Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Mười Một, 2010

Họa tiết hoa văn trên gốm sứ Hòn Cau
Vào cuối thế kỷ XVII có một con tàu buôn trên con đường lưu chuyển hàng từ Trung Hoa sang châu Âu khi đi qua vùng biển Việt Nam và bị đắm tại Hòn Cau – Côn Đảo. Vào năm 1990 được phát hiện bởi ngư dân Long Hải, qua hai năm trục vớt (1990 -1991) đã thu được 66.000 hiện vật, những cổ vật này thuộc về thời Khang Hy, nhà Thanh – Trung Hoa.

300 năm ở dưới đáy biển nhưng cổ vật Hòn Cau vẫn giữ được màu men tuyệt đẹp, chủ yếu là sứ men trắng vẽ hoa lam. Bộ sưu tập gốm sứ Hòn Cau so với các bộ sưu tập  khác được trục vớt  trong vùng như cổ vật ở Cù Lao Chàm, Cà Mau, Bình Thuận… cổ vật Hòn Cau vẫn luôn được đánh giá là bộ sưu tập đẹp nhất, trải qua 15 năm trưng bày giới thiệu nó vẫn là nguồn  thu hút đông đảo khách tham quan trong và ngoài nước. Cái đẹp ở cổ vật Hòn Cau ngoài kiểu dáng, độ tinh xảo, màu men, tiếng ngân…nó còn thể hiện đặc biệt qua hoạ tiết trang trí hoa văn.

Đối với người Trung Hoa, mỗi thời đại có một mô tip họa tiết  khác nhau. Hoạ tiết thể hiện quan niệm nghệ thuật của thời đại và tín ngưỡng tôn giáo của người  đương thời. Hay nói cách khác, tâm lý tư tưởng của thời đại chi phối hoạ tiết. Cách diễn tả theo chủ đề, cách vẽ, tô điểm, pha màu, cách thi vị hóa…đều diễn tả tư tưởng phong phú, thâm trầm và đầy chất triết học của người Trung Hoa. Vì vậy, nghiên cứu hoạ tiết trên cổ vật Hòn Cau giúp ta  khám phá ra niên đại của món cổ vật, giúp ta hiểu thêm quan điểm nghệ thuật, kỹ thuật và nhân sinh quan của thời đại đó.

Để có được kết luận đây là những cổ vật thời Khang Hy, các nhà chuyên môn đã nghiên cứu các ký hiệu niên đại trên thỏi mục, trên đồng tiền, trên hoạ tiết và nhiều cách khác nữa. Vậy tại sao đồ gố sứ Hòn Cau (1690) lại không ghi niên đại như các hiện vật trước và sau nó. Theo  nhà nghiên cứu Vương Hồng Sển: “Vua Khang Hy khi về già trở nên khó tính, năm Đinh tỵ (1677) người ra lệnh cấm đề niên hiệu vua dưới đáy từ khí, vì sợ những món sứ bể rơi xuống đất thứ dân phạm tội chà đạp lên thánh hiệu” (Khảo về đồ sứ Trung Hoa, Tr.162). Vì vậy, những đồ sứ sản xuất sau năm 1677 của thời Khang Hy hầu như không thấy ghi niên đại và cổ vật Hòn Cau là một trong những số đó.

Nếu như các hiện vật khác thuộc các thời Vạn Lịch, Ung Chính, Càn Long thường ghi: “Đại Minh Vạn Lịch niên chế” (1573); “Đại Thanh Ung chánh niên chế” (1723), “Càn Long Vạn Lịch niên chế”…thì trên cổ vật Hòn Cau thuộc thời Khang Hy ta thường bắt gặp những dấu hiệu mà các lò sứ quy định để nhìn vào biết sản phẩm của mình, đó là những dấu hiệu như: con dơi, chữ thọ, hai con cá, bút, khánh, hai vòng tròn đồng tâm bên trong có các hình như: lá dâu, nấm linh chi, bình ngọc, miếng chả, khánh, lọng, loa ốc, hoa sen, kiếm, sách…Nhìn chung đó là các dấu hiệu  thể hiện tín ngưỡng tôn giáo của người Hoa đương thời. Trên đồ sứ Hòn Cau ta thường bắt gặp các bát bửu trong tam giáo, cụ thể như sau:

–  Bát bửu của Phật giáo: bánh xe (luân), loa ốc tàn trướng (lọng), hoa sen, bảo bình, song ngư, sơi dây liên hoàn (liên)

Bát bửu của Lão giáo (bát tiên) Cây gậy ăn mày của Lý Thái Quỳ, Cây Phật chủ của Hán Chung Ly, Con lừa giấy của Trương Quả Lão, Giỏ hoa lam của Hàn Tương Tử, Thư quyển ngọc (ngọc quyển) của Tào Quốc Cựu, Ông Tiên của Lữ Đồng Tân, Bảng ngọc của Lam Thái Hòa, Hoa sen của Hà Tiên Cô,hay các ký hiệu: đồng tiền, viên ngọc, miếng chả, sách, khánh, bức họa, sừng tê giác, lá cây (lá ngãi bàng) cũng được xem là bát bửu của Lão giáo.

Sáu dấu hiệu riêng trên đồ sành: Chữ vạn, đỉnh, cổ văn, hoa sen, thỏ ngọc, nấm linh chi. Cổ đồ bát bửu là tám món sau: bửu ngọc, miếng chả, đồng tiền, cuốn thư, cái khánh, chén tê giác, lá bối, bức họa để trong bình quý.

Các dấu hiệu thường được vẽ lên trên đáy sau hiện vật và thường nằm trong hai vòng tròn. mỗi dấu hiệu đều mang một ý nghĩa biểu trưng riêng theo quan niệm đương thời. Nếu các dấu hiệu là một trong những bát bửu của Phật giáo hay Lão giáo thì ta nhận thấy ẩn ý của quan niệm tín ngưỡng, nhưng có nhiều hiện vật mang dấu hiệu khác thể hiện ý nghĩa rất đa dạng của của cuộc sống  như: “nấm linh chi”;dấu “lá dâu”…Nấm linh chi xuất phát từ điển tích: người đời Tống tin rằng linh chi là một dược thảo quý, ăn nhiều sẽ trường thọ. Vẽ linh chi gửi tặng ai nghĩa là chúc người đó sống lâu. Dấu hiệu “lá dâu” là đánh dấu thời kỳ nghề trồng dâu nuôi tằm rất phát triển ở tỉnh Giang Tây, cũng là nơi có nhiều lò gốm sứ rất nổi tiếng như Long Tuyền, Đức Hóa. Nghệ nhân mượn hình ảnh lá dâu đề trên gốm sứ như nhắn nhủ hai đặc sản nổi tiếng của vùng quê mình là nghề làm đố sứ và nghề trồng dâu nuôi tằm. Thật vậy, gốm sứ Giang Tây được xem như là niềm tự hào của người Trung Hoa. Vào thời nhà Thanh, Cảnh Đức Trấn ở Giang Tây được xem là trung tâm của nghề sứ, là nơi có hàng trăm lò gốm sứ, kéo dài đến hàng cây số. Ở đây có cả “lò quan” lẫn “Lò dân” cung cấp sản phẩm cho nội phủ, từ  quan lại cho đến thứ dân. Đất ở đây trắng mịn, người thợ lại có kinh nghiệm, nung ở nhiệt độ cao trên 12000c, sành cứng đến độ lấy dao bằng thép rạch không đứt. Sành được vẽ dưới một lớp men nghĩa là vẽ trên cốt rồi mới phủ men bên ngoài. Men ấy cùng nung một lần với cốt theo thể thức “màu vẽ chịu đựng nổi với hỏa độ cao”. Theo nhà nghiên cứu Vương Hồng Sển: Vua Khang Hy rất chú trọng đồ sành sứ và đều tự mình coi sóc ra kiểu vỡ cho thợ là đồ sứ theo đó mà thực hành gọi là đồ “Ngự chế”. Người thợ gốm được đào tạo rất bài bản, họ đã làm chủ được nghệ thuật bao gồm cả kỷ thuật chế tác và đặc biệt là kỷ thuật vẽ. Các họa tiết trên đồ sứ Khang Hy được vẽ rất tinh xảo, đạt trình độ nghệ thuật cao. Hoạ tiết trên đồ sứ Hòn Cau là một minh chứng cho điều đó.

Ta hãy ngắm nhìn hoạ tiết trên chóe, lọ, bình hoa, mô típ truyền thống của Trung  Hoa được phát huy như: mai, đào, cúc, trúc biểu tượng cho bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông; những tích xưa như: Ngư ông đắc lợi”, ”Cưỡi ngựa bắn cung”, “Lã  Vọng câu cá”…Mỗi tích có một ý nghĩa răn đời riêng như: “Lã Vọng câu cá” kể về Ông Khương Thượng thời nhà Chu ngồi câu cá trên một bến sông, nhưng cần câu không có móc. Thực ra mục đích của ông không phải là câu cá mà ngồi suy gẫm về thời cuộc. Chu Văn Vương đã thấy được tài năng trong con người ngồi câu cá này và đã vời ông về làm quan, sau này ông đã làm nên sự nghiệp cho nhà Chu. Tích này muốn nói muốn nói: muốn làm nên sự nghiệp phải biết dùng người và cũng phải biết chờ thời. Hay tích “Ngư ông đắc lợi”: con cò mổ bụng con trai, con trai khép miệng lại kẹp luôn cả mổ con cò, con cò vùng vẫy để thóat ra, càng vùng vẫy thì con trai càng khép miệng chặt hơn, cuối cùng người nông dân đến và bắt được cả trai lẫn cò. Tích này muồn nói: nếu chỉ lo cắn xé lẫn nhau thì cả hai đều bị thiệt, chỉ có kẻ ngoài cuộc được hưởng lợi. Rõ ràng mỗi điển tích đều có ý nghĩa giáo dục, răn đời rất sâu sắc.

Bên cạnh những hoạ tiết mang phong cách truyền thống như trên, khá nhiều hiện vật choé, bình hoa vẽ theo phong cách Châu Âu như trên nắp choé vẽ người trên bình hoa vẽ phong cảnh nhà cửa, trên thân chóe vẽ nàng tiên cá kéo vĩ cầm. Có hiện vật lại mang hoạ tiết pha trộn giữa Đông và Tây. Đây là thời kỳ mà người Châu Âu cùng với nền văn minh của mình bắt đầu du nhập vào Trung Hoa, sự giao thương buôn bán giữa người Trung Hoa và người Châu Âu bắt đầu thịnh hành mà nguồn gốc đầu tiên là từ công ty Đông Ấn của Anh, các nước như Bồ Đào Nha, Đan Mạch, Thụy Điển, Hà Lan đều có chi điếm tại Quảng Đông. Các lò gốm sứ tại Cảnh Đức Trấn được đặt hàng hoặc làm theo đơn đặt hàng cho các nhà buôn phương Tây, vì vậy các nghệ nhân Trung Hoa đã phần nào chịu ảnh hưởng của phong cách Châu Âu. Đây là những hiện vật mang đầy dấu ấn của lịch sử, rõ ràng hoạ tiết đã thể hiện dấu ấn thời đại.

