Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Mười 31st, 2010

Bất ngờ gốm cổ Gò Sành Quảng Ngãi

TTCT – Ngày 20-9-2010, khi đào đất xây hầm biogas tại vườn nhà, ông Đặng Ngọc Anh (ở khu Gò Sành, thôn Phú Bình, xã Tịnh Châu, Sơn Tịnh, Quảng Ngãi) đã phát hiện một hầm gốm phế phẩm của một lò gốm cổ.

Ông Đặng Ngọc Anh lau chùi những hiện vật gốm được ông phát hiện – Ảnh: Huỳnh Văn Mỹ
Nồi cực nhỏ và cối – chày giã muối nói lên sự tinh xảo của người thợ gốm xưa

Như một sự trùng hợp khá lý thú, năm 1974, bom Mỹ rải xuống khu đất cũng có tên Gò Sành ở thôn Phụ Quang, xã Nhơn Hòa, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định cũng tình cờ làm phát lộ một lò gốm cổ với khá nhiều hiện vật gốm có giá trị. Nhưng gốm Gò Sành Bình Định là một dòng gốm Chăm cổ có niên đại từ khoảng cuối thế kỷ 13 đến thế kỷ 15-16, còn gốm Gò Sành Quảng Ngãi được xem là sản phẩm hỗn dung của hai cư dân Việt – Chăm ở khoảng thế kỷ 15-16, là chứng liệu cho những kiến giải lịch sử hấp dẫn.

Đã hơn một tuần kể từ ngày tìm thấy những hiện vật gốm cổ xưa, ông Đặng Ngọc Anh vẫn còn lộ vẻ xúc động. Dù rất bận bịu với công việc, ông Anh cùng vợ – bà Tạ Thị Tường Vi – vẫn tranh thủ giờ nghỉ để chùi rửa, kỳ cọ hàng trăm mảnh vỡ từ những hiện vật gốm được ông lấy lên từ hầm đào.

“Vợ chồng tui biết đây là những thứ cần cho các nhà nghiên cứu nên khi vừa đào gặp chúng là tui liền báo với xã. Nói thiệt, lấy chúng lên tốn công lắm. Vậy nhưng cả nhà tui ai cũng vui khi huyện, tỉnh đến, khen đây là những của quý cần đưa vào bảo tàng để mấy nhà nghiên cứu tìm hiểu thêm về lịch sử miền đất này…” – ông Anh nói.

Một dòng gốm đặc thù

“Khu đất này được gọi tên là Gò Sành từ lâu đời bởi ở đây có rất nhiều mảnh sành. Mà sành là loại gốm được nung ở nhiệt độ rất cao nên đồ sành chắc, cứng, màu sẫm đen hơn đồ gốm rất nhiều…” – ông Võ Thân, 68 tuổi, ở kề nhà ông Anh trên khu đất Gò Sành, giải thích. Ông Thân cũng cất giữ một số mảnh sành cùng vài chiếc lọ bể mà ông thu được ở độ sâu 1,5m khi đào giếng hồi năm 1986.

Từ lời người xưa lưu lại, cư dân Phú Bình cho rằng những mảnh sành này là từ những sản phẩm gốm được lớp cư dân đến trước – người Chăm – làm nên.

Gò Sành rộng hơn 1ha, nằm sát bên là Gò Gốm, cả hai đều là khu dân cư, cách Châu Sa – khu thành cổ Champa đã được xếp di tích quốc gia – chừng 500m về hướng đông nam. Từng chứng kiến cuộc khai quật khảo cổ học ở Gò Gốm hồi năm 2008, với chỉ một vỏ lò gốm được phát hiện nhưng không có hiện vật gốm nào cả, ông Anh và những người xung quanh càng muốn biết về lai lịch gốm Gò Sành.

Với cách đào thận trọng, trong hai ngày rưỡi, ông Anh cùng những người giúp việc đã đưa lên hơn 20 hiện vật còn khá nguyên vẹn cùng hàng trăm mảnh vỡ lớn nhỏ từ các hiện vật gốm.

