Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Sáu 22nd, 2011

Đồng Tiền Cổ

Phạm Xuân Hiếu

 

An vừa vào nội thành, đang ngơ ngác hỏi thăm địa chỉ ông đồ Tú, thì bất chợt cơn mưa ào ào chạy qua đường phố nắng như đổ lửa. Hơi nóng hầm hập bốc lên. Quần, áo ướt sũng. Mồ hôi quyện nước mưa, chảy dòng trên khuôn mặt lưỡi cầy xạm nắng. An bước vội vào cửa hàng bán đồ cổ. Ông đồ Tú, chủ tiệm đang ngồi trên ghế, thấy khách vội đặt quyển sách xuống bàn đứng lên.

An nhìn quanh, lúng túng không biết ngồi hay đứng cho hợp với mình. Ông đồ như đọc được tâm trạng của khách, đưa tay về phía chiếc ghế cổ, mặt đá củ cải nhẵn trơn ý nói: cứ tự nhiên. An rón rén ngồi đối diện với ông qua cái bàn mặt đá trắng, ngượng ngùng nhìn người sũng nước, nhìn gian nhà cổ kính bày trang trọng: lọ to, lọ bé nhiều mầu sắc, dáng kiểu khác nhau tầng tầng, lớp lớp đẹp hoa cả mắt. Những chiếc tủ trạm, khảm xếp từng hàng kê dưới đại tự, câu đối sơn son thếp vàng rực rỡ. Giữa nhà: tượng A Di Đà, Phật Bà trăm tay, phật Thích Ca vàng óng ngồi uy nghiêm trên các bệ. Ông Thiện, ông Ác cầm chuỳ, bát xà mâu mắt xếch ngược nhìn An như hút hồn. Tất cả xa lạ với hoàn cảnh của An. Ông đồ Tú pha xong ấm nước, nâng chén trà vẽ tích Đào Tuyết Tầm Mai đang bốc khói đưa về phía An:

– Anh xơi nước!

Thái độ nhẹ nhàng nhiệt tình của ông chủ kiến An thấy đỡ rụt rè vì cả đời An chưa bao giờ được bước vào nơi nào sang trọng như thế này. Để chuẩn bị cho chuyến đi, ở nhà An đã mặc bộ quần áo đẹp nhất. Cắt tóc chải đầu cho ra dáng lịch sự, thế mà trời không chiều lòng. Giữa đường gặp trận mưa làm An nhếch nhác. An đã cố diện cho oách nhưng cũng không giấu được bản chất anh chàng chân quê, quanh năm cúi mặt vào đất với cây trồng.

Ông đồ Tú, vốn là người buôn bán đồ cổ lâu năm nên ông rất hiểu những người từ nông thôn đến. Họ bao giờ cũng rụt rè, khép nép nên rất cần bầu không khí tự nhiên. Ông cảm thông với họ khi phải bán những món đồ đã gắn bó với cuộc đời của mình. Ông lặng lẽ nhìn khói tỏa ra từ miệng chén trà, bình thản chờ đợi.

An uống xong chén nước nóng thì mạnh dạn hơn, đưa tay vào túi ngực lấy ra gói giấy, bên trong bọc vải:

– Thưa ông cháu có thứ này, muốn ông xem mua cho.

An vừa nói, vừa lấy ra hai đồng tiền cổ mầu vàng định đặt vào tay ông Đồ Tú nhưng ông ra hiệu để xuống bàn. Ông không bao giờ cầm những đồ vật đưa trao tay, nhỡ chẳng may rơi hỏng thì rất phiền phức, nhất là những cổ vật do những người khách lạ mang đến.

Ông đồ Tú nhìn qua một lượt hai đồng tiền sáng loáng đặt trên mặt bàn đá trắng, sấp giọng chén nước rồi dò hỏi:

– Hai đồng này là thế nào?.

An ngây người.

– Tôi muốn hỏi những đồng này là của ai? Ông từ tốn nhắc lại.

– Của cháu. An rụt rè đáp.

Lúc này, ông Tú mới cầm tiền lên xem qua rồi đặt trên mặt bàn dùng ngón trỏ búng một cái. Nó quay tròn một vòng xoáy tít, ánh vàng, ánh bạc loang loáng ẩn hiện. Ông mang kính lúp ra soi từng chi tiết nhỏ. Kinh nghiệm cho ông biết đồng tiền này không giống tiền cổ bình thường, không phải loại tiền của các triều đại vua quan đúc ra để làm đơn vị chi tiêu. Nó được một giới nào đó đúc cho một trường phái nào đó, phục vụ thế giới riêng như cõi tâm linh chẳng hạn. Chất liệu là đồng pha vàng, tỉ lệ khoảng 40%. Hai đồng tiền đúc rất mỏng, có hình tròn đường kính bằng nhau là 4,5 cm, giữa đục ô vuông thông thuỷ âm dương 0,5 cm. Mỗi đồng một điển tích, các mặt đúc khác nhau.

