Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Năm 5th, 2011

I. Con đường gốm sứ qua biển Đông

Trong vòng 20 năm qua, các cuộc khai quật khảo cổ học dưới nước và tiến hành trục vớt những con tàu đắm trong vùng biển Đông của Việt Nam đã bổ sung nhiều bằng chứng thuyết phục về sự tồn tại của “con đường gốm sứ” qua hải phận nước ta, bao gồm cả vùng Trường Sa và Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam từ xa xưa…

Những công trình khai quật ở châu Á đã làm hiển lộ một số đồ gốm hoa lam có xuất xứ từ Việt Nam như tại Mindanao (Philippines) và một số đã trở thành những món đồ cổ hiếm quý được giới sưu tập tìm mua tại đây. Đơn lẻ tại vùng Tây Á có một đĩa hoa lam với đường kính 44 cm chế tác từ Việt Nam trở nên nổi tiếng trong thế giới của những nhà sưu tập Hồi giáo, là vì đĩa hoa lam này do một nhân vật lừng lẫy trong thế giới Hồi giáo là Shah Abbas làm lễ hiến dâng lên đền thờ Ardebit từ đầu thế kỷ 17. Chúng có thể được chuyển đi bằng con đường gốm sứ của biển Đông và được nhắc đến trong nhiều tài liệu. Tất cả điều đó nói lên sự hiện hữu của huyết mạch giao thương có từ bao đời trên hải phận Việt Nam. Mà trên đường ấy, có một con tàu xấu số đã chìm dưới vùng biển Cù lao Chàm thuộc phố cổ Hội An. Vậy, ai là những người đầu tiên đã phát hiện ra nó?

Không ai khác hơn là những ngư dân vô danh cư ngụ tại cù lao ấy, dù họ đã gây ra sự xáo trộn bề mặt di tích bởi những cào xới, tìm lặn dưới đáy nước. Họ sống những ngày phập phồng vì sự đe dọa của bão biển. Chẳng hạn, vào những thập niên giữa thế kỷ 20, Cù lao Chàm thường rơi vào tình trạng biệt lập với đất liền hàng tuần, có khi kéo dài gần cả tháng trong những ngày biển động cấp 7 cấp 8 trở lên. Những ngày đó, Cù lao Chàm chỉ liên lạc được bằng đường điện thoại. Sau này, tàu cao tốc vận chuyển hành khách từ phố cổ Hội An ra đó cũng đành phải neo đậu tại cửa Đại chứ không vượt sóng đến cù lao trong những cơn bão dữ. Có khi phải dùng đến tàu công suất lớn 350 CV để vượt 15 km đường biển sóng gió để chở gạo, dầu và chất đốt ứng cứu dân trên xã đảo. Đầu thế kỷ 21, chính quyền mở nhiều đợt hỗ trợ miễn phí cho ngư dân nghèo trong những thời điểm thời tiết bất lợi. Nếu thời tiết thuận lợi, ngư dân trên Cù lao Chàm sẽ có được mùa cá trích hằng năm.

Cách đây vào khoảng 20 năm trước, khi mùa lưới cá trích của họ bị thất bát vì biển động kéo dài, lương thực cạn kiệt, một số ngư dân đã rời đảo vào bờ tìm đến bà con thân thuộc để vay mượn chút ít, hoặc làm thuê, gánh mướn kiếm gạo. Một số người đã mang theo những chồng bát dĩa vớt lên từ những chuyến rà lặn dưới đáy nước sâu. Số khác ghé vào nhà bà con cũng là ngư dân sinh sống ở các xã ven biển Hội An để ở tạm và trong cơn túng quẫn họ cũng được những người bà con tốt bụng ấy cấp cho những chồng bát đĩa tương tự đem ra chợ bán. Đó là những chồng bát đĩa mà dưới mắt họ “đã cũ mèm” và có giá bán “rẻ rề”, chỉ 10.000 đồng hoặc 20.000 đồng một chiếc giá lẻ, còn giá bán sỉ thấp hơn nhiều. Có thể nói, trong 5 năm, từ 1990 đến 1995, thậm chí trước đó vài năm nữa, từng chồng bát đĩa lẫn lộn với nhiều cổ vật do ngư dân vớt lên từ vùng biển Cù lao Chàm đã được bày bán la liệt, từ “thượng chùa Cầu đến hạ Âm Bổn” của phố cổ Hội An, mà sau này số cổ vật ấy ước tính lên tới con số ngót hàng vạn.

