Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Mười Một 27th, 2010

Kỵ húy: 忌諱

Kỵ húy là tục kiêng tên. Phạm phải điều kỵ húy gọi là phạm húy. Thới xưa người ta rất kiêng việc này, ví dụ khi ông A có con trai tên là B, người ta không gọi là ông A mà gọi là ông B để tránh gọi phải tên tục của người khác, hoặc nể nang chỉ gọi theo thứ bậc trong gia đình như anh Hai, bác sáu, … Xa lạ hay không quá thân quen thì lấy nghề nghiệp ra gọi như chú sáu phó nhòm hay lấy cơ sở làm ăn như ông Khai Trí (có hiệu sách nổi tiếng Khia Trí). Khi đặt tên cho con người ta cũng tránh trùng với tên bậc tôn trưởng, thần thánh tạo nơi mình cư ngụ và dĩ nhiên cả tên của vua chúa. Các chức sắc trong làng hay lão nhiêu cao tuổi cũng không kêu thẳng tên mà gọi là cụ lý, cụ nhiêu, … Trớ trêu lệ này lại có mặt trái: “ghét ai đặt tên người ấy cho con”, khi cần cứ lôi tên con ra mắng chửi. Thậm chí dùng lối chơi như chuyện cười Trạng Quỳnh có kể: Một lần trạng Quỳnh ra hàng thịt dặn mua hết nhưng với điều kiện phải thái nhỏ để trưa đến lấy. Đến trưa Trạng cự nự sao lại thái nhỏ ra. Chủ hàng nhắc lại, Trạng bảo cứ chửi ‘Thằng nào bảo thái”. Chữ Bảo Thái là Niên hiệu vua Lê thời đó (gọi niên hiệu ra không bị tội phạm húy), một lối chơi chữ.

Nguyễn Long Thao có dẫn Lý Nham Linh và Cố Đạo Hinh, tục lệ kỵ húy bắt đầu có tại Trung Quốc từ thời Tây Chu (1045-771 Tr. Công nguyên) và kéo dài hết đời nhà Thanh (1644-1912) [Nguồn VietCatholic News]. Nếu vậy thì chỉ riêng một triều đại như triều Hán chẳng hạn số chữ kỵ húy sẽ rất nhiều và hệ quả xã hội không nhỏ. Vì thế người Trung Hoa có định lệ: chỉ kỵ húy đối với vua khai sáng triều đại, hoàng đế đang tức vị và 6 vị tiên vương trước đó (tất cả 8 người). Nhà Nguyễn xem 9 chúa Nguyễn là những vị khai sáng triều đại nên giữ tục kỵ húy các vị này. Bên cạnh có những kỵ húy “ăn theo” như hoàng khảo (cha ruột vua), hoàng hậu và tên lăng miếu. Bấy nhiêu cũng đã quá phức tạp rồi.