Cẩn thận xem từng đồng tiền cổ, đôi mắt ông Tú có lúc sầm xuống, lúc lại sáng lên như phát hiện được điều gì. Đồng thứ nhất, mặt dương đúc hai con: một Rồng, một Phựơng (Long Phượng kỳ duyên) đường nét rất tinh xảo, đối xứng nhau qua trục thông thuỷ, lại như đang đuổi nhau, múa lượn vòng tròn. Mặt sau là bốn chữ nổi

“chiêu tài tiến bảo”. Nghĩa là những người hiền tài được trọng dụng, tiến cử vào những vị trí quan trọng, đảm soát các việc về tài mậu, chính lược trong triều. Đồng thứ hai, mặt dương đúc nổi 12 con giáp: Tý, Sửu, Dần, Mão… Mỗi con nằm trong một vòng tròn nhỏ trông rất sinh động. Mặt sau có 4 chữ nổi “xuất nhập bình an” ứng cho cả năm, mười hai tháng là mười hai con giáp, tháng nào làm ăn, buôn bán cũng suôi sẻ, gặp nhiều may mắn. Tuy tỉ lệ vàng pha lẫn đồng không cao nhưng với kỹ nghệ đúc tinh vi cũng đủ thấy giá trị của đồng tiền không hề thấp. Cả hai đồng chôn lâu ngày cũng không bị hỏng, chỉ bị chút ôxy hoá nổi ten thời gian.

Sau khi nghiên cứu kỹ, ông nhìn An rồi cả quyết:

– Tôi bảo đảm với anh, đồng tiền này được chôn cất ở đâu đó, như là yểm bùa. Chắc anh mới đào được?

An giật mình, bụng bảo dạ ông này tinh thật, mình nên nói để ông ấy còn phân giải hay dở. Chuyện này không đùa, nhỡ may lại thành họa thì tiêu đời. Nghĩ thông, An thú thực :

– Thưa ông, sự tình là thế này. Cháu có thế nào cứ kể thế để ông nghe. Lành dữ ra sao xin ông thật bụng cho cháu biết. Số là khu nhà cháu ở dưới chân quả núi Hoàng Linh, phía trước là bãi biển Bạch Dương chạy dài tít tắp, phía sau liền kề với đất liền. Trong khu vườn có khoảng đất rộng chỉ trồng riêng một cây nhãn gốc to mấy người ôm không hết. Nghe chuyện lưu truyền thì cây nhãn đã mấy trăm tuổi mà chưa bao giờ có quả, lá xanh quanh năm phủ kín cả một vùng. Chim, sóc các loài thường về trú ngụ đêm, ngày tạo nên không gịan hoang sơ kỳ thú. Đã nhiều lần cháu định chặt mà không chặt được. Chắc nhiều đời cũng như vậy nên cây nhãn vẫn tồn tại đến ngày nay. Đêm đêm vợ cháu hay mơ. Một đêm chắc vào giữa tháng Tám trời mưa to, cháu đang say giấc ở gian ngoài, bỗng nghe thấy tiếng vợ la ở gian trong: “Bắt lấy, bắt lấy”. Cháu choàng tỉnh dậy quát: “Bắt gì, bắt gì đêm hôm này?” Vợ cháu ú ớ: “Em thấy có một đàn lợn lông vàng như lông hổ, con to, con bé, con mẹ con con kéo nhau đến đào phá khu vườn nhà mình. Em với chiếc đòn gánh phang què một con. Nó bị thương chui vào cây nhãn. Em đuổi theo, túm được một chân, lôi mãi không ra nên gọi anh trợ giúp.

An dừng lời nhìn ông Đồ Tú dò xét ý tứ, thấy khuôn mặt ông vẫn bình thản, ánh mắt nhìn An vẻ khích lệ nên tiếp tục mạch chuyện :

– Lại có đêm mưa phùn gió bấc, vào khoảng 2-3 giờ sáng, cháu dạy đi giải, thấy bóng người con gái áo trắng thướt tha bay lượn trên không rồi chạy lướt vào thân cây nhãn. Mấy lần cháu đuổi theo nhưng chân cứ đứng chôn một chỗ, muốn gọi mà không cất lên lời. Nhiều lần như vậy nhưng cháu không dám kể với ai. Vợ chồng chỉ rì rầm bàn nhau tính chuyện bán đất, bán nhà đi nơi khác. Rồi không biết chuyện đồn đại từ đâu mà người ta cứ nói nhà cháu có ma nên không ai dám mua. Chào mãi nguời đến chỉ xem qua rồi lắc đầu, người nhận mua chạy mất hút, mặc dù giá bán rẻ hơn vùng bên cạnh.