Điều đó đã được các nhà khảo cổ học, sử học như TS Đặng Văn Thắng đến từ TP.HCM và nhà khảo cổ học Tăng Bá Hoành ở Hà Nội ghi nhận. TS Thắng đến Hội An để tham gia khai quật tàu đắm Cù lao Chàm đợt đầu cho chúng tôi biết: “Khi đi dạo phố với các chuyên gia nước ngoài tham gia đợt khai quật khảo cổ học đầu tiên ở Việt Nam nằm trong vùng Cù lao Chàm, chúng tôi thấy rất nhiều cổ vật bày bán trong các tiệm ở đường Trần Phú”. Ông Tăng Bá Hoành cũng nói rõ đã sưu tầm được một số cổ vật gốm xuất xứ từ tàu đắm Cù lao Chàm được ngư dân đem ra bán trước khi có cuộc khai quật, với sự cho phép của Thủ tướng Chính phủ và ngành văn hóa nước nhà. Khi đoàn khai quật đến và vùng di tích Cù lao Chàm được khoanh vùng vào năm 1997 thì các cổ vật trong tàu đắm do ngư dân vớt lên đã không còn được bày bán nhiều như trước nữa. Và dĩ nhiên giá của các món cổ vật cũng tăng cao hơn. Cụ thể: “mỗi chiếc đĩa gốm hoa lam khoảng 2 tấc đã lên đến 1 triệu đồng hoặc hơn” – TS Thắng ghi nhận như thế.

Giao Hưởng

thanhnien.com.vn

__________________

240.000 hiện vật

Về phía Nhà nước, các thông báo chính thức sau này cho biết tàu đắm cổ Cù lao Chàm được phát hiện vào khoảng những năm đầu thập niên 1990 của thế kỷ 20, đến năm 1997 thực hiện Quyết định số 653 VH/QĐ ngày 27.3.1997 của Bộ VH-TT, Ban khai quật tàu đắm cổ Cù lao Chàm đã khảo sát và khai quật con tàu cổ này trong 3 năm 1997 – 1999. Kết quả đã vớt được trên 240.000 hiện vật còn nguyên vẹn và hàng vạn mảnh vỡ gốm sứ, hầu hết có xuất xứ từ vùng Chu Đậu (Hải Dương), niên đại khoảng thế kỷ 15 – 16.

 II. Lưu lạc đến phương trời xa

Trong đợt khảo sát và khai quật con tàu cổ đắm tại vùng biển Cù Lao Chàm với hơn 240.000 hiện vật nguyên vẹn, trong đó có một cổ vật độc bản là chiếc nậm rượu hình rồng, một bảo vật quốc gia, nay đã về đâu?

Bình và ấm gốm cổ do Việt Nam xuất khẩu tìm thấy trên tàu đắm ở Cù Lao Chàm – Ảnh: Tư liệu

Nậm rượu giá 200.000 USD

Không ít người phải chạnh lòng, băn khoăn, vì hàng vạn cổ vật trên con tàu đắm ở vùng Cù Lao Chàm đã được đem ra bán đấu giá tại Mỹ. Trong số đó, có các cổ vật được xem là bảo vật quốc gia như thông tin của tác giả Hồ Trung Tú về chiếc nậm rượu hình rồng có “nét vẽ không cầu kỳ trau chuốt, nhìn toàn thể là một sự hài hòa giữa hình khối và nét vẽ.

Những thứ không được vẽ như các bắp cơ cuồn cuộn của con rồng cũng toát lên hình khối mà ta không cảm nhận được rõ ràng nó toát ra từ đâu. Một con rồng thật sống động, oai phong nhưng cũng thật dễ thương và gần gũi. Nó không dữ dằn, đe dọa như những con rồng Trung Quốc.

Được biết, món đồ sứ hình rồng này là độc bản, chỉ có một chiếc trong hơn 240.000 món đồ cổ trong con tàu đắm ở Cù Lao Chàm. Chiếc nậm rượu hình con rồng ấy đã được bán với giá 200.000 USD. Một bảo vật quốc gia đã bị mất!”. Cũng theo Hồ Trung Tú, chiếc đĩa vẽ hình một con vịt xiêm, tức con ngan, cũng bán đấu giá lấy 70.000 USD.

Những cổ vật độc bản, hoặc tiêu biểu tương tự như trên, đều là đồ gốm sứ được sản xuất từ làng nghề Chu Đậu. Làng nghề này nổi danh và cực thịnh từ cuối thế kỷ (TK) 14 đến cuối TK 16, tính ra thời vang bóng của Chu Đậu kéo dài ngót 200 năm.

Ông Đào Phan Long – một nhà sưu tập, đồng thời cũng là một tác giả quan tâm đến sự lưu lạc của các cổ vật Việt Nam, đã đề cập đến một khía cạnh văn hóa của cổ vật trong tài liệu phổ biến trên tạp chí Cổ vật tinh hoa, rằng: “Tôi đọc báo thấy chính phủ một số nước đang phát triển đã thông qua người của mình dự các cuộc đấu giá quốc tế để mua lại các cổ vật quý của nước nhà đã bị mất thời trước.

Ví như Trung Quốc, Hàn Quốc… ta đã thấy họ mua lại các món cổ vật của họ thông qua đấu giá lên đến nhiều triệu đô la Mỹ đấy thôi! Trong các bạn chơi cổ vật, tôi biết có những người đã đi mua được vài món cổ vật gốm sứ mà họ yêu thích ở Thái Lan và Mỹ mang về Việt Nam.