Ở Việt Nam chưa rõ có từ đời nào do sử không ghi chép lại nhưng chắc chắn trước thời Hậu Lê và rất nghiêm nhặt thời nhà Nguyễn. Có lẽ bắt đầu từ thời nhà Trần vì vua Trần Thái Tông bắt người họ Lý cải thành họ Nguyễn với lý do phạm húy tổ nhà Trần tên là Lý, đồng thời ban bố các chữ phạm quốc húy và miếu húy. Qua đời Lê được ghi hẳn hoi trong Bộ luật Hồng Đức: “Dâng thư hay tâu việc gì mà lại lầm phạm đến tên vua hay tên húy các vua trước, thì xử phạt 60 trượng, biếm 2 tư; miệng nói hay văn thư khác lầm mà phạm phải thì xử phạt 80 trượng. Viết những chữ húy phải bớt nét, mà không bớt nét thì xử phạt 60 trượng. Miệng nói phạm tên húy thi xử tôi xuy. Người nào cố ý đặt tên chính hay tên tự phạm vào chữ húy thì xử tôi lưu, tội tử hình” [Điều 125]. Đến đời Nguyễn, trong Hội Điển Sự Lệ có nhiều lần quy định (vì có sửa đổi) những chữ phạm húy (nghĩa là dùng là vi phạm việc kỵ húy). Ví dụ: “Gia Long năm thứ 6 kính lục các chữ húy, đọc đến phải tránh âm, làm văn phải đổi chữ khác” [Cuốn 8, trang 144] (sáu chữ kính lục này nêu ở phấn dưới). Các đời vua sau chữ kỵ húy ngày càng nhiều và nghiêm khắc hơn: “Phàm người trong tôn phả mà có tên đồng âm với quốc húy và người phụ nữ trong Tôn thất trùng tên với nhau, đều phải chọn chữ đổi lại. Ðến như vợ lẽ các phủ và vợ cùng con gái là người Tôn thất, nếu đồng âm với quốc húy cũng như con gái họ Tôn thất cùng hoàng tử hoàng tôn, hoàng nữ, hoàng muội mà tên trùng nhau thì cũng đều tiến hành trình lên phủ để đổi lại và ghi vào tôn phả.” [Hội Điển Sự Lệ] và Bộ luật Gia Long cũng quy định hình phạt: “Kẻ nào trong một bài viết tấu hay trình gì với vua mà dùng một tiếng trùng với tên vua hay tên một hoàng khảo sẽ bị phạt 80 gậy. Nếu tội phạm húy ấy mắc phải trong các giấy tờ khác thì hình phạt sẽ là 40 gậy. Kẻ nào phạm tội ấy mà lại dùng tên ấy làm tên chính sẽ bị phạt 100 gậy.” [Điều 62] Vì sự nghiêm nhặt của triều đình nên thường khi nói đến ‘kỵ húy’ người ta nghĩ ngay đến tên vua chúa. Thật ra cổ tục này có từ lâu đời và phát sinh từ lòng tôn kính những bậc anh linh thần tích hay người hiền đức cao danh.

Nói rõ hơn kỵ húy chia ra làm ba loại: quốc húy, thánh húy và gia húy. Quốc húy là tên của vua chúa buộc cả nước phải tuân hành, thánh húy là tên thần linh thường được kiêng kỵ trong xóm làng hay một vùng nào đó, còn gia húy là tên bậc trưởng thượng trong dòng họ cần kiêng tránh. Sự kiêng tránh này có tầm ảnh hưởng khá rộng, không chỉ ở việc đặt tên người. Người ta nghiên cứu thấy có các phạm vi ảnh hưởng sau:

– Danh tính một người: dù đã đặt trước khi có chế định kỵ húy, người có tên phạm húy cũng phải đổi lại. Ví dụ: Năm Hồng Thuận thứ 2 (1510), vua Lê Tương Dực (1509-1516) xưng là Nhân Hải Động Chủ nên Hộ bộ tả thị lang Đỗ Nhân phải cải danh Nhân thành Nhạc để tránh phạm húy. Nổi tiếng là danh sĩ Phan huy Chú vốn tên là Hạo cải thành Chú cũng vì lẽ này. Tục đặt tên xấu một phần cũng sợ phạm thánh húy (tên thánh thần)

– Địa danh: một số địa danh vì phạm quốc húy phải đổi tên. Như giáo sư Đào Duy Anh có nêu: vua Lê Trang Tông húy là Ninh nên huyện Phù Ninh, Phú Thọ, đổi thành Phù Khang. Hay do hoàng hậu vợ vua Minh Mạng tên là Hồ Thị Hoa nên Thanh Hoa đổi thành Thanh Hóa (sử trước triều nguyễn đều gọi tỉnh này là Thanh Hoa). Vua Đồng Khánh có một tên riêng là Đường nên huyện Nam Đường, Nghệ An, đổi thành Nam Đàn, … Do đó nên nhiều khi việc tra cứu tài liệu cổ gặp không ít khó khăn.

– Văn từ và ngôn ngữ: hiện tiếng Việt có nhiều từ cùng nghĩa khác âm cũng vì lẽ này. Chẳng hạn vua Thiệu Trị húy Miên Tông nên tất cả các chữ tông phải đổi thành tôn như Lê Thánh Tông thành Lê Thánh Tôn, tông giáo thành tôn giáo, … Cổ xưa hơn, vua Lê Thái Tổ húy là Lị (chứ không phải Lợi, do kỵ húy đọc trại) nên xá lị đổi thành xá lợi (điều này hiện ít người nhớ).