Khác với hoạ tiết trên chóe, bình, lọ, họa tiết trên ống cắm bút lại mang một phong cách khác. Chủ yếu là vẽ hoa dây leo, hoa cúc, tiêu diệp lan (lá chuối) …Vẽ dây hoa theo chiều ống bút, vẽ lá chuối theo hàng sắp khít nhau khi vẽ đầu lá trên khi ngược lại. Nét vẽ các dây hoa mềm mại tự nhiên, không khiên cưỡng. Đặc biệt sống động nhất là họa tiết bé trai ở trần truồng tay cầm cành hoa cao hơn thân mình đang nhảy múa với nét mặt rạng ngời niềm lạc quan, yêu đời. Hình ảnh này ta cũng bắt gặp trong tranh dân gian của người Hoa. Có lẽ nghệ nhân muốn thể hiện tính cách của người Trung  Hoa qua hình ảnh em bé trai.

Đối với những bình hoa, họa tiết thường vẽ theo lối liên hoàn, có loại vẽ trơn, có loại chia lớp, thỉnh thoảng có hiện vật chia ô để vẽ. Trang trí bình hoa chủ yếu là hoa phù dung, hoa hồng, hoa mẫu đơn …Đối với các loại ấm chuyên họa tiết thường là cảnh tứ thời, hoa lá, chim sẻ, cò, có một vài hiện vật vẽ cảnh làng quê hay tích Tô Vũ chăn dê.

Nhìn chung, dù vẽ họa tiết nào cũng thể hiện được sự hài hoà cân đối, đẹp mắt. Tất cả hiện vật đều vẽ thủ công bằng tay, mỗi nghệ nhân đều vẽ theo một phong cách riêng. Cùng họa tiết nhưng không hoàn toàn giống nhau (như hai người sinh đôi nhưng không phải là một), càng chú ý kỹ ta càng thấy sự khác biệt của họa tiết trên các hiện vật. Cùng vẽ hoa cúc nhưng bình này khác bình kia, cùng họa tiết hoa hồng, nhưng  ở mỗi hiện vật lại có nét khác nhau.Chính vì vậy, đứng ở phương diện họa tiết có thể nói mỗi hiện vật là một tác phẩm nghệ thuật độc đáo, có một sự hiện hữu riêng góp phần làm nên giá trị của hiện vật.

Gốm sứ thời Khang Hy thường dùng bút pháp tả chân với lối vẽ công bút, tỷ mỷ, trau chuốt, các chi tiết trang trí sống động, sát thực tế, nét vẽ sắc sảo, màu sắc không bị nhòe. Dù trải qua hơn 300 năm ở dưới  đáy biển, với tác dụng của nước mặn và thời gian mà vẫn giữ được tươi nguyên màu men xanh lam và họa tiết sống động đầy tính nghệ thuật.

Nghiên cứu họa tiết trên gốm sứ Hòn Cau, cho ta hiểu sâu hơn trình độ kỹ nghệ làm  gốm sứ, tính ngưỡng – tôn giáo, tư tưởng triết học, thế giới quan, trình độ và quan điểm nghệ thuật của thời đại Khang Hy.

BBT

 

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

Advertisements

Read Full Post »

Kỵ húy: 忌諱

Kỵ húy là tục kiêng tên. Phạm phải điều kỵ húy gọi là phạm húy. Thới xưa người ta rất kiêng việc này, ví dụ khi ông A có con trai tên là B, người ta không gọi là ông A mà gọi là ông B để tránh gọi phải tên tục của người khác, hoặc nể nang chỉ gọi theo thứ bậc trong gia đình như anh Hai, bác sáu, … Xa lạ hay không quá thân quen thì lấy nghề nghiệp ra gọi như chú sáu phó nhòm hay lấy cơ sở làm ăn như ông Khai Trí (có hiệu sách nổi tiếng Khia Trí). Khi đặt tên cho con người ta cũng tránh trùng với tên bậc tôn trưởng, thần thánh tạo nơi mình cư ngụ và dĩ nhiên cả tên của vua chúa. Các chức sắc trong làng hay lão nhiêu cao tuổi cũng không kêu thẳng tên mà gọi là cụ lý, cụ nhiêu, … Trớ trêu lệ này lại có mặt trái: “ghét ai đặt tên người ấy cho con”, khi cần cứ lôi tên con ra mắng chửi. Thậm chí dùng lối chơi như chuyện cười Trạng Quỳnh có kể: Một lần trạng Quỳnh ra hàng thịt dặn mua hết nhưng với điều kiện phải thái nhỏ để trưa đến lấy. Đến trưa Trạng cự nự sao lại thái nhỏ ra. Chủ hàng nhắc lại, Trạng bảo cứ chửi ‘Thằng nào bảo thái”. Chữ Bảo Thái là Niên hiệu vua Lê thời đó (gọi niên hiệu ra không bị tội phạm húy), một lối chơi chữ.

Nguyễn Long Thao có dẫn Lý Nham Linh và Cố Đạo Hinh, tục lệ kỵ húy bắt đầu có tại Trung Quốc từ thời Tây Chu (1045-771 Tr. Công nguyên) và kéo dài hết đời nhà Thanh (1644-1912) [Nguồn VietCatholic News]. Nếu vậy thì chỉ riêng một triều đại như triều Hán chẳng hạn số chữ kỵ húy sẽ rất nhiều và hệ quả xã hội không nhỏ. Vì thế người Trung Hoa có định lệ: chỉ kỵ húy đối với vua khai sáng triều đại, hoàng đế đang tức vị và 6 vị tiên vương trước đó (tất cả 8 người). Nhà Nguyễn xem 9 chúa Nguyễn là những vị khai sáng triều đại nên giữ tục kỵ húy các vị này. Bên cạnh có những kỵ húy “ăn theo” như hoàng khảo (cha ruột vua), hoàng hậu và tên lăng miếu. Bấy nhiêu cũng đã quá phức tạp rồi.

Ở Việt Nam chưa rõ có từ đời nào do sử không ghi chép lại nhưng chắc chắn trước thời Hậu Lê và rất nghiêm nhặt thời nhà Nguyễn. Có lẽ bắt đầu từ thời nhà Trần vì vua Trần Thái Tông bắt người họ Lý cải thành họ Nguyễn với lý do phạm húy tổ nhà Trần tên là Lý, đồng thời ban bố các chữ phạm quốc húy và miếu húy. Qua đời Lê được ghi hẳn hoi trong Bộ luật Hồng Đức: “Dâng thư hay tâu việc gì mà lại lầm phạm đến tên vua hay tên húy các vua trước, thì xử phạt 60 trượng, biếm 2 tư; miệng nói hay văn thư khác lầm mà phạm phải thì xử phạt 80 trượng. Viết những chữ húy phải bớt nét, mà không bớt nét thì xử phạt 60 trượng. Miệng nói phạm tên húy thi xử tôi xuy. Người nào cố ý đặt tên chính hay tên tự phạm vào chữ húy thì xử tôi lưu, tội tử hình” [Điều 125]. Đến đời Nguyễn, trong Hội Điển Sự Lệ có nhiều lần quy định (vì có sửa đổi) những chữ phạm húy (nghĩa là dùng là vi phạm việc kỵ húy). Ví dụ: “Gia Long năm thứ 6 kính lục các chữ húy, đọc đến phải tránh âm, làm văn phải đổi chữ khác” [Cuốn 8, trang 144] (sáu chữ kính lục này nêu ở phấn dưới). Các đời vua sau chữ kỵ húy ngày càng nhiều và nghiêm khắc hơn: “Phàm người trong tôn phả mà có tên đồng âm với quốc húy và người phụ nữ trong Tôn thất trùng tên với nhau, đều phải chọn chữ đổi lại. Ðến như vợ lẽ các phủ và vợ cùng con gái là người Tôn thất, nếu đồng âm với quốc húy cũng như con gái họ Tôn thất cùng hoàng tử hoàng tôn, hoàng nữ, hoàng muội mà tên trùng nhau thì cũng đều tiến hành trình lên phủ để đổi lại và ghi vào tôn phả.” [Hội Điển Sự Lệ] và Bộ luật Gia Long cũng quy định hình phạt: “Kẻ nào trong một bài viết tấu hay trình gì với vua mà dùng một tiếng trùng với tên vua hay tên một hoàng khảo sẽ bị phạt 80 gậy. Nếu tội phạm húy ấy mắc phải trong các giấy tờ khác thì hình phạt sẽ là 40 gậy. Kẻ nào phạm tội ấy mà lại dùng tên ấy làm tên chính sẽ bị phạt 100 gậy.” [Điều 62] Vì sự nghiêm nhặt của triều đình nên thường khi nói đến ‘kỵ húy’ người ta nghĩ ngay đến tên vua chúa. Thật ra cổ tục này có từ lâu đời và phát sinh từ lòng tôn kính những bậc anh linh thần tích hay người hiền đức cao danh.

Nói rõ hơn kỵ húy chia ra làm ba loại: quốc húy, thánh húy và gia húy. Quốc húy là tên của vua chúa buộc cả nước phải tuân hành, thánh húy là tên thần linh thường được kiêng kỵ trong xóm làng hay một vùng nào đó, còn gia húy là tên bậc trưởng thượng trong dòng họ cần kiêng tránh. Sự kiêng tránh này có tầm ảnh hưởng khá rộng, không chỉ ở việc đặt tên người. Người ta nghiên cứu thấy có các phạm vi ảnh hưởng sau:

– Danh tính một người: dù đã đặt trước khi có chế định kỵ húy, người có tên phạm húy cũng phải đổi lại. Ví dụ: Năm Hồng Thuận thứ 2 (1510), vua Lê Tương Dực (1509-1516) xưng là Nhân Hải Động Chủ nên Hộ bộ tả thị lang Đỗ Nhân phải cải danh Nhân thành Nhạc để tránh phạm húy. Nổi tiếng là danh sĩ Phan huy Chú vốn tên là Hạo cải thành Chú cũng vì lẽ này. Tục đặt tên xấu một phần cũng sợ phạm thánh húy (tên thánh thần)

– Địa danh: một số địa danh vì phạm quốc húy phải đổi tên. Như giáo sư Đào Duy Anh có nêu: vua Lê Trang Tông húy là Ninh nên huyện Phù Ninh, Phú Thọ, đổi thành Phù Khang. Hay do hoàng hậu vợ vua Minh Mạng tên là Hồ Thị Hoa nên Thanh Hoa đổi thành Thanh Hóa (sử trước triều nguyễn đều gọi tỉnh này là Thanh Hoa). Vua Đồng Khánh có một tên riêng là Đường nên huyện Nam Đường, Nghệ An, đổi thành Nam Đàn, … Do đó nên nhiều khi việc tra cứu tài liệu cổ gặp không ít khó khăn.