Còn tôi cũng mua được tại Hà Nội một chiếc đĩa gốm Việt TK 15 vẽ nhiều màu thuộc lô đồ vớt ở tàu đắm Cù Lao Chàm – Hội An đã được nước ta cho bán đấu giá sang tận Mỹ trước đây. So với nhiều món cổ vật khác thì chiếc đĩa không quý và độc đáo gì, nhưng tôi thích nó vì phía sau đĩa có con tem và số lô hàng của nhà bán đấu giá chính hiệu Butterfield bên Mỹ.

Người bán cho biết anh ta đã mua của một Việt kiều làm ăn bên Mỹ mang về. Anh Việt kiều Mỹ đó đã mua được nhiều món trong cuộc đấu giá lô cổ vật tàu đắm Cù Lao Chàm”.

Trưng bày ở nước ngoài

Cũng theo nhiều nhà nghiên cứu khảo cổ học và sưu tầm cổ vật hiện nay, có hàng chục bảo tàng khắp nơi, kể cả châu Âu, châu Mỹ đều để tâm giới thiệu và dành những không gian thích đáng để giới thiệu về những sản phẩm gốm Việt Nam.

Điều đó đã “xóa bỏ một huyền thoại” về sự độc tôn của gốm Trung Quốc trên thị trường đồ cổ quốc tế. Nghĩa là gốm Việt Nam, đặc biệt gốm Chu Đậu trên con tàu đắm Cù Lao Chàm, đang sánh vai và thu hút các nhà sưu tập tìm kiếm những tiêu bản đẹp.

Có thể ghi nhận điều ấy qua các trưng bày gốm Việt Nam tại Nhật Bản, Thái Lan, Malaysia, Indonesia hoặc ở Pháp, Anh, Đức, Phần Lan, Bỉ, Thổ Nhĩ Kỳ và cả ở một số nước châu Mỹ nữa. Để dẫn chứng, ông Nguyễn Văn Quốc – cán bộ Bảo tàng Lịch sử Việt Nam TP.HCM nêu trường hợp bà Miriam Lambrecht Greeraerts (là quản thủ bộ sưu tập Ấn Độ và Đông Nam Á thuộc Bảo tàng Hoàng gia Bỉ) trong một buổi báo cáo tại Viện Khảo cổ học đã cho biết tại bảo tàng này có một bộ sưu tập gốm Việt Nam do một người Bỉ tên là Clément Huet đã từng ở Việt Nam từ năm 1912 đến năm 1938, làm việc tại Công ty vải sợi Nam Định, đã sưu tập qua các cuộc khai quật mà ông tham gia.

Trong ghi chép của mình, ông Huet đã cho biết năm 1938 ông đưa về Bỉ 7.927 hiện vật, trong đó có 6.027 đồ gốm. Năm 1952, sau khi Huet qua đời, Bảo tàng Hoàng gia Bỉ mua lại một phần bộ sưu tập này gồm 2.850 hiện vật, phần lớn là gốm Việt Nam từ TK 14 trở về trước, xuất xứ và niên đại được ghi lại tương đối rõ ràng.

Một trường hợp khác cũng được ông Nguyễn Văn Quốc thông tin: “Bảo tàng Cernuchi của Pháp cũng có bộ sưu tập gốm Việt Nam được đưa từ Việt Nam về trong những năm 1930 do học giả Viễn đông Bác cổ là Olob Jansé sưu tập còn để trong kho chưa được đưa ra trưng bày. Khi có dịp đến tham quan Bảo tàng Cernuchi (Paris) vào cuối năm 2000, chúng tôi chỉ được nhìn chúng qua hình ảnh, phần lớn là gốm Việt Nam từ TK1 đến 10”.

Thông tin khoa học trên còn nhấn mạnh ngoài những hiện vật gốm thuộc sở hữu cá nhân trước đây mà nay đã là sở hữu của một số bảo tàng lớn, gốm Việt Nam còn có trong một số sưu tập của cá nhân và họ đã tự tổ chức những cuộc triển lãm cũng như in sách để giới thiệu.

“Đó là trường hợp của ông Wlrich. J.Beck, một thành viên của Hội Gốm cổ Indonesia (1977), tuy là người Thụy Sĩ nhưng ông này đã từng sống và làm việc lâu năm ở Indonesia (từ 1968). Trong thời gian đó, ông đã bỏ ra một số tiền lớn để mua lại 350 hiện vật gốm Việt Nam từ những người buôn đồ cổ ở Singapore, từ cuộc khai quật gốm Việt Nam ở đảo Sulaweisi, đảo Calimantan (Indo) – miền Đông Java. Sưu tập gốm Việt Nam nói trên có niên đại từ TK 15 đến TK 16. Số hiện vật này đã được ông trưng bày tại Thụy Sĩ sau 10 năm (1968 – 1978) sưu tập. Đặc biệt, ông đã xuất bản một quyển sách giới thiệu sưu tập gốm Việt Nam của ông với loại hình đa dạng như: đĩa, hũ có nắp, bình pha mực hình thú, con xúc xắc, mặt nạ, hạt chuỗi… gồm hai loại men chủ yếu là men ngọc và men xanh trắng”.

