng hạn với độ nghiêng của Kim Tự Tháp Khufu họ sẽ ra lệnh độ nghiêng khối đá mặt ngoài là seked = 5½ palms (tương ứng 51°50’24”). Đến đây chúng ta hiểu vì sao các Kim Tự Tháp có độ nghiêng tính theo góc hiện đại rất nhiều số lẻ.

5.- Vấn đề nhân lực: điều trước tiên cần lưu ý: vào thời xây dựng Kim Tự Tháp nhiều nền văn minh lớn khác trong lịch sử nhân loại còn đang thời kỳ bộ lạc bán khai. Có hình dung như thế mới thấy hết tầm vĩ đại của dân tộc Ai Cập cổ đại đối với thế giới thời bấy giờ khi huy động một khối nhân công khổng lồ.

Như trên đã trình bày, có một số đá được khai thác từ các mỏ mang về. Theo nghiên cứu của tiến sĩ Heribert Illig và Franz Löhner có 6700 thợ cả và nghệ nhân có tay nghề cao tham gia xây dựng Kim Tự Tháp Khufu, con số này không tính những lao động phổ thông hay tay nghề thấp[2]. Con số này có thay đổi theo từng thời điểm và dựa vào giả thuyết thời gian xây dựng 10-15 năm. Tóm lược những tính toán của 2 tác giả này như sau :

a) Nhân công tại các mỏ đá: Mỏ đá ở Giza : tính trung bình mỗi ngày mỏ đá này cung cấp 431 khối, làm tròn số lên 500. Tính sức người cứ mỗi giờ một đội 8 người (số người cần thiết để sử dụng đòn bẩy) để bẩy khới đá lên khỏi nền đá gốc bằng đòn bẩy bằng gỗ; phải cần đến 25 đội tức 25×8=200 người. Số lượng đá này cần 80 xử l‎ý và 130 người vận chuyển ra khỏi khu mỏ. Tổng cộng 410. Với phương pháp tính như trên, mỏ ở Tura cần 380 người ; mỏ Aswan cần 380 người. Tính chung việc khai thác đá cần 1170 người.

b) Vận chuyển đến công trường:  bài toán của hai tác giả dựa vào thủy lộ sông Nil. Mỗi ngày mỏ Tura cung ứng 69 khối đá, nghĩa là mỗi ngày có một đội tàu vận chuyển 7 chiếc xuất bến, cần: 105 người vận hành bè, 15 người phụ trợ, 140 người lai dắt và 20 giám sát. Tổng cộng 280 người xuất bến mỗi ngày. Tương tự đội tàu từ mỏ Aswan mỗi ngày có một đội tàu xuất bến, cần 480 người. Con đường thủy lộ từ Tura đến công trình dài 6-7 km nên chỉ cần một đội tàu ; nhưng với mỏ Aswan mất 20 ngày mới đến nơi nên số lượng đội tàu phải tương ứng. Bên cạnh, số người làm công việc cung ứng và dịch vụ cho các đôi tàu ước tính cần 50.

c.- Vận chuyển trên bộ đến công trường: mỗi ngày mỏ Giza tại địa phương cung ứng 500 khối đá, giả thuyết dùng xe trượt để kéo cần đến 720 thợ kéo và 80 người phục vụ (tổng cộng 800 người). Ngoài ra còn tính vận chuyển bộ từ bến tàu về công trình, mất 220 nhân công. Nhìn chung làm việc vận chuyển này có 1020 người mỗi ngày.

d.- Khu chế tác đá tại công trường Kim Tự Tháp. Việc chế tác đá được thực hiện ngay trên công trường để các kiến trúc sư kịp thời ra mệnh lệnh chế tác và điều chỉnh. Ở đây cần 300 thợ đá, 300 người lo việc hậu cần, 100 thợ rèn chế tác công cụ và 120 giám sát công việc (1020 người). Chế tác xong vận chuyển đến chân Kim Tự Tháp cần thêm 300 nhân công.

