Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Mười Hai 4th, 2010

Ngai thờ

Ghế của vua ngồi khi ngự triều gọi là ngai, hay ngai vàng hoặc long ngai. Để tỏ sự tôn kính, trong đền thờ thần cũng đặt một cái ngai, gọi là ngai thờ.

Từ Điển Bách Khoa Việt Nam 2003 có ghi: “Những ngai thờ nguyên vẹn còn lại có niên đại từ thời nhà Mạc (thế kỷ 16). Ngai thờ tìm thấy ở chùa Thầy (Hà Tây) có niên đại chính xác là 1346. Ngai thờ có ba kiểu thức nhất định:. Kiểu một lòng ngai hẹp, chân cao, lưng mô phỏng hình lá đề. Trên mặt chạm rồng, hoa lá, hay các hình tượng linh thiêng, bấu tay ngai thường chạm đầu rồng phượng (như ở chùa Dâu, Bắc Ninh). Kiểu hai: lòng ngai rộng hơn, thường hơi tròn kiểu bát cống, lưng và tay ngai chạm hình cánh dơi, thường có niên đại từ thế kỷ 16. Kiểu ba: phổ biến nhất, có từ thế kỷ 20, thường để trong cung làm chỗ ngồi cho tượng thần hay để bài vị thành hoàng ở đình. Lưng và tay ngai liền nhau hình móng ngựa, hai đầu chạm rồng, vành tay ngao nối với mặt ngai bằng sáu hoặc tám chấn song chạm rồng hoặc hổ phù. Mặt ngai phẳng, đế ngai chia thành nhiều cấp trên đó chạm rồng, hổ phù, hoa lá, và biểu vật, cuối cùng kết thúc bằng chân quỳ dâng cá”. Ở từ đường không dùng ngai thờ, nhà giàu có chỉ dùng cổ ỷ (tượng trưng cho tổ tiên) đặt trong cùng. Cổ ỷ không được vẽ Rồng và Tứ linh, không sơn son mà sơn cánh gián có thể kẽ thêm chỉ bạc.

Theo cụ Ứng hòe Nguyễn Văn Tố: ngai thờ và cổ ỷ thường dựng trên một cái sập nhỏ ở một khám thờ cao và trang trọng gọi là cung cấm. Trên ngai có một long vị hay long bài (tức bài vị của thần); trước long vị có một cái gương tượng trưng cho cái hốt (thẻ bài) của quan.. Trước gương là bộ tam sự hay ngũ sự. Bên cạnh ngai luôn có hòm đựng sắc phong hay/và thần phả. Phía dưới ngoài có bàn hay sạp để đồ tế lễ, hai bên thường là hai con hạc hay tiên đồng ngọc nữ đứng hầu. Con hạc thường đứng trên con rùa (gọi là rùa đội hạc). Hai bên cung cấm có cờ và biển ghi lại mỹ hiệu sắc phong của thần. Gian bên thường chứa đồ (bài Đồ Thờ; Tạp chí Tri Tân số 58-131).

Biên khảo: Đức Chính

MỤC LỤC – KIẾN THỨC MỸ THUẬT VN KỶ NIỆM THĂNG LONG 1000 NĂM

Advertisements

Read Full Post »

HỌA TIẾT TRONG MỸ THUẬT AN NAM

(Les Motifs de l’Art Annamite)

Tác giả: L. Cadière

Dịch thoát: Đức Chính

BÀI 3 : HỌA TIẾT HÌNH TĨNH VẬT

Nhiều món tĩnh vật đã đi vào họa tiết trang trí của người An Nam. Hồi văn hình kệ trên doanh liên (cặp biển câu đối) chúng ta đã thấy ở hình XXXV là một ví dụ.