– Thế diện tích khu ấy rộng không?- Ông Đồ Tú ngắt lời.

– Dạ, cả khu rộng gần ba ngàn mét vuông.

– Rộng đấy- ông Đồ gật gù- Thế rồi sao lại có đồng tiền này?.

– Sau cái đêm nằm mơ thấy lợn thì vườn sắn ngô thường bị muông thú đào bới lung tung. Vợ chồng cháu sinh lo vì từ trước tới nay không có tình trạng như thế. Gần gốc cây Nhãn đùn lên một cái hang như hang chuột miệng hang to lắm. Một hôm thằng Mẫn chú em vợ đến chơi nhìn thấy cái hang bảo: “Anh ơi! Vườn nhà anh có con cầy để em đào bắt làm bữa nhậu? ”Cháu mừng quá: “Chú muốn làm gì thì làm, để nó dũi hỏng hết cả vườn”. Hai hôm sau chú ấy mang lưới đến quây quanh miệng hố rồi đào bắt cầy. Khi những nhát mai đào xuống gần một mét thì nghe “kịch” một tiếng, Mẫn buột miệng kêu to: “Vỡ rồi”, rồi cúi xuống đưa hai tay bới đất. Một cái lọ sành vỡ làm đôi, lộ ra một cái hộp bằng đồng có hoa văn nổi: đàn voi mâù trắng, trên nắp có núm tròn. Khi mở hộp ra bên trong chỉ có hai đồng tiền. Đó là hai đồng tiền cháu mang đến đây.

Nghe xong câu chuyện, ông Đồ Tú đưa tay vỗ nhẹ vào trán rồi phán:

– Như thế là rõ, trong khu vực vườn thế nào cũng còn chôn nhiều thứ. Các cháu muốn đào bới phải rất cẩn thận, nếu không mất hết. Trước mắt cháu về đào lại chỗ chôn đồng tiền nhưng phải đào sâu hơn, sau đó thế nào báo cho bác biết. Lòng đầy băn khoăn nhưng trông nét mặt đăm chiêu vẻ như suy tính điều gì lung lắm của ông đồ Tú, An không dám hỏi thêm.

Như lời dặn, đêm hôm sau hai vợ chồng An chờ qua giờ Tý mới mang cuốc xẻng hì hục đào lại cái hố có đồng tiền. Khi đào sâu thêm chừng nửa mét đất thì lưỡi xẻng chạm vào một lớp gạch xây. An lật từng viên gạch lên thì đến lớp cát đổ đầy căn hầm xây gạch nhỏ. Sau khi bới hết cát bên trong An bê lên một chiếc vại bằng sành to, bên trong là chiếc chum sứ vẽ tứ linh nhiều mầu xanh, đỏ có nắp được gắn kín bằng một lớp keo đen. Chiếc chum An bê ngay vào trong nhà. Người vợ định mở ra xem nhưng An đưa tay giữ lại:

– Thầy dặn là khi đào được bất cứ vật gì có nắp cũng không được mở ra xem ngay mà phải làm lễ cúng Thổ Công, Long Mạch, Thần Tài chu đáo truớc.

Vậy là vợ chồng An không dám mở ra, phải chờ đến ngày mai mới có chợ để mua lễ vật. Cả đêm vợ chồng An không ngủ, thao thức mừng vui đoán già đoán non, xem trong đó đựng gì?: Tiền, vàng, ngọc bích… Mỗi người theo đuổi một giấc mơ sắp giầu to. Vợ mơ có tiền mua sắm giường, tủ, bát đĩa đồ dùng trong nhà. Chồng mơ sẽ xây nhà mái bằng có đèn chùm lấp lánh. Chung quy đều mơ được đổi đời không phải lam lũ, vất vả, mà sắp giầu thật rồi chỉ sáng mai thôi. Sáng mai mở nắp chum vợ chồng sẽ giầu to, sẽ làm lễ tạ được lộc, mời bên nội, bên ngoại, đại diện họ hàng, làng xóm cùng người bạn chiến trường năm xưa ở đồi bên đến dự. Uống với bạn đến say mềm trong tiệc vui, An lơ mơ đi vào buồng nói với vợ:

– Nhà bạn tôi, cô biết rồi đấy, hoa mầu mấy vụ thất thu, hai đứa con tàn tật không đi học được, nợ đìa ra. Cô xem có giúp được gì không?