Vì lệ này mà nhiều danh sĩ nức tiếng thi hoài không đậu vì phạm trường quy, trong đó có lỗi phạm húy. Như Tú Xương từng than thân: “Rõ thực nôm hay mà chữ dốt, Tám khoa chưa khỏi phạm trường quy” [Thi Hỏng 2]. Thậm chí có khi bị tù tội như trong Luật Hồng Đức và Luật Gia Long đã quy định.

Để tránh phạm húy người xưa có mấy nguyên tắc sau:

1.- Cải tự: thay bằng chữ khác có cùng nghĩa hay nghĩa gần tương đồng. Như chữ “Lị” 俐 (nghĩa là lanh lợi) là tên vua Lê Lợi nên trong Quốc triều Hình Luật (Luật Hồng Đức) thay bằng chữ “tiện” 便. Đời Gia Long có 6 chữ phải cải, gọi là 6 chữ kính lục, là: “noãn” 暖 (nghĩa là ấm) cải thành “úc” 燠 (ấm), “ánh” 映 (ánh sáng) thành “chiếu” 照 (rọi sáng), “chúng” 眾 (đông nhiều) thành “thúc” 束 (gom trong), “cổn” 衮 (tia sáng) thành “diệu” 曜 (tia nắng), “hoàn” 丸 (viên tròn hình cầu) thành “viên” 圓 (hình vòng tròn), “lan” 蘭 (hoa lan) thành “hương” 香 (mùi thơm). Đều là húy trong gia tộc và của vua Gia Long.

2.- Chiết tự: chữ kỵ húy được chia ra thành hai hay nhiều chữ để ngầm hiểu nghĩa. Ví dụ trong Văn bia Vĩnh Lăng để tránh kỵ húy “Lị” của vua Lê Thái Tổ, Nguyễn Trãi viết: Tính Lê, húy tả tòng Hòa, hữu tòng Đao (chữ hòa 和 bên trái ghép với chữ đao 刀 bên phải thành chữ chữ Lị 俐). Hay chữ “Ánh” tên vua Gia Long chiết tự thành “tả tòng nhật, hữu tòng anh” (trái là chữ nhật 日, phải là chữ anh 瑛; thành chữ ánh 映)

3.- khuyết tự: là viết bỏ trống. Trường hợp này áp dụng khi không tìm được chữ tương đương và ngữ cảnh không cho phép viết chiết tự Nhiều văn tự cổ sẽ thấy có đoạn viết: “Tên húy là …., lại húy là …” (bỏ trống tên) nhưng với ngữ cảnh đó hiểu là ai rồi.

4.- Khuyết bút: viết thiếu nét. Dùng trong trường hợp nếu để khuyết tự sẽ nhầm lẫn hay không rõ nhân vật. Chẳng hạn vua Trần Anh Tông có chỉ dụ những chữ “Ngụy, Thấp, Nam, Cán, Tộ, Tuấn, Anh, Tảng” phải viết thiếu nét. Khi thi cử, bài văn gặp phải tên vua mà không có cách nào khác đều phải khuyết bút.