Sự dày công và kiên trì của ông Wlrich.J.Beck cho thấy gốm Việt Nam đã có một sức hút mãnh liệt đối với các nhà nghiên cứu và sưu tầm đồ cổ để có được “một chút gì để nhớ” trong các sưu tập cá nhân của họ.

Giao Hưởng

thanhnien.com.vn

III. Từ  các cổ vật quý hiếm

Chuyên viên khảo cổ và thợ lặn làm việc trên vùng biển có tàu cổ đắm ở Cù Lao Chàm (Hội An) – Ảnh: Đ.S

Ngoài những cổ vật được đem đấu giá ở Mỹ như đã đề cập trong các bài trước, một số đã được Bộ Văn hóa – Thông tin trước đây (nay là Bộ Văn hóa – Thể thao – Du lịch) giao về các bảo tàng trong nước.

Trong số đó, theo thông báo khoa học của Bảo tàng Lịch sử Việt Nam TP.HCM thì nơi đây đã được Bộ Văn hóa – Thông tin (VH-TT) giao lại hơn 4.600 cổ vật gốm Chu Đậu từ con tàu đắm ở vùng biển Cù Lao Chàm. Số cổ vật trên bao gồm nhiều loại hình như chén, đĩa, ấm, hũ, bình…, đều là những cổ vật mang nhiều giá trị lịch sử – văn hóa và khoa học cần được giới thiệu, nghiên cứu thêm. Trong các hiện vật mà bảo tàng này tiếp nhận có các hiện vật rất quý, gồm:

– 2 lọ cắm bút hình rùa, trong đó một lọ gốm men xanh trắng và một lọ gốm men trắng. Lọ gốm men xanh trắng cao 3 cm, đường kính 5,5 cm, bên trong rỗng nhưng không thông với miệng rùa, đầu rùa ngẩng cao, tứ chi xòe ra trong tư thế đang bơi. Lọ thứ hai là gốm men trắng, đặc điểm giống như lọ men xanh trắng nhưng chỉ nhỏ hơn một chút, cao 2,5 cm, đường kính 5 cm.

– 2 lọ châm nước mài mực hình cóc, đều làm bằng gốm men xanh trắng, có cùng kích thước: cao 4,8 cm, dài 6,5 cm, rộng 4 cm. Về đặc điểm thì hai chiếc lọ này đều như nhau, cụ thể là đều có dạng của một con cóc đang ngồi, đầu ngẩng cao, bụng tròn, 2 chân trước đứng, 2 chân sau ở tư thế ngồi xổm, ở giữa lưng có lỗ tròn đường kính 1 cm là miệng lọ, bên trong rỗng và thông với miệng cóc, đây là vòi, dùng cho việc châm nước mài mực. Có thể vì muốn tạo hình dáng khác cho lạ mắt hay vì niềm tin mà các nghệ nhân đã tạo ra lọ châm nước với hình dáng của một con cóc thân thiện này. Cóc cũng tượng trưng cho mưa thuận gió hòa, cho sự đầm ấm sinh sôi nảy nở.

– Cặp ấm hình gà: kiểu dáng và kích thước hai chiếc ấm này đều giống nhau: có mào gà, đầu ngẩng cao, dáng mập, đuôi cong, trên lưng có một vòi nhỏ, trổ thủng thông với thân, bên trong rỗng, mỏ trổ thủng một lỗ là vòi, toàn thân vẽ lam; đều có chiều cao 11,5 cm, dài 16 cm, rộng 8 cm. Màu sắc của chúng thì khác nhau: một chiếc ấm men xanh trắng, một chiếc ấm men Tam thái (3 màu).

Trên đây nói về số cổ vật liên quan đến đợt khai quật khảo cổ học đối với con tàu đắm ở vùng biển Cù Lao Chàm được tiến hành trong 3 năm từ 1997 – 1999.

Cuộc tìm kiếm lần thứ 2

Theo tinh thần cuộc họp do Bộ VH-TT (lúc đó) tổ chức bàn về Đề án trục vớt cổ vật tàu đắm Cù Lao Chàm được tổ chức vào ngày 18.7.2003 tại Hà Nội, thì một hợp đồng cụ thể được ký kết với Công ty TNHH Đoàn Ánh Dương để trục vớt các cổ vật trên cơ sở đảm bảo nghĩa vụ và quyền lợi đã được thỏa thuận trong hợp đồng. Theo đó, toàn bộ chi phí trục vớt do Công ty TNHH Đoàn Ánh Dương lo liệu; sau khi kết thúc việc trục vớt, số hiện vật được kiểm kê, phân loại, trừ những hiện vật độc bản được giao ngành VH-TT quản lý, các hiện vật còn lại được chia theo tỷ lệ Bên A (tỉnh Quảng Nam): 40% và Bên B (Công ty TNHH Đoàn Ánh Dương): 60%. Sau đó, một ban chỉ đạo trục vớt cổ vật gồm: lãnh đạo UBND tỉnh, Sở VH-TT, Sở Tài chính – Vật giá, Công an tỉnh, BCH Bộ đội biên phòng tỉnh và Bảo tàng Quảng Nam đã được thành lập. Kết quả của đợt khai quật đã đem lên bờ thêm hàng chục nghìn cổ vật khác.