e.- Nhân lực xây dựng : chuyển các khối đá đá vôi lên sườn Kim Tự Tháp cần 880 thợ, vận chuyển đá granit lên cần 200 người, làm công việc xây dựng 820 người (mất 1700 nhân công)

Dĩ nhiên dây chỉ là những con số khô khan. Cách tính toán của hai tác giả có những luận điểm l‎ý thú mà khuôn khổ bài này không thể nói hết. Thế nhưng từ những con số này chúng ta thấy xã hội Ai Cập cổ đại có một trình độ tổ chức cao. Hãy tượng tượng Vạn Lý‎ Trường Thành tuy đồ sộ nhưng mức độ kỹ thuật kém xa Kim Tự Tháp, hơn nữa lại xây dựng sau Kim Tự Tháp khoảng 2000 năm. Lịch sử ghi lại chính việc xây dựng Vạn Lý‎ Trường Thành là một trong những động lực làm sụp đổ nhà Tần (dân chúng ai thán sinh nổi loạn), ngược lại sau Kim Tự Tháp Khufu còn nhiều Kim Tự Tháp khác nữa. Suy nghĩ yếu tố này cho thấy định chế xã hội Ai Cập cổ đại còn cần nhiều nghiên cứu soi sáng thêm, chứ không chỉ là hình ảnh uy nghi của Kim Tự Tháp mà thôi.

B.- Các giả thuyết của những nhân vật thời xưa:

Điều thú vị ở Kim Tự Tháp nằm ở điểm chúng không chỉ gây tò mò giới học giả phương Tây từ khi đất Ai Cập nằm dưới quyền cai trị của Liệt Quốc Âu Châu, từ thời Thiên niên kỷ thứ 1 đã có nhiều người quan tâm rồi. Vào thế kỷ thứ 7 nhà toán học Thales đã áp dụng phép tính tam giác lượng để đo chiều cao của kim tự tháp dựa vào bóng của nó chiếu xuống đất bởi ánh sáng Mặt trời[3]. Tuy nhiên trước đó mấy thế kỷ đã có người viết về các xây dựng kim tự tháp: Diodorus Siculus (thế kỷ thứ 1 sau Công nguyên) và Herodotus (thế kỷ thứ 5 sau Công nguyên).

Theo Diodorus Siculus : các khối đá được mang về từ xứ Á Rập xa xôi và được nâng lên cai nhờ vào các giàn dốc đắp bằng đất. Đáng ngạc nhiên là thời đó chưa phát minh ra máy móc để nâng như ngày nay thế mà những cấu trúc lớn như vậy được đưa lên từng một vùng xung quanh toàn là cát lại chẳng để lại dấu vết gì trên giàn dốc lẫn khối đá. Tất cả được thực hiện bằng sức người chứ không phải do thần thánh làm nên. … Theo họ (người Ai Cập) phải dùng 300 đến 600 nhân lực thay phiên nhau để kéo khối đá lên, cho đến khi công trình hoàn tất mất 20 năm.

Còn Herodotus nói: Kim Tự Tháp này (Khufu) được làm như các bậc thang. Khi một bậc hoàn tất, người ta dùng một thanh gỗ làm đòn bẩy để bẩy nó lên để xây dựng bậc bên dưới. Như vậy phần ngọn làm trước tiên rồi mới lần lượt đến các bậc bên dưới.

Cả hai tư liệu này có nhiều điểm chưa được xác đáng và hẳn nhiên không thỏa mãn sự tò mò của các nhà nghiên cứu. Nhất là việc bẩy lên để xây tầng bên dưới khi biết rằng trọng lượng Kim Tự Tháp Khufu khi hoàn tất nặng 5,9 triệu tấn; thứ hai việc mang đá từ bán đảo Á Rập về dùng là điều không xác thực.

(còn tiếp).


