Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Mười, 2010

Bất ngờ gốm cổ Gò Sành Quảng Ngãi

TTCT – Ngày 20-9-2010, khi đào đất xây hầm biogas tại vườn nhà, ông Đặng Ngọc Anh (ở khu Gò Sành, thôn Phú Bình, xã Tịnh Châu, Sơn Tịnh, Quảng Ngãi) đã phát hiện một hầm gốm phế phẩm của một lò gốm cổ.

Ông Đặng Ngọc Anh lau chùi những hiện vật gốm được ông phát hiện – Ảnh: Huỳnh Văn Mỹ
Nồi cực nhỏ và cối – chày giã muối nói lên sự tinh xảo của người thợ gốm xưa

Như một sự trùng hợp khá lý thú, năm 1974, bom Mỹ rải xuống khu đất cũng có tên Gò Sành ở thôn Phụ Quang, xã Nhơn Hòa, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định cũng tình cờ làm phát lộ một lò gốm cổ với khá nhiều hiện vật gốm có giá trị. Nhưng gốm Gò Sành Bình Định là một dòng gốm Chăm cổ có niên đại từ khoảng cuối thế kỷ 13 đến thế kỷ 15-16, còn gốm Gò Sành Quảng Ngãi được xem là sản phẩm hỗn dung của hai cư dân Việt – Chăm ở khoảng thế kỷ 15-16, là chứng liệu cho những kiến giải lịch sử hấp dẫn.

Đã hơn một tuần kể từ ngày tìm thấy những hiện vật gốm cổ xưa, ông Đặng Ngọc Anh vẫn còn lộ vẻ xúc động. Dù rất bận bịu với công việc, ông Anh cùng vợ – bà Tạ Thị Tường Vi – vẫn tranh thủ giờ nghỉ để chùi rửa, kỳ cọ hàng trăm mảnh vỡ từ những hiện vật gốm được ông lấy lên từ hầm đào.

“Vợ chồng tui biết đây là những thứ cần cho các nhà nghiên cứu nên khi vừa đào gặp chúng là tui liền báo với xã. Nói thiệt, lấy chúng lên tốn công lắm. Vậy nhưng cả nhà tui ai cũng vui khi huyện, tỉnh đến, khen đây là những của quý cần đưa vào bảo tàng để mấy nhà nghiên cứu tìm hiểu thêm về lịch sử miền đất này…” – ông Anh nói.

Một dòng gốm đặc thù

“Khu đất này được gọi tên là Gò Sành từ lâu đời bởi ở đây có rất nhiều mảnh sành. Mà sành là loại gốm được nung ở nhiệt độ rất cao nên đồ sành chắc, cứng, màu sẫm đen hơn đồ gốm rất nhiều…” – ông Võ Thân, 68 tuổi, ở kề nhà ông Anh trên khu đất Gò Sành, giải thích. Ông Thân cũng cất giữ một số mảnh sành cùng vài chiếc lọ bể mà ông thu được ở độ sâu 1,5m khi đào giếng hồi năm 1986.

Từ lời người xưa lưu lại, cư dân Phú Bình cho rằng những mảnh sành này là từ những sản phẩm gốm được lớp cư dân đến trước – người Chăm – làm nên.

Gò Sành rộng hơn 1ha, nằm sát bên là Gò Gốm, cả hai đều là khu dân cư, cách Châu Sa – khu thành cổ Champa đã được xếp di tích quốc gia – chừng 500m về hướng đông nam. Từng chứng kiến cuộc khai quật khảo cổ học ở Gò Gốm hồi năm 2008, với chỉ một vỏ lò gốm được phát hiện nhưng không có hiện vật gốm nào cả, ông Anh và những người xung quanh càng muốn biết về lai lịch gốm Gò Sành.

Với cách đào thận trọng, trong hai ngày rưỡi, ông Anh cùng những người giúp việc đã đưa lên hơn 20 hiện vật còn khá nguyên vẹn cùng hàng trăm mảnh vỡ lớn nhỏ từ các hiện vật gốm.

Niêu nhỏ, bình vôi, cối giã muối – chày, nhiều nhất là các loại lọ, hũ với nhiều kích cỡ. Những chiếc niêu nhỏ miệng chỉ rộng chừng 8cm, cao khoảng 6cm, dày chỉ 2mm vẫn rắn chắc, gõ nghe keng vang như kim loại. Những chiếc lọ, hũ có xương gốm dày đến 4cm được nung chín đều khắp, những sắc màu đa dạng của các hiện vật đã nói lên tay nghề tinh xảo của người thợ gốm Gò Sành xưa.

Tiến sĩ Đoàn Ngọc Khôi, giám đốc Bảo tàng Tổng hợp tỉnh Quảng Ngãi, nhận xét: “Đến nay có thể nói chưa có cuộc khai quật khảo cổ học nào được thực hiện ở Nam Trung bộ – từ Đà Nẵng đến Bình Thuận – thu được những loại hiện vật gốm như ở hố đào dân dụng của ông Đặng Ngọc Anh. Đây đúng là một dòng gốm mới được phát hiện lần đầu”.

Hố đào xây hầm biogas của nhà ông Anh – nơi phát hiện những hiện vật gốm cổ quý giá – Ảnh: Huỳnh Văn Mỹ

Thông điệp từ quá khứ

Tiến sĩ Khôi cho rằng bước đầu có thể nói những hiện vật gốm này có niên đại muộn nhất là ở thế kỷ 16 và là những phế phẩm – những sản phẩm gốm không đạt chuẩn – của một lò gốm cổ, và điều chắc chắn là lò gốm cổ chưa được phát hiện nằm không xa hố phế phẩm này.

* Với niên đại vừa nêu, theo ông, ai là chủ nhân tạo tác những sản phẩm gốm này?

– Từ các loại hình sản phẩm gốm thu được có thể nhận ra kỹ thuật chế tác cũng như công dụng của chúng. Ở đây phần nhiều sản phẩm gốm được làm bằng tay như các loại bình vôi, nồi nhỏ có nắp đậy, các lọ (vò) nhỏ; còn các sản phẩm như hũ lớn – mà phần lớn bị vỡ – được làm bằng bàn xoay.

Các loại vò nhỏ, thân cao (đều được làm bằng tay) thường được dùng ở các nghi lễ, các khu mộ (như đựng tro cốt). Các loại bình, hũ nhỏ, nồi nhỏ có trang trí hoa văn hình ngọn lửa, hình đầu gà, tất thảy đều mang đậm yếu tố bản địa Chăm. Những sản phẩm gốm khác như nồi lớn, hũ lớn đáy bằng được làm bằng bàn xoay cho thấy yếu tố du nhập kỹ thuật gốm Việt.

Đây là một phát hiện mới, sinh động, cho thấy có yếu tố tiếp xúc giữa hai cộng đồng cư dân Việt – Chăm, một sự hòa hợp của hai cộng đồng cư dân, phản ánh giai đoạn cư dân Đại Việt mở rộng vào phương Nam từ nửa sau thế kỷ 15, mà ở vùng đất này là việc thiết lập nên Tam ty ở thành Châu Sa. Bởi vậy, thật lý thú có thể nói những sản phẩm gốm này do cư dân Chăm hay cư dân Việt làm đều được.

* Ông có thể nói đâu là điểm nhấn từ các hiện vật gốm được phát hiện tình cờ này?

– Gốm là vật dụng thiết thân trong đời sống con người, là tư liệu thông tin về một giai đoạn lịch sử, qua tư liệu gốm ta nhận thức được những vấn đề về đời sống, văn hóa, lịch sử của các cộng đồng cư dân địa phương, phác dựng được bức tranh lịch sử trong một giai đoạn lịch sử nhất định. Điểm nhấn từ phát hiện này là giúp giải mã về sự tiếp biến, dung hợp giữa hai cộng đồng cư dân cùng sống, cùng tồn tại trên một dải đất phản ánh đúng như trong lịch sử hai cộng đồng dân tộc Việt – Chăm.

Lịch sử không phải là không gian phẳng mà là không gian cắt lớp, ở đó có những lớp văn hóa kế tục, đan xen, tiếp biến và phát triển. Những sản phẩm gốm cổ mang hai dấu ấn Chăm – Việt vừa mới được phát hiện này đã khẳng định sự cộng cư, cộng sinh cùng phát triển trong một giai đoạn lịch sử của hai cộng đồng Việt – Chăm trong hành trình mở đất phương Nam của cư dân Việt hồi thế kỷ 15-16.

Có thể đó là những sản phẩm gốm do cư dân Chăm làm ra để trao đổi với cư dân Việt trong vùng hay ngược lại. Chính những hiện vật gốm được tìm thấy lần này là minh chứng sống động cho vấn đề.

* Với phát hiện tình cờ chứa nhiều thông tin như thế, đâu là việc phải làm sắp tới của ngành chức năng, mà chủ yếu là các cuộc khai quật khảo cổ học trong khu vực, thưa ông?