Niêu nhỏ, bình vôi, cối giã muối – chày, nhiều nhất là các loại lọ, hũ với nhiều kích cỡ. Những chiếc niêu nhỏ miệng chỉ rộng chừng 8cm, cao khoảng 6cm, dày chỉ 2mm vẫn rắn chắc, gõ nghe keng vang như kim loại. Những chiếc lọ, hũ có xương gốm dày đến 4cm được nung chín đều khắp, những sắc màu đa dạng của các hiện vật đã nói lên tay nghề tinh xảo của người thợ gốm Gò Sành xưa.

Tiến sĩ Đoàn Ngọc Khôi, giám đốc Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Quảng Ngãi, nhận xét: “Đến nay có thể nói chưa có cuộc khai quật khảo cổ học nào được thực hiện ở Nam Trung bộ – từ Đà Nẵng đến Bình Thuận – thu được những loại hiện vật gốm như ở hố đào dân dụng của ông Đặng Ngọc Anh. Đây đúng là một dòng gốm mới được phát hiện lần đầu”.

Hố đào xây hầm biogas của nhà ông Anh – nơi phát hiện những hiện vật gốm cổ quý giá – Ảnh: Huỳnh Văn Mỹ

Thông điệp từ quá khứ

Tiến sĩ Khôi cho rằng bước đầu có thể nói những hiện vật gốm này có niên đại muộn nhất là ở thế kỷ 16 và là những phế phẩm – những sản phẩm gốm không đạt chuẩn – của một lò gốm cổ, và điều chắc chắn là lò gốm cổ chưa được phát hiện nằm không xa hố phế phẩm này.

* Với niên đại vừa nêu, theo ông, ai là chủ nhân tạo tác những sản phẩm gốm này?

– Từ các loại hình sản phẩm gốm thu được có thể nhận ra kỹ thuật chế tác cũng như công dụng của chúng. Ở đây phần nhiều sản phẩm gốm được làm bằng tay như các loại bình vôi, nồi nhỏ có nắp đậy, các lọ (vò) nhỏ; còn các sản phẩm như hũ lớn – mà phần lớn bị vỡ – được làm bằng bàn xoay.

Các loại vò nhỏ, thân cao (đều được làm bằng tay) thường được dùng ở các nghi lễ, các khu mộ (như đựng tro cốt). Các loại bình, hũ nhỏ, nồi nhỏ có trang trí hoa văn hình ngọn lửa, hình đầu gà, tất thảy đều mang đậm yếu tố bản địa Chăm. Những sản phẩm gốm khác như nồi lớn, hũ lớn đáy bằng được làm bằng bàn xoay cho thấy yếu tố du nhập kỹ thuật gốm Việt.

Đây là một phát hiện mới, sinh động, cho thấy có yếu tố tiếp xúc giữa hai cộng đồng cư dân Việt – Chăm, một sự hòa hợp của hai cộng đồng cư dân, phản ánh giai đoạn cư dân Đại Việt mở rộng vào phương Nam từ nửa sau thế kỷ 15, mà ở vùng đất này là việc thiết lập nên Tam ty ở thành Châu Sa. Bởi vậy, thật lý thú có thể nói những sản phẩm gốm này do cư dân Chăm hay cư dân Việt làm đều được.

* Ông có thể nói đâu là điểm nhấn từ các hiện vật gốm được phát hiện tình cờ này?

– Gốm là vật dụng thiết thân trong đời sống con người, là tư liệu thông tin về một giai đoạn lịch sử, qua tư liệu gốm ta nhận thức được những vấn đề về đời sống, văn hóa, lịch sử của các cộng đồng cư dân địa phương, phác dựng được bức tranh lịch sử trong một giai đoạn lịch sử nhất định. Điểm nhấn từ phát hiện này là giúp giải mã về sự tiếp biến, dung hợp giữa hai cộng đồng cư dân cùng sống, cùng tồn tại trên một dải đất phản ánh đúng như trong lịch sử hai cộng đồng dân tộc Việt – Chăm.