– Văn từ và ngôn ngữ: hiện tiếng Việt có nhiều từ cùng nghĩa khác âm cũng vì lẽ này. Chẳng hạn vua Thiệu Trị húy Miên Tông nên tất cả các chữ tông phải đổi thành tôn như Lê Thánh Tông thành Lê Thánh Tôn, tông giáo thành tôn giáo, … Cổ xưa hơn, vua Lê Thái Tổ húy là Lị (chứ không phải Lợi, do kỵ húy đọc trại) nên xá lị đổi thành xá lợi (điều này hiện ít người nhớ).

Vì lệ này mà nhiều danh sĩ nức tiếng thi hoài không đậu vì phạm trường quy, trong đó có lỗi phạm húy. Như Tú Xương từng than thân: “Rõ thực nôm hay mà chữ dốt, Tám khoa chưa khỏi phạm trường quy” [Thi Hỏng 2]. Thậm chí có khi bị tù tội như trong Luật Hồng Đức và Luật Gia Long đã quy định.

Để tránh phạm húy người xưa có mấy nguyên tắc sau:

1.- Cải tự: thay bằng chữ khác có cùng nghĩa hay nghĩa gần tương đồng. Như chữ “Lị” 俐 (nghĩa là lanh lợi) là tên vua Lê Lợi nên trong Quốc triều Hình Luật (Luật Hồng Đức) thay bằng chữ “tiện” 便. Đời Gia Long có 6 chữ phải cải, gọi là 6 chữ kính lục, là: “noãn” 暖 (nghĩa là ấm) cải thành “úc” 燠 (ấm), “ánh” 映 (ánh sáng) thành “chiếu” 照 (rọi sáng), “chúng” 眾 (đông nhiều) thành “thúc” 束 (gom trong), “cổn” 衮 (tia sáng) thành “diệu” 曜 (tia nắng), “hoàn” 丸 (viên tròn hình cầu) thành “viên” 圓 (hình vòng tròn), “lan” 蘭 (hoa lan) thành “hương” 香 (mùi thơm). Đều là húy trong gia tộc và của vua Gia Long.

2.- Chiết tự: chữ kỵ húy được chia ra thành hai hay nhiều chữ để ngầm hiểu nghĩa. Ví dụ trong Văn bia Vĩnh Lăng để tránh kỵ húy “Lị” của vua Lê Thái Tổ, Nguyễn Trãi viết: Tính Lê, húy tả tòng Hòa, hữu tòng Đao (chữ hòa 和 bên trái ghép với chữ đao 刀 bên phải thành chữ chữ Lị 俐). Hay chữ “Ánh” tên vua Gia Long chiết tự thành “tả tòng nhật, hữu tòng anh” (trái là chữ nhật 日, phải là chữ anh 瑛; thành chữ ánh 映)

3.- khuyết tự: là viết bỏ trống. Trường hợp này áp dụng khi không tìm được chữ tương đương và ngữ cảnh không cho phép viết chiết tự Nhiều văn tự cổ sẽ thấy có đoạn viết: “Tên húy là …., lại húy là …” (bỏ trống tên) nhưng với ngữ cảnh đó hiểu là ai rồi.

4.- Khuyết bút: viết thiếu nét. Dùng trong trường hợp nếu để khuyết tự sẽ nhầm lẫn hay không rõ nhân vật. Chẳng hạn vua Trần Anh Tông có chỉ dụ những chữ “Ngụy, Thấp, Nam, Cán, Tộ, Tuấn, Anh, Tảng” phải viết thiếu nét. Khi thi cử, bài văn gặp phải tên vua mà không có cách nào khác đều phải khuyết bút.

5.- Trại âm: là trường hợp đọc trại khi xướng âm. Khi chuyển qua quốc ngữ trại âm này viết thành trại chữ. Triều Nguyễn phổ biến mấy chữ “nguyên” trại thành “ngươn” (tên chúa Nguyễn Phúc Nguyên, nên ta thường thấy một số sách quốc ngữ viết Nguyên Thủy Thiên Tôn thành Ngươn Thủy Thiên Tôn); “cấm” thành “kim” (thực húy của Nguyễn Kim là Nguyễn Cấm), “ánh” thành “yểng” (tên vua Gia Long), “cánh” thành “kiểng” (nhiều người cho là kỵ húy Hoàng tử Cảnh, nhưng có người cho rằng do tôn kính Nguyễn Hữu Cảnh. Thuyết sau đúng hơn vì chỉ thấy ở Miền Nam), “đảm” thành “đởm” (tên vua Minh Mạng), “hồng’ thành “hường” (tên lót vua Tự Đức); “nhậm” thành “nhiệm” (tên của vua Tự Đức); “tông” thành “tôn” (tên vua Thiệu Trị là Miên Tông), ‘chu” thành ‘châu” (tránh tên Nguyễn Phúc Chu), “võ” thành “vũ” để tránh vương hiệu Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát); “phúc” thành “phước” (chữ lót quốc tính nhà Nguyễn); “hoàng” thành “huỳnh” (Chúa Nguyễn Hoàng), “hoa” thành “bông” (vợ vua Minh Mạng là Hồ Thị Hoa), “dung” thành “dong’ (vua Thiệu Trị tên là Miên Dung), “duyệt” thành “dượt” (kính trọng Lê Văn Duyệt, nên đôi khi ta thấy chữ dượt binh), “hoạt” thành ”hượt” (chúa Nguyễn Phúc Khoát còn có tên là Hoạt), “nghĩa’ thành “ngãi” (tránh vương hiệu chúa Nghĩa), “nhân” thành “nhơn” (do tôn kính Nguyễn Thành Nhân), “thái” thành “thới” (Chúa Nghĩa có tên Nguyễn Phúc Thái), “tính” thành “tánh” (Võ Tánh thực húy là Tính), “bữu” thành “bảo” (vua Thành Thái tên là Bửu Lân), “tùng” thành “tòng” (Nguyễn Phúc Chu có tên khác là Tùng),… và còn nhiều trường hợp khác nữa.

5.- Dùng danh hiệu hay tước hiệu thay tên: hay áp dụng cho thánh thần. Ví dụ trước kia ít ai gọi đích danh Trần Quốc Tuấn mà dùng tước hiệu gọi Trần Hưng Đạo hay Đức Thánh Trần, cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm thường tôn kính gọi là Trạng Trình chứ ít khi nêu danh tính, Đạo Mẫu không nêu danh tính Lê Lợi mà gọi là Ông Hoàng Cả, ….

Biên Khảo: Đức Chính

 

 

MỤC LỤC – KIẾN THỨC MỸ THUẬT VN KỶ NIỆM THĂNG LONG 1000 NĂM

Read Full Post »

HỌA TIẾT TRONG MỸ THUẬT AN NAM

(Les Motifs de l’Art annamite)

Tác giả: L. Cadière

Dịch thoát: ĐỨC CHÍNH

***********

BÀI  I : HỌA TIẾT TRANG TRÍ HÌNH KỶ HÀ

Thực khó phân loại cho rõ ràng văn tự các họa tiết (motifs) trang trí vì chính các nghệ sĩ, thợ nề, nhà điêu khắc và cả những người chuyên nghiệp cũng không thống nhất thuật ngữ dùng cho chúng; lúc thì người ta chi li phân chia chủ đề các họa tiết tưởng chừng như cùng giuộc với nhau, lúc thì một tên dùng chỉ nhiều họa tiết khác hẳn nhau. Phần đông trong số họ có kiến thức nghệ thuật không đều, lại nhiều khi sửa tên họa tiết theo ý riêng; các họa tiết thường trùng lặp, lại lấy cái này tô điểm thêm cho cái kia hay kết hợp các họa tiết với nhau, nhiều lúc chẳng biết gọi là gì nữa. Chúng ta sẽ thấy sự mơ hồ trong thuật ngữ chỉ các họa tiết hình thú, hình cây lá và cả họa tiết Hán tự nữa. Vì thế chúng ta tạm chia ra họa tiết kỷ hà thành ba nhóm: mắc lưới, vòng tròn và hồi văn.

Họa tiết mắc lưới thường hình thoi, dài ngắn khác nhau, cạnh thẳng (hình I, II, II) và thỉnh thoảng hơi cong nhẹ (hình CXXXIX). An Nam gọi lối trang trí này là ‘mắt vọng’ (mắc lưới) vì có dạng giống như thế. Nhưng nếu nó đặt kế bên họa tiết hình thoi uốn cung sẽ thấy có nét tương đồng rõ rệt. Họa tiết này ít khi trang trí đơn độc vì ít mãn nhãn, thường kết hợp với họa tiết hoa. Nó được dùng làm nền các tấm chạm hay bức họa.

Họa tiết mắc lưới lục giác có tên An Nam là ‘kim qui’ (rùa vàng). Thực ra nó giống vảy con rùa thì đúng hơn. Đôi chỗ họa tiết này được dùng đơn độc (hình IV), nhưng thường dùng làm nền hay được điểm xuyết thêm họa tiết hoa (hình VI, VII, VIII). Các tác phẩm cổ có gia công xà cừ thường có họa tiết này (hình VIII). Ở các bình phong xây gạch họa tiết này riềng ngoài bìa và các lục giác kéo ra rất dài, khi thì đứng một mình khi thì hòa trộn với những hàng hình thoi nhỏ khác (hình LXI, LXII). Nếu xếp chồng họa tiết lục giác này lên nhau sẽ có loại họa tiết hình sao, gọi là ‘kim qui gài’ (hình V, xem thêm hình XVI).

Họa tiết mắc lưới không đều có tên là ‘mặt rạn’ hay còn gọi ‘kim qui thất thế’ (rùa vàng mất dáng). Thực ra hình trang trí này hình như sao chép hình các nhánh đào cách điệu.

Họa tiết mắc lưới tam giác gọi là ‘nhân tự’ (chữ nhân) do có dạng hao hao chữ nhân (人). Họa tiết này cũng được dùng làm nền, đứng riêng lẻ hay kết hợp với hoa (hình XI, XII).

Họa tiết vòng tròn có ‘kim tiền’(đồng tiền vàng). Họa tiết này có hai vòng tròn đồng tâm tạo thành gờ mép bên ngoài và trong có các vòng tròn khác chia cắt vòng ngoài làm bốn phần, tạo ra ở tâm một lỗ hình vuông (hình XIII).