5.- Trại âm: là trường hợp đọc trại khi xướng âm. Khi chuyển qua quốc ngữ trại âm này viết thành trại chữ. Triều Nguyễn phổ biến mấy chữ “nguyên” trại thành “ngươn” (tên chúa Nguyễn Phúc Nguyên, nên ta thường thấy một số sách quốc ngữ viết Nguyên Thủy Thiên Tôn thành Ngươn Thủy Thiên Tôn); “cấm” thành “kim” (thực húy của Nguyễn Kim là Nguyễn Cấm), “ánh” thành “yểng” (tên vua Gia Long), “cánh” thành “kiểng” (nhiều người cho là kỵ húy Hoàng tử Cảnh, nhưng có người cho rằng do tôn kính Nguyễn Hữu Cảnh. Thuyết sau đúng hơn vì chỉ thấy ở Miền Nam), “đảm” thành “đởm” (tên vua Minh Mạng), “hồng’ thành “hường” (tên lót vua Tự Đức); “nhậm” thành “nhiệm” (tên của vua Tự Đức); “tông” thành “tôn” (tên vua Thiệu Trị là Miên Tông), ‘chu” thành ‘châu” (tránh tên Nguyễn Phúc Chu), “võ” thành “vũ” để tránh vương hiệu Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát); “phúc” thành “phước” (chữ lót quốc tính nhà Nguyễn); “hoàng” thành “huỳnh” (Chúa Nguyễn Hoàng), “hoa” thành “bông” (vợ vua Minh Mạng là Hồ Thị Hoa), “dung” thành “dong’ (vua Thiệu Trị tên là Miên Dung), “duyệt” thành “dượt” (kính trọng Lê Văn Duyệt, nên đôi khi ta thấy chữ dượt binh), “hoạt” thành ”hượt” (chúa Nguyễn Phúc Khoát còn có tên là Hoạt), “nghĩa’ thành “ngãi” (tránh vương hiệu chúa Nghĩa), “nhân” thành “nhơn” (do tôn kính Nguyễn Thành Nhân), “thái” thành “thới” (Chúa Nghĩa có tên Nguyễn Phúc Thái), “tính” thành “tánh” (Võ Tánh thực húy là Tính), “bữu” thành “bảo” (vua Thành Thái tên là Bửu Lân), “tùng” thành “tòng” (Nguyễn Phúc Chu có tên khác là Tùng),… và còn nhiều trường hợp khác nữa.

5.- Dùng danh hiệu hay tước hiệu thay tên: hay áp dụng cho thánh thần. Ví dụ trước kia ít ai gọi đích danh Trần Quốc Tuấn mà dùng tước hiệu gọi Trần Hưng Đạo hay Đức Thánh Trần, cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm thường tôn kính gọi là Trạng Trình chứ ít khi nêu danh tính, Đạo Mẫu không nêu danh tính Lê Lợi mà gọi là Ông Hoàng Cả, ….

Biên Khảo: Đức Chính

 

 

MỤC LỤC – KIẾN THỨC MỸ THUẬT VN KỶ NIỆM THĂNG LONG 1000 NĂM

Advertisements

Read Full Post »

HỌA TIẾT TRONG MỸ THUẬT AN NAM

(Les Motifs de l’Art annamite)

Tác giả: L. Cadière

Dịch thoát: ĐỨC CHÍNH

***********

BÀI  I : HỌA TIẾT TRANG TRÍ HÌNH KỶ HÀ

Thực khó phân loại cho rõ ràng văn tự các họa tiết (motifs) trang trí vì chính các nghệ sĩ, thợ nề, nhà điêu khắc và cả những người chuyên nghiệp cũng không thống nhất thuật ngữ dùng cho chúng; lúc thì người ta chi li phân chia chủ đề các họa tiết tưởng chừng như cùng giuộc với nhau, lúc thì một tên dùng chỉ nhiều họa tiết khác hẳn nhau. Phần đông trong số họ có kiến thức nghệ thuật không đều, lại nhiều khi sửa tên họa tiết theo ý riêng; các họa tiết thường trùng lặp, lại lấy cái này tô điểm thêm cho cái kia hay kết hợp các họa tiết với nhau, nhiều lúc chẳng biết gọi là gì nữa. Chúng ta sẽ thấy sự mơ hồ trong thuật ngữ chỉ các họa tiết hình thú, hình cây lá và cả họa tiết Hán tự nữa. Vì thế chúng ta tạm chia ra họa tiết kỷ hà thành ba nhóm: mắc lưới, vòng tròn và hồi văn.

Họa tiết mắc lưới thường hình thoi, dài ngắn khác nhau, cạnh thẳng (hình I, II, II) và thỉnh thoảng hơi cong nhẹ (hình CXXXIX). An Nam gọi lối trang trí này là ‘mắt vọng’ (mắc lưới) vì có dạng giống như thế. Nhưng nếu nó đặt kế bên họa tiết hình thoi uốn cung sẽ thấy có nét tương đồng rõ rệt. Họa tiết này ít khi trang trí đơn độc vì ít mãn nhãn, thường kết hợp với họa tiết hoa. Nó được dùng làm nền các tấm chạm hay bức họa.