[1] Người Pháp gọi là Kim Tự Tháp Khéops.

[2] Kim Tự Tháp Khufu xây dựng vào vương triều thứ 6 (2680-2560 trước Công nguyên)

[3] Nghiên cứu của giáo sư Joseph Davidovits, năm 1978 và kiến trúc sư Joël Bertho, năm 2001.

[4] Cam Hành cho rằng định lý mà ai cũng gọi là định lý Pythagore là do người Trung quốc tìm ra, khi viện dẫn cuốn “Cửu Chương”: “Định lý câu cổ do các nhà toán học nước ta (tức Trung Quốc) phát hiện.” Thực ra kinh nghiệm này do Ai Cập truyền đến Trung Hoa qua con đường Tơ Lụa. Cuốn Cửu Chương có sớm lắm vào đời nhà Hán tức sau các harpedonaptai trên dưới 2.000 năm. Người ta hiện nay gọi trò nhận bừa này là « gian lận văn hóa »

[5] Nghiên cứu các khu mộ địa quanh Kim Tự Tháp Khufu, hai tác giả nhận định có đến 200.000 người từng tham gia và nhiều người đã chết tại nơi này. Con số 200.000 này ngày nay không là điều gây kinh ngạc, nhưng nghĩ rằng thời đó nhân loại chưa đông như bây giờ thì quả là đáng kiêng nể.

[6] Sư kiện này do Hieronymus kể và được thuật lại trong cuốn trong cuốn Lives of Eminent Philosophers (Cuộc đời các Triết gia Lùng danh), tập 1, chương 1 ; của tác giả Diogenes Laertius.

Xin vui lòng liên hệ với tác giả Đức Chính :

<ducchinhfriends@yahoo.com.vn>

trước khi sao chép các tư liệu trên .

 

MỤC LỤC – KIM TỰ THÁP

Read Full Post »

Bài 2: Các Kim Tự Tháp ở Ai Cập (tiếp theo)

Biên khảo: Đức Chính

G.- Thung lũng các vì vua:

Là nơi suốt 500 năm làm nơi an táng các pharaohs và quý‎ tộc quyền thế từ triều đại thứ 18 đến triều đại thứ 20 (thời vương quốc mới). Có nghĩa là thời đại Kim Tự Tháp đã chấm dứt.

Thung lũng này nằm ở bờ tây sông Nil, tâm là vùng mộ địa Theban và băng chéo qua Thebes (nay gọi là Luxor).

Từ cuối thế kỷ 18, nơi này trở thành tâm điểm thu hút các nhà khảo cổ học và Ai Cập học khắp thế giới. Nó càng gây ồn ào trong giới học giả hơn khi khám phá ra ngôi mộ của Tutankhamun. Đến năm 1979, khu này được công nhận Di Sản văn Hóa Thế Giới.

Ở đây đã phát hiện khoảng 60 ngôi mộ, niên đại cao nhất là mộ của Thutmose I và sau cùng là mộ của Ramesses X (cũng có thể là XI). Thung lũng chia làm 2 vùng Đông và Tây; được tham quan nhiều nhất là vùng phía Đông vì tại đây phát hiện đa số các ngôi mộ của những pharaohs thời Vương quốc mới. Cũng nói thêm cuốn Tử Thư (cuốn kinh có niên đại thấp nhất) được phát hiện tại Thung lũng này.

Hầu hết các ngôi mộ đều khoét vào trong đá vôi theo một mô hình chung khá giống Kim Tự Tháp: có ba hành lang, một tiền phòng và một phòng quàn xác ướp (người Việt hay gọi là tẩm). Chính yếu tố này cho thấy tín ngưỡng Kim Tự Tháp bị thay thế không phải vì có thay đổi về quan điểm tôn giáo, mà chủ yếu do hoàn cảnh kinh tế xã hội thời này có nhiều bất ổn. Lúc ấy quyền lực bị phân tán[1] và cuối cùng kết thúc vương quốc Ai Cập bằng sự đô hộ của người Hy Lạp và La Mã (thời La-Hy).