Hoa thị là một họa tiết thoát sinh từ họa tiết vòng tròn cắt lẫn nhau và đi qua cùng một chỗ sao cho tạo nên ở chỗ ấy thành tâm một ngôi sao bốn cánh (hình XIV, XV). Hoa thị chỉ là cách gọi chứ hoa thị màu vàng ngoài đời không đáp ứng được yêu cầu trang trí và không mang một ý nghĩa nào cả. Nghĩa là họa tiết hoa thị này không bắt nguồn từ thực vật giới cách điệu ra, chỉ là một cái tên đặt theo lối dân dã. Họa tiết hoa thị được dùng làm nền, có khi chỉ thuần túy hoa thị nhưng cũng có khi kèm theo hoa lá cách điệu hóa.

Họa tiết có hai vòng tròn gọi là ‘song hoàn’, nhiều vòng liên kết với nhau gọi là ‘liên hoàn’. Liên hoàn cũng là loại thoát sinh từ họa tiết vòng tròn và có thể là tiền thân của họa tiết hoa thị, có các vòng tròn nối kết với nhau theo mọi chiều. Ở đây chúng ta có một ý nghĩa tôn giáo: chỉ sự thân ái, tình yêu, sự kết giao chặt chẽ và không thể chia lìa, một sự tương thân tương ái. Nhóm họa tiết này có nhiều dạng: hai vòng tròn gốc gấp khúc lại thành lục giác (hình XVI, số 1) và tương tự như vậy cho ra hình lục giác chồng lợp (hình XVI, số 2) mà chúng ta đã thấy (hình V); hay là gấp khúc lại thành hình thoi (hình XVI, số 3), có một cái nhân đôi lên (hình XVI, số 4). Trang trí ‘dây thắt’ gồm năm hình thoi xếp thành hàng và cắt vào nhau; loại họa tiết một hình thoi ở giữa và bốn hình thoi cắt vào ở bốn góc hình như cũng liên quan đến họa tiết này (hình XVI, số 5&6). Còn nhiều mẫu phức tạp hơn những hình trình bày ở đây.

Loại họa tiết hai vòng tròn bị kéo dài ra thành bầu dục hay bị dồn vào trong một hình chữ nhật thường được đặt vào trang trí dây lá hoặc làm tâm cho một bức chạm. Bên trong có chữ ‘thọ’ được cách điệu, hoặc hồi văn cuộn xoáy, hoặc các hình vẽ khác. Họa tiết ‘song thọ’ (hình XVII) thì bên trong có hai chữ thọ. Họa tiết này có một thể biểu khác gọi là ‘vạn thọ’, với mô thức này bên trong một vòng tròn có hồi văn xoắn ốc chữ vạn và ở một vòng khác có chữ thọ cách điệu. Không nói ra cũng biết đó là biểu tượng của ‘phúc đức’.

Các họa tiết chúng ta vừa kê ra chỉ là thứ yếu, loại họa tiết quan trọng nhất là họa tiết hồi văn (回文). Các chữ Hán-Việt được thể hiện gấp khúc vào nhau, bẻ gập lại, kéo dài ra, hay vuốt thon tuỳ theo ngẫu hứng của người nghệ sĩ.

Họa tiết có tên ‘á tự’ gợi dáng nét chữ á (亞) trong tiếng Hán, là một họa tiết hồi văn (hìnhXVIII và XIX). Họa tiết này dùng trang trí nền. Người ta còn gọi là hồi văn chữ thập. Một loại khác gọi là ‘hồi văn chữ vạn’, trước kia ở giữa họa tiết này có chữ vạn Phật giáo (卐) nay là chữ vạn Hán tự (萬). Tôi đặt tên cho nó là hồi văn xoắn ốc vì từ ở tâm các hàng trang trí cuộn xoắn đi ra. Hồi văn này cũng dùng làm nền và thường có điểm thêm hoa.  Hồi văn chữ công (工) giống với hồi văn ở Phương tây nhất và nó có nhiều kiểu thức (modèles), được dùng trang trí khung, với dạng thuần túy hay kết hợp các loại họa tiết khác (hình C). Loại thuần túy tuy không có tên riêng nhưng được dùng nhiều, nhất là dùng để viền khung, dùng để trang trí góc, đầu hồi, sống mái nhà, quai bình, chân bàn, giữa hoành phi, nói tóm lại ở mọi đồ mỹ thuật (từ hình XXI đến XXIX và ở nhiều hình khác nữa).

Họa tiết ‘hồi văn lá’ thường kết thúc bằng hình nắp đệm hay tua diềm, nó tỏa ra các hình hoa lá cách điệu. Hồi văn lá biến thể thành ‘hồi văn hóa giao’ (hồi văn biến thể thành giao long), có các nếp gấp dồn lại và xoay tròn theo dạng cuộn khói (hình XXVII).

Có lẽ dạng hồi văn kỳ lạ nhất là họa tiết dây xích, dùng trang trí nhẹ ở mép bàn (hình XXX, XXXI, XXXII).

Hồi văn còn biến cách trong các món đồ gỗ hay cái kệ gọi là ‘cao đề kỷ’ (高提几: cái ghế dựa chỗ thấp chỗ cao) hay vắn tắt là ‘cao đề’. Có khi họa tiết này dùng một mình dưới dạng có hay không có chân (hình XXXIII và đế đèn có tên được bài này chọn làm nhan đề Họa tiết trang trí hình kỷ hà) có khi điểm thêm các họa tiết trang trí khác (hình XXXIV). Nó được đưa vào trang trí các tấm biển, hoặc biển dựng đứng (hình XXXV) hoặc biển để nằm (hình LV, LVII). Dù dùng trong trường hợp nào loại họa tiết này cũng có nét duyên dáng và rất mỹ thuật.

Các tư liệu trên đều do bạn Đức Chính dịch và cung cấp cho Blog và diễn đàn . Thay mặt Bạn đọc xin chân thành cảm ơn Bạn Đức Chính .

Việc sử dụng lại các tư liệu trên , xin vui lòng liên hệ :

<ducchinhfriends@yahoo.com.vn>

(xem tiếp Bài 2: Họa tiết chữ)

 

 

MỤC LỤC – KIẾN THỨC MỸ THUẬT VN KỶ NIỆM THĂNG LONG 1000 NĂM



Read Full Post »

BÌNH VÔI KÝ KIỂU DO COPELAND & GARRETT SẢN XUẤT

PHILIPPE TRUONG

Trong các món đồ sứ do vua Minh Mạng đặt làm tại Anh, ngoài bộ Spode có các dòng lạc khoản “Minh Mạng… niên tăng họa”, còn có những bình vôi mang hiệu đề Copeland & Garrett. Theo lời bà Pam Wooliscroft, quản thủ Bảo tàng Công ty Spode thì xưởng Copeland & Garrett không bao giờ chế tạo bình vôi hoặc một vật gì có hình dáng tương tự như thế. Điều này chứng minh rằng các cổ vật này là những món hàng ký kiểu do một phái đoàn đến từ Đại Nam đặt làm và đã được mang khỏi Copeland & Garrett nên Bảo tàng Công ty Spode không còn lưu giữ bình vôi nào.

Hiện có năm chiếc bình vôi do triều đình Đại Nam ký kiểu từ xưởng Copeland & Garrett đã được các nhà sưu tầm và nghiên cứu cổ vật giới thiệu hay đề cập trong các bài khảo cứu của mình. Song thật không may là hai trong số những chiếc bình vôi ấy hiện không ai còn biết rõ tung tích. Kiểu dáng của các bình vôi này tương tự những bình vôi dùng tại Việt Nam dưới triều Nguyễn: thân hình cầu, trên đỉnh đắp nổi hình tròn dẹp, có núm nhỏ, qua hình cung, ở hai đầu quai có đắp nổi hình ngọn lửa.


Được chế tác bởi một loại sành sứ mới sáng tạo, gọi là New Fayence(1) tại Spode vào năm 1826, các bình vôi ký kiểu này được trang trí theo phương pháp in chuyển họa. Việc phát minh kỹ thuật in chuyển họa đã biến đổi nghề làm gốm thủ công thành một công nghệ. Kỹ thuật chuyển họa xuất hiện vào năm 1756 do John Sadler và Guy Green sáng chế ở Liverpool, sau khi trải qua nhiều công đoạn cải tiến, phát triển.


Trong giai đoạn đầu (1780 – 1800), lò Spode sử dụng những hoa văn sao chép theo các hình mẫu của Trung Quốc nhằm thỏa mãn thị hiếu của khách hàng. Đây cũng là thời kỳ thực nghiệm nên những hoa văn trang trí trên đồ gốm chuyển họa đều khá đơn giản. Bước sang giai đoạn thứ hai (1800 – 1815), nhờ sự phát minh máy in trên giấy Fourdrinier, kỹ năng in khắc được cải tiến. Nhờ đó, những người thợ in khắc có thể hình thành hoa văn bằng các chấm nhỏ và đường vạch, tạo nên những độ sâu với những sắc thái khác nhau, hình dung được những đám mây trên trời. Thời kỳ này, Staffordshire trở thành trung tâm sản xuất đồ gốm in chuyển họa.

Nhiệm vụ của người thợ in khắc là thiết kế một đồ án trang trí thích hợp hoặc sửa đổi một họa tiết có sẵn cho phù hợp với hình dáng của món đồ sứ. Sau đó họ sao chép đồ án này lên một tấm đồng đỏ cán mỏng và dùng acid để khắc lên tấm đồng những đường vạch hoặc chấm tròn nhỏ. Một khi nhiệm vụ vất vả này hoàn thành (một tấm đồng cho mỗi kích thước hoặc hình dáng của món đồ sứ) thì lúc đó tấm đồng mới sẵn sàng để dùng cho việc in chuyển hoa văn giấy. Màu lam cobalt luôn được dùng để in các đồ án bởi vì vào thời kỳ này đây là màu duy nhất có thể chịu được sức nóng của lò nung men mà không bị phai màu. Lúc đầu, cobalt được nhập khẩu từ Đức, nhưng về sau thì được khai thác từ xứ Cornwall. Cobalt được trộn lẫn với bột đá lửa và dầu tạo thành một loại mực sền sệt để in. Trước tiên người ta đặt những tấm đồng ở trên bếp lò để làm cho chúng nóng lên và dùng con dao trộn sơn dầu phết mực lên trên tấm kim loại đó tạo thành các chi tiết của hình khắc. Rồi thì người ta cạo sạch bề mặt tấm đồng bằng một miếng vải nhung kẻ. Giấy dùng để in rập hoa văn được làm ướt bằng xà phòng và nước rồi được đặt lên trên tấm đồng để sao các hoa văn khắc in trên tấm đồng. Sau đó, người ta ép và đặt tấm đồng lên trên bếp lò để làm cho nó nóng trở lại nhằm làm cho tờ giấy vừa được sao chép hoa văn bong ra. Người thợ cắt tỉa các hoa văn sao in trên tờ giấy và đặt nó lên các vị trí thích hợp trên những món đồ sứ sẽ được chuyển họa. Mặt giấy có mực in vừa được sao từ tấm đồng sẽ tiếp xúc với xương đất mộc của món đồ sứ. Sau đó, người ta dùng một cuộn vải flanen để chà nhẹ lên mặt sau tờ giấy để lưu lại các họa tiết trên nền một xương gốm. Đường viền của các họa tiết và hoa văn sẽ được in riêng rẽ, thường thì gồm hai hoặc nhiều mảnh hơn ghép lại, vì thế, người ta có thể thấy rõ các chỗ đấu nối họa tiết. Tiếp theo, bằng cách rửa món đồ trong nước lạnh, lập tức, tờ giấy sẽ nổi lên mặt nước để lại hoa văn được in trên món đồ sứ. Để lưu giữ hoa văn đã in lên món đồ một cách bền chắc, người ta đem món đồ ấy hấp trong một lò kín. Công đoạn cuối cùng là phủ lên trên hoa văn vừa in một lớp men trong để bảo vệ. Người ta cẩn thận nhúng mỗi món đồ vào trong nước men lỏng sao cho lượng nước men dư thừa trên món đồ là không đáng kể, rồi đem nung món đồ lần thứ hai trong một lò nung để làm chảy lớp men phủ.