Vợ An ngẩn người lặng thinh sau câu nói thăm dò của chồng, rồi như hiểu ra cái đạo làm người “lá lành đùm lá rách”. Chị quay ra rồi lại quay vào:

– Tuỳ anh! hay biếu bác ấy ít tiền để đưa cháu út đi phẫu thuật chỉnh hình đội chân, đong thêm ít gạo gọi là chút lộc trời cho, rồi còn bên nội, bên ngoại mỗi nhà hưởng một chút.

Hai vợ chồng vui vẻ lấy tiền vàng trong chum ra phân phát cho mọi người. Ai nấy đều hỉ hả. Nhìn đống tiền có vơi đi nhưng hai vợ chồng An vẫn thấy nhẹ lòng. Tỉnh giấc, An thấy vợ mình vẫn rì rầm cầu, trời khấn phật phù hộ độ trì… Thầm mong trời chóng sáng,

Tiếng gà vừa gáy, vợ An dạy đi chợ mua lễ vật về thắp hương. Khi ba nén nhang trên bàn thờ vừa cháy hết, vợ chồng An người giữ chum, người mở nắp. Một mùi hăng hắc rất khó chịu bốc lên, làm An choáng váng mặt mũi tối xầm. Sau một hồi trấn tĩnh, An nhìn vào trong chum chỉ thấy toàn nước lệt xệt mầu vàng đen. Vợ nhìn chồng, mặt buồn thiu, không có kim cương, vàng bạc, đá quý. An thất vọng ngồi im, nghĩ rằng đó là nước bẩn nên mang ngay ra đầu hồi nhà đổ xuống gốc cây na cho bõ tức. Đất sủi bọt. Một làn khói xanh xanh bốc lên. An mang chiếc chum vào nhà đặt trước mặt vợ, nghĩ sao lại giơ lên định đập cho đỡ vướng mắt nhưng vợ nhanh tay giữ lại: “Anh đập phí cái chum vẽ đẹp lại bẩn nhà, để đấy cho em đựng muối”

Chuyện nhà An hở ra. Nhiều người đến hỏi thăm, mấy người đòi mua chum. Họ tự đặt giá, từ thấp lên cao. An không biết bán giá bao nhiêu? Nên chưa ai mua được. Rồi việc gì đến tất sẽ đến. Một buổi trưa, hai người lạ ăn mặc khác người trong vùng: một thanh niên, một trung tuổi, béo lùn đeo kính trắng, xin phép vợ chồng An được ngắm chiếc chum. Ông nhìn hoa văn, hoạ tiết rồi nhẹ nhàng chỉ cho anh thanh niên vết sần (cốt gọt), vết xước trên lớp men dầy, khô lì do chôn lâu ngày, rồi đặt chiếc chum trên bàn nhìn hai vợ chồng thư thả:

– Anh chị để cho chúng tôi cái chum này bao nhiêu?

Hai vợ chồng An người nọ nhìn người kia, mãi sau vợ An mới ngập ngừng:

– Nhiều người trả lắm rồi nhưng em không bán, nếu bác mua đắt em để cho.

Ông khách thăm dò:

– Đắt là bao nhiêu?

Không ai trả lời, ông khách như đọc được tâm trạng đôi vợ chồng nghèo khó qua kinh nghiệm nhiều năm mua đồ nên ra một “chiêu” quyết định. Ông giở gói khăn mùi xoa thơm phức mùi nước hoa xoè ra ba cây vàng:

Anh chị để cho tôi cái chum, nếu anh chị không thích lấy vàng, chúng tôi sẽ trả bằng tiền.

Thật là đúng sách, lần này thì vợ chồng An không cưỡng nổi ba lá vàng 999 óng ánh đặt trên bàn, mắt hoa lên, không ngờ lại được nhiều vàng đến thế! Vợ An vui vẻ:

– Thôi để cho hai bác.

Chiếc chum được anh thanh niên bê đi ngay. Cầm vàng trên tay An bảo vợ:

– Cầu vàng được vàng, cô mau đi lễ tạ các cụ đi.

Người đàn bà cả đời khổ sở có biết vàng là gì, nay được cầm nhiều vàng sung sướng quên cả khổ đau, quá khứ. Nụ cười mãn nguyện trên khuôn mặt rám nắng tưởng như trên đời này cái gì cũng nhỏ bé.

– Dạ dạ, vâng vâng em đi ngay.

Vâng vậy chứ vợ An không đi chợ mà mang vàng vào trong buồng loay hoay tìm chỗ cất. Nhà không có tủ, không hòm, chỉ có mấy thùng giấy đựng linh tinh, quần áo vắt trên giây, tìm đâu ra chỗ cất cho yên tâm. Cầm ba lá vàng trong tay lúng túng đặt vào thùng lại lấy ra, gói vào quần áo cũng không yên tâm. Cuối cùng thì vợ An chạy ra bếp lấy cái thuổng khoét một lỗ nhỏ ở góc nền nhà đặt ba lá vàng gói kỹ, phủ đất, đè thùng gạo lên trên.