– Đúng là không thể chậm thêm nữa. Sắp tới, Bảo tàng Tổng hợp Quảng Ngãi sẽ lên kế hoạch tổ chức các cuộc khai quật trong khu vực Gò Sành để làm sáng tỏ thêm về lò gốm cổ được cho là có thể nằm ở khu vực này.

Với màu da trông như mảng tường được ốp đá rửa loại mịn, đây là chiếc bình đẹp nhất được ông Anh thu được từ hố đào – Ảnh: Huỳnh Văn Mỹ

“Những hiện vật gốm cổ vừa được gia đình ông Đặng Ngọc Anh tìm thấy có nhiều ý nghĩa, chứng minh rằng văn hóa không có sự đứt quãng, mà là sự tiếp thu, phát triển liền lạc, các yếu tố bản địa và du nhập luôn hòa hợp cùng nhau”.

Tiến sĩ ĐOÀN NGỌC KHÔI

* MỤC LỤC – TIN TỨC THỜI SỰ NGÀNH GỐM 

MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN

Advertisements

Read Full Post »

Bình vôi và câu truyện tập tục Việt

ĐẦU NĂM MUA MUỐI, CUỐI NĂM MUA VÔI

Câu tục ngữ này gắn với hai tập tục: Phiên chợ đầu năm người ta đi chợ thể nào cũng mua một ít muối về nhà và phiên chợ cuối năm, người ta mua vôi về để cho ông bình vôi ăn no nê, đầy đặn.
Sâu xa hơn ở vế thứ nhất,  tập tục mong muốn vào đầu năm, mua muối là đưa về nhà sự mặn mà quanh năm trong các quan hệ ứng xử, quan hệ làm ăn. Dẫu muối còn nhiều, nhưng vẫn nhắc nhau mua một bát. Điều đặc biệt ở đây là: với những vùng có thói quen đong các thứ bằng bát sát miệng (bằng miệng) như gạo, thóc, đậu, kê, vừng thì muối bao giờ cũng đong có ngọn, chứ không gạt miệng sợ về sẽ mất lộc, mất mặn mà.
Vế thứ hai, tại sao cuối năm lại mua vôi hay tôi vôi?
Xưa các cụ làm nhà vật liệu phải tích cóp hàng năm trời hoặc mấy năm trời trong đó có cả vôi làm vữa xây.Và việc tôi vôi chỉ dám thực hiện vào cuối năm. Đầu năm phải kiêng vì tôi vôi rã ra hết thì không may mắn. Hơn nữa “Bạc như vôi” là câu nói cửa miệng của các cụ ngày xưa .
Ở nông thôn, nhà nào cũng rắc vôi bột ở 4 góc vườn rồi vẽ hướng ra phía cổng để xua đuổi ma quỷ. Vì thế, dân gian có câu: “Đầu năm mua muối, cuối năm mua vôi”. Tuy nhiên cũng có ý cho rằng, cuối năm mua vôi để tô điểm thêm cho ngôi nhà thêm mới, thêm đẹp để đón xuân.
Tập tục người Việt: vào dịp đầu năm cái gì cũng phải đầy đặn, sung mãn để có lộc cả năm. Ông bình vôi là vật thiêng, nhưng khổ nỗi: vôi được quan niệm là bạc. Nên, dân gian vẫn có câu: “bạc như vôi” nên cuối năm người ta mua vôi để tránh sự bạc bẽo. Nên “đầu năm mua muối, cuối năm mua vôi” là vậy.
Ngày xưa, dân ta thường ăn trầu và có rất nhiều người nghiện trầu. Miếng trầu là đầu câu chuyện, cũng là mở đầu cho những cuộc tình duyên, kết bạn, làm quen, gắn bó… Miếng cau nhai với lá trầu cần phải có một chút vôi trắng muốt quệt vào mới đủ, mới đậm đà, ngon miệng và say. Và cũng phải có chút vôi trắng ấy mới có được cái màu đỏ làm hồng môi nhau. Cái màu đỏ này tượng trưng cho lòng chung thuỷ, lòng tin yêu nhau của đôi trai gái. Vì thế mà vôi cũng là yếu tố vô cùng quan trọng của miếng trầu. Giá trị của “vôi” ngày được khẳng định với những ý nghĩa khác nhau cùng sự trường tồn của thời gian.
Gắn với tục ăn trầu và những kiêng kị quanh vôi và bình vôi của người Việt. Xưa, có tục kiêng: người đàn ông dưới 40 tuổi không tôi vôi vì… sợ sớm bạc đầu.
Ông bình vôi là công cụ để vôi ăn trầu bằng sành sứ, hiện nay chưa thấy hiện vật này ở thời kỳ Đông Sơn. Chiếc bình vôi xưa nhất chưa xác định được, nếu có chỉ ở thời kỳ Bắc thuộc. Ba tiếng “Ông – Bình – Vôi” là từ Hán Việt hóa (có gốc từ tiếng Hán đã được Việt hóa đến mức thuần Việt).
Hiện nay, trong các lò gốm ở những nơi làm sành sứ mới đúc được ông bình vôi, còn những nơi làm nồi không đúc được. Và, không phải ai cũng đúc được. Người ta cũng chỉ đúc ông bình vôi vào những tháng nhuận của năm nhuận, nhưng người thợ cả phải sạch sẽ, không tang chế thì mới nặn thành công ông bình vôi.
Khi mua ông bình vôi, người ta mang theo một vuông vải đỏ hoặc nâu, mua xong gói ghém cẩn thận, bỏ vào thúng mủng đội lên đầu chứ không được cắp nách hoặc bỏ tay nải để xách. Lên xuống đò phải để chỗ cao ráo. Khi đưa về nhà thường đặt chỗ kín đáo, gần đầu giường, gần cửa buồng vì trong dân gian có câu chuyện kể: Kẻ trộm vào nhà thường hay nút miệng ông bình vôi lại hoặc quay miệng vào vách thì cả nhà sẽ ngủ yên, không ai nói mơ, nếu có biết trộm thì cũng ngọng nghịu, khhông la làng được.
Khi cho ông bình vôi ăn phải e dè, thận trọng. Khi dùng dao vôi để lấy vôi, nhất thiết không được ngoáy chìa vôi vào lòng ông vì nếu thế sẽ bị bệnh cồn cào ruột gan mà dùng chìa đưa thẳng rồi rút ra, Nên vì thế, miệng ông cứ mỗi ngày một đầy, thành vành khuyên, hôm trở trời tự lóc ra, người ta dùng dao khứa chân rồi đem xâu vào dây treo trước cửa mạch (cửa phụ nữ và ma quỷ hay ra vào) để trừ tà.
Một khi ông bình vôi đã đặc ruột, người ta rước ông cùng xâu miệng lên chùa để dưới chân cây hương, dưới gốc mít, gốc đa. Lâu ngày lăn lóc, sương đọng vào bụng ông, gặp con sài đẹn, hay bị sơn ăn thì người ta lấy nước đó mà uống, mà bôi. Ai bị sâu răng thì mua ngọc trai tán nhỏ hòa vào nước này uống sẽ khỏi.
Ông bình vôi là một vật thiêng, ông luôn cần no đủ. Nhưng ông lại ăn ít vì ruột càng ngày càng đặc lại. Xưa có những nhà chuyên bán vôi ăn trầu, họ trải lá chuối vào rổ, bỏ vôi vào, hai đầu hai rổ đem bán. Khi bán, dùng chiếc que to hơn cái đũa cả để lấy vôi phết vào lá cho khách hàng mang về. Bán thì ít, cho thì nhiều, nhưng vẫn vui vẻ.
Gọi là cuối năm nhưng không ấn định ngày nào để mua vôi. Tùy thuộc vào phiên chợ nào cho thuận tiện trong khoảng mươi ngày cuối tháng Chạp theo chợ phiên (chợ phiên thường có nhiều loại: tháng 3 phiên, tháng 5 phiên, tháng 6 phiên, tháng 9 phiên hay tháng 12 phiên). Không mua chợ này thì mua chợ khác.
Tập tục người Việt: vào dịp đầu năm cái gì cũng phải đầy đặn, sung mãn để có lộc cả năm. Ông bình vôi là vật thiêng, nhưng khổ nỗi: vôi được quan niệm là bạc. Nên, dân gian vẫn có câu: “bạc như vôi” nên cuối năm người ta mua vôi để tránh sự bạc bẽo. Nên “đầu năm mua muối, cuối năm mua vôi” là vậy.
Cuộc Sống Việt _ Theo Vitinfo.com.vn
VÀI BÌNH VÔI GỐM QUẢNG ĐỨC SƯU TẬP

Louise Allison Cort giám định viên của VBT smithsonian, Washington, D.C trong bài viết báo cáo ngày 3 tháng 06 , 2007 ghi chép như sau:

Di chỉ lò gốm vùng Quảng Đức, thuộc huyện lỵ Tuy An cách Tuy Hòa về phía bắc 30 km. Trong cuộc khảo sát khu vực các lò gốm chúng tôi được nghe một người thợ gốm già (83 tuổi) thuật lại rằng thợ gốm Chăm đã làm gốm tại đây từ 500 năm trước; có ba thế hệ thợ gốm từ Chaozhou, Quảng Đông đến đây khoảng thế kỷ 17, 18 và thợ gốm người Việt Nam từ Bình Dịnh đến đây lập nghiệp từ tk 18. Hiện nay vẫn còn hai xưởng gốm hoạt động. Theo nhân viên VBT Phú Yên đi theo đoàn nói, thuyền duyên hải sẽ vận chuyển gốm thành phẩm về phương Nam đến Nha Trang và theo phương Bắc đến Bình Định. Người thợ gốm già cũng nói đến những bình cắm hoa thì theo thuyền đến Huế.

nguyên văn:

The Quang Duc kiln site in Tuy An district, 30 kilometers north of Tuy Hoa. During a visit to the kiln on 3 June, we were told by an elderly potter (age 83), that Cham potters had worked there 500 years ago; Chinese potters from Chaozhou, Guangdong province, were here in the 17th–18th century, for three generations only; ethnic Vietnamese (Kinh) potters came three hundred years ago, in the 18th century, from Binh Dinh. Two workshops still operate. According to museum staff, the products used to be shipped by coastal boat south to Nha Trang and north to Binh Dinh province. The elderly potter also spoke of making flower pots to send by boat to Hue.

Theo tôi, bình vôi Quảng Đức có cái mang nhiều phong cách trang trí Trung Hoa là do ảnh hưởng của ba thế hệ thợ gốm từ Chaozhou, Quảng Đông đến đây khoảng thế kỷ 17, 18…

Tại VBT smithsonian có một số bình vôi gốm Quảng Đức được ghi niên đại thế kỷ 18 – giữa tk 20 là khoảng thời gian thợ gốm VN sản xuất tại Quảng Đức chứ không định rỏ chính xác niên đại.

Read Full Post »

Gốm Phù Lãng hiện nay (2009)

Nằm bên bờ sông Cầu, cách Hà Nội khoảng 50 km và thành phố Bắc Ninh 20km, làng Phù Lãng ngày nay thuộc xã Phù Lãng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Đây là một làng nghề nổi tiếng trong và ngoài nước với nghề làm gốm truyền thống.

Cùng với làng Bát Tràng của Hà Nội và làng Thổ Hà của Bắc Giang, làng Phù Lãng được coi là một trong ba trung tâm gốm cổ của người Việt. Một số phát hiện khảo cổ cho thấy gốm Phù Lãng đã xuất hiện vào đời Trần, thế kỷ 13. Hiện nay, gốm cổ của Phù Lãng vẫn hiện diện trong nhiều di tích lịch sử ở châu thổ sông Hồng như các đình, đền, chùa…

Gốm Phù Lãng độc đáo ở chất men màu da lươn, thô mộc, khỏe khoắn, bền bỉ và chứa đựng vẻ đẹp nguyên sơ của đất. Sau những thăng trầm của lịch sử, tưởng chừng đã có lúc tàn lụi, nghề gốm ở Phù Lãng vẫn được duy trì và những năm gần đây có dấu hiệu phát triển lạc quan. Để phù hợp với nhu cầu thị trường, sản phẩm gốm Phù Lãng ngày nay đã có thêm nhiều sự cách tân, nhưng vẫn dựa trên cái xưa hồn mộc mạc của mình.

Sau đây là những hình ảnh Đất Việt ghi nhận ở làng gốm Phù Lãng.

Quang cảnh ấn tượng đập vào mắt du khách tới Phù Lãng là những đống củi được chất cao, có khi đến 3 – 4m ở hai bên đường làng. Đây là chất đốt cho những lò nung gốm Phù lãng nổi tiếng. Nhìn vào lượng củi sử dụng có thể thấy sức sống của làng nghề.
Làng có hàng chục xưởng gốm. Mỗi xưởng gốm thường có trên dưới 10 nhân công, đảm nhiệm những công đoạn khác nhau.
Loại đất sét dùng để làm gốm Phù Lãng được khai thác ở huyện Yên Lập – Bắc Giang. Đất thô sẽ được cho vào máy tán thành những mẩu nhỏ trước khi đem gia công.
Trước khi tạo hình, đất sét sẽ được nhào nặn thành những hình khối tròn. Công đoạn này được gọi là se đất.
Những khối đất này sau đó sẽ được đưa lên bàn xoay để vuốt thành hình. Những bàn xoay được xoay bằng lực chân của người se đất ngồi phía trên.
Khi đã có hình dáng hoàn chỉnh, sản phẩm được khắc chìm các hình vẽ và trang trí họa tiết nổi.
Sau đó, sản phẩm sẽ được phơi khô, tráng men và tô màu.
Cuối cùng, sản phẩm sẽ được nung 15 ngày trong lò nung đốt bằng củi. Khi nung gốm được sắp xếp cẩn thận nhằm tận dụng tối đa diện tích trong lò.
Sản phẩm gốm của Phù Lãng rất phong phú, gồm các vật dụng truyền thống như bình, vại, đôn, tiểu… cho đến các sản phẩm mới như tượng gốm và tranh gốm.
Những bức tượng gốm của nghệ nhân Đức Thịnh.
Chị Nguyễn Thị Hoa đang ghép các mảnh ghép để tạo hình một bức tranh gốm. Chị cho biết tranh gốm là một loại hình sản phẩm chỉ mới được phát triển từ 10 năm trở lại đây.
Một bức tranh gốm hoàn chỉnh.
Không chỉ hiện diện ở đồ mỹ nghệ, gốm còn hóa thân được vào nhiều đồ vật khác như đồng hồ treo tường…
… hay dàn loa đủ cả âm treble, bass. Điều này minh chứng cho sức sáng tạo dồi dào của các nghệ nhân Phù Lãng bắt kịp hơi thở thời đại.
Những bức tranh gốm nhỏ này đã xuất hiện ở nhiều cửa hàng bán đồ lưu niệm Hà Nội.
Người làm gốm ở Phù Lãng cho biết, danh tiếng làng nghề vẫn chưa vươn xa nhưng thời gian tới sẽ có nhiều triển vọng. Ông Trần Văn Phận, cán bộ thư viện làng cho biết, đến cuối năm, một con đường và một khu chợ gốm sẽ được hoàn thành và nghề gốm Phù Lãng có thể bước sang trang mới.

MỤC LỤC  – ĐƯỜNG DẪN GỐM CỔ TRUYỀN VN

Read Full Post »

Chiếc bình cổ Thanh triều phá kỷ lục đấu giá thế giới về đồ sứ!

Một bộ sưu tập tác phẩm nghệ thuật Tầu và đồ sứ quý hiếm đã bán được giá cao kỷ lục trong một cuộc bán đấu giá ở Hồng Kông. Các món đấu giá đều về tay những người giầu có ở Hoa Lục.

Heda Bayron | Hong Kong Thứ Sáu, 08 tháng 10 2010

Hong Kong-based connoisseur Alice Cheng holds the Qing Dynasty vase that she bought at a Sotheby’s auction in Hong Kong

An undated handout photo of a yellow-ground famille-rose double-gourd vase with a seal mark and period of Qianglong.

Hình: Sotheby’s

Chiếc bình cổ đời nhà Thanh được mua với giá 32,5 triệu đôla tại cuộc bán đấu giá ở Hong Kong hôm 8 tháng 10, 2010

Một chiếc bình cổ nền vàng thời nhà Thanh, được trang trí bằng hoa văn với đường viền mạ vàng, được mua với giá 32 triệu rưỡi đô la, phá kỷ lục thế giới về giá một món đồ cổ được đấu giá.

Đây chỉ là một trong những món mà nhà bán đấu giá Sotheby gọi là cuộc bán đấu giá đồ gốm Trung Quốc và tranh cổ lớn nhất thế giới.

Trong một ngày, 35 món đồ cổ đã bán được 148 triệu đô la. Ông Nicolas Chow, phó chủ tịch phân bộ Châu Á của Sotheby’s, nói những buổi đấu giá tại Hồng Kông trong tuần này đã phá những kỷ lục trước đây về đồ cổ và tranh Tầu:

“Đây là vụ bán đấu giá phi  thường chưa từng thấy trên thị trường từ trước tới nay. Nghệ thuật của Trung Quốc đã  thật sự tham gia một cách ấn tượng vào dòng sưu tập chính. Khi một cuộc bán đấu giá thâu được trên 150 triệu đô la thì tôi nghĩ là chúng ta phải đưa nó vào danh sách những bộ sưu tập mỹ thuật vĩ đại trên thế giới.”

Những bình cổ triều đại nhà Thanh ít nhất cũng bán được với giá 3 triệu 800 ngàn đô la. Một bình tương tự như vậy đã bán được với giá 6 triệu 900 ngàn đô la năm 2008.