Lịch sử không phải là không gian phẳng mà là không gian cắt lớp, ở đó có những lớp văn hóa kế tục, đan xen, tiếp biến và phát triển. Những sản phẩm gốm cổ mang hai dấu ấn Chăm – Việt vừa mới được phát hiện này đã khẳng định sự cộng cư, cộng sinh cùng phát triển trong một giai đoạn lịch sử của hai cộng đồng Việt – Chăm trong hành trình mở đất phương Nam của cư dân Việt hồi thế kỷ 15-16.

Có thể đó là những sản phẩm gốm do cư dân Chăm làm ra để trao đổi với cư dân Việt trong vùng hay ngược lại. Chính những hiện vật gốm được tìm thấy lần này là minh chứng sống động cho vấn đề.

* Với phát hiện tình cờ chứa nhiều thông tin như thế, đâu là việc phải làm sắp tới của ngành chức năng, mà chủ yếu là các cuộc khai quật khảo cổ học trong khu vực, thưa ông?

– Đúng là không thể chậm thêm nữa. Sắp tới, Bảo tàng Tổng hợp Quảng Ngãi sẽ lên kế hoạch tổ chức các cuộc khai quật trong khu vực Gò Sành để làm sáng tỏ thêm về lò gốm cổ được cho là có thể nằm ở khu vực này.

Với màu da trông như mảng tường được ốp đá rửa loại mịn, đây là chiếc bình đẹp nhất được ông Anh thu được từ hố đào – Ảnh: Huỳnh Văn Mỹ

“Những hiện vật gốm cổ vừa được gia đình ông Đặng Ngọc Anh tìm thấy có nhiều ý nghĩa, chứng minh rằng văn hóa không có sự đứt quãng, mà là sự tiếp thu, phát triển liền lạc, các yếu tố bản địa và du nhập luôn hòa hợp cùng nhau”.

Tiến sĩ ĐOÀN NGỌC KHÔI

* MỤC LỤC – TIN TỨC THỜI SỰ NGÀNH GỐM 

MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN

Advertisements

Read Full Post »