Dưới chiếc bình vôi(2) nguyên của Bảo tàng Khải Định (Bảo tàng CVCĐ Huế hiện nay) có ghi hiệu đề New Blanche ở giữa, cùng với dòng chữ Copeland & Garrett viết theo hình tròn và hình vương miện ở trên. Hiệu đề này được sử dụng vào khoảng thời gian giữa các năm 1838 và 1847. New Blanche là một loại đồ sành dùng tại xưởng Copeland & Garrett. Theo ghi chép của xưởng này vào năm 1839, thì thành phần cấu tạo của New Blanche gồm 1/3 đất sét, 1/3 đất kaolin và 1/3 đá lửa. Hình trang trí trên chiếc bình vôi này vẽ một con chim phượng đậu trên cái kệ, cạnh một chiếc bình, một chậu hoa và một mâm trái cây. Được đặt tên là kiểu thức Macau, hoa văn này được chép theo kiểu Trung Quốc, xuất hiện trên đồ sứ xuất khẩu châu Âu, và vào năm 1839, lần đầu tiên tên hoa văn này ghi chép trong các tài liệu lưu trữ của xưởng Copeland & Garrett. Vì nét tương đồng giữa kiểu thức trang trí này với các đồ Spode mang hiệu đề “Minh Mạng…niên tăng họa”, nên sứ bộ Đại Nam đã chọn bình vôi ấy. Theo sổ sách lưu trữ của Bảo tàng Khải Định trước đây, bình vôi này được tìm thấy (hoặc mua) tại Huế trước khi đưa vào Bảo tàng Khải Định (số kiểm kê MKD 653).

Môt bình vôi khác(3) nay thuộc sưu tập của Bảo tàng CVCĐ Huế (Ảnh 01) được trang trí bằng men nhiều màu, đề tài hoa điểu. Mặt trước vẽ một con chim trĩ và bông hoa (hoa văn số B.587); mặt kia vẽ một con chim công (hoa văn số B.588). Cách vẽ chim và bông hoa theo kiểu phương Tây. Theo sổ sách của xưởng Copeland & Garrett thì hai hoa văn trang trí số B.587 và B.588 được sáng tạo năm 1839. Chữ B ghi trước số hoa văn chứng minh là hoa văn này được dùng dưới men.

Dưới đáy bình vôi có ghi hiệu đề Copeland & Garrett, bao quanh chữ late Spode và tên chất liệu New Fayence trong một dải ruy băng. Hiệu đề này, in màu xanh lá cây hoặc màu nâu, được sử dụng giữa các năm 1833 và 1847.

Bình vôi(4) của nhà sưu tầm Trần Đình Sơn (Ảnh 02) thì được trang trí kiểu thức hoa văn B.466 một cách tỉ mỉ và tương xứng. Hoa văn này được sáng tạo vào năm 1838. Có hai chiếc lá bao quanh miệng bình vôi và hai vòng hoa trang trí quanh thân bình. Một dãy hồi văn chữ chi viền quanh vai và quai bình. Các hoa văn trên chiếc bình vôi này hẳn nhiên được thực hiện theo kiểu thức châu Âu.

Bảo tàng Lịch sử Việt Nam thành phố Hồ Chí Minh hiện đang lưu giữ một bình vôi(5) (Ảnh 03), cũng do xưởng Copeland & Garrett chế tạo. Chiếc bình vôi này cũng được trang trí theo lối in chuyển họa nhiều màu với kiểu hoa văn châu Âu: một bó hoa đặt trên chiếc lưới màu xanh (tượng trưng cho vườn hoa) được vẽ trên phần trên thân bình và hai cánh hoa lá ở phần dưới thân bình. Một dãi hoa văn màu xanh viền quanh quai bình và đế bình. Kiểu hoa văn này được ghi trong sổ sách của xưởng Spode năm 1839 với mã số B 593. Hiệu đề in màu xanh dưới chiếc bình vôi này là New Fayence ở giữa, kèm theo dòng chữ Copeland & Garrett viết theo hình tròn và hình chiếc vương miện. Hiệu đề này là kiểu hiệu đề nối tiếp hiệu đề có trên chiếc bình vôi của Trần Đình Sơn, xuất hiện khoảng giữa các năm 1838 đến 1847.

Dưới đáy của một chiếc bình vôi(6), nguyên của nhà sưu tầm người Bỉ, ông Clément Huet, cũng có in hiệu đề Copeland & Garrett và Saxon Blue trong một dãi ruy-băng. Hiệu đề này rất hiếm gặp và được ghi khi thợ gốm dùng kỹ thuật in chuyển họa dưới lớp men chảy. Hoa văn trang trí trên bình vôi này là một bó hoa.

Căn cứ vào các kiểu thức hoa văn và hiệu đề thì những bình vôi này do xưởng Copeland & Garrett sản xuất vào giữa các năm 1839 và 1847. Trong thời gian ấy chỉ có một sứ bộ duy nhất sang Luân Đôn để ký kiểu đồ sứ. Đó là sứ bộ do Tôn Thất Thuyền và Trần Việt Xương làm chánh sứ và phó sứ.

Cuối năm 1839, sau chiến thắng của quân Anh tại Trung Quốc, vua Minh Mạng đã tìm cách đối phó với các nước phương Tây bằng đàm phán ngoại giao. Vua cử một sứ bộ sang Pháp và Anh để thăm dò tình hình, lấy cớ đi mua hàng hóa. Việc sứ bộ Đại Nam đến Pháp đã làm nhiều người chú ý. Các hội truyền giáo lợi dụng dịp này để tố cáo việc  cấm đạo Thiên Chúa và giết hại giáo sĩ của vua Minh Mạng. Cả tòa thánh Vatican cũng gửi thư phản đối. Vua Louis Philippe của nước Pháp, vì phải đối mặt với những khó khăn trong nước nên không tiếp kiến sứ bộ Đại Nam.

Sau thất bại ở Pháp, sứ bộ lên tàu sang Anh (tháng 02 năm 1840). Họ được Thủ tướng Anh, Tử tước Melbourne, tiếp đãi nhưng họ không thu được nhiều thành công hơn. Trong thời gian lưu tại Luân Đôn, phái đoàn Đại Nam, theo lệnh vua Minh Mạng, đã ký kiểu các bình vôi tại thương quán Luân Đôn. Thời gian lưu lại của họ quá hạn chế nên họ không kịp nhận những chiếc bình vôi đã ký kiểu. Sau đó, những món hàng này được gửi đến Toàn quyền Ấn Độ để chuyển đến Huế. Năm 1845, viên Toàn quyền Ấn Độ cử một sứ bộ đến tạ ơn sự giúp đỡ(7) của vua Thiệu Trị (1841 – 1847). Lần đầu tiên các tài liệu đề cập đến việc triều đình nhận tặng phẩm. Một trong những lý do của việc này là sự có mặt của những bình vôi Copeland & Garrett ở trong số quà tặng. Hai năm sau người Anh lại đến Việt Nam và vua Thiệu Trị từ chối không cho yết kiến.

Vậy thì bình vôi Copeland & Garrett là những đồ sứ ký kiểu đầu tiên mà vua triều Nguyễn ký kiểu tại châu Âu. Sự chọn lựa lò Copeland & Garrett, một xưởng Anh quốc, chứng minh rằng đồ gốm sành sứ Anh được vua Minh Mạng chú trọng hơn đồ Pháp.

P.T.

Chú thích:

(1) Theo sách hướng dẫn làm đồ sành sứ của Spode vào năm 1826, thì thành phần cấu tạo của đồ New Fayence gồm:

– 65,31% đất sét xanh.

– 17,56% kaolin.

– 13,06% đá lửa.

– 04,05% đá Cornwall.

Tỷ lệ này không được xác định một cách cố định. Sau khi nung thì New Fayence trở thành trắng ngà và thường được trang trí bằng cách chuyển họa tô màu.

(2) Bình vôi, Anh quốc, niên đại khoảng năm 1840, Copeland & Garrett (Stroke-on-Trent, Staffordshire) chế tác theo kỹ thuật sành sứ men màu chuyển họa. Đường kính: 11cm, cao 18cm. Hiệu đề: NEW BLANCHE (ở giữa) COPELAND & GARRETT (ở trên, viết theo hình tròn) và một chiếc vương miện. Chiếc bình này nguyên là của Bảo tàng Khải Định, số kiểm kê MKD 653 (Dẫn theo: Jabouille P. & Peysonnaux J.H., “Sélection d’objets d’art et meubles conservés au Musée de Khải Định”, B.A.V.H., 1929, April-June, pl. XXX – 4.

(3) Bình vôi, Anh quốc, niên đại khoảng năm 1840, Copeland & Garrett (Stroke-upon-Trent, Staffordshire) chế tác theo kỹ thuật sành sứ men màu chuyển họa. Đường kính: 11cm, cao 16,5cm. Hiệu đề: LATE SPODE (ở giữa) COPELAND & GARRETT (ở trên, viết theo hình tròn), NEW FAYENCE (trong một ruybăng), Hiện vật của Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế, Số kiểm kê BTH.1679.S-1.GM-4639.

