Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Ba 10th, 2011

Nghệ nhân nghề gốm Biên Hòa.Họ khác nhau về tuổi tác, tập quán sinh sống và chưa từng biết nhau, song những con người ấy lại có cùng một ước mơ, một mong muốn cháy bỏng là lưu giữ nghề truyền thống của quê hương. Không ít người đã chấp nhận cuộc sống bần hàn để vui buồn cùng nghề.

* HƠN 60 NĂM GẮN BÓ VỚI NGHỀ GỐM

Đã 78 tuổi nhưng nghệ nhân Trần Văn Là ở Biên Hòa vẫn còn khá minh mẫn khi hồi tưởng lại quá khứ, từ những ngày tóc còn để chỏm đã mê nghề làm gốm. Theo lời ông Là, thì 16 tuổi ông đã tập tành theo nghề gốm tại các cơ sở gốm ở Tân Vạn. Lúc đó trong ông luôn ấp ủ một mơ ước sau này sẽ trở thành thợ gốm chuyên nghiệp có thể tạo ra các mẫu gốm đặc sắc mang sắc thái riêng của Biên Hòa – Đồng Nai. Để thực hiện ước mơ, năm 1948 ông Là đã theo học Trường mỹ nghệ thực hành Biên Hòa (nay là Trường cao đẳng mỹ thuật trang trí Đồng Nai). Sau 4 năm tốt nghiệp ra trường, ông Là trở thành thợ thiết kế mẫu cho nhiều cơ sở gốm nổi tiếng ở Biên Hòa.

Ông Trần Văn Là thiết kế mẫu rồng.

Với tài hoa vốn có và lại được đào tạo bài bản nên ông Là đã sớm nổi danh trong làng gốm vì đã thiết kế ra nhiều mẫu mã, hoa văn đặc sắc trên bình hoa, chậu hoa được khách hàng trong và ngoài nước rất ưa thích. Gốm Biên Hòa trước năm 1975 rất thịnh, lúc đó các lò gốm đa số tập trung ở phường Tân Vạn, xã Hóa An (TP.Biên Hòa). Gốm xuất xưởng bao nhiêu đều hết và được xuất khẩu sang nhiều nước như: Pháp, Mỹ, Nhật… Nét đặc trưng riêng của gốm Biên Hòa là dùng tro rơm, tro than củi làm nguyên liệu pha chế và đốt bằng củi để tạo màu sắc riêng biệt. Khoảng thời gian sau năm 1980, nhiều xưởng gốm bắt đầu nhập các nguồn nguyên liệu mới về và đổi mới một số quy trình công nghệ, khiến gốm Biên Hòa mất dần nét đẹp truyền thống. Ông Là cho hay: “Hiện nay chỉ còn lò gốm Kim Long, Phong Sơn ở TP. Biên Hòa là giữ được nhiều nét gốm xưa, các lò gốm khác phần lớn đã thay đổi, các mặt hàng tuy phong phú, nhiều màu sắc nhưng không còn nét đẹp bí ẩn riêng biệt nên giảm dần sự thu hút khách hàng sành chơi gốm”. Do đó, đầu ra của gốm hiện rất hạn chế và gốm Biên Hòa xưa đang dần bị mai một.

Sau hơn 60 năm gắn bó với nghề, ông Là đã thiết kế ra hàng ngàn mẫu gốm và ông là một trong số ít người gắn bó lâu năm nhất với nghề gốm.

Gốm Biên Hòa.

Ông Trần Văn Là thiết kế mẫu rồng.
Gốm Biên Hòa.

Rất cần những bàn tay của các nghệ nhân

để tạo ra những sản phẩm ưng ý

Mất dần bản sắc

Lịch sử nghề gốm sứ của Việt Nam có hơn 10.000 năm trước đây, từ thời tiền sử, thời đồ đồng, thời Lý, Trần… cho đến nay gốm sứ đã đạt những đỉnh cao về kỹ thuật và mỹ thuật. Nhiều trung tâm gốm sứ đã hình thành trong cả nước với những sản phẩm đặc trưng riêng như gốm Bát Tràng, Chu Đậu, Phù Lãng, Bàu Trúc, Bình Dương, Vĩnh Long… Trong tiến trình hội nhập, phát triển gốm sứ Việt không chỉ gặp những khó khăn do quy mô nhỏ lẻ, phân tán, mẫu mã chậm cải tiến, công nghệ chậm đổi mới, ô nhiễm môi trường còn nặng nề mà điều đáng quan tâm nhất là nhiều làng nghề đang dần mai một hoặc những đặc trưng, nét độc đáo đã không còn.