Họa tiết mắc lưới lục giác có tên An Nam là ‘kim qui’ (rùa vàng). Thực ra nó giống vảy con rùa thì đúng hơn. Đôi chỗ họa tiết này được dùng đơn độc (hình IV), nhưng thường dùng làm nền hay được điểm xuyết thêm họa tiết hoa (hình VI, VII, VIII). Các tác phẩm cổ có gia công xà cừ thường có họa tiết này (hình VIII). Ở các bình phong xây gạch họa tiết này riềng ngoài bìa và các lục giác kéo ra rất dài, khi thì đứng một mình khi thì hòa trộn với những hàng hình thoi nhỏ khác (hình LXI, LXII). Nếu xếp chồng họa tiết lục giác này lên nhau sẽ có loại họa tiết hình sao, gọi là ‘kim qui gài’ (hình V, xem thêm hình XVI).

Họa tiết mắc lưới không đều có tên là ‘mặt rạn’ hay còn gọi ‘kim qui thất thế’ (rùa vàng mất dáng). Thực ra hình trang trí này hình như sao chép hình các nhánh đào cách điệu.

Họa tiết mắc lưới tam giác gọi là ‘nhân tự’ (chữ nhân) do có dạng hao hao chữ nhân (人). Họa tiết này cũng được dùng làm nền, đứng riêng lẻ hay kết hợp với hoa (hình XI, XII).

Họa tiết vòng tròn có ‘kim tiền’(đồng tiền vàng). Họa tiết này có hai vòng tròn đồng tâm tạo thành gờ mép bên ngoài và trong có các vòng tròn khác chia cắt vòng ngoài làm bốn phần, tạo ra ở tâm một lỗ hình vuông (hình XIII).

Hoa thị là một họa tiết thoát sinh từ họa tiết vòng tròn cắt lẫn nhau và đi qua cùng một chỗ sao cho tạo nên ở chỗ ấy thành tâm một ngôi sao bốn cánh (hình XIV, XV). Hoa thị chỉ là cách gọi chứ hoa thị màu vàng ngoài đời không đáp ứng được yêu cầu trang trí và không mang một ý nghĩa nào cả. Nghĩa là họa tiết hoa thị này không bắt nguồn từ thực vật giới cách điệu ra, chỉ là một cái tên đặt theo lối dân dã. Họa tiết hoa thị được dùng làm nền, có khi chỉ thuần túy hoa thị nhưng cũng có khi kèm theo hoa lá cách điệu hóa.

Họa tiết có hai vòng tròn gọi là ‘song hoàn’, nhiều vòng liên kết với nhau gọi là ‘liên hoàn’. Liên hoàn cũng là loại thoát sinh từ họa tiết vòng tròn và có thể là tiền thân của họa tiết hoa thị, có các vòng tròn nối kết với nhau theo mọi chiều. Ở đây chúng ta có một ý nghĩa tôn giáo: chỉ sự thân ái, tình yêu, sự kết giao chặt chẽ và không thể chia lìa, một sự tương thân tương ái. Nhóm họa tiết này có nhiều dạng: hai vòng tròn gốc gấp khúc lại thành lục giác (hình XVI, số 1) và tương tự như vậy cho ra hình lục giác chồng lợp (hình XVI, số 2) mà chúng ta đã thấy (hình V); hay là gấp khúc lại thành hình thoi (hình XVI, số 3), có một cái nhân đôi lên (hình XVI, số 4). Trang trí ‘dây thắt’ gồm năm hình thoi xếp thành hàng và cắt vào nhau; loại họa tiết một hình thoi ở giữa và bốn hình thoi cắt vào ở bốn góc hình như cũng liên quan đến họa tiết này (hình XVI, số 5&6). Còn nhiều mẫu phức tạp hơn những hình trình bày ở đây.