(4) Bình vôi, Anh quốc, niên đại khoảng năm 1840, Copeland & Garrett (Stroke-upon-Trent, Staffordshire) chế tác theo kỹ thuật sành sứ men màu chuyển họa. Hiệu đề: LATE SPODE (ở giữa), COPELAND & GARRETT (ở trên, viết theo hình tròn) và NEW FAYENCE (ở dưới, trong một ruybăng). Hiện vật của sưu tập Trần Đình SơnThành phố Hồ Chí Minh.

(5) Bình vôi, Anh quốc, niên đại khoảng năm 1840, Copeland & Garrett (Stroke-upon-Trent, Stafordshire) chế tác theo kỹ thuật sành sứ men màu chuyển họa. Cao: 18cm, Hiệu đề: Hình một vương miện và NEW FAYENCE (ở giữa), COPELAND AND GARRETT (viết theo hình tròn), Hiện vật của Bảo tàng lịch sử Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh, Số kiểm kê BTH 15182.

(6) Bình vôi, Anh quốc, niên đại khoảng năm 1840, Copeland & Garrett (Stroke-upon-Trent, Staffordshire) chế tác theo kỹ thuật men lam chảy chuyển họa. Cao: 18,50cm. Hiệu đề: một vương miện ở giữa; chữ COPELAND & GARRETT (ở trên, viết theo hình tròn), SAXON BLUE (ở trên, trong một ruybăng), nguyên thủy thuộc sưu tập của Clément Huet (Bruxelles, B) (Dẫn theo: HUET Clément, Les pots à chaux, les pipes à eaux, Bulletin des Musées Royaux d’Art et d’Histoire, Bruxelles, 1941, Tome 4, p. 80, pl. 11).

(7) Vào năm 1824, một con tàu Anh xuất phát từ Quảng Đông bị đắm, vua Thiệu Trị đã tạo điều kiện giúp đỡ và cho tàu Việt Nam đưa họ trở lại Ấn Độ.

Nguồn từ http://www.covathue.com/cac%20bai%20viet/Binhvoikykieu.html

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN

Read Full Post »

Bức tượng nổi tiếng “Scribe accroupi” (Viên thư lại ngồi xếp bằng, 2600 – 2350 TCN) trong bảo tàng Louvre có một cái nhìn cuốn hút nhiều thế hệ khách thăm đến đây. Nhưng tại sao người Ai Cập cổ lại có thể tạo ra được một ánh mắt kì lạ đến thế? Các nhà khoa học mới đây đã khám phá ra được bí mật này. Phân tích bức tượng đã giúp các nhà khoa học không những hiểu được cách người ta làm ra nó mà còn cung cấp thêm những kiến thức mới về thành phần, cách chế tạo và bảo quản các tác phẩm nghệ thuật.

Tại thung lũng Saqqarah, vào năm 2600-2350 trước Công nguyên, một nhóm các nghệ sĩ đã được tập hợp lại để hoàn thiện một bức tượng điêu khắc làm bằng đá vôi, miêu tả một người đàn ông đang ngồi xếp bằng. Nhẹ nhàng và khéo léo, các nghệ sĩ hoàn tất công việc dát đá cho bức tượng. Những viên tinh thể đá núi đã được chọn để chế tác thành đôi mắt cho bức tượng. Họ đã khiến cho bức tượng Scribe, một tuyệt tác của Đế chế Ai Cập cổ đại có một cái nhìn bao la, thật một cách đáng kinh ngạc. Cái nhìn như từ bên trong của nhân vật nhưng lại giày vò những người ngoài khi họ bắt gặp ánh mắt đó, bằng những dữ liệu thị giác rõ ràng. “Chúng ta nhìn ông ta và điều kỳ lạ là chúng cảm thấy như đi cùng, hòa đồng với ông”, Maurice Merleau-Ponty, nhà triết học người Pháp từng nói về bức tượng như vậy.

Bức tượng Scribe là bằng chứng của một thời kỳ rực rỡ, thời kỳ mà các xưởng vẽ của các vị vua sáng lập ra Saqqarah, những phường hội nghề nghiệp cùng chung sống với nhau (hội họa và nghệ thuật có quan hệ mật thiết với những người thợ thủ công trong các lĩnh vực như mài đá, đào vàng, kim hoàn và chế tác đá quí).

Năm 1850, nhà Ai Cập học Auguste Édouard Mariette của bảo tàng Louvre phát hiện ra một lăng mộ ở Ai Cập bị vùi lấp dưới cát sa mạc, sau này lăng mộ đó đã trở nên nổi tiếng. Người ta kể lại rằng những công nhân Ai Cập được thuê khai thác kho báu đã rất sợ hãi khi mới nhìn thấy bức tượng và nói rằng ánh mắt của bức tượng luôn dõi theo họ. Đối với họ, đó là người thật chứ không phải là một bức tượng.

Quan sát bằng mắt thường

Cho tới năm 1997, bức tượng Scribe được bảo quản tại bảo tàng Louvre và ánh mắt của nó luôn được coi là bí ẩn đối với mọi người. “Tác phẩm nghệ thuật này là một thông điệp khá mơ hồ, trong đó tính đa nghĩa của cái được biểu đạt lại tồn tại với tính đơn nghĩa của cái biểu đạt”. Mỗi khách tham quan có thể có sự lựa chọn riêng của mình nhưng câu hỏi mà ánh mắt đưa ra đối với mọi người thì khó ai có thể giải đáp được chính xác.

Để lột bỏ bức màn bí hiểm che phủ bức tượng, vào năm 1997, các chuyên gia của Trung tâm nghiên cứu và phục chế các bảo tàng của Pháp (C2RMF) và bảo tàng Louvre đã chụp, quét và phân tích bức tượng Scribe với sự trợ giúp của các công nghệ mới nhất, các thiết bị tinh vi nhất và các kiến thức khoa học cập nhật nhất.

Phòng thí nghiệm nằm dưới bảo tàng là nơi tiến hành các nghiên cứu vật lý và hóa học trên tác phẩm nghệ thuật. Để đảm bảo không ảnh hưởng tới bức tượng, các nhà khoa học đã sử dụng phương pháp nghiên cứu không phá hủy (phân tích không cần lấy mẫu).

Nhờ phương pháp gia tốc phân tử, các nhà khoa học đã khám phá được bí mật chất liệu làm ra đôi mắt kỳ lạ của bức tượng. Sử dụng thêm phương pháp chiếu tia X, cấu trúc của bức tượng cũng đã được làm rõ. Con ngươi của cặp mắt được làm từ tinh thể đá núi cực kỳ thuần khiết. Được đẽo thành hình nón, con ngươi của bức tượng trông như một nhãn cầu thực sự. Bề mặt hình nón được làm mờ để tạo ra “ánh sáng” xung quanh con ngươi. Chúng được làm như một đồng tử của mắt thật. Những điều này cho thấy người Ai Cập cổ đã có một kiến thức đáng ngạc nhiên về giải phẫu mắt. Người nghệ sĩ đã tái tạo khá trung thành độ cong của giác mạc và đồng tử thì được đặt rất đúng chỗ, với một sự chính xác hiếm có. Dường như người nghệ sĩ muốn tạo ra bí ẩn thực sự cho cái nhìn của bức tượng. “Người ta đã cố tạo cho cái nhìn đó sống động hết mức có thể. Một ánh mắt bất diệt”, Jean-Pierre Mohen, Giám đốc C2RMF.

Anne Bouquillon, một kỹ sư và đồng tác giả của nghiên cứu bức tượng nhận xét rằng: dường như các nghệ sĩ Ai Cập đã quan sát rất kỹ mắt của người, phần trước của mắt dường như được làm để tiếp nhận mọi ánh mắt khác khi nhìn vào đó. Điều kỳ lạ là các nhà kim hoàn thời đó đã biết mài các thấu kính thành các hạt quartz. “Đây là điều chưa từng có trong lịch sử, theo những kiến thức mà chúng tôi có được”, bà nói. Liệu y học Ai Cập đã phát minh ra nhãn khoa trước khi phát minh ra bức thư? Cho đến ngày nay, người ta chưa tìm thấy bất cứ bằng chứng khảo cổ nào chứng minh cho câu hỏi đó. Tuy nhiên, với những quan sát và phân tích mắt bằng mắt thường như vậy chứng tỏ người xưa đã có rất nhiều các kiến thức y học trong lĩnh vực này.

Men và ngọc rubis

Qua các nền văn minh và thời kỳ khác nhau, người ta đã biết đến rất nhiều bộ phận giả được làm ra và gắn trong các tác phẩm nghệ thuật. Bức tượng nữ thần Babylon Ishtar được làm ra từ hai thế kỷ trước Công nguyên, với đôi mắt không phải là những mảnh thủy tinh nhuộm, mà là những viên ngọc rubis có nguồn gốc từ Myanmar (Miến Điện cũ).

Nhiều tác phẩm nghệ thuật Ai Cập khác cũng vậy, thí dụ như chiếc mặt nạ bằng vàng của bức tượng Toutankhamon và những con mắt tráng men, hay những đồ vật bằng đá chạm trổ tuyệt mỹ, tượng trưng cho đầu của thần Horus. Người ta cũng thấy nhiều bộ phận giả trong các tác phẩm nghệ thuật Celtic, Hy Lạp (thí dụ trong mặt người đánh xe của Delphes) hay trong các tác phẩm thời Roman. Phải chăng chính là nhờ các nghệ sĩ Roman mà ngày nay chúng ta có được từ ocularii, một từ dùng để chỉ các nhà sản xuất mắt giả, chuyên dùng cho các bức tượng. Vào thời Trung cổ, con ngươi trong mặt người trên các cột kiến trúc Roman đều được làm bằng đá quí hoặc chì. Các bức tượng ở Đảo Pâques trước cũng có các con ngươi như vậy, nhưng sau đã bị đánh cắp hết.

“Ngày nay người ta đã nhận thức rõ ràng rằng một tác phẩm nghệ thuật được tạo ra không chỉ để thỏa mãn thị giác của người xem mà còn kể lại cuộc sống của những con người đã sáng tạo ra nó”, Jean-Pierre Mohen, Giám đốc phòng nghiên cứu và phục chế các tác phẩm nghệ thuật của Louvre nói.