Bình vôi và câu truyện tập tục Việt

ĐẦU NĂM MUA MUỐI, CUỐI NĂM MUA VÔI

Câu tục ngữ này gắn với hai tập tục: Phiên chợ đầu năm người ta đi chợ thể nào cũng mua một ít muối về nhà và phiên chợ cuối năm, người ta mua vôi về để cho ông bình vôi ăn no nê, đầy đặn.
Sâu xa hơn ở vế thứ nhất,  tập tục mong muốn vào đầu năm, mua muối là đưa về nhà sự mặn mà quanh năm trong các quan hệ ứng xử, quan hệ làm ăn. Dẫu muối còn nhiều, nhưng vẫn nhắc nhau mua một bát. Điều đặc biệt ở đây là: với những vùng có thói quen đong các thứ bằng bát sát miệng (bằng miệng) như gạo, thóc, đậu, kê, vừng thì muối bao giờ cũng đong có ngọn, chứ không gạt miệng sợ về sẽ mất lộc, mất mặn mà.
Vế thứ hai, tại sao cuối năm lại mua vôi hay tôi vôi?
Xưa các cụ làm nhà vật liệu phải tích cóp hàng năm trời hoặc mấy năm trời trong đó có cả vôi làm vữa xây.Và việc tôi vôi chỉ dám thực hiện vào cuối năm. Đầu năm phải kiêng vì tôi vôi rã ra hết thì không may mắn. Hơn nữa “Bạc như vôi” là câu nói cửa miệng của các cụ ngày xưa .
Ở nông thôn, nhà nào cũng rắc vôi bột ở 4 góc vườn rồi vẽ hướng ra phía cổng để xua đuổi ma quỷ. Vì thế, dân gian có câu: “Đầu năm mua muối, cuối năm mua vôi”. Tuy nhiên cũng có ý cho rằng, cuối năm mua vôi để tô điểm thêm cho ngôi nhà thêm mới, thêm đẹp để đón xuân.
Tập tục người Việt: vào dịp đầu năm cái gì cũng phải đầy đặn, sung mãn để có lộc cả năm. Ông bình vôi là vật thiêng, nhưng khổ nỗi: vôi được quan niệm là bạc. Nên, dân gian vẫn có câu: “bạc như vôi” nên cuối năm người ta mua vôi để tránh sự bạc bẽo. Nên “đầu năm mua muối, cuối năm mua vôi” là vậy.
Ngày xưa, dân ta thường ăn trầu và có rất nhiều người nghiện trầu. Miếng trầu là đầu câu chuyện, cũng là mở đầu cho những cuộc tình duyên, kết bạn, làm quen, gắn bó… Miếng cau nhai với lá trầu cần phải có một chút vôi trắng muốt quệt vào mới đủ, mới đậm đà, ngon miệng và say. Và cũng phải có chút vôi trắng ấy mới có được cái màu đỏ làm hồng môi nhau. Cái màu đỏ này tượng trưng cho lòng chung thuỷ, lòng tin yêu nhau của đôi trai gái. Vì thế mà vôi cũng là yếu tố vô cùng quan trọng của miếng trầu. Giá trị của “vôi” ngày được khẳng định với những ý nghĩa khác nhau cùng sự trường tồn của thời gian.
Gắn với tục ăn trầu và những kiêng kị quanh vôi và bình vôi của người Việt. Xưa, có tục kiêng: người đàn ông dưới 40 tuổi không tôi vôi vì… sợ sớm bạc đầu.
Ông bình vôi là công cụ để vôi ăn trầu bằng sành sứ, hiện nay chưa thấy hiện vật này ở thời kỳ Đông Sơn. Chiếc bình vôi xưa nhất chưa xác định được, nếu có chỉ ở thời kỳ Bắc thuộc. Ba tiếng “Ông – Bình – Vôi” là từ Hán Việt hóa (có gốc từ tiếng Hán đã được Việt hóa đến mức thuần Việt).
Hiện nay, trong các lò gốm ở những nơi làm sành sứ mới đúc được ông bình vôi, còn những nơi làm nồi không đúc được. Và, không phải ai cũng đúc được. Người ta cũng chỉ đúc ông bình vôi vào những tháng nhuận của năm nhuận, nhưng người thợ cả phải sạch sẽ, không tang chế thì mới nặn thành công ông bình vôi.
Khi mua ông bình vôi, người ta mang theo một vuông vải đỏ hoặc nâu, mua xong gói ghém cẩn thận, bỏ vào thúng mủng đội lên đầu chứ không được cắp nách hoặc bỏ tay nải để xách. Lên xuống đò phải để chỗ cao ráo. Khi đưa về nhà thường đặt chỗ kín đáo, gần đầu giường, gần cửa buồng vì trong dân gian có câu chuyện kể: Kẻ trộm vào nhà thường hay nút miệng ông bình vôi lại hoặc quay miệng vào vách thì cả nhà sẽ ngủ yên, không ai nói mơ, nếu có biết trộm thì cũng ngọng nghịu, khhông la làng được.
Khi cho ông bình vôi ăn phải e dè, thận trọng. Khi dùng dao vôi để lấy vôi, nhất thiết không được ngoáy chìa vôi vào lòng ông vì nếu thế sẽ bị bệnh cồn cào ruột gan mà dùng chìa đưa thẳng rồi rút ra, Nên vì thế, miệng ông cứ mỗi ngày một đầy, thành vành khuyên, hôm trở trời tự lóc ra, người ta dùng dao khứa chân rồi đem xâu vào dây treo trước cửa mạch (cửa phụ nữ và ma quỷ hay ra vào) để trừ tà.
Một khi ông bình vôi đã đặc ruột, người ta rước ông cùng xâu miệng lên chùa để dưới chân cây hương, dưới gốc mít, gốc đa. Lâu ngày lăn lóc, sương đọng vào bụng ông, gặp con sài đẹn, hay bị sơn ăn thì người ta lấy nước đó mà uống, mà bôi. Ai bị sâu răng thì mua ngọc trai tán nhỏ hòa vào nước này uống sẽ khỏi.
Ông bình vôi là một vật thiêng, ông luôn cần no đủ. Nhưng ông lại ăn ít vì ruột càng ngày càng đặc lại. Xưa có những nhà chuyên bán vôi ăn trầu, họ trải lá chuối vào rổ, bỏ vôi vào, hai đầu hai rổ đem bán. Khi bán, dùng chiếc que to hơn cái đũa cả để lấy vôi phết vào lá cho khách hàng mang về. Bán thì ít, cho thì nhiều, nhưng vẫn vui vẻ.
Gọi là cuối năm nhưng không ấn định ngày nào để mua vôi. Tùy thuộc vào phiên chợ nào cho thuận tiện trong khoảng mươi ngày cuối tháng Chạp theo chợ phiên (chợ phiên thường có nhiều loại: tháng 3 phiên, tháng 5 phiên, tháng 6 phiên, tháng 9 phiên hay tháng 12 phiên). Không mua chợ này thì mua chợ khác.
Tập tục người Việt: vào dịp đầu năm cái gì cũng phải đầy đặn, sung mãn để có lộc cả năm. Ông bình vôi là vật thiêng, nhưng khổ nỗi: vôi được quan niệm là bạc. Nên, dân gian vẫn có câu: “bạc như vôi” nên cuối năm người ta mua vôi để tránh sự bạc bẽo. Nên “đầu năm mua muối, cuối năm mua vôi” là vậy.
Cuộc Sống Việt _ Theo Vitinfo.com.vn
VÀI BÌNH VÔI GỐM QUẢNG ĐỨC SƯU TẬP