Thời gian xây dựng mỗi ngôi mộ cũng ngắn đi rất nhiều (lâu nhất là 6 năm) và cũng khởi đầu từ lúc một vị tân pharaoh đăng quang. Qua triều đại thứ 21 và thời kỳ chuyển tiếp thứ 3, nhiều ngôi mộ nơi này bị cướp phá và xác ướp bị di chuyển đi nơi khác.

1.- Thám hiểm Thung lũng các vì vua: việc thám hiểm khu vực này được bắt đầu từ phong trào săn tìm đồ cổ, sau đó giới khoa học mới vào cuộc và nghiên cứu hướng bảo tồn. Trước thế kỷ 19 con đường đi từ Châu Âu đến Thung lũng rất khó khăn và tốn kém, chỉ có những người hết sức táo bạo mới đủ dũng khí thực hiện. Dữ liệu có ghi chép vào năm 1726 có một người tên Claude Sicard đến đây, nhưng những ghi chép còn mù mờ nên chẳng rõ đúng là Thung lũng các vì vua hay chỉ là khu Kim Tự Tháp Memphis. Mãi đến năm 1747, Sicard cùng với Richard Pococke được thừa nhận đã đến Thung lũng này nhờ công bố tấm bản đồ khu vực. Năm 1799, đoàn thám hiểm Napoléon hoàn chỉnh tấm bản đồ này và vẽ các sơ đồ những ngôi mộ nhưng chỉ là vùng phía Tây ít di chỉ.

Suốt thế kỷ 19, các đoàn thám hiểm Châu Âu không ngừng nghiên cứu vùng này. Đầu thế kỷ này, Belzoni, làm việc cho công ty Henry Salt, phát hiện ra nhiều ngôi mộ; năm 1816 tìm ra mộ Seti I và năm sau là ngôi mộ mang ký‎ hiệu KV17.

Năm 1827, John Gardiner Wilkinson được cho là người đã vẽ lối vào các ngôi mộ mã hóa từ KV1 đến KV21 (dù trên các bản đồ của ông ghi chú đến 28 ngôi mộ). Công trình này được công bố năm 1830 với nhan đề The Topography of Thebes and General Survey of Egypt (Địa Hình vùng Thebes và Quan Trắc Tổng Thể Ai Cập).

Năm 1829, Champollion đích thân thăm viếng Thung lũng cùng với Ippolitio Rosellini. Chuyến đi này kéo dài hai tháng để nghiên cứu các ngôi một đã bị khai mở (chỉ thực hiện với 16 ngôi mộ). Giá trị của chuyến đi này là xác định chủ nhân từng ngôi mộ và mô tả lại những nghiên cứu hiện vật. Tại ngôi mộ mã số KV17 hai người đã lấy đi một bức vách có hình trang trí mà hiện nay đang trưng bày tại viện Bảo tàng Louvre, Paris.

Trong 1845 – 1846 Thung lũng được thám hiểm bởi đoàn Carl Richard Lepsius, họ nghiên cứu 25 ngôi mộ ở phía Đông và 4 ở phía Tây. Nửa thế kỷ 18 còn lại có rất nhiều nhóm tìm đến Thung lũng này với mục đích tìm cổ vật hơn là nghiên cứu; chẳng hạn như nhóm Eugéne Lefébre năm 1883, Jules Balliet và George Bénédite năm 1888, Victor Loret từ năm 1898 đến năm 1899, …. Nạn săn tìm này cũng góp phần hiểu biết thêm về ngôi mộ mã số KV9 và KV6. Riêng Loret đã góp thêm vào danh sách 16 ngôi mộ mới và thám hiểm nhiều ngôi mộ lúc ấy còn trong màn bí ẩn.