VƯƠNG TIẾN (TS, Theo Cnrs)

 

 

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

 

Read Full Post »

Nghề gốm Việt Nam cần bảo tồn và phát huy
những giá trị truyền thống

Bài tham luận của:

TS. Phạm Quốc Quân
Giám đốc Bảo tàng Cách mạng VN
Ths. Phạm Thúy Hợp
Phó trưởng phòng QLBT Cục Di sản văn hóa

1. Nhà gốm sử học Joh Guy và Joh Stevenson trong tác phẩm nổi tiếng gốm Việt Nam- một truyền thống riêng biệt đã nói rằng, gốm Việt Nam có lịch sử lâu đời và phát triển theo một truyền thống riêng, khác biệt với mọi cường quốc gốm sứ khác, kể cả với Trung Quốc láng giềng, luôn được thế giới mệnh danh là một siêu cường về gốm sứ. Nghiên cứu gốm Việt Nam trong triều lịch đại cũng như đồng đại, chúng ta đều thấy sự riêng biệt trong các khâu về làm đất, tạo hình, vẽ hoa văn và nung, mà có thể thấy dòng gốm men hoa nâu được coi là đặc trưng nhất, không thể trộn lẫn với bất cứ dòng gốm nào của mọi thời đại ở hầu hết các quốc gia.
Sự riêng biệt của gốm Việt Nam được nhận ra qua các trung tâm sản xuất khác nhau và ở ngay tại một trung tâm trong diễn trình phát triển mà tính thời đại của nó đã quy định. Sự riêng biệt ấy còn thể hiện ở những vùng, miền mà giờ đây, cho dù chưa có đủ tư liệu trong tay cũng nhận ra sự khác biệt giữa gốm Miền Bắc, gốm Miền Trung và gốm Miền Nam, theo đó, ở mỗi vùng miền ấy cũng có những truyền thống phát triển riêng. Sự khác biệt mang tính thời đại và vùng miền đã tạo nên một bức tranh gốm sứ Việt Nam đa sắc. Đó cũng là một ưu thế, cho sự phát triển và phát huy nghề gốm Việt Nam.
Ngoài bản sắc riêng, nghề gốm Việt Nam cũng có một truyền thống lâu đời. Ở Miền Bắc, nghề thủ công làm gốm có từ thời Phùng Nguyên, mà chúng tôi cho rằng, lịch sử 4000 năm gốm Miền Bắc đã trải qua ba chặng mốc, với những bước chuyển mình khá quan trọng, đó là bước chuyển từ gốm thô thời Đông Sơn sang bán sứ thời Bắc Thuộc với bước nhảy vọt về công nghệ, quy mô sản xuất, mẫu mã, chất liệu cũng như tổ chức sản xuất cùng phân phối lưu thông. Bước chuyển mình thứ hai, sau thế kỷ 10, với sự phục hưng của văn minh Đại Việt, đã tạo nên những dòng gốm men cơ bản và đặc trưng, bắt đầu từ thời Lý để rồi, trên dòng chảy của lịch sử phát triển có lúc chồi, lúc sụt, vẫn bao gồm gần như nguyên vẹn những giá trị khởi đầu cho đến tận hôm nay. Ngoài gốm men, đồ đất nung, đồ sành cùng phát triển với nhiều trung tâm mang tính đặc thù, đã tạo nên một cây cổ thụ gốm Việt với nhiều cành nhánh xum xuê, tỏa bóng. Trên cây cổ thụ ấy, có những cành vươn cao, vươn xa, cũng có cành cộc, do thui chột, nhưng vẫn sừng sững là một cây đại thụ của gốm sứ thế giới. Bước chuyển thứ ba, vào cuối thế kỷ 14, đầu thế kỷ 15, khi mà nhà Minh (Trung Quốc) bế quan “Thốn bản bất hạ hải”(một tấc gỗ cùng không được xuất), đã tạo nên một sự phát triển rực rỡ của gốm sứ Đại Việt, khiến cho sản phẩm gốm sứ thời này tham gia tích cực vào con đường tơ lụa trên biển. Sản phẩm có mặt ở hầu hết các quốc gia, sang tận thế giới Hồi giáo.
Gốm sứ Miền Trung bắt nguồn từ văn hóa Tiền Sa Huỳnh và Sa Huỳnh, có niên đại tương đồng với văn hóa Đông Sơn Miền Bắc. Gốm đất nung Sa Huỳnh có kiểu dáng phong phú với nhiều loại hình đẹp, hoa văn giàu biểu cảm của văn hóa Duyên Hải. Tuy nhiên, diễn trình phát triển gốm Miền Trung dường như không giống gốm Miền Bắc, mà thăng trầm theo đồ thị hình sin, để rồi có một tượng đài Gò Sành, sản phẩm của cư dân Chămpa, vừa phát triển gốm men và đất nung, với sự hòa trộn của kỹ thuật và chất liệu bản địa với gốm sứ vùng Nam Trung Hoa, thế kỷ 15. Sự lóe sáng rồi vụt tắt của trung tâm Gò Sành, tạo nên một sự phát triển nội sinh, theo xu hướng sành không men, mà những trung tâm như Phước Tích (Thừa Thiên Huế) và Thanh Hà (Hội An) là một điển hình. Hóa Thạch, Bầu Trúc hiện còn của dân tộc Chăm, như là một sự trở lại với truyền thống của hàng nghìn năm trước trong chất liệu, kỹ thuật tạo hình, nung ngoài trời, ở nhiệt độ thấp, không men.
Gốm Miền Nam khởi nguồn từ Óc Eo, nhưng dường như không nhìn thấy ở đây một sơ đồ phát triển rõ ràng như Miền Bắc và lúc mờ lúc tỏ như ở Miền Trung. Phải chăng, con đường phát triển gốm sứ Miền Nam không hướng tới thị trường xuất khẩu, theo đó, người bản địa sử dụng chủ yếu các vật dụng bằng tre, gỗ… khá nhiều ở miền nhiệt đới, xen vào là những trung tâm sản xuất gốm không men ít ỏi, hay đó là vùng đất mới, chậm giao thương với thế giới dưới thể chế của những quốc gia phong kiến Đại Việt, Chămpa? Cho tới thế kỷ 19, người Hoa đem kỹ thuật sản xuất gốm vào vùng đất mới, đã tạo nên dòng gốm Cây Mai, Lái Thiêu, để đến hôm nay, hai trung tâm gốm Biên Hòa và Thủ Dầu Một phát triển dựa trên cơ tầng truyền thống với sự kết hợp hai yếu tố nội và ngoại sinh, để trở thành những trung tâm nổi tiếng, có vị trí xứng đáng trong làng gốm Việt Nam và đóng vai trò quan trọng trong kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Bình Dương, Đồng Nai.

2. Điểm qua truyền thống và tính riêng biệt của gốm Việt Nam để thấy được sức mạnh và sức cạnh tranh của gốm sứ ta trên thị trường quốc tế là có cơ sở. Vấn đề là chúng ta phát huy truyền thống ấy như thế nào để phát triển ngành thủ công này một cách có hiệu quả.
Truyền thống của Việt Nam là sản xuất gốm. Đó là gốm không men và có men. Đương nhiên gốm không men, giá trị hàng hóa thương phẩm không cao, chủ yếu dựa vào sản xuất những đồ lưu niệm hoặc gốm kiến trúc phục vụ nhu cầu trong nước. Thế nhưng, khi bước vào kinh tế thị trường, một số trung tâm sản xuất như Hương Canh, Phù Lãng đã tắt lửa, do hàng hóa không đáp ứng nhu cầu thị trường. Đến hôm nay, một vài lò ở đây đã đỏ lửa, nhưng hàng hóa sản xuất chủ yếu vẫn là đồ mỹ nghệ, do thiếu những mẫu mã, thiếu tầm nhìn, thiếu tổ chức để đáp ứng nhu cầu thị trường một cách rộng rãi hơn. Phù Lãng, với nhiều nhân tố mới, được đào tạo, đã làm sống dậy làng gốm nơi đây, bằng kỹ thuật, mẫu mà, sản phẩm…. mang tính truyền thống và cách tân. Tuy nhiên, nếu Phù Lãng vẫn tiếp tục phát triển theo hướng na ná nhau về phong cách, mẫu mã, hoa văn… giữa các lò, chắc chắn sẽ không tạo được một sự phát triển bền vững.
Bát Tràng vốn có truyền thống sử dụng xương gốm là đất sét, ít cao lanh, đã tạo nên một thương hiệu, một trung tâm có tầm ảnh hưởng lớn ở đồng bằng Bắc Bộ và hàng hóa đã một thời vươn xa ra ngoài biên giới quốc gia. Đó cũng là trung tâm sản xuất gốm cho cung đình với những lò quan ở đầu thế kỷ 19, khiến cho Bát Tràng trở thành một thương hiệu Việt Nam đáng trân trọng. Thế nhưng, hiện nay, Bát Tràng đang vươn tới chế tạo đồ sứ hay chí ít là muốn chối bỏ phần nào xương gốm truyền thống, khiến cho sức cạnh tranh giảm, do không tạo nên dược một ngôn ngữ riêng. bài học lịch sử này, đã thấy ở thời Lê Sơ, khi ông cha ta muốn làm đồ sứ trắng, hoa văn in, thấu quang, tưởng như có thể cạnh tranh được với sứ Trung Hoa đương thời, nhưng thử nghiệm ấy chỉ lóe lên ở đầu thế kỷ 15, với một số sản phẩm ít ỏi, mà theo chúng tôi, chủ yếu là gốm phục vụ cung đình và xuất khẩu, rồi vụt tắt, để sau đó, quay về với truyền thống gốm men phát triển đến hôm nay.
Gốm Lái Thiêu, cố học giả Nguyễn Văn Y gọi là đồ sành xốp (Fayence), theo đó, cả một thời kỳ Miền Nam giải phóng, Đồng Nai, Biên Hòa phát triển theo hướng này.Giờ đây, với nhu cầu của thị trường, những lò gốm đã đa dạng mẫu mã, chủng loại hơn với nhiều sản phẩm có chất lượng cao. Tuy nhiên, nếu như gốm Biên Hòa, Thủ Dầu Một không tiếp thu truyền thống, không phát triển và cách tân, đổi mới, chắc chắn sẽ không phát triển được như hôm nay. Đó phải chăng như một báo dẫn cho định hướng phát triển một cách hài hòa, không quá nóng vội để thiêu đốt cả trăm năm di sản để lại của cha ông.
Bảo tồn và phát huy giá trị truyền thống còn thể hiện ở sự bảo tồn và phát huy làng nghề làm gốm. Cảnh Đức Trấn là một làng nghề và làng nghề ở đây đã được bảo tàng hóa, khiến cho thương hiệu cả nghìn năm của nó được tôn vinh. Khu vực bảo tàng hóa của Cảnh Đức Trấn dường như còn giữ nguyên, và khu vực sản xuất công nghiệp, quy mô được chuyển tới một nơi khác xa trung tâm để tránh ô nhiễm. Thế nhưng, hiện nay ở Việt Nam, khu vực làng nghề của các trung tâm sản xuất gốm không được bảo tồn. Bát Tràng đang bị đô thị hóa mà không tìm đâu ra một khu Bát Tràng để du khách hiểu được những vấn đề vô cùng hấp dẫn của làng nghề này. Thủ Dầu Một, Biên Hòa phát triển theo hướng khu công nghiệp mà lẽ ra, trong quy hoạch, phải có một bảo tàng, một khu lò gốm cổ, một nơi sản xuất mang tính lưu niệm… mà ở Cảnh Đức Trấn, chúng tôi đã thấy vô cùng hiệu quả. Những chủ nhân của Cảnh Đức Trấn bảo rằng, đó là việc làm đầu tiên khi Trung Quốc mở cửa và hội nhập. Trong khi ấy, Chu Đậu, không hướng tới điều này đầu tiên, mà sừng sững một nhà máy sản xuất gốm giả cổ, phải chăng là một hướng đi thiếu tính bền vững và ít lưu tâm tới giá trị truyền thống.
Những làng gốm nhỏ như Phù Lãng, Hương Canh, Thổ Hà đang phát triển tự phát, thiếu quy hoạch, thiếu định hướng, ít lưu ý tới giá trị truyền thống, được coi là một trong những tài sản vô cùng lớn lao của các làng gốm ấy, đã không được đặt ra như một bí quyết của sự phát triển, chắc chắn sẽ giống như Bát Tràng hôm nay.