Có thể nói, trong số tàu đắm đã được khai quật, con tàu ở Cù Lao Chàm (Hội An, Quảng Nam) chở hàng gốm sứ Việt Nam (thay vì hàng Trung Quốc như các tàu khác) với số lượng nhiều nhất được tìm thấy từ trước đến nay tại các di tích hàng hải, gồm: gốm hoa lam, gốm nhiều màu và gốm xanh lam độc sắc. Cạnh đồ thô dân dụng là những sản phẩm cao cấp, khiến chuyên viên Bảo tàng Victoria and Albert là John Guy phải thốt lên: “Có quá nhiều, quá nhiều ngạc nhiên. Chỉ trong một con tàu mà chứa cả phạm vi những loại đồ gốm với tính chất khác nhau, hỗn hợp vật liệu khác nhau, để cung cấp cho nhiều giai tầng xã hội khác nhau, thật hết sức phi thường” (theo tờ Viet Mercury tháng 6.2000).

Xứ sở của gốm hoa lam

Cũng cần nói thêm là, theo các nhà nghiên cứu, mãi đến đầu thập niên 1930, thế giới cũng chỉ biết gốm hoa lam sản xuất bởi Trung Quốc. Nhưng từ năm 1934, L.R.Hobson đã phát hiện trên bình gốm của Bảo tàng Topkapi Saray tại Istanbul (Thổ Nhĩ Kỳ) có ghi xuất xứ của bình làm tại Việt Nam thế kỷ 14. Vài thập niên sau, ngày càng có nhiều chứng cứ về sự có mặt của gốm Việt Nam thế kỷ 14 – 17 tại Nhật Bản, Thổ Nhĩ Kỳ, Iran, Ai Cập… Điều đó chứng tỏ không chỉ Trung Quốc mà Việt Nam cũng là xứ sở của gốm hoa lam.

Nghệ nhân Việt Nam đã đưa nhiều thế hệ gốm sứ đi khỏi lũy tre làng, ra cửa biển, một số gặp nạn, bị chìm cùng các thương thuyền và được vớt lên từ vùng vịnh Thái Lan và nam Philippines… Ở trong nước, theo nhà nghiên cứu Bùi Minh Trí, những dấu tích trên đất liền dần dà tìm thấy tại các thương cảng cổ như Phà Hồ (Bắc Ninh), Vân Đồn (Quảng Ninh), Lạch Trường (Thanh Hóa), Hội Thống, Đền Huyện, Kỳ Ninh (Hà Tĩnh), đặc biệt vùng biển Cù Lao Chàm đã “phát hiện một khối lượng khổng lồ hơn 150.000 đồ gốm hoa lam Việt Nam còn nguyên vẹn”. Đây là bằng chứng quan trọng khẳng định về xuất xứ và đời sống viễn du của một dòng gốm riêng biệt.

G.H

Giao Hưởng

thanhnien.com.vn

IV. Một cuộc đấu giá ở Amsterdam

Không chỉ cổ vật ở Cù Lao Chàm, mà Việt Nam đã đưa nhiều cổ vật vớt được trên các con tàu đắm tại một số địa điểm khác ở biển Đông ra nước ngoài bán đấu giá.

Chẳng hạn 17.000 cổ vật trên tàu đắm Bình Thuận được bán đấu giá tại thành phố Melbourne (Úc), 28.000 cổ vật trên tàu đắm Hòn Cau vùng biển Bà Rịa – Vũng Tàu đấu giá tại Hà Lan qua sàn đấu của công ty quốc tế nổi tiếng Christie’s của nước Anh.

 

Bà Võ Thị Hạnh Dung bên một cổ vật đời Minh (Trung Quốc) – Ảnh: Đ.S

Chúng tôi ghi lại dưới đây chi tiết về cuộc bán đấu giá cổ vật tại Amsterdam (Hà Lan). Đó là các cổ vật vớt được trên một con tàu đắm ngoài khơi tỉnh Cà Mau. Theo các nhà nghiên cứu, con tàu trên thuộc loại tàu buồm bằng gỗ, dài khoảng 24m, rộng gần 8m, chìm ở độ sâu 36m. Dựa vào hàng hóa và số di vật trục vớt được có thể đoán định đây là tàu của một công ty nước ngoài ở châu Âu, hoặc tàu của Trung Quốc chở hàng gốm sứ sản xuất từ Cảnh Đức Trấn ở tỉnh Giang Tây, Đức Hóa ở tỉnh Phúc Kiến, Quảng Châu ở tỉnh Quảng Đông đang trên đường vòng qua hải phận Việt Nam đến các nước trên thế giới. Niên đại tàu thuộc thời Ung Chính nhà Thanh (1723-1735).