Mấy ngày liền An không thấy vợ đi chợ mua lễ vật liền hỏi:

– Cô định bao giờ lễ tạ? Người vợ vênh mặt gắt lại chồng:

– Từ từ đã, làm gì mà rối lên, mấy hôm em bận.

An biết thừa chẳng bận gì, ngoài đi mua sắm những thứ linh tinh vài bộ quần áo bà ba mỏng dính, chiếc gương to, hộp son phấn dấu ở đầu giường, vô tình An lật chăn nhìn thấy điên tiết mắng:

– Cô điên rồi sao? Tiền để tôi mua cái xe, xây nhà cô đi mua những thứ sa xỉ này đẹp với ai?

Hai vợ chồng cãi nhau một hồi không ai chịu ai, mỗi người theo đuổi một cách nghĩ riêng của mình. Cuối cùng số vàng phải chia đôi mỗi người cầm một nửa. An lên tỉnh mua ngay một chiếc xe máy mới, lượn đi cả ngày. Việc hứa hẹn làm lễ tạ mời họ hàng hai người không ai bàn đến nữa.

Chuyện đồn xa. Mấy ngày sau liên tục có nguời đến hỏi thăm mua nhà, mua đất. Nhiều người tiếc chiếc chum bán rẻ, rồi hỏi xem chỗ nọ, chỗ kia làm đầu óc vợ chồng anh nông dân cả đời không có khách sang bây giờ cứ bấn cả lên, chẳng hiểu ra làm sao? An tự dưng trở thành thượng khách, ngày nào cũng có người mời đi uống rượu. Nhiệt tình nhất là tay hàng xóm thường đi cùng với một người lạ mặt chỉ gạ mua cây na. Lúc đầu An không đồng ý vì không hiểu họ mua làm gì. Mấy hôm sau họ lại đến, ba ngươi đang thảo luận thì vợ An từ dưới bếp mang nước lên xen vào:

– Các anh trả bao nhiêu? Mà các anh mua làm gì cây na chết naỳ?

Người lạ mặt trả lời thủng thẳng:

– Chúng tôi mua cây khô lấy dáng về cắm hoa giấy làm cây cảnh chơi quanh năm trong nhà, chị có thấy ở thành phố người ta hay chơi không? Tôi xin trả anh chị 100 ngàn và đánh cả gốc đi để anh chị trồng cây khác cho tiện.

Cả vụ na may ra bán được vài chục ngàn, nay cây đă chết để vô dụng lại có người mua đắt thế nên vợ chồng An đồng ý ngay. Sáng sớm hôm sau, năm ngươi trên một xe tải nhỏ đỗ ngoài cổng nhảy xuống đào cây na và lấy cả đất cho vào mấy bao tải mang đi vội vã.

***

Hai ngày sau, ông Đồ Tú đi cùng đứa cháu gái tìm đến nhà An, vì lâu ông không thấy có tin tức An hồi âm. Sau khi nghe kể lại mọi chuyện, ông ra ngắm vườn, nhìn cây nhãn cổ thụ, ngắm phong thuỷ rồi xem hố đất mới bị đào đem đi. Ông thở dài gọi vợ chồng An lại dặn:

– Khu đất này còn nhiều điều bí ẩn các cháu không đuợc bán bất cứ thứ gì thêm. Các cháu có biết tốp người mua cây na không? Họ đã lừa vợ chồng cháu lấy chỗ đất đổ nước bẩn ấy, quý lắm đấy. Các cháu có biết đó là nước gì không?

Vợ chồng An ngơ ngác

– Dạ thưa, không

– Vàng đấy! Vàng được cất giấu theo thể phân kim dạng hoá lỏng mà bọn cháu không biết, cũng như rất nhiều người không biết. Họ lấy đất về dùng hoá chất thu vàng lại, chỗ ấy phải được đến mấy chục cây vàng chứ chả chơi!

Vợ chồng An nghe ông Đồ Tú nói mà không ai bảo ai, đều sụp cả xuống vì tiếc của. Ông Đồ Tú lẳng lặng bỏ về, sau phút giây bàng hoàng, An vùng dậy đuổi theo ông giữ tay ở đầu ngõ, thì thầm:

– Liệu khu vườn này còn nhiều vàng không?