Người mua, Alice Cheng, là một nhà sưu tập Hồng Kông, mà gia đình có liên hệ với chủ nhân trước của chiếc bình này, ông J.T.Tai, nhà sưu tập đồ cổ nổi tiếng ở New York, sinh tại Thượng Hải. Nhiều đồ gốm hiếm bán đấu giá được trong tuần này là từ bộ sưu tập to lớn của ông Tai.

Một chiếc bình bạch ngọc đời nhà Thanh được bán với giá 1 triệu 600 ngàn đô la, nhiều gấp 4 lần giá trông đợi.

Ông Chow nói rằng, các buổi bán đấu giá kéo dài một tuần lễ này đã lôi cuốn hằng trăm nhà sưu tầm, hầu hết là những người giầu có tại Hoa Lục:

“Rất rõ ràng là người Trung Quốc đang mua lại di sản văn hóa của họ, đó là một phần trong tiến trình tái xác lập vị trí của họ. Trong một chừng mực nào đó việc này có thể hiểu được nếu ta xét lịch sử Trung Quốc vào nửa sau của  thế kỷ thứ 20.”

Sau khi đảng Cộng Sản Trung Quốc thắng trong cuộc nội chiến năm 1949, nhiều gia đình giầu có đã lánh ra nước ngoài, mang theo hằng ngàn tác phẩm nghệ thuật. Và rất nhiều tranh cổ đã bị mất, bị phá hủy, hoặc được chôn giấu trong thập niên 1960, khi Trung Quốc trải qua cuộc Cách Mạng Văn Hóa.

Hồng Kông là nơi bán đấu giá tác phẩm nghệ thuật lớn hàng thứ ba trên thế giới, sau New York và London. Đẳng cấp ngày càng nâng cao của các nhà triệu phú Trung Quốc không phải chỉ làm gia tăng nhu cầu nghệ thuật mà còn làm tăng nhu cầu rượu vang loại hiếm của Pháp và nhà cửa sang trọng.

Trong tuần này nhà bán đấu giá Sotheby’s đã mở cửa một văn phòng địa ốc tại Hồng Kông cho những khách hàng tìm kiếm bất động sản tại các địa chỉ được nhiều người ham muốn nhất tại thành phố này.

Bản tin trước ngày đấu giá!

Sotheby’s đấu giá bộ sưu tập gốm sứ và tranh vẽ quý hiếm của Trung Quốc

Thứ tư, 01/09/2010 13:52:14
Hôm 31 tháng 8, nhà đấu giá Sotheby’s đã tiết lộ, bộ sưu tập bao gồm những kiệt tác bằng sứ của nhà Thanh cũng như các bộ sưu tập nổi bật được vẽ bằng mực về một Trung Quốc hiện đại, cùng với các tác phẩm nghệ thuật đương đại Trung Quốc sẽ được tổ chức bán đấu giá từ ngày 02 đến ngày 8 tháng 10.
Các nhà sưu tập Trung Quốc đang tỏ rõ niềm đam mê đối với nghệ thuật, đồ trang sức và đồ gốm Trung Hoa cổ đại. Nhà đấu giá Sotheby’s cho biết các bộ sưu tập được bày bán vào ngày 31 tháng 8 tại Hồng Kông, dự kiến sẽ thu được nhiều hơn 205 triệu USD.

5 bức tranh và tác phẩm gốm sứ Trung Quốc, cùng những kiệt tác quý hiếm và nghệ thuật đương đại Trung Quốc được dự kiến sẽ có những mức giá kỷ lục trong phiên đấu giá sắp tới.

Hôm 31 tháng 8, nhà đấu giá Sotheby’s đã tiết lộ, bộ sưu tập bao gồm những kiệt tác bằng  sứ của nhà Thanh cũng như các bộ sưu tập nổi bật được vẽ bằng mực về 1 Trung Quốc hiện đại, cùng với các tác phẩm nghệ thuật đương đại Trung sẽ được tổ chức bán đấu giá từ ngày 02  đến ngày 8 tháng 10.

Ông Nicolas Chow
Phó GĐ Sotheby’s

“Các tác phẩm chúng tôi đưa ra trong đợt này gồm 8 chiếc bình tráng men trong thời kỳ Càn Long, trong giai đoạn sản xuất đồ sứ thịnh vượng của triều đại nhà Thanh. Chiếc bình hoa quan trọng nhất là bình Phương Tài, một bình tráng men trắng ở Cảnh Đức Trấn thuộc tỉnh Giang Tây. Điều đặc biệt là nó đã được tráng men dưới sự giám sát chặt chẽ và trực tiếp của Hoàng đế Càn long”

Trong phiên đấu giá mùa xuân trước đó, một viên kim cương xanh hoàn mỹ quý hiếm thuộc bộ sưu tập trang sức huyền thoại De Beers Millenium đã được bán với giá 6,4 triệu USD, vượt giá dự tính ban đầu, tuy nhiên vẫn chưa thể vượt qua kỷ lục năm 2009.

Tuy nhiên, ông Nicolas Chow vẫn đang tràn đầy hy vọng về cuộc đấu giá sắp diễn ra, và đặt niềm tin vào việc phá kỷ lục của đợt đấu giá lần này.

“Tôi thực sự hi vọng cuộc đấu giá sẽ phá vỡ kỷ lục thế giới.  Cho dù việc đạt được kỷ lục bán một con dấu hay 1 chiếc bình trong thị trường sôi nổi như hiện nay là khó khăn để phán đoán. Nhưng chúng ta vẫn sẽ hi vọng vào điều đó”

Đợt đấu giá mùa trước đó đã thu được 52,4 triệu USD, một con số mà Sotheby’s cho biết là cao nhất đối với các loại sản phẩm đó.

Vị trí đấu giá cũng là một lợi thế. Trung Quốc là một trong những thị trường kim cương lớn nhất và phát triển nhanh nhất thế giới,. Đây cũng là thị trường được dự báo là nhà mua kim hoàn, hoặc sở hữu những đồ kim hoàn quý hiếm nhất thế giới khi nền kinh tế này đang ngày càng nổi lên, bất chấp các quốc gia khác vẫn đang khốn đốn với khủng hoảng tài chính toàn cầu.

Trong tháng 5/ 2009, một viên kim cương màu xanh nặng 7,03 cara đã đạt mức giá kỷ lục thế giới cho mỗi cara tại một phiên đấu giá Sotheby’s tại Thụy sỹ, Viên kim cương này được một nhà sưu tập Hong Kong mua với giá 9,48 triệu USD.

diễn đàn sưu tầm

Chi tiết khác:

Hong Kong connoisseur Alice Cheng won a 10-minute bidding war with another phone bidder for the Qing vase, which dates back to the rule of Emperor Qianlong.

Nhà sưu tầm Alice Cheng thắng cuộc đấu giá chiếc bình Càn Long kéo dài 10 phút khi tranh giá với một người đấu giá khác qua điện thoại

The item came from the collection of celebrated art dealer J.T. Tai. It exemplifies the beauty and sophistication of the sgraffito technique, in which scrollwork is engraved with a needlepoint to convey an impression of rich brocade.

Cái bình đặt trưng cho vẽ đẹp và sự phức tạp của kỷ thuật sgraffito, mà hoa văn được chạm trổ bằng đầu mủi kim nhằm truyền cảm ấn tượng về sự súc tích của đồ án.

Cheng spent HK$151 million on an imperial famille-rose bowl from Qianlong’s reign at a Christie’s sale in Hong Kong in 2006.

Bà Cheng cũng từng trả 151 triệu đô la HK cho một cái tô dòng famille rose thời Càn Long vào năm 2006 tại một cuộc đấu giá bởi Christies Hong Kong.

* MỤC LỤC – TIN TỨC THỜI SỰ NGÀNH GỐM 

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

Read Full Post »

Truy tìm hung thủ đốt lăng Tần Thủy Hoàng

Những kết quả khai quật tại hầm số 1 thuộc khu lăng mộ Tần Thủy Hoàng hồi tuần trước đã khiến các nhà khảo cổ Trung Quốc nổ ra một cuộc tranh luận sôi nổi về kẻ đã hỏa thiêu lăng mộ Tần Thủy Hoàng.

Những pho tượng bị cháy

Những pho tượng gốm màu vừa được khai quật.

Được tìm thấy vào năm 1974, đến nay, các nhà khảo cổ Trung Quốc đã tiến hành nhiều đợt khai quật tại khu lăng mộ Tần Thủy Hoàng, vị Hoàng đế đầu tiên của đất nước Trung Quốc.

Từ 13/06/2009 đến nay, các nhà khảo cổ đã tiến hành đợt khai quật lần thứ 3 ở hầm mộ số 1, hầm mộ lớn nhất trong khu mộ Tần Thủy Hoàng. Cho đến tuần trước, công việc khai quật hầm số 1 đã cơ bản kết thúc.