Ban đầu tàu được hai ngư dân ở La Gi, tỉnh Bình Thuận phát hiện và các thợ lặn lành nghề đã tự ý khai thác 30.000 cổ vật dưới tàu đắm nhưng sau này các cơ quan chức năng thu giữ và thẩm định nguồn gốc số cổ vật ấy, báo cáo lên Thủ tướng. Chính phủ cho phép mở một cuộc khai quật khảo cổ học dưới nước lần đầu tiên hoàn toàn do cán bộ khảo cổ học và thợ lặn Việt Nam thực hiện, không có sự tham gia của nước ngoài. Cuộc khai quật tiến hành với sự tham gia chỉ đạo của một số bộ hữu quan như Bộ Nội vụ, Bộ Quốc phòng, Bộ GTVT, Bộ Văn hóa – thông tin và UBND tỉnh Cà Mau, giao Liên hiệp xí nghiệp trục vớt cứu hộ – Visal trực tiếp khảo sát và thực hiện thành công. Có đến 76.657 cổ vật vớt được đợt này đã đưa sang Hà Lan để bán đấu giá đầu năm 2007. Đoàn cán bộ Việt Nam gồm 6 người do UBND hai tỉnh Cà Mau và Bình Thuận cử đi, một đoàn khác gồm TS Nguyễn Đình Chiến – đại diện Hội đồng Giám định cổ vật Quốc gia, ông Ngô Hải – Giám đốc Công ty Unicom được mời đi dự phiên đấu giá trên với danh nghĩa là “người môi giới bước đầu” đã có mặt tại Amsterdam. Đáng ghi nhận là sự có mặt một đại diện của Công ty Đoàn Ánh Dương, là người Việt Nam trực tiếp tham gia cuộc đấu giá! Trong dịp tiếp xúc gần đây với người đại diện trên, chúng tôi nghe kể như sau:

Trước buổi đấu giá đầu tiên, theo thông lệ và truyền thống hiếu khách vốn có của hãng đấu giá quốc tế Sotheby’s, một bữa tiệc chiêu đãi đoàn Việt Nam được Sotheby’s tổ chức hết sức thân mật vào chiều 28.1.2007. Trước đó, các chuyên gia Sotheby’s cũng hướng dẫn chúng tôi đến xem phần trưng bày mỹ thuật và sắp xếp bố cục khá ấn tượng của các lô hàng cổ vật trên tàu đắm Cà Mau, giúp người xem nhận ra quy mô cũng như đẳng cấp chuyên nghiệp quốc tế của họ trong việc chuẩn bị đấu giá. Họ cũng phổ biến các tập quảng cáo 1.716 lô cổ vật với giá sàn định sẵn theo từng lô, nhằm tiếp thị rộng rãi với khách quốc tế.

 —————————————————————

“Tàu cổ Cà Mau bị đắm ở thế kỷ 18 trên vùng biển Việt Nam có thể do chở hàng quá nặng và bị cháy không chữa kịp. Điều đó được minh chứng qua hàng đống chảo gang kết lại thành khối lớn và rất nhiều chồng bát, đĩa, chén kết dính với nhau chẳng khác gì những vụ quá lửa trong các lò nung. Các nhà nghiên cứu lý giải rằng con tàu Cà Mau phải bị cháy với thời gian khá lâu thì nhiệt độ trong tàu mới lên cao, tới độ nung chảy kết khối như vậy. Đến nay từ Cù Lao Chàm của tỉnh Quảng Nam đến vùng biển Kiên Giang đã phát hiện và khai quật các con tàu đắm từ nhiều thế kỷ trước chứng tỏ vị trí quan trọng của tuyến đường hàng hải quốc tế qua vùng biển Việt Nam từ xưa…” – TS Trịnh Thị Hòa

—————————————————————-

Người điều khiển phiên gõ búa đấu giá đầu tiên vào 29.1 là ông Henry, Giám đốc điều hành khu vực châu Á của Sotheby’s, cho các lô từ số 1 – 233. Các khách hàng có mặt hôm ấy gồm đủ quốc tịch đến từ Anh, Đức, Pháp, Mỹ, Bỉ, Hà Lan, Ireland, Ý, Trung Quốc, Nga, Úc, Nhật, Monaco, Nam Phi, Thụy Điển, Thụy Sĩ, với nhiều nhà sưu tập nổi danh trong các phòng bán đấu giá quốc tế hiện nay. Phiên thứ hai mở ngày 30.1 cho lô số 234 – 702. Phiên thứ ba mở ngày 31.1 cho lô số 703 – 1176. Hai phiên sau kéo dài hơn, liên tục từ 10 giờ 30 sáng đến 19 giờ 30 tối mỗi ngày, chỉ nghỉ chưa đầy 30 phút vào bữa trưa. Kết quả toàn bộ số cổ vật trên tàu đắm Cà Mau đưa sang Hà Lan đợt ấy đều bán hết với tổng số tiền thu được là 3.046.716 euro, nếu quy đổi thời điểm ấy sẽ là 3.889.888 USD. Ngay sau đó, Sotheby’s thông báo cuộc đấu giá cổ vật tàu đắm ở vùng biển Đông Việt Nam đã thực sự gây ngạc nhiên trên thế giới vì giá đấu cao và trở thành cơ hội giới thiệu hình ảnh Việt Nam – Cà Mau với khách quốc tế.