Trên cao đề kỷ (món đồ gỗ có dạng hồi văn) người nghệ sĩ đặt trên đó những món đồ thờ, như bộ tam sự gồm lư hương, bát nhang và ống nhang đèn; hoặc bộ ngũ sự như chúng ta đã biết hồm ba món trên và hai cái chân đèn.[1] Tuy nhiên người nghệ sĩ có thế thế một vài món trong đó bằng bình hoa trang nhã (hình LIV, LV, LVI) hay quả bồng (plateau à offrandes) đựng thức cúng, một cái khánh tượng trưng cho đại phúc, một pho sách, một quản bút lông … (hình LVII). Tất cả các món này thể hiện độc lập với cao đề kỷ đỡ chúng bên dưới.

Cuốn thư có công dụng lớn. Về nguyên tắc đó là một cuộn giấy giỡ ra nửa chừng, hai đầu hơi cuộn vào. Người dùng cuốn thư thay cho hoành phi (en-tête des panneaux à sentence – hình LVIII) hay trang trán tường phía trên cửa (fronton de porte). Nhưng thông thường nó dùng trang trí các biểu tượng (hình LIX). Phần lớn các bìnhphong đều có dạng cuốn thư gấp, có thể còn nguyên dạng hay đã biến cách ít nhiều. Các tấm bình phong, còn nguyên tấm hay có trổ lỗ, là nơi hội tụ mọi họa tiết trang trí (hình LXI, LXVII, CLVII).

Hỏa châu (trái châu, quả châu) thường thấy ở chính giữa gờ nóc đền chùa. Mô-típ thông thường của hỏa châu gồm một ‘mặt nguyệt’ (một dĩa hình tròn tựa trên mấy cụm mây) xung quanh có các ngọn lửa. Nhưng cũng có biến cách: mặt nguyệt để trên đầu con rồng nhìn chính diện, v.v… Họa tiết này thường kèm theo hình hai con rồng ở hai đầu gờ nóc mái, gai on rồng có thể thể hiện nguyên hình hay có biến cách đi. Mô-típ này có tên là “lưỡng long triều nguyệt”. Chúng ta có thể thấy hỏa châu ở một trán bia (hình LXIV). Có khi hỏa châu kết hợp với biểu tượng âm dương (hình LXV) có khi với hoa mẫu đơn, hai con rồng có thể ở xa hai ñaàu hay áp sát lại gần hỏa châu (hình LXVI, LXVII).

Trên gờ nóc mái có khi thay thế hỏa châu bằng trái bầu, trường hợp này chí thấy chùa chiềng và phủ đệ. Đó là biểu tượng cổ của Phật giáo, mang ý nghĩa mọi thứ trù phú[2].

Hồi nhớ lại có thể kể thêm những món thứ yếu khác: quả tua và tua viền (ví dụ hình XXX), ngọn lửa (hình LXIII, LXIV), dãi vải (hình LXIX) và dãi vải đôi khi có biến cách thành ngọn lửa, khói (hình LIV, LV), mây vây quanh rồng (hình CXXII), sóng biển cách điệu uốn cuộn gọi là thủy ba (hình CLXV); đá cách điệu (hình CCXIV), quả cầu ở hình tượng sư tử hí cầu (hình CXCV),.

Đôi chỗ họa tiết thể hiện nhiều hình tĩnh vật, thường thấy nhất là ‘bát bửu’, ở đòn tay, ở giữa tấm vách ngăn buồng, hiếm thấy hơn như trên đồ gỗ và hòm rương. Tĩnh vật trong bộ bát bửu rất lan man. Tùy từng tác giả có khi thêm vào món này có khi bỏ ra món khác. Một bộ bát bảo thấy ở nhiều tác giả như sau: quả bầu, quạt, gươm, đàn, quyển sách, bút, cây sáo, phất trần; và xin nói thêm thành ngữ bát bảo (tám món đồ báu vật) nghe có vẽ quá đáng so với mấy món đồ kia. Trong cuốn Cour Supérieur d’Annamite (Pháp Ty Viện An Nam), đệ nhất lục cá nguyệt 1909, ông H. Tissot kê bát bảo gồm: pho sách, như ý, lẵng hoa, bầu rượu, cây đàn, cái quạt, phất trần. Còn ông G. Dumoutier trong cuốn Les Symboles, les Emblèmes, les Accessoire de Culte Annamute (Biểu tượng, Biểu trưng và Tự khí An Nam) cho là: hai cây sáo ghép đôi, cây đàn tỳ bà, cái quạt, lẵng hoa, pho sách, cuốn thư, cái khánh, và quả bầu.