Ông Đồ Tú nhìn An, nhìn gia cảnh rồi nhẹ nhàng:

Lộc trời vô tận, muốn có được phải có tâm, có tài, muốn giữ được phải có đức, có phúc. Anh chị suy ngẫm lại! Tại sao lộc đến, lộc lại đi? Chuyện này tôi sẽ giải thích sau. Mọi ý nguyện tôi chỉ mong giúp anh chị rước được tài lộc, tránh hậu hoạ. Tin hay không thì tùy, cố mà nhớ những điều tôi dặn… kẻo phúc họa khó lường.

An nhìn theo bóng hai ông cháu dắt tay nhau khuất sau hàng rào dâm bụt, rồi trở lại kéo vợ vẫn còn ngồi gục đầu, ôm gối đứng dậy thở dài:

– Thôi! Tiếc làm gì của không mất mồ hôi. Vào dắt cho tôi con trâu. Tôi ra đồng cày cho xong chân ruộng cạn, kẻo chính Ngọ đến nơi rồi.Trong chuồng, con trâu đen bóng đang cọ sừng vào cột phì phì ra vẻ đồng tình.

Phạm Xuân Hiếu

Truyện ngắn này được Nhà thơ -Dịch giả

NGỌC CHÂU chọn giới thiệu trên vandanviet.net

© Tác giả giữ bản quyền.

TỪ MÊ CỔ VẬT ĐẾN MÊ VĂN

(Đọc tập truyện ngắn “Người đàn bà và chiếc chén bạc” của Phạm Xuân Hiếu- nxb Hội nhà văn 2011)

CAO NĂM

Mươi năm trước, nói “Hiếu đồ cổ” giới sưu tầm, kinh danh cổ vật Hải Phòng không mấy người không biết; nhưng dăm năm lại đây, nhắc đến biệt danh đó phải nói luôn biệt danh nữa “Hiếu nhà văn”, thì không cần lời giải thích nào, người nghe cũng hiểu ngay là Phạm Xuân Hiếu. Không phải vì cách đây ba năm anh đã trở thành hội viên Hội nhà văn Hải Phòng, mà bởi lẽ không mấy người “chơi cổ vật” lại “chơi văn” kiểu Phạm Xuân Hiếu.

Có dịp đến nhà anh, từ cửa vào trong nhà, hết phòng ngoài vào phòng trong đều thấy những đồ cổ đặt trong tủ kính, xếp ngăn nắp quanh phòng, toàn những cổ vật có niên đại hàng trăm tuổi. Còn văn chương, tôi không nhớ nhầm thì truyện ngắn đầu tiên của Phạm Xuân Hiếu đăng báo trung ương là “Viên phi công và nhà khảo cổ”, tôi đọc trên chuyên đề Văn nghệ Công an cách đây dăm năm. Sau đó anh liên tục xuất hiện trên Văn nghệ Công an, Văn nghệ Trẻ, Đại biểu nhân dân, Cửa biển… Mỗi khi có truyện đăng, anh lại mua vài chục tờ báo, hoặc pho-to mấy chục bản mang tặng bạn bè. Không phải anh khoe, cái biệt danh “Hiếu đồ cổ” thời nay đủ nổi danh, cần gì khoe; cái chính là tặng báo cho bạn bè để cùng đọc cho vui. Vẫn chuyện “chơi văn”, không biết có ai như Phạm Xuân Hiếu, một hôm tình cờ nhận được cuốn sách dầy cộp, đóng bìa cứng, ruột cũng in giấy cứng màu đen giống bìa, còn chữ thì màu trắng tinh, nhưng chỉ in đúng ba truyện ngắn anh mới đăng báo “Bạch Ngọc Mô Ni Linh Ngân”, “Lão Sìn và khỉ con”, “Người đàn bà và chiếc chén bạc” với dòng chú ngoài bìa khá độc đáo “sách chỉ in một bản”. Đến anh cũng bất ngờ, mấy ngày sau khi nhận sách qua bưu điện, Phạm Xuân Hiếu mới biết người làm sách tặng mình là một bạn đọc mê văn nhà cổ vật, nên làm cuốn sách khá độc đáo, như một thứ “đồ chơi” tặng tác giả làm kỷ niệm. Quả là một cách yêu văn chương độc đáo, nếu không muốn nói là “độc nhất vô nhị” ở ta. Lại vẫn chuyện “chơi văn”, không biết đã có ai như Phạm Xuân Hiếu bỏ ra mấy chục triệu đồng in tập truyện ngắn đầu tay 1.000 bản, dầy 248 trang mà giá bìa tới 70.000 đồng/cuốn, chỉ sách tặng đã hàng trăm cuốn. Nhưng “Người đàn bà và chiếc chén bạc” đúng là cuốn sách sang trọng và đẹp, từ cái bìa đến giấy và chữ in ấn, trình bày, có lẽ là “độc nhất vô nhị” trong số những tập truyện ngắn của tác giả trong nước gần đây tôi biết.