Đến khi Gaston Maspero được tái bổ nhiệm làm Giám đốc Cơ quan Cổ vật Ai Cập (Egyptian Antiquities Service), tính chất thám hiểm vùng Thung lũng có diễn biến mới. Maspero bổ nhiệm Howard Carter làm chánh thanh tra vùng Thượng Ai Cập, và chàng trai trẻ này phát hiện thêm nhiều ngôi mộ mới cùng thám hiểm nhiều ngôi mộ khác, trong đó có mộ mang mã số KV42 và KV20.

Qua thế kỷ 20, một người Mỹ Theodore Davis tên là được cấp phép khai quật khu vực Thung lũng. Đoàn của ông ta (chủ yếu do Edward R. Ayrton chỉ huy) tìm thêm được nhiều ngôi mộ mới (vừa của hoàng tộc, vừa không thuộc hoàng tộc), quan trọng nhất là các ngôi mộ mã số KV43, KV46 và KV57. Năm 1907 đoàn này phát hiện thêm mộ KV55, có lẽ thuộc thời kỳ Amarna. Sau khi tìm ra ngội mộ của dòng họ Tutankhamun (KV61), đoàn này tuyên bố cả Thung lũng đã được khai quật hết rồi. Đó là tuyên bố sai lầm vì Howard Carter nối tiếp khám phá thêm mộ khác của dòng họ Tutankhamun (KV62) vào tháng 11 năm 1922.

Cuối thế kỷ 20, Dự Án Lập Bản Đồ vùng Thaben (Theban Mapping Project) phát hiện thêm quy mô của ngôi mộ KV55, ngôi mộ này từ đó được coi là ngôi mộ bề thế nhất từng được phát hiện và có thể là nơi an táng các con trai của Ramesses II. Nơi này rồi nơi khác trong khu vực phía Động và phía Tây, đoàn còn tìm ra nhiều ngôi mộ mới.

Năm thứ nhât của thế kỷ 21 được đánh dấu bởi các dấu vết nhiều ngôi mộ nhờ công của cơ quan Dự Án Lập Bản Đồ vùng Thaben (Theban Mapping Project). Ngày 08 tháng 02 năm 2006, các nhà khảo cổ người Mỹ đã phát lộ một ngôi mộ thuộc kỷ nguyên pharaoh (KV63). Đây là một ngôi mộ pharaoh của dòng họ Tutankhamun thuộc triều đại thứ 18; trong đó 5 xác ướp còn nguyên vẹn nằm trong quách. Bên cạnh còn nguyên các mặt nạ xác ướp và các bình đựng phủ tạng còn nguyên dấu niêm của các pharaohs.

2.- Trang trí và di vật trong các ngôi mộ: Hình trang trí trong các ngôi mộ hết sức đa dạng, chủ yếu là các kinh thư tôn giáo khắc trên vách hầm mộ và quách đựng xác ướp (chúng được tập hợp lại thành cuốn Tử Thư). Phong cách này không khác với truyền thống Kim Tự Tháp. Dưới đây là một vài bức hình:

Ba vị thần này có liên quan đến việc dẫn dắt người chết qua thế giới mới.

Đây không thuần túy là hình vẽ minh họa mà là một thứ chữ cổ của Ai Cập. Việc giải mã chúng có khá nhiều điều lý‎ thú sẽ nói đến ở phần sau.

Ngoài ra còn thấy có những cái vò đựng nội tạng của xác ướp (lối ướp xác của Ai Cập moi hết não và phủ tạng ra, chúng đựng trong các vò kê gần quách đựng xác ướp)

Mặt nạ xác ướp không hề thiếu theo nghi lễ của Ai Cập cổ đại

Cùng với tượng vị Pharaoh chủ nhân ngôi mộ và hoàng hậu (nếu có).