Cổ vật được mua vượt qua mức giá ước tính ban đầu của chúng rất nhiều. Chẳng hạn, 69 đĩa chén uống trà có hình “cậu bé cưỡi trâu” bán với giá 49.200 euro, cao gấp 12 lần so với dự kiến. Kế đến lô số 1071 với bộ chén có hình “chiếc lều của người Trung Quốc” bán với giá 31.200 euro, cao gấp 10 lần dự kiến. Lô số 329 gồm 500 chiếc chén và đĩa màu trắng xanh có hình con hươu bán cho nhà sưu tập người Nam Phi với giá 26.500 euro, một nhà đầu tư người Hà Lan đã trả 26.500 euro cho lô 369 – bộ đĩa và chén uống trà, cao hơn dự kiến nhiều. Qua đấu giá tại Hà Lan, một số nhà sưu tập ở hàng chục nước trên thế giới có thêm nhiều cổ vật hiếm quý trong bộ sưu tập phương Đông của họ.

Đặc biệt, lần đầu tiên một doanh nghiệp Việt Nam đã tham gia đấu giá cổ vật quốc tế để mua và sở hữu hơn 1.000 cổ vật đem về lại Việt Nam, đó là Công ty Đoàn Ánh Dương đã nói trên. Từ hơn 10 năm nay, công ty này đã ký hợp đồng khảo sát và khai thác các tàu cổ đắm trên vùng biển Đông Việt Nam. Số cổ vật trục vớt dưới nước, hoặc sưu tầm trên cạn, cộng với số mua được từ các phiên đấu giá, đến nay đã có ngót hơn 62.000 món do Giám đốc Đoàn Ánh Dương là bà Võ Thị Hạnh Dung sở hữu và bà trở thành người nắm giữ cổ vật trên những con tàu đắm nhiều nhất Việt Nam hiện nay.

Giao Hưởng

 V. Bảo tàng cổ vật biển Việt Nam

Các chuyên gia khảo cổ và cả những nhà sưu tập trong nước mong muốn có một nơi để giữ gìn và giới thiệu với thế giới về những cổ vật này.

Phù hợp với mục đích trên, cách đây không lâu UBND tỉnh Kiên Giang đã phê duyệt nhiệm vụ quy hoạch chi tiết khá đặc biệt để xây dựng khu bảo tàng cổ vật kết hợp du lịch sinh thái rộng đến 49,27 ha trên đảo Phú Quốc (thuộc khu vực mũi Ông Quới, Cửa Cạn).

Cổ vật dưới lòng đại dương Việt Nam được trưng bày tại phố Lê Công Kiều, TP.HCM – Ảnh: Diệp Đức Minh

Khu bảo tàng không chỉ trưng bày những giá trị văn hóa, lịch sử của Kiên Giang và Phú Quốc, mà còn giới thiệu tập trung và đậm nét nhất về các cổ vật trục vớt từ những con tàu đắm trên vùng biển Việt Nam từ trước tới nay. Các thủ tục ban đầu đã tiến hành từ năm 2008 và dự kiến sẽ bắt tay thực hiện trong năm 2012. Đơn vị được UBND tỉnh Kiên Giang giao tổ chức lập quy hoạch trên là Công ty Đoàn Ánh Dương (TP.HCM) – công ty này đã có quá trình dài hơn một thập niên khảo sát hoặc trục vớt cổ vật tàu đắm trên vùng biển Cù Lao Chàm và Cửa Đại (Quảng Nam), Tuy Phong và La Gi (Bình Thuận), Phù Mỹ (Bình Định), Hà Tiên (Kiên Giang)…

Đại diện của Công ty Đoàn Ánh Dương gần đây cho PV Thanh Niên biết họ sẽ đem 62.000 cổ vật tàu đắm hiện đang sở hữu để trưng bày tại Bảo tàng Kiên Giang nói trên… bao gồm các loại chén, đĩa, ấm, bình trà bằng gốm, hoặc tiền đồng, hộp đồng, chậu đồng, đèn đồng, ống nhổ bằng đồng, cùng các nghiên mực bằng đá, dấu triện bằng đá. Cũng có nhiều loại chén sứ, bát sứ hoa lam rất mỏng, các lư hương, các hũ sứ hoa lam khác cùng nhiều mảnh gỗ bị vỡ, bánh lái bằng sắt, các cột buồm cháy dở dang, hoặc các loại khóa bằng đồng, bằng sắt chìm dưới biển nhiều thế kỷ nay, vớt lên từ tàu cổ Cù Lao Chàm (thế kỷ 15), tàu cổ Bình Thuận (thế kỷ 17), tàu cổ Hòn Cau (1690), tàu cổ Cà Mau (1723-1735), tàu cổ Kiên Giang (thế kỷ 15)…