Louise Allison Cort giám định viên của VBT smithsonian, Washington, D.C trong bài viết báo cáo ngày 3 tháng 06 , 2007 ghi chép như sau:

Di chỉ lò gốm vùng Quảng Đức, thuộc huyện lỵ Tuy An cách Tuy Hòa về phía bắc 30 km. Trong cuộc khảo sát khu vực các lò gốm chúng tôi được nghe một người thợ gốm già (83 tuổi) thuật lại rằng thợ gốm Chăm đã làm gốm tại đây từ 500 năm trước; có ba thế hệ thợ gốm từ Chaozhou, Quảng Đông đến đây khoảng thế kỷ 17, 18 và thợ gốm người Việt Nam từ Bình Dịnh đến đây lập nghiệp từ tk 18. Hiện nay vẫn còn hai xưởng gốm hoạt động. Theo nhân viên VBT Phú Yên đi theo đoàn nói, thuyền duyên hải sẽ vận chuyển gốm thành phẩm về phương Nam đến Nha Trang và theo phương Bắc đến Bình Định. Người thợ gốm già cũng nói đến những bình cắm hoa thì theo thuyền đến Huế.

nguyên văn:

The Quang Duc kiln site in Tuy An district, 30 kilometers north of Tuy Hoa. During a visit to the kiln on 3 June, we were told by an elderly potter (age 83), that Cham potters had worked there 500 years ago; Chinese potters from Chaozhou, Guangdong province, were here in the 17th–18th century, for three generations only; ethnic Vietnamese (Kinh) potters came three hundred years ago, in the 18th century, from Binh Dinh. Two workshops still operate. According to museum staff, the products used to be shipped by coastal boat south to Nha Trang and north to Binh Dinh province. The elderly potter also spoke of making flower pots to send by boat to Hue.

Theo tôi, bình vôi Quảng Đức có cái mang nhiều phong cách trang trí Trung Hoa là do ảnh hưởng của ba thế hệ thợ gốm từ Chaozhou, Quảng Đông đến đây khoảng thế kỷ 17, 18…

Tại VBT smithsonian có một số bình vôi gốm Quảng Đức được ghi niên đại thế kỷ 18 – giữa tk 20 là khoảng thời gian thợ gốm VN sản xuất tại Quảng Đức chứ không định rỏ chính xác niên đại.

Read Full Post »