Còn đây là bát bảo theo Trung Hoa, thấy chẳng khác gì của An nam. Trong cuốn L’Art Chinois (Mỹ Thuật Trung Hoa), các trang 237-239, Bushell viết:

“Biểu tượng của Đạo giáo,tám món bửu bối của các vì tiên: cây quạt của Chung Ly Quyền có phép quạt hồi sinh người chết, thanh gươm tầhn của Lã Động Tân ; quả bầu tiên của Lý Thiết Quài, cặp sênh phách của Tào Quốc Cựu, giõ hoa của Lam Thái Hòa, ống trúc và đôi gậy của Trương Quả Lão, cây sáo của Hàn Tương Tử, hoa sen của Hà Tiên Cô.

“Bách cổ (100 món cổ vật) bao gồm bát bảo và bốn ngón mỹ thuật ‘cầm, kỳ, thi, họa’.

“Bát bảo này có châu, kim tiền, cuốn thư (biểu tượng chiến thắng) , thư (sách), họa (bức tranh), khánh ngọc, cặp chén rượu sừng tê giác, lá bối.”

Còn phức tạp thêm khi thấy có bát bảo của Phật giáo: bánh xe pháp, tù và, bảo cái, bảo tán, hoa sen, bình bát, mỏ, dây liên hoàn. Có khi còn có thêm chữ vạn, lư hương bốn chân, một chữ cổ, cái chuông.

Quả là vô ích khi muốn xác định bát bảo, ai cũng thấy vậy. Nhưng nó là một quan niệm cho rằng những vật đó mang lại sự tốt lành cho con người. cho con người thụ hưởng mọi mặt về iinh thần lẫn tâm hồn. Như giỏ hoa biểu tượng cho sự trẻ trung, thanh gươm nóilên sự vinh quang của người lính, khánh chỉ về hạnh phúc tột cùng.

Các họa tiết bát bảo xem ở hình LXIX, và các hình I, III, IV, V, VI, VII. X, XII, XIV, XVIII, XX.


Các tư liệu trên đều do bạn Đức Chính dịch và cung cấp cho Blog và diễn đàn . Thay mặt Bạn đọc xin chân thành cảm ơn Bạn Đức Chính .

Việc sử dụng lại các tư liệu trên , xin vui lòng liên hệ :

<ducchinhfriends@yahoo.com.vn>

(xem tiếp Bài 4: Họa tiết hoa, lá – dây lá  và quả)


[1] Tác giả có nhầm lẫn. Tam sự gồm lư hương và hai cái chân đèn; ngũ sự gồm bộ tam sự thêm ống nhang đèn và quả bồng đựng trái cây dâng cúng. Bát nhang là vật luôn phải có dù không có bộ tam sự đi nữa. Nhiều nhà dân dã nghèo khó bàn thờ chỉ có bát nhang và vật tạm dùng để thắp nến.

[2] Tác giả có nhầm lẫn. Phật giáo không lấy trái bầu làm biểu tượng, mà Lão giáo dùng trái bầu để biểu tượngcho vũ trụ, cho thái cực và muôn vật trên đời. Do vậy chúng ta thấy trái bầu gắn liền với đạo sĩ chứ không với tăng sĩ.

 

MỤC LỤC – KIẾN THỨC MỸ THUẬT VN KỶ NIỆM THĂNG LONG 1000 NĂM

Read Full Post »