Kết quả, các nhà khoa học đã khai quật được thêm 114 pho tượng gốm, trong đó có một lượng lớn tượng gốm màu. Điều độc đáo nữa là màu sắc ở các pho tượng không hề giống nhau. Thậm chí đến cả màu tóc, mỗi pho tượng cũng được tô một màu khác nhau.

Các nhà khoa học Trung Quốc cho biết, do hầm số 1 là một trong những hầm tượng bị hư hại khá nghiêm trọng nên khi bắt đầu khai quật, họ không hy vọng nhiều về việc tìm ra những pho tượng màu. Tuy nhiên, kết quả đã làm họ kinh ngạc. Diện tích chôn tượng gốm màu ở hầm số 1 tuy không lớn nhưng số lượng rất nhiều.

Sơ đồ vị trí hầm số 1 trong khu lăng mộ Tần Thủy Hoàng.

Theo ông Hứa Vệ Hồng (Xu Weihong) thuộc độ khảo cổ tượng binh mã Tần Thủy Hoàng thì các bức tượng này đều có chiều cao từ 1,8 – 2 mét. Do chiều cao đặc biệt này nên hầu hết các pho tượng tại hầm số 1 đều đã bị vỡ vụn.

Một điều khiến các nhà khảo cổ kinh ngạc hơn chính là những pho tượng được tìm thấy ở lối đi hoặc chỗ thông gió trong hầm mộ đều có dấu vết từng bị đốt ở nhiệt độ khá cao. Một số bộ phận tượng đã bị hủy hoại khá nghiêm trọng vì nguyên nhân này.

Những phát hiện này đã giúp các chuyên gia khẳng định chắc chắn giả thiết từ trước tới nay, hầm mộ Tần Thủy Hoàng từng bị đốt cháy.

Tuy nhiên, vấn đề khiến các nhà khoa học đau đầu chính là ai là kẻ đốt lăng mộ?

Chính Hạng Vũ thiêu lăng mộ Tần Thủy Hoàng?

Chính Hạng Vũ đã hỏa thiêu lăng mộ Tần Thủy Hoàng?

Đứng trước câu hỏi này, trước nay có hai quan điểm trái ngược nhau. Một số ý kiến cho rằng, việc lăng mộ bị cháy là do tự bốc cháy.

Họ giải thích rằng trong lăng mộ có những chất hữu cơ như gỗ, sau một thời gian dài đã sinh ra khí mêtan, sau đó tự bốc cháy.

Một số các học giả khác lại tin chắc rằng đây là  hành vi phá hoại của một người nào đó. Nhưng là ai đốt, thì ý kiến cũng khá bất đồng.

Kẻ thì nói là do Hạng Vũ sau khi tiến vào Quan Trung đốt cung điện nhà Tần đã đốt luôn khu lăng mộ này.

Cũng có người cho rằng có thể là do trẻ chăn trâu đốt. Có người thì lại cho rằng, có thể là do chính người thời Tần đốt khi thực hiện một nghi lễ mai táng.

Tuy nhiên, những kết quả khai quật lần thứ 3 tại hầm mộ số 1 đã cho giúp các nhà khoa học có câu trả lời.

Ở vị trí phía Tây của khu khai quật, các nhà khảo cổ phát hiện ra một hành lang chạy dọc theo hướng bắc nam đồng thời nối liền với cửa phía bắc.

Tất cả những tượng gốm ở hành lang này đều bị thiêu hỏng, màu sắc cũng bị thay đổi theo, nhiều pho còn bị cháy thành tro.

Việc những pho tượng bị đốt nằm ở gần những chỗ thông gió cho thấy tượng gốm binh mã bị cháy là do có người đốt, không thể là tự bốc cháy được.

Tuy nhiên, các nhà khoa học cũng cho biết, việc kết luận ai là người đốt thì vẫn cần phải tiếp tục nghiên cứu.

 

 

 

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

Read Full Post »

TRIỀU PHỤC VĂN QUAN VÕ TƯỚNG

và phẩm phục theo cấp bậc

Nguyên tác:

COSTUMES DE COURS DES MANDARINS CIVILS ET MILITAIRES

Et costumes des gradés

Tác giả; NGUYỄN ĐÔN, Phó Giám Lâm Nội Vụ Triều Nguyễn

Việt dịch: Đức Chính, 2009

Trích tạp chí: Bulletin des Amis du Vieux Hue

2è année – No 3 – Jullet-Septembre 1916


Chỉ dụ năm Thiệu Trị thứ 5 (1845) có dụ:[1]

Việc chế định triều phục là để tỏ rõ người mặc là người có đức. Xưa nay các quan văn võ được ban cấp phẩm phục triều theo chế định[2]. Mỗi phẩm cấp chó một bộ đại triều và thường triều Phẩm phục này có trang trí rau tảo, vân mây không giống nhau, viềm tua và màu sắc cũng khác, gấm lựa bất đồng. Hoa văn ấy làm triều phục thêm rực  rỡ. Tuy vậy trong hàng quan lại có người do chức dịch được ban cấp phẩm phục có giá trị hơn phẩm hàm; lại có người cùng phẩm hàm không được phẩm phục như thế. Vì như thế nên chế định không phù hợp với phẩm cấp nên phải một lần phải định lại cho xong để sáng tỏ phẩm hàn và tăng vẽ tôn nghiêm nơi triều nghi

“Vậy truyền cho Bộ Lễ bàn kỹ  quan giai văn võ để định lại triếu phục cho đúng với phẩm hàm rồi tâu lên, đợi trẫm ban sắc chĩ jhi hành.

Khâm thử

*

*     *

Các chế định lập vào năm Thiệu Trị thứ 5 về phẩm phục Đại triều[3] và Thường triều[4] cho các quan văn và quan võ.[5]

[Nên phân biệt hai loại phẩm phục khi thết triều; phẩm phục đại triều và phẩm phục thường triều.

Chỉ quan văn từ lục phẩm trở lên mới có phẩm phục đại triều, từ thất phẩm trở xuống không có; còn quan võ từ tam phẩm hay chức vị có phẩm hàm tương đương trở lên mới có (phẩm phục đại triêu, quan võ từ tứ phẩm trở xuống chỉ có phẩm phục thường triều.

Tạm gác qua những món như mão, cân đai, hia và thẻ bài, có thể thấy phẩm phục dùng cho thết đại triều có hai loại gọi là bào (袍) và thường[6] (裳), trong khi dành cho thường triều gọi là y (衣); vậy nên quan văn từ thất phẩm trở xuống và quan võ từ tứ phẩm trở xuống nếu khi thết đại triều phải chầu mặc áo gọi là thường. 3

Vải lụa may phẩm phục cũng tùy theo phẩm hàm mà phần sau sẽ nói đến. Hình trang trí và màu vải lụa cũng vậy, ngoại trừ một vài phẩm hàm sẽ nói ở dưới.

Hình dáng phẩm phục thì giống nhau cho mọi quan lại.

Áo bào có khâu ở phía sau hai bên lưng cánh diều.

Màu áo cũng khác nhau từ theo phẩm hàm, thay đổi từ màu cổ đồng đến màu thiên thanh, màu tía, màu tím, màu cam bích, hay màu quan lục, màu bửu lam, màu ngoc lam; nói chung có 6 màu khác nhau. Trong bảng tổng hợp ở cuối bài có lưu ý quan chánh tòng nhât phẩm và chánh tòng nhị phẩm, không tính quan văn hay quan võ, có màu phẩm phục riêng cho từng phẩm hàm (đồng cổ, thanh thiên hay tím tía). Nhưng màu quan lục của quan tòng nhị phẩm trùng với màu của quan chánh tòng tứ phẩm và chánh tòng lục phẩm, ít ra hiện nay là vậy. Màu bảo lam của quan chánh tam phẩm cũng là mà rị.


Áo “thường” dùng trong đại triều và thường triều cũng có màu sắc khác nhau tùy theo phẩm hàm (màu đỏ cho chánh tòng nhất và nhị phẩm, màu đỏ điều (còn u của chánh tòng ngũ phẩm. Trong hai trường hợp này phẩm phục khác nhau ở hình thêu. Chúng ta sẽ thấy tập tục hiện nay có một số phẩm hàm khác với chế định của vua Thiệu Trị gọi là màu xich cho chánh tòng tam phẩm; màu bửu lam cho chánh tòng tứ phẩm; màu quan lục cho chánh tòng ngũ phẩm; màu quan lục cho chánh tòng lục phẩm; màu ngọc lam cho chánh thất phẩm khi chầu thường triều; cuới cùng màu ngọc lam hay quan lục cho tòng thất phẩm trở xuống.


Loại vải lụa và hình thêu cũng thay đổi theo cấp bậc, và các con vật biểu tượng được thêu ở hai bên hông và phía trước áo ‘thường’ cũng khác nhau.