Nhưng cũng mới là “cái vỏ”, dù “cái vỏ” cũng rất đáng khích lệ để có ngày càng nhiều sách thực sự là ấn phẩm văn hóa, quan trọng vẫn là “cái ruột”. Đây là lần đầu tôi đọc tập truyện ngắn của một tác giả hầu như chỉ viết về cổ vật, một đề tài khá mới. Có truyện như dãi bày tâm trạng người say mê cổ vật, bỏ ra bao ngày đi tìm thứ đồ cổ nào đấy, nhưng không thấy, thì bỗng lại nghe tin chỗ ấy chỗ nọ có đồ cổ đang rao bán. Có người do tình cờ mang bán cây lại bán cả cái chậu quý, mãi lúc người mua cây mang về, bán chỉ riêng cái chậu đã hàng nghìn đôla mới ngã ngửa (Chiếc thống cổ). Lại có người khi chia tay không có gì tặng bạn, lúc bạn xuống thuyền vội dúi vào tay cho bạn hai thứ “nhẹ tênh”. Nhưng cả người cho và người được cho đều không biết đấy là vật quý; mãi khi kê khai các thứ mang theo mới bất ngờ khi nghe người thẩm vấn hỏi: “Nhà anh nhiều đồ cổ, sao lại vượt biên?”. Thì ra bạn anh vô tình cho đôi bát và đôi đũa có từ thời nhà Tống; còn anh cũng là bước đường cùng, nghe ông kia gạ mua là bán ngay hai thứ ấy để mong được “đổi đời” (Bóng câu). Cũng là tình cờ rồi hối tiếc cả đời là vợ chồng nhà kia trong vườn có cây na, tự dưng có khách đến hỏi mua với giá quá hời lại đánh cả gốc, bốc cả đất mang đi thì bán ngay. Có biết đâu góc vườn vợ chồng anh bên dưới chỗ nào cũng đất vàng đất bạc, chỉ ít đất dưới gốc na mà người mua mang về dùng hóa chất cũng thu được “mấy chục cân vàng” (Đồng tiền cổ). Hầu như truyện nào trong “Người đàn bà và chiếc chén bạc” đọc cũng thấy khó tin, nhưng ngẫm ra lại thấy thật, vì ngoài đời nhan nhản chuyện mua bán cổ vật có khi còn hơn thế. Một viên phi công Mỹ bị pháo phòng không ta bắn rơi máy bay, trốn vào hang núi. Ở hang tám ngày, nhịn đói, nhịn khát vẫn không chịu ra hàng; nhưng lúc tình cờ phát hiện ra cạnh chỗ nằm có cái giếng nhỏ nước trong veo và trên miệng giếng lại nhìn thấy có chiếc bát, chiếc đĩa, thì với con mắt một sinh viên tốt nghiệp khoa khảo cổ học trước khi bị gọi vào lính sang Việt Nam, tên phi công nhận ngay ra đó là loại bát đĩa quý chỉ dành riêng cho vua chúa, có niên đại trên dưới nghìn năm. Thế là hắn bỗng như có sức mạnh, quên mình là một phi công đang lẩn trốn, trở lại là người đam mê sưu tầm, nghiên cứu cổ vật, cầm luôn chiếc bát, đĩa và quyết định ra khỏi hang, đầu hàng Cộng sản. Rồi khi quan hệ hai nước Việt- Mỹ trở lại bình thường thì viên phi công Mỹ ngày nào, với lòng kính phục, mến yêu nền văn hóa, lịch sử dân tộc Việt, lại nhiệt tình sang Việt Nam giúp khảo sát cổ vật ở ngay chính vùng đất viên phi công trốn ngày nào (truyện ngắn “Viên phi công và nhà khảo cổ”). Thông qua cổ vật, hay rộng ra là văn hóa, có thể làm cho con người hiểu nhau, cảm thông nhau, xích lại gần nhau hơn. Vợ chồng nhà kia sống hạnh phúc, chị vợ không bao giờ nghĩ anh trước khi đến với chị lại đã một lần yêu. Đến một hôm, anh chồng đi chơi về bảo với vợ là anh nhìn thấy đôi đũa ngà và chiếc chén bạc nhà mình bị mất, hiện đang ở nhà cô Lâm Phi, người bạn lâu ngày mới gặp lại. Thế là hôm sau chị vợ bắt chồng đưa đến tận nơi xem có đúng chén, đũa nhà mình thì cho cô ta “một trận”, rồi đòi lại. Đến nơi, đúng là đôi đũa và chiếc chén đang được Lâm Phi bày trang trọng trên bàn. Lời qua tiếng lại giữa hai người đàn bà, rồi cuối cùng lại chính Lâm Phi kể lại mối tình giữa cô và anh từ năm cô học lớp 10, hay cùng các bạn ở trường mang lá ngụy trang đến trận địa phòng không của đơn vị anh. Một lần cô và anh đi qua chỗ đổ rác, tình cờ anh nhìn thấy giữa đống đĩa bát, đèn dầu méo mó có mấy chiếc chén vất đi. Anh chọn được sáu chiếc chén làm bằng kim loại nhưng đen xỉn và bết vôi vữa, bất chấp lời gàn của cô. Về nhà anh thích thú mang chén đi đánh rửa và bảo cô giúp một tay, nhưng cô không những từ chối mà trong thâm tâm còn cho là anh ẩm ương. Cả khi anh gói mấy chiếc chén vào cái khăn mùi xoa mới mua mang đến tặng thì cô vẫn coi đó là mấy chiếc chén bẩn, chỉ đáng vất, và cô liền giật cái gói anh cầm trên tay ném đi. Tình yêu của họ cũng dừng ở đó. Mấy chục năm sau gặp lại thì Lâm Phi chỉ còn là một người đàn bà mà chính cô cũng không ngần ngại dãi bày tâm trạng trước vợ chồng anh: “Cuộc sống của em không thiếu vật chất, nhưng tổn thất tinh thần, bị trói buộc như cá chậu, chim lồng, vô vị như xác không hồn”. Trong khi trống vắng tâm hồn, cô tình cờ gặp lại anh, đến nhà anh chơi, giật mình nhận ra những chiếc chén bạc mà lẽ ra là của mình, nhưng đã để tuột khỏi tay. Thế là cô nhất định lấy bằng được một chiếc chén đem về, như muốn sống lại thời quá khứ, như muốn được sẻ chia tình cảm với anh như những tháng năm tuổi trẻ. Truyện viết về cổ vật, lòng say mê cổ vật, nhưng lại thấm đẫm nhân tình với những bổng trầm cung bậc và số phận ngặt nghèo, với cái kết có hậu, đậm tính nhân văn (Người đàn bà và chiếc chéc bạc).