“Điều gì đã xảy ra với làng nghề gốm Đồng Nai?” là câu hỏi đầy tâm trạng của ông Huỳnh Dũng Nghĩa- Chủ tịch Hiệp hội Gốm mỹ nghệ tỉnh Đồng Nai. Làng nghề gốm sứ Đồng Nai trải qua nhiều thăng trầm của lịch sử 300 năm phát triển. Tại triển lãm quốc tế ở Paris năm 1925 gốm Biên Hòa đã được nhiều nước trên thế giới biết đến nhưng nay gốm Biên Hòa đang trở nên mờ nhạt. So với năm 2000, số cơ sở làm gốm hiện nay giảm hơn 60%, “Điều may mắn là vẫn còn khoảng 40 cơ sở đang hoạt động”, ông Nghĩa cho biết. Đặc trưng của gốm sứ Biên Hòa là loại gốm màu men xanh trổ đồng không lẫn với bất kỳ dòng gốm của các địa phương khác. Nhưng loại men xanh trổ đồng đặc trưng của gốm Biên Hòa đã mất đi và loại gốm đất đen đặc trưng của Biên Hòa cũng dần mai một. Liệu có cách nào phục hồi, một khi những nghệ nhân am tường kỹ thuật chế tác cũng mất đi?

Theo Tiến sĩ Phạm Quốc Quân- Giám đốc Bảo tàng cách mạng Việt Nam thì khu vực làng nghề của các trung tâm sản xuất gốm sứ Việt Nam không được bảo tồn. Bát Tràng thì đang bị đô thị hóa, Thủ Dầu Một, Biên Hòa đang phát triển theo hướng khu công nghiệp. Những làng gốm nhỏ như Phù Lãng, Hương Canh, Thổ Hà đang phát triển tự phát, thiếu quy hoạch, thiếu định hướng. Phải chăng đây là hướng đi thiếu bền vững và ít lưu tâm đến giá trị truyền thống?

Cần một chương trình hành động

Ông Vũ Quốc Tuấn- Chủ tịch Hiệp hội làng nghề Việt Nam nhận định: Công việc chúng ta cần làm là nhận diện và xác định rõ các nghề gốm truyền thống trong di sản văn hóa phi vật thể hiện có trên toàn quốc và mỗi địa phương cần được bảo vệ. Nhà nước cần có chính sách phát huy vai trò của nghề gốm thủ công truyền thống trong xã hội và lồng ghép việc bảo vệ loại hình di sản này vào các chương trình, quy hoạch, chỉ định cơ quan đủ năng lực bảo vệ nghề gốm thủ công truyền thống trên địa bàn.

Trong chuỗi giá trị của gốm sứ thì khâu nguyên liệu, chế tác và nung gốm tạo ra bản sắc riêng của từng dòng gốm, phong cách gốm. Đất làm gốm của từng vùng miền khác nhau và được chế tác theo bí quyết riêng tạo nên sự khác biệt. Vì vậy trong quy hoạch, vùng có nguyên liệu tạo bản sắc riêng cho gốm cần được bảo vệ. “Cần phải xem xét và cải thiện vấn đề quy hoạch nguyên liệu cho sản xuất gốm sứ, mà theo tôi giữ tài nguyên còn quan trọng hơn tăng trưởng. Nguyên liệu đất làm gốm và tạo sự khác biệt giữa các dòng gốm không phải là vô tận và về lâu dài không thể nhập khẩu đất như châu Âu”, ông Nguyễn Lực-Trưởng đại diện Hiệp hội làng nghề tại TP. Hồ Chí Minh phân tích.

Một số tỉnh thành đã bắt đầu chú trọng đến việc bảo tồn và phát huy các giá trị phi vật thể và khai thác tiềm năng kinh tế của làng nghề gốm sứ như tỉnh Ninh Thuận đang xây dựng chiến lược maketting cho gốm Bàu Trúc. Tỉnh Bình Dương đã công nhận cơ sở sản xuất gốm Lò Lu hơn 150 năm tuổi là di tích văn hóa, lịch sử cấp tỉnh. Nơi đây giữ nguyên từ kiến trúc, diện tích khuôn viên, đến các công trình bên trong và kỹ thuật sản xuất, Lò Lu còn là một điểm đến trong tour du lịch sinh thái của tỉnh.

Ngoài ra để vững bước trên con đường hội nhập, bản thân các cơ sở ở những làng nghề gốm sứ phải thực hiện việc tổ chức lại sản xuất, kinh doanh. Để tăng sức cạnh tranh cần tăng cường liên kết, liên doanh giữa các cơ sở sản xuất với nhau, giữa sản xuất với tiêu thụ. Đây là điều cốt lõi để nâng cao năng lực của cơ sở nhưng vẫn còn là khâu rất yếu của các làng nghề.

MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN

Advertisements

Read Full Post »