Về y khi thết thường triều dù theo chỉ dụ của vua Thiệu Trị mô tả bên dưới có nhiều màu, nhưng loại áo này lại đồng phục một màu xanh lam cho mọi phẩm hàm, cả bên văn lẫn bên võ.

Mão hay còn gọi là quan (冠) dành cho quan văn từ nhất đến thất phẩm[7], quan văn đỉnh mão hình tròn gọi là ‘viên phát đầu’ (圓髮頭), quan võ đỉnh mão hình vuông gọi là ‘phương phát đầu’ (方髮頭).

[Dưới mão có một dãi băng làm bằng lông thú cứng dùng để giữ sát mão vào đầu và không cho tóc xỏa ra, gọi là ‘võng cân’ (網巾: cái khăn bịt).

Đái (帶) hay cân đai làm bằng tre ngoài có bọc dạ màu đỏ, gọi là ‘xích vũ đoạn’ (赤羽緞). Đái của mọi phẩm hàm có màu và hình dáng như nhau, nhưng thẻ bài và trang trí thẻ bài khác nhau tùy theo phẩm hàm, sẽ nói ở phần sau.


[Bộ triều phục trong đại triều và thường triều còn phải tính đến thẻ bài, gọi là ‘hốt’ (笏), được các quan cầm bằng hai tay, để ngang ngực. Từ tam phẩm trở lên hốt bằng ngà, các phẩm dưới hốt làm băng gỗ.

Hia, tiếng Hán Việt gọi là ‘oa’, dùng như nhau cho mọi phẩm bậc văn võ, duy có hoa văn khác nhau. Còn có loại vớ gọi là ‘miệt’ (襪), tiếng An Nam gọi là tất, không có chế định gì.

*

*     *

Phẩm phục quan chánh nhất phẩm

Mão hay ‘quan[8] của quan chánh nhất phẩm đội khi thết đại triều phần trên có một phiến goi là ‘kim bác sơn’, phần dưới cũng có một phiến khác gọi là ‘kim ngạch tường’ cao 4 phân (0”16) chạm hình giao long[9] gọi là ‘giao hình’, bên phải và bên trái có hai phiến bằng vàng gọi là ‘kim khoa nhãn’; phía trước có một bông hoa bằng vàng gọi là ‘kim hoa’ và hai con giao long gọi là ‘kim giao’; đằng sau là hai hoa bằng vàng (kim hoa). Hai bên có hai cánh chuồn gọi là ‘lưỡng sí’ thếp vàng; mặt cánh chuồn có hình kim giao và các hạt châu (珠); đầu mút cũng dát vàng. Hai vật đỡ cánh chuồn cũng bằng vàng, gọi là ‘kim như ý’. Viền quanh mão có hai sợi chỉ vàng, gọi là ‘kim diễn liễn’.

Đái hay cân đai có 18 phiến nhỏ hình vuông (gọi là phương), chữ nhật (gọi là trường), hay bầu dục (gọi là biển). Quan từ nhất phẩm đến tứ phẩm đều có 18 miếng như vậy. Phiến ở giữa đằng trước và hai phiến tả hữu hình bầu dục bện cạnh có bọc vàng và chạm hoa; những phiến khác tháp đồi mồi. Cả 18 phiến đều có bọc vàng pha đồng.

Áo gọi là bào bằng vải đoạn gọi là bát ti (tám sợi chỉ), màu cổ đồng (màu đồng cũ), có thêu tứ linh, là long lân qui phụng, bằng chỉ ngũ thể: xanh lục, vàng, đỏ, trắng và đen chen với chỉ bằng vàng.

Áo gọi là thường may bằng lụa lương sa, màu đỏ, thêu bằng chỉ ngũ thể pha với chỉ vàng, bên phải và trái phía dưới áo thường của quan văn có thêu hình chim hạc gọi là tiên hạc, của quan võ thêu hình kỳ lân.

[Chúng ta sẽ gặp lại hình tiên hạc cho quan văn và kỳ lân cho quan võ ở hình thêu trước ngực trên phẩm phục thường triều. Lưu ý là chi tiết này thể hiện cho mọi phẩm hàm cả văn lẫn võ. Hình con vật biểu tượng cho từng phẩm hàm ở trên phẩm phục đại triều và thường triều đều như nhau, nhưng ở áo đại triều hình thêu nằm trong một vòng tròn ở hai bên tả hữu phía dưới áo ‘thường’, và, ở áo ‘y’ thường triều thêu trong hình vuông ngay giữa ngực. Sau này chúng ta sẽ thấy những con vật biểu tượng này khác nhau ở quan văn và quan võ, từng phẩm cấp quan văn và quan võ cũng khác nhau, ngoại lệ quan văn nhất phẩm và nhị phẩm. Nói chung với quan văn có 8 con vật biểu tượng và quan võ có 9]


Mão khi thết thường triều dùng cho quan văn từ nhất phẩm xuống tam phẩm gọi là ‘văn công’, có hình trang trí đơn giản bằng bằng vàng, hai diềm tua (gọi là lưỡng anh) cũng bằng vàng có kết ngọc châu.

Phẩm phục gọi là ‘y’ may bằng vải sa đoạn; màu xanh da trời (thanh), xanh lá cây (lục), xanh sậm (lam), đen (hắc) tùy theo ý thích từng người; khoét cổ chéo viền màu trắng gọi là ‘giao lãnh’.[10]

Hình thêu ở ngực, gọi là ‘bổ tử’, dệt bằng chỉ vàng và thêu dặm cũng bằng chỉ vàng hình ‘tiên hạc’ (chim hạc tiên). Các phần khác cũng y như áo thết đại triều.

Trang phục thường triều của quan võ từ nhất phẩm xuống tam phẩm cũng như vừa nói, nhưng mão thì gọi là ‘Hổ đầu quan’; hình thêu chỉ vàng ngay giữa ngực của võ quan chánh nhất phẩm l2 hình con kỳ lân thay vì con hạc.

*

*     *

Phẩm phục quan tòng nhất phẩm

Phía trên mão có phiến vàng gọi là kim bác sơn (金博山), hai bên có hai phiến khác gọi là kim khóa nhãn; trước mão có thêu hoa và hai con rồng bằng vàng (kim hoa 金花 và kim giao 金蛟), sai có thêu hoa bằng vàng. Hai cánh chuồn có viền vàng và hai con rồng bằng vàng. Hai dây tua bằng vàng gọi là kim nhiễu tiễn (金繞踐) bao quanh mão.

Trong số 13 phiến phía trước đái từ phải qua trái có 7 miếng nạm vàng pha đồng gọi là tử kim (紫金) xen kẽ với 6 miếng nạm bạc. Phía sau có 5 miếng nạm bạc; các phiến đều có cẩn vảy đồi mồi.

Áo gọi là bào may bằng vải đoạn bát ti (八絲), màu tím sậm, thêu hình tứ linh bằng chỉ ngũ thể pha chỉ vàng.

Áo gọi là thường cũng như của quan chánh nhất phẩm; nhưng với quan võ phần dưới có thêu hình hai con bạch trạch (白澤), một loài thú tựa con lân.

Phẩm phục quan tòng nhị phẩm

Mão, áo bào và áo thường cũng như tòng nhất phẩm, chỉ có khác chút ít: hai cánh chuồn của mão không có hai con rồng bằng vàng, áo bào có màu quan lục (官綠); phía trước đái từ phải qua trái có hai phiến hình vuông, hai phiến bầu dục nạm đồng pha vàng; 14 phiến khác nạm bạc và tất cả đều có khảm đồi mồi.

Phẩm phục quan chánh tam phẩm


Phía trên mão có phiến bằng vàng gọi là kim bác sơn, từ phải qua trái có hai phiến bằng vàng gọi là kim khóa nhãn, trước và sau có thêu hai hoa vàng gọi là kim hoa và hai con rồng bằng vàng gọi là kim giao. Hai cánh chuồn có nạm vàng, hai giá đỡ cánh chuồn gọi là như ý 如意) bằng vàng và hai sợi chỉ vàng (kim nhiễu tiễn) chạy vòng quanh mão.

Mười tám phiến ở đái (cân đai) đều nạm bạc và khảm đồi mồi.

Áo bào và áo thường đều thêu giống quan nhị phẩm nhưng áo bào có màu lam sậm (bửu lam 寶藍), áo thường mài đỏ nhạt (xích 赤). Áo quan văn thêu hình con cẩm kê (錦雞), áo quan võ thêu hình sư tử.

Phẩm phục quan tòng tam phẩm

Mão, áo bào, áo thường giống như quan chánh tam phẩm; nhưng mão không có con rồng bằng vàng, áo bào có màu lam ngọc, các phiến ở cân đai có nạm sừng màu trắng có điểm lốm đốm (gọi là bạch hoa giác 白花角)

Phẩm phục quan chánh và tòng tứ phẩm


Phía trên mão có phiến bằng bạc (gọi là ngân bác sơn 銀博山), bên phài và bên trái có hai phiến gọi là kim khóa nhãn, phía trước và phía sau có hai hoa bằng vàng gọi là kim hoa, hai cánh chuồn có nạm vàng, hai giá đỡ cánh chuồn gọi là như ý) đều bằng bạc và có chỉ bạc (gọi là ngân nhiễu tiễn) chạy vòng quanh mão.