3.- Các ngôi mộ Pharaohs nổi tiếng ở Thung lũng các vì vua:

– Mộ Ramesses III: ngôi mộ của ông có biệt danh “Lăng Hạc Cầm Tử” do bên mộ có hai bức tượng thần trông giống người đang chơi đàn hạc (harp). Dọc hành lang chính có 10 gian phòng cất đồ tế tự cho vị vua này.

–  Mộ Ramesses IV: mộ có hành lang bằng đá trắng dẫn thẳng xuống phòng quàn xác ướp. Nóc gian phòng này có hình ảnh nữ thần Nut. Nắp quách bằng đá granit hồng trang trí hình thần Isis và Nephthys, là hai vị hộ thần canh giữ xác ướp theo tín ngưỡng Ai Cập cổ đại.

–  Mộ Ramesses IX: có hai cầu thang dẫn xuống ngôi mộ đều trang trí hình vị Pharaoh này đang cầu nguyện trước dĩa biểu tượng Mặt trời, hai bên vua là 2 vị thần Isis và Nephthys theo bảo vệ. Mộ có ba hành lang đều dẫn đến tiền phòng của nơi quàn xác.

–  Mộ Ramesses VI: vốn do Ramesses V. Mộ có 4 phòng, phòng thứ 4 có dựng thêm cột quàn xác ướp Ramesses VI. Trong mộ chạm nhiều kinh thư tôn giáo, phòng thứ tư khắc Tử thư vào các cột cùng cảnh các nữ thần trên thiên giới.

–  Mộ Merneptah: lối xuống dốc đứng theo phong cách tiêu biểu của triều đại thứ 19. Lối vào có hình hai vị thần Isis và Nephthys đang cầu nguyện trước Dĩa Mặt Trời. Hành lang có chạm kinh thư tôn giáo. Nắp quách làm bằng đá granit hồng chạm hình pharaoh  Merneptah theo hình dáng thần Osiris.

–  Mộ Seti I: là mộ dài nhất hiện tìm thấy (100m). Trong mộ có 11 phòng, chạm đầy kinh thư và hình ảnh thần linh. Phòng hậu có chạm hình Nghi Thức Khai Miệng (giống nghi thức phạn hàm của người Việt). Đây là một nghi thức quan trọng giúp người quá cổ không phải đói khát khi đi qua thế giới bên kia.

–  Mộ Tuthmose III: mộ nằm mút phía Tây Thung lũng và là mộ có niên đại cổ nhất ở nơi này. Phòng quàn xác ướp hình bầu dục có nhiều hình ảnh hơi khác lạ so với truyền thống. Ngoài ra còn có hai phòng nhỏ trang trí hình ảnh các tinh tú.

–  Mộ Amenhotep II: cầu thang đi xuống khá dốc và một hành lang dẫn thẳng đến phòng quàn. Trong phòng quàn, một bên tường có xác ướp của Tuthmosis IV, Amenhotep II và Seti II; bên mặt tường kia có 9 xác ướp khác chưa xác định được thân thế.

*****

Di sản Ai Cập này vẫn còn và chúng là đối tượng gây hao tốn rất nhiều giấy mực. Có lẽ trên thế giới Kim Tự Tháp là công trình nhân tạo gây nhiều tranh cãi nhất. Không chỉ chúng là bài toán đố về mặt kiến thức xây dựng, mà bên trong còn hàm chứa một nền văn minh hiện đang bị phai mờ.

Giải mã chúng biết đâu sẽ giúp hé mở câu hỏi nguồn gốc các nền văn minh nhân loại khác. Và loài người biết đâu chẳng tìm được câu trả lời chung về nguồn gốc của mình.

(còn tiếp).


[1] Các tu sĩ ở Thebes kiểm soát vùng Thượng Ai Cập, triều đình chỉ còn giữa vùng Hạ.

Xin vui lòng liên hệ với tác giả Đức Chính :

<ducchinhfriends@yahoo.com.vn>

trước khi sao chép các tư liệu trên .

MỤC LỤC – KIM TỰ THÁP

Read Full Post »