Hầu hết truyện ngắn Phạm Xuân Hiếu trong tập này đều được viết kiểu như thế: kể câu chuyện của người mê cổ vật, yêu cổ vật đến mất ăn mất ngủ, sẵn sàng đánh đổi không chỉ tiền bạc mà cả sự hiểm nguy để có bằng được thứ cổ vật mà mình yêu thích. Nhưng đằng sau câu chuyện săn tìm cổ vật là con người, số phận của cả người đi tìm mua đồ cổ và người đang giữ đồ cổ, với những hoàn cảnh, những tâm trạng nhiều khi khá phức tạp, éo le chứ không phải lúc nào cũng là một bên có tiền, một bên cần tiền, nên dẫu cao giá thế nào cũng mua, thấp giá thế nào cũng bán. Có lẽ bản thân cổ vật và những cuộc kiếm tìm đồ cổ của người say mê cổ vật đã có cái gì như sự ly kỳ, nên hầu hết truyện ngắn trong tập ít nhiều mang tính ly kỳ, dẫu không đến mức “giật gân” nhưng đôi khi cũng hồi hộp đến nghẹt thở, như truyện ngắn “Chiếc bát Thập Ngũ Kê”… Yêu cổ vật, mê cổ vật về cơ bản chính là yêu văn hóa, và vì yêu văn hóa đến say mê nên mới trằn trọc nghĩ suy tìm cách giữ gìn, bảo tồn cổ vật, chứ còn chỉ lấp dưới danh nghĩa đồ cổ để kiếm tiền thì sớm muộn cũng bị vạ vào thân. Những truyện ngắn trong “Người đàn bà và chiếc chén bạc” vì thế mang đậm chất nhân văn, lại đôi khi như một hồi chuông cảnh báo về ý thức bảo tồn, lưu giữ cổ vật. Cách viết của Phạm Xuân Hiếu cũng không cầu kỳ, làm duyên làm dáng mà thiên về lối tự sự ở ngôi thứ nhất (tôi), chân thật và am tường, mà có lẽ không phải người say mê đồ cổ, không có kiến thức cần thiết về cổ vật cũng khó có thể viết nên những trang truyện gợi và sâu như trong “Người đàn bà và chiếc chén bạc”. Tuy thế, nếu anh bớt đi một chút sự chân thật, gia tăng chút nữa chất hư ảo và tạo dựng tính cách nhân vật phong phú, truyện viết đa thanh và nhịp độ nhanh hơn thì còn có sức cuốn hút người đọc./.

C.N

*MỤC LỤC – GIẢI TRÍ – THƯ GIÃN

Advertisements

Read Full Post »