Phía trước cân đai từ phải qua trái có 13 phiến nạm bạc, phía sau có 5 phiến khác nạm đồng, các phiến đều có khảm sừng trắng đuểm lấm tấm (bạch hoa giác).

Áo bào bằng loại lụa trù (綢) màu xanh lục (quan lục) thêu giao long, bằng chỉ ngũ thể pha chỉ vàng. Áo thường bằng lụa lương sa (涼涼) màu lam sậm (bửu lam) quan văn có thêu hình khổng tước[11] và quan võ hình con hổ bằng chỉ ngũ thể pha chỉ vàng.

Mão thường triều cho quan văn tứ phẩm và thất phẩm cùng hình dáng gọi là đông pha quan (東陂冠), phía trước và phía sau mão này có hai hoa bằng vàng (kim hoa), còn các hoa khác cũng như mấy con giao long đều bằng bạc.


Áo y (衣) bằng lụa đoạn (緞) màu xanh lam hay đen; cổ chéo (gọi là giao lãnh 交領). Của quan văn và quan võ đều như nhau.

Trước ngực áo thường triều thêu chỉ vàng trên nền đỏ hình con công cho quan văn và con hổ cho quan võ, bên hông áo thường đại triều cĩng thêu hình hai con thú này.

Mão thường triều của quan võ gọi là xuân thu quan (春秋冠)

Phẩm phục quan chánh và tòng ngũ phẩm

Mão cũng như của quan tứ phẩm nhưng trang trí đơn giản bằng bạc

Phí trước cân đai hai bên phải và trái có 9 phiến nạm bạc và đồng đặt xen kẽ nhau; phía sau có 3 phiến toàn bằng đồng. Tất cả các phiến này đều khảm sừng trắng có điểm lấm tấm (bạch hoa giác).

Áo bào bằng lụa trù màu lam sâm (bửu lam) thêu hoa bằng chỉ ngũ thể pha chỉ vàng.

Áp thường bằng lụa lương sa, màu lục (quan lục), thêu bằng chỉ ngũ thể pha chỉ vàng.

Mão thường triều gọi là đồng pha quan, trang trí giản đơn các họa tiết bằng bạc.và nhữnng điểm khác cũng như của quan tứ phẩm. Hình thêu ở trước ngực (gọi là bổ tử 補子) bằng vải tên là xích vũ đoạn (赤羽緞), quan văn thêu hình mây và con nhạn (vân nhạn 雲雁), quan võ thêu hình con báo (văn báo 文豹).

Phẩm phục quan chánh và tòng lục phẩm

Phía trước và sau mão có hau hoa bằng bạc; hai cánh chuồn nạm bạc, hai giá đỡ cánh chuồn và chủ bao quanh mão cũng bằng bạc.

Chính giữa đái có một phiến nạm bạc; chín phiến còn lại nạm đồng; tất cả đều có khảm bạch hoa giác.

Áo bào bằng lụa quang tố trù (光素綢), màu lam ngọc. Áo thường bằng lụa tố sa (素素) màu lục (quan lục)

Phẩm phục thường triều cũng như quan ngũ phẩm. nhưng hình thêu trước ngực (bổ tữ) hình con nhạn trắng (bạch nhạn 白雁) dành cho quan văn và con gấu (hùng熊) dành cho quan võ.


Phẩm phục quan chánh thất phẩm

Phía trước và sau mão có hoa bằng bạc, cánh chuồn không có nạm viền.

Phiến ở giữa cân đai có nạm bạc và khảm miếng sừng màu đen (ô giác 烏角); còn lại giống y quan lục phẩm nhưng hình thêu trước ngực là con cò (lộ tư 鷺鷥)

Phẩm phục quan tòng thất phẩm

Mão thường triều phẩm trật này tên là văn tú tài (文秀才); phía trước có một hoa và hai con rồng bằng bạc, phía sau chỉ có một hoa bằng bạc.

Áo y bằng sa đoạn màu xanh (thanh 青), lục, lam đậm, đen tùy theo ý thích từng người, cổ áo may chéo.

Áo thường bằng sa đoạn, màu xanh hay lục tùy ý thích, nhưng hai viền không có theo hoa. Hình thêu trước ngực (bổ tử) là con cò (lộ tư) dành cho quan văn và con hổ con (bưu 彪) dành cho quan võ.

Phẩm phục quan chánh và tòng bát phẩm

Mão thường triều gọi là mão văn tú tài, có một hoa bằng bạc ở phía trước và phía sau, còn lại giống phẩm phục quan tòng thất phẩm nhưng hình thêu trước ngực (bổ tử) là con chim kẻ xích dành cho quan văn và con hà mã dành cho quan võ.

Phẩm phục quan chánh và tòng cửu phẩm

Mão thường triều gọi là văn tú tài, chỉ có một hoa bằng bạc ở đằng trước, còn lại giống như của quan bát phẩm nhưng hình thêu trước ngực (bổ tử) là con chim liêu thuần dành cho quan văn và con tê ngưu dành cho quan võ.


Phẩm phục quan ngự sử

Mão thường triều của đô ngự sử (chánh nhị phẩm) và phó đô ngự sử (tòng nhị phẩm), chưởng ấn (tòng tứ phâm), ngự sử (chánh tam phâm của Đô sát viện gọi là trại quan.

Ở phần trên phía trước mão có hai cái sừng và hai con giao long bằng vàng hay bằng bạc thay cho các phiến gọi là khóa giản, còn lại thì giống phẩm phục quan văn theo phẩm cấp.

Phẩm phục của tiến sĩ

(chế định của vua Thiệu trị năm 1841)

Đối với phẩm phục của tiến sĩ đệ nhất giáp đệ nhất danh, trạng nguyên phần trên mão có phiến bằng bạc gọi là bác sơn, một hoa bằng vàng ở phía trước và một hoa bằng bạc ở phía sau, hai bên có cánh chuồn (gọi là lưỡng sỉ) có nạm bạc.

Áo bào bằng lụa bát ti, màu lục, dệt cải hoa to.

Áo thường bằng sa đoạn, dệt cải hoa màu xanh.

Đái có bọc lụa xích vũ đoạn, phía trước có một phiến bằng bạc mạ vàng và hai phiến khác nạm bạc, cả ba phiến này có khảm đồi mồi. Ngoài ra còn có thêm nạm đồng và khảm sừng đen (ô giác).

Hình trước ngực (bố tử) có nền màu đỏ thêu con nhạn trắng (bạch nhạn). Có thêm một đôi hia (oa) và đôi vớ (miệt) và một thẻ bài gổ (mộc bài).

Phẩm phục cho tiến sĩ đệ nhất giáp, đệ nhị danh, đệ tam danh, bãng nhãn, thám hoa gồm một mão phía trước có hoa bằng bạc mạ vàng và phía sau có hoa bằng bạc, hai bên có cánh chuồn nạm bạc.

Áo bào bằng lụa trù đoạn, dệt cải hoa, màu lục.

Áo thường bằng lụa tố sa đoạn, màu lam.

Phía trước đái có ba phiến nạm bạc, còn các phiến khác giống như của tiến sĩ đệ nhất giáp đệ nhất danh.

Phẩm phục cho tiến sĩ đệ nhị giáp (hoàng giáp) là chiếc mão có hai hoa bằng bạc, một ở phía trước và một ở phía sau, hai bên có cánh chuồn nạm bạc; còn lại giống như của tiến sĩ đệ tam danh.

Phẩm phục của tiến sĩ đệ tam giáp (tấn sĩ) gồm chiếc mão có hai hoa bằng bạc ở phía trước va 2phi1a sau,  hai bên có cánh chuồn nhưng không có nạm gì. Đái có ba phiến nạm bạc và bảy phiến nạm đồng, các phiến đều có khảm sừng đen (ô giác). Hình trước ngực (bổ tử) có nền đỏ thêu chim cò (lộ tư); còn lại giống như tiến sĩ đệ nhị giáp.

Phẩm phục của cử nhân


Phẩm phục gồm mão có tên tú tài, phía trước và phía sau có hai hoa bằng bạc, một áo y bằng lụa An Nam (nam sa南紗), cổ chéo với hai lớp vải trắng; một áo thường, một khăn đội đầu (vọng cân), một đôi hia, một đôi vớ, và một thẻ bài bằng gỗ.




[1] Trích Khâm  D(I%NH Đại Nam Hội Điển Sự Lệ, quyển 78, trang 26-27. Do dịch lại từ bản tiếng Pháp nên chắc chắn có sai lệch ít nhiều.nên có đối chiếu với bản dịch của Viện Sử Học (vì bản dịch này cũng có nhiều chỗ mơ hồ, từ ngữ thiếu chính xác).