Loại họa tiết hai vòng tròn bị kéo dài ra thành bầu dục hay bị dồn vào trong một hình chữ nhật thường được đặt vào trang trí dây lá hoặc làm tâm cho một bức chạm. Bên trong có chữ ‘thọ’ được cách điệu, hoặc hồi văn cuộn xoáy, hoặc các hình vẽ khác. Họa tiết ‘song thọ’ (hình XVII) thì bên trong có hai chữ thọ. Họa tiết này có một thể biểu khác gọi là ‘vạn thọ’, với mô thức này bên trong một vòng tròn có hồi văn xoắn ốc chữ vạn và ở một vòng khác có chữ thọ cách điệu. Không nói ra cũng biết đó là biểu tượng của ‘phúc đức’.

Các họa tiết chúng ta vừa kê ra chỉ là thứ yếu, loại họa tiết quan trọng nhất là họa tiết hồi văn (回文). Các chữ Hán-Việt được thể hiện gấp khúc vào nhau, bẻ gập lại, kéo dài ra, hay vuốt thon tuỳ theo ngẫu hứng của người nghệ sĩ.

Họa tiết có tên ‘á tự’ gợi dáng nét chữ á (亞) trong tiếng Hán, là một họa tiết hồi văn (hìnhXVIII và XIX). Họa tiết này dùng trang trí nền. Người ta còn gọi là hồi văn chữ thập. Một loại khác gọi là ‘hồi văn chữ vạn’, trước kia ở giữa họa tiết này có chữ vạn Phật giáo (卐) nay là chữ vạn Hán tự (萬). Tôi đặt tên cho nó là hồi văn xoắn ốc vì từ ở tâm các hàng trang trí cuộn xoắn đi ra. Hồi văn này cũng dùng làm nền và thường có điểm thêm hoa.  Hồi văn chữ công (工) giống với hồi văn ở Phương tây nhất và nó có nhiều kiểu thức (modèles), được dùng trang trí khung, với dạng thuần túy hay kết hợp các loại họa tiết khác (hình C). Loại thuần túy tuy không có tên riêng nhưng được dùng nhiều, nhất là dùng để viền khung, dùng để trang trí góc, đầu hồi, sống mái nhà, quai bình, chân bàn, giữa hoành phi, nói tóm lại ở mọi đồ mỹ thuật (từ hình XXI đến XXIX và ở nhiều hình khác nữa).

Họa tiết ‘hồi văn lá’ thường kết thúc bằng hình nắp đệm hay tua diềm, nó tỏa ra các hình hoa lá cách điệu. Hồi văn lá biến thể thành ‘hồi văn hóa giao’ (hồi văn biến thể thành giao long), có các nếp gấp dồn lại và xoay tròn theo dạng cuộn khói (hình XXVII).

Có lẽ dạng hồi văn kỳ lạ nhất là họa tiết dây xích, dùng trang trí nhẹ ở mép bàn (hình XXX, XXXI, XXXII).

Hồi văn còn biến cách trong các món đồ gỗ hay cái kệ gọi là ‘cao đề kỷ’ (高提几: cái ghế dựa chỗ thấp chỗ cao) hay vắn tắt là ‘cao đề’. Có khi họa tiết này dùng một mình dưới dạng có hay không có chân (hình XXXIII và đế đèn có tên được bài này chọn làm nhan đề Họa tiết trang trí hình kỷ hà) có khi điểm thêm các họa tiết trang trí khác (hình XXXIV). Nó được đưa vào trang trí các tấm biển, hoặc biển dựng đứng (hình XXXV) hoặc biển để nằm (hình LV, LVII). Dù dùng trong trường hợp nào loại họa tiết này cũng có nét duyên dáng và rất mỹ thuật.

Các tư liệu trên đều do bạn Đức Chính dịch và cung cấp cho Blog và diễn đàn . Thay mặt Bạn đọc xin chân thành cảm ơn Bạn Đức Chính .

Việc sử dụng lại các tư liệu trên , xin vui lòng liên hệ :

<ducchinhfriends@yahoo.com.vn>

(xem tiếp Bài 2: Họa tiết chữ)

 

 

MỤC LỤC – KIẾN THỨC MỸ THUẬT VN KỶ NIỆM THĂNG LONG 1000 NĂM



Read Full Post »