Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Chín 30th, 2010

TIA SÁNG MỚI RỌI VÀO
MỘT QUÁ KHỨ BỊ LÃNG QUÊN

Wilhelm G. Solheim II

Tiến sĩ Wihelm G.Solheim II là giáo sư nhân chủng học ở Đại học Hawaii chuyên nghiên cứu tiền sử Đông Nam Á. Bài viết “New Light on a Forgotten Past” trích giới thiệu dưới đây đăng trong tạp chí “National geographic” (Vol.139, No.3, March 1971). Cũng nội dung này ông đã trình bày trong nhiều bài ở những tạp chí khác.

Tuy về những nhận định trong bài thì tác giả khuyên rằng chúng “cần được xem như những giả thuyết hoặc nghi vấn, song những sự kiện khảo cổ học mà tác giả trình bày, lịch sử vấn đề cùng những lập luận của tác giả là rất đáng để ta suy ngẫm.

Đây là bản trích dịch in trong Trần Ngọc Thêm 1996/2006: “Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam”. – NXB Tp. HCM. (Các chỗ nhấn mạnh trong bài này là của TNT).

Nguyên tác tiếng Anh: W.G. Solheim II. New Light on a Forgotten Past

Thế giới trong 10 năm qua đã quay sang chú ý đến Đông Nam Á, nhưng nguyên do chính của sự chú ý này là chiến tranh đang xảy ra tại đây. Chính cái tính chất nặng trĩu của những biến cố quân sự ấy đã làm lu mờ nhiều khám phá kỳ thú về cổ sử và tiền sử của các dân tộc hiện đang sống trên miền đất này. Thế nhưng, về lâu về dài, những khám phá này, phần nhiều có tính khảo cổ, sẽ tác dụng, có lẽ còn nhiều hơn là chiến tranh hay hậu quả của chiến tranh, đối với lối suy nghĩ của chúng ta về miền đất này và các dân tộc của miền này, và đối với lối tư duy của họ đối với chính họ nữa.

Ngay cả đến quan niệm của người phương Tây về vị trí của họ trong quá