[2] Chế định từ năm Gia Long thứ 5.

[3] Đại triều (大朝) có nghĩa là buổi thết triều long trọng – Người dịch.

[4] Thường triều (常朝) có nghĩa là buổi thết triều bình thường – Người dịch.

[5] Trích Đại Nam Điển Lệ Toát Yếu Tân Biên Lễ Lệ [Ban Biên tập Tập san có chua thêm vào bản Chỉ dụ phần nằm trong dấu ngoặc vuông, một vài chú giải và bảng tổng hợp làm cho bài viết rõ nghĩa hơn. – Người dịch: bảng tổng hợp này không dịch nhưng có trong nguyên bảng.

[6] Còn gọi là xiêm – Người dịch.

[7] Hiện nay quan văn từ thất phẩm và quan võ từ tòng tam phẩm trở xuống không có phẩm phục đại triều.

[8] Từ đây trở xuống tiếng Hán xem ở ntguyên bản tiếng Pháp.

[9] Giao long ở đây có nghĩa là con rồng không có sừng. Người ta còn dùng từ này chỉ con thuồng luồng tức con cá sấu (Người dịch)

[10] Hiện nay phẩm phục thường triều từ nhất phẩm xuống đến cửu phẩm đều đồng phục màu xanh lơ.

Read Full Post »

Công bố bảo vật Hoàng cung

Sáng nay (9/10), Bảo tàng lịch sử Việt Nam lần đầu tiên đưa ra trưng bày, giới thiệu với công chúng cả nước ấn vàng, sách vàng, kiếm vàng… triều Lê, Nguyễn. Đây là một phần rất nhỏ trong số hàng ngàn bảo vật vô giá của các triều đại phong kiến Việt Nam, mà bảo tàng hiện đang lưu giữ.

Triển lãm 16 ‘Báu vật hoàng cung’, là một cơ may hiếm có để người dân có thể được tận mắt chiêm ngưỡng những món đồ bằng vàng, ngọc của các vua chúa phong kiến Việt Nam thường dùng. Những đồ vật tượng trưng cho ngôi vị và quyền lực tối thượng của các vương triều như: mũ vàng, ngọc tỷ truyền quốc, ấn vàng, bảo kiếm, sách vàng, chậu vàng, bộ ấm chén bằng ngọc bịt vàng…

Tiến sĩ Nguyễn Văn Cường, Giám đốc Bảo tàng lịch sử VN cho biết: ‘Đây chỉ là một phần rất nhỏ trong số hàng ngàn bảo vật các triều đại phóng kiến VN hiện bảo tàng đang lưu giữ, phục vụ nghiên cứu. Do điều kiện phòng trưng bày hạn chế, nên bảo tàng không thể đưa ra trưng bày hết số bảo vật ‘.

‘Những bảo vật này luôn phủ trên mình những bí ẩn của các triều đại, giai đoạn lịch sử của dân tộc. Trải qua bao thăng trầm lịch sử, nhiều người cho rằng những bảo vật này đã sớm không còn tồn tại, hoặc nằm ở những bộ sư tầm cá nhân, bị đưa ra khỏi Việt Nam… Nhưng thực chất nó vẫn được lưu giữ tại bảo tàng.’ – TS Cường cho biết thêm.

Những bảo vật chứa đựng không chỉ giá trị về lịch sử phong phú, mà còn thể hiện tài nghệ khéo léo của các nghệ nhân qua từng thời đại, với những nét hoa văn, chạm trổ… vô cùng tinh xảo.

Trong số những bảo vật được đưa ra giới thiệu lần này, đáng chú ý nhất là 3 chiếc kim ấn bảo tỷ, tượng trưng cho quyền lực tối thượng của vương triều Nguyễn, được truyền qua những triều đại khác nhau. Ngoài chiếc ấn ngọc Đại Nam thụ thiên vĩnh mệnh truyền quốc tỷ, 2 chiếc ấn còn lại đều bằng vàng ròng, được đúc vào tháng 10 năm Minh Mạng 8 (1827).

Trong đó, chiếc kim ấn Sắc mệnh chi bảo, nặng 8,5kg, phía trên ấn có hình rồng đầu ngẩng cao hướng lên trời, miệng ngậm biểu tượng ngọc bằng vàng, đuôi xòe 9 dải hình ngọn lửa.

Chiếc ấn còn lại là Hoàng đế tôn thân chi bảo, nặng 8,7kg, với hình rồng đang cuộn mình tọa phía trên, đầu vươn cao hướng lên phía trước.

Cũng theo lãnh đạo bảo tàng LSVN, trong tương lai khi Bảo tàng LS quốc gia hoàn thành, những bảo vật trân quý này sẽ được đưa ra trưng bày để phục vụ công chúng.

Dự kiến chương trình trưng bày ‘Báu vật hoàng cung’ sẽ được mở cửa đến trung tuần tháng 11/2010.

Mời quý độc giả chiêm ngưỡng những bảo vật vừa được đưa ra trưng bày:

Lê Việt

Hoàng cung vốn bí ẩn với với người dân và bảo vật trong hoàng cung lại càng bí ẩn. Hàng trăm năm qua, không nhiều người biết đến và được chiêm ngưỡng những bảo vật này. Chính vì vậy, những bảo vật từ hoàng cung các triều đại phong kiến Việt Nam luôn phủ một bức màn bí ẩn, thậm chí nhiều người cho rằng chúng đã không còn tồn tại hoặc đang nằm ở các bảo tàng, bộ sưu tập trên thế giới, hoặc ngộ nhận một số đồ dùng thông thường trong cung đình là bảo vật hoàng cung.

Qua nhiều thăng trầm của lịch sử, từ năm 1959 đến nay, hàng trăm bảo vật của triều đại Lê, Nguyễn như ấn vàng, kiếm vàng, sách vàng, đồ ngự dụng bằng vàng, ngọc… vẫn còn được bảo quản, gìn giữ nguyên vẹn tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam. Đây là những bảo vật vô giá của nhân dân Việt Nam, không những chứa đựng giá trị lịch sử phong phú mà còn phản ánh tài nghệ khéo léo của các nghệ nhân cung đình qua từng thời đại.

Tại lần trưng bày đầu tiên, dù số lượng bảo vật không nhiều, nhưng để đảm bảo an ninh, Bảo tàng Lịch sử đã nhập tủ trưng bày bằng kính 2 lớp dày 12 ly, đóng mở bằng mật khẩu, bục bệ bằng thép 2 lớp. Phòng trưng bày cũng được lắp camera quan sát 24/24h.

Các vị quan khách tham quan tủ trưng bày mũ vàng của vua triều Lê, Nguyễn.

Mũ vàng triều Nguyễn (thế kỷ 19) nặng hơn 700 gam.

Mũ vàng triều Nguyễn (thế kỷ 19), nặng 660 gam, được gắn nhiều họa tiết bằng vàng.

Phía sau mũ cũng được trang trí tinh xảo.

Ấn, kiếm vàng triều Nguyễn

Từ trái qua phải: Ấn vàng “Sắc mệnh chi bảo” bằng vàng ròng nặng 8,5 kg, đúc năm Minh Mạng 8 (1827); ấn ngọc “Đai Nam Thu thiên vĩnh mệnh truyền quốc tỷ” của triều Nguyễn; ấn “Quốc gia tín bảo” đúc bằng vàng, nặng gần 5 kg vào niên hiệu Gia Long.

Ấn “Sắc mệnh chi bảo” gồm 2 cấp, có hình vuông, trên có hình rồng đầu ngẩng, 2 sừng dài, đuôi xòe 9 dải hình ngọn lửa, lưng ấn khắc hai dòng chữ Hán: “Thập tuế hoàng kim nhị bách nhị thập tam lạng lục tiền – Minh Mạng bát niên thập nguyệt cát nhật tạo”. (Nghĩa là: Vàng 10 tuổi nặng 223 lạng 6 tiền – đúc vào ngày lành tháng 10 năm Minh Mạng thứ 8, 1827).

Kiếm vàng triều Nguyễn thế kỷ 19 (bên trên) và kiếm vàng “An dân bảo kiếm” năm Khải Định (1916-1925) ở bên dưới.

Các họa tiết chạm khắc tinh xảo trên kiếm.

Chén ngọc, chậu vàng, sách vàng

Bộ chén ngọc khảm vàng triều Nguyễn.

Chậu vàng của triều Nguyễn, năm Duy Tân 5 (1911), trọng lượng 1,4 kg.

Đài vàng cẩn ngọc triều Nguyễn thế kỷ 19

Cuốn sách vàng chế tác năm Gia Long thứ 5 (1806) có trọng lượng 2,1 kg

MỤC LỤC – KIẾN THỨC MỸ THUẬT VN KỶ NIỆM THĂNG LONG 1000 NĂM

Read Full Post »

Older Posts »