Phần quan trọng của hoạt động bảo tàng này là lập hồ sơ khoa học về cổ vật tàu đắm, cũng như giới thiệu những tài liệu lịch sử văn hóa, những công trình nghiên cứu công phu, những lý giải về con đường hàng hải ngang qua vùng biển Đông nước ta bao gồm cả quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Chẳng hạn TS Nguyễn Đình Chiến khẳng định về giá trị khai quật các tàu cổ đã “góp phần nghiên cứu mối giao thương quốc tế trên biển Việt Nam” – ông trích dẫn tài liệu lịch sử cho thấy từ năm 1149, thuyền buôn của các nước Lộ Lạc, Xiêm La đến Vân Đồn để mua bán hàng quý, dâng hiến sản vật: “Con đường tơ lụa trên biển giữ vị trí rất quan trọng trong mối quan hệ giao lưu quốc tế (…). Từ năm 1636 Hà Lan được phép của chúa Nguyễn mở thương điếm ở đàng trong tại Faifo (Hội An) do Abraham Duijeker làm giám đốc. Năm 1637 dưới đời vua Lê Thần Tông và chúa Trịnh Tráng, người Hà Lan cũng được mua bán ở Phố Hiến cùng với người Nhật, Trung Quốc, Thái Lan, Anh và Bồ Đào Nha. Cho đến năm 1659, lần đầu tiên những đồ sứ đặt làm ở miền Bắc Việt Nam và Nhật Bản được chở đến thương điếm Batavia của Hà Lan tại Nam Dương (Indonesia)”.

Như thế, không chỉ từ phía Nam (Cù Lao Chàm trở vào tới Cà Mau), mà cần nghiên cứu con đường hàng hải ở phía Bắc Việt Nam nữa. Vì thế trong tương lai, Bảo tàng cổ vật ở Phú Quốc tỉnh Kiên Giang cũng sẽ trưng bày các cổ vật mang dấu ấn về “con đường gốm sứ trên biển” thông qua cửa ngõ của phố Hiến và các hải cảng phía Bắc. Bởi chính từ đó nhiều chiếc bát cổ do Việt Nam xuất khẩu vào thế kỷ 15-16 đã được chở đi khắp nơi, như trong bài viết về “vẻ đẹp Chu Đậu”, tác giả Hồ Trung Tú nhắc đến nhận định của Morimura Kenichi rằng: “Đồ gốm sứ Việt Nam thế kỷ 15-16 đã có ảnh hưởng và mối quan hệ mật thiết với quá trình hình thành các dòng phái trà đạo của Nhật. Hiện nay, vẫn còn rất nhiều chiếc bát cổ từ thời quan hệ giao thương Việt – Nhật qua cửa ngõ Hội An – phố Hiến được lưu giữ tại các ngôi chùa nổi tiếng ở Nhật và chỉ được đem ra sử dụng trong các dịp lễ trà đạo lớn.

Chiếc bát chân cao được dùng trong hầu hết các dòng phái trà đạo và được xem như một kết tinh của nền văn hóa Nhật Bản”… Để chuẩn bị, vào giữa năm 2010, Công ty Đoàn Ánh Dương và bà giám đốc Võ Thị Hạnh Dung đã nhờ Bảo tàng Lịch sử Việt Nam – TP.HCM giám định đợt đầu 1.500 cổ vật, với kết luận: “Đây là các cổ vật Việt Nam, Trung Quốc, Thái Lan được tìm thấy trên các con tàu đắm có niên đại từ thế kỷ 15 – 18”. Tất cả đều đã và đang được trưng bày tại cửa hàng đầu tiên ở Việt Nam chuyên về Cổ vật trong lòng đại dương mở tại phố Lê Công Kiều, Q.1, TP.HCM.

Những động thái tiếp theo đang gấp rút thực hiện để trong vài năm tới sẽ hình thành khu bảo tàng và du lịch sinh thái đặc biệt tại tỉnh Kiên Giang – một địa điểm văn hóa sẽ trưng bày và giữ gìn số lượng cổ vật tàu đắm lớn nhất nước ta.

“Hiện nay có những hiện vật gọi là độc bản, mang nét đặc trưng tiêu biểu của một thời kỳ lịch sử Việt Nam nhưng lại là sở hữu của các bảo tàng lớn ở nước ngoài, trong khi ở Việt Nam đã không tìm thấy những sản phẩm tương tự. Vì vậy, nên chăng những ngành chức năng trong việc quản lý cổ vật có kế hoạch tìm hiểu và lập danh sách những báu vật quốc gia hiện có mặt ở nước ngoài, để tiến hành trao đổi, thương lượng giữa hai quốc gia nhằm thu hồi những cổ vật quý hiếm, trong đó có đồ gốm (vớt được trên các con tàu đắm). Và theo tôi đó cũng là một trong những biện pháp góp phần bảo tồn di sản văn hóa của dân tộc Việt Nam”.

Nguyễn Thị Ngọc Huyên (BTLS Việt Nam – TP.HCM)

Giao Hưởng

Nguồn st trên Internet , đăng tải 2/2011

 

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC


Advertisements

Read Full Post »