3. Giá trị truyền thống của các làng nghề, của các ngành nghề thủ công nói chung và các làng và nghề gốm Việt Nam nói riêng, còn vô cùng nhiều, chứa đựng ở di sản văn hóa vật thể và phi vật thể, nhưng dường như tất cả chưa được đầu tư nghiên cứu một cách có hệ thống, theo đó nhận diện những giá trị gì cần được đổi mới, cách tân phù hợp với xu thế mở cửa và hội nhập, giá trị gì đã lỗi thời, cần được đào thải. Đó là trách nhiệm của những người làm công tác bảo tồn, bảo tàng, các nhà nghiên cứu, qua những nguồn kinh phí đầu tư của nhà nước trung ương và địa phương, của các tổ chức quốc tế… Tuy nhiên, chủ thể, mà trong đó, chủ yếu là cộng đồng làng nghề, cần phải nhận nhìn vấn đề này một cách chủ động hơn, theo tư duy xã hội hóa, chắc chắn hiệu quả sẽ cao hơn và có tính tích cực hơn, nhằm phát huy thương hiệu của làng nghề thủ công, mà những sản phẩm của những làng nghề ấy ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong nền kinh tế đất nước.
Gốm Việt Nam là một trong những ngành nghề có thế mạnh, có ưu thế phát triển trong hiện tại, cũng như trong lai. Vấn đề là, tất cả chúng ta, hãy chung tay góp sức để nghề gốm Việt Nam phát triển theo hướng bền vững.

__________________ khanhhoathuynga.wordpress.com
mobile 0908758773
khanhhoastocks@yahoo.com

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN

Read Full Post »

Bình cổ được phát hiện sau khi dọn nhà bán được với giá 69,3 triệu USD

Bản tin Việt Ngữ  của Dân Trí:

Một chiếc bình cổ được một gia đình ở London phát hiện sau khi dọn nhà đã được bán với giá 43 triệu bảng Anh (69,3 triệu USD) – một kỷ lục với mọi tác phẩm nghệ thuật Trung Quốc.

506205168_1211_TRUNG
Chiếc bình cổ hàng chục triệu USD.

Hai chị em sở hữu chiếc bình sứ có từ thời Càn Long thế kỷ thứ 18 này ban đầu hy vọng bán được nó với giá 1,2 triệu bảng.

Khi con số cuối cùng được chốt lại trong phiên đấu giá ở Ruislip, phía tây bắc London, “người chị đã phải bước ra khỏi phòng và cố tránh cảm giác ngộp thở”, một nhân viên tại đây kể lại.

Chiếc bình được trang trí màu vàng và màu xanh da trời, với mẫu trang trí hình con cá ở phía trước.

Người mua chiếc bình – được cho là đến từ Trung Quốc – đã trả tới 43 triệu bảng – tương đương 69,3 triệu USD, cùng một khoản tiền đóng bảo hiểm 8,6 triệu bảng (gần 14 triệu USD) cho người bán đấu giá.

Gia đình người sở hữu chiếc bình “vẫn không biết họ đã có gì trong tay”, vẫn theo lời nhân viên tại trung tâm đấu giá. “Họ rất hy vọng, nhưng họ không dám tin cho đến khi chiếc búa gõ xuống”.

Chiếc bình cổ được cho là đã rời Trung Quốc vào khoảng năm 1860 và thuộc về một gia đình ở London trong khoảng 70 năm.

Một người Trung Quốc đã trả cái giá gây sốc cho chiếc bình gốm cổ tưởng chừng vô giá trị. Người chủ cũ khóc òa vì vui sướng do trước đó, họ chỉ dám mơ đến một triệu USD là cùng.

Tối thứ năm vừa rồi, những người quan tâm đến cổ vật quý đã đến chật kín một ngôi nhà hai tầng gần ga tàu điện ngầm West Ruislip, London để tham dự cuộc đấu giá chiếc bình cổ xuất xứ từ Trung Quốc.

Bình gốm Trung hoa có giá 69 triệu USD
Người đàn ông Trung Quốc mặc quần bò xanh hàng đầu đã trả tới 69 triệu USD cho chiếc bình gốm. Ảnh: The Sun

Đó là một chiếc bình trang nhã với họa tiết con cá ở phía trước và những đường vân mạ vàng vòng quanh. Đáy bình có in hình dấu triện của Hoàng đế Trung hoa.

Cận cảnh chiếc bình cổ giá 69 triệu USD

Người đàn ông sở hữu chiếc bình này đã thừa kế nó từ bác mình là một nhà thám hiểm thường đi về vùng Viễn Đông. Khi ông qua đời hồi đầu năm, bình được chuyển giao cho em gái, người phụ nữ già 70 tuổi. Gia đình bà lâu nay chỉ xem nó là một chiếc bình đẹp nhưng vô giá trị, cất giữ trên nóc tủ sách như vật trang trí.

Do đó, người phụ nữ 70 tuổi đã rất sốc khi mang đến cho nhà đấu giá, họ dự đoán sẽ bán được với giá khoảng trên dưới một triệu USD.

Bình gốm Trung hoa có giá 69 triệu USD
Chiếc bình gốm Trung hoa có giá 69 triệu USD. Ảnh: The Sun

Tuy nhiên, điều cả nhà đấu giá lẫn bà cụ không ngờ là sau phiên đấu giá 30 phút căng thẳng, nhát búa cuối cùng ấn định con số mà họ chưa từng dám nghĩ tới, 69 triệu USD. Đây là giá cao nhất từ trước đến nay cho một tác phẩm nghệ thuật đến từ châu Á.

Chủ tịch của nhà đấu giá kể lại với tờ The Sun của Anh: “Người phụ nữ òa khóc nức nở khi phiên đấu giá kết thúc, đến nỗi chúng tôi phải mang bà ra ngoài phòng để hít thở không khí. Bà ấy khóc và nói rằng ước gí điều này xảy ra 30 năm trước đây”. Mặc dù họ sẽ phải nộp khoảng 19 triệu USD tiền phí và các loại thuế, nhưng đây vẫn là khoản tiền khổng lồ đối với gia đình trung lưu này.

Ngay cả người chủ trì phiên đấu giá, ông Peter Bainbridge đã phấn khích đến nỗi làm vỡ cả búa khi gõ ấn định giá 69 triệu USD.

Bình gốm Trung hoa có giá 69 triệu USD
Chiếc búa bị gãy khi người chủ trì phiên đấu giá quá phấn khích với cái giá đắt chưa từng có. Ảnh: AP

Theo nhà đấu giá, chiếc bình này có từ những năm 1740, thuộc triều đại vua Càn Long. Trả cái giá cuối cùng là một người Trung Quốc, tuy nhiên nhà đấu giá tin rằng người này chỉ là đại diện mua hộ cho ai đó.

Thanh Bình

Theo Dân Trí

Bản tin tiếng Anh:

written by Siarhei Karotki on November 12th, 2010

An 18th century Chinese vase discovered when a house was cleared out was sold on Thursday at a London auction for the world record-breaking $69.3 million dollars.

Chinese Vase sells for record breaking 69 millions 2

The 18th-century Chinese porcelain vase – discovered when a house was cleared out – was sold on Thursday at a London auction for the world record-breaking $69.3 million (£43 million pounds).

Bainbridges, the auction house, said that the final price for the 16-inch vase — an imperially commissioned piece decorated with a fish motif — far exceeded the pre-auction estimated price, which was about 1.2 million pounds.

Both the auctioneers and the owners were stunned when Qianlong dynasty porcelain vase went for the highest price of any Chinese artwork sold at auction.

The elaborately decorated piece was put up for sale by a brother and sister who found it while clearing out their parents’ home in Pinner, north-west London after they recently died.

Bainbridge’s had estimated the 40cm high piece, which is decorated with a fish motif, would fetch between £800,000 and £1.2m ($1.9 million dollars.)

Helen Porter of the auction house said: “[The owners] had no idea what they had. They were hopeful but they didn’t dare believe until the hammer went down. When it did, the sister had to go out of the room and have a breath of fresh air.”

“We took it up for a day’s viewing in London and rented a room in the Arts Club on Dover Street where it attracted a lot of interest,” Helen said.

She continued: “The sale room was full of Chinese bidders. The bidding started at £500,000 and it reached the hammer price in half an hour. We were all absolutely shocked and thrilled. It’s the sort of sale you wait a whole career for.”

It was eventually sold to a Chinese bidder, said to be a Beijing-based agent, who sat on a gilded sofa at the front of the room but refused to comment after the sale.

Taxes and commissions boosted the buyer’s total bill to $83 million (£51.6 million pounds). The auctioneer said the piece was one of the most important Chinese vases to go on sale this century. It is understood it was sold to a private buyer from China.

It was described as ‘a piece of exquisite beauty and a supreme example of the skill of the ceramicist and decorator.’ The piece has a yellow painted trumpet neck and a double-walled construction, meaning an inner vase can be seen through the perforations of the main body.

The auctioneer’s website said the vase ‘would have resided, no doubt, in the Chinese royal palace and was most certainly fired in the imperial kilns. It is a masterpiece.’

Peter Bainbridge, director of the auction house, said: “I’m thrilled that a provincial auction room can show what it can do.  He said: “I’m also delighted to have handled such an astonishing work of art. I didn’t quite realise how exciting it was.”

The Bainbridges auction house — a small, independent company in the London suburb of Ruislip that runs auctions and valuations for people clearing their homes — said that the vase is of exceptional quality and that it knew the estimated price was “a bit conservative.”

The next item in the same lot, a piece of furniture, sold for only £2,000. Bainbridge’s previous highest sale was £100,000 for a Ming enamel piece two years ago. [via The Telegraph (UK) and Yahoo! News]

 

* MỤC LỤC – TIN TỨC THỜI SỰ NGÀNH GỐM 

Read Full Post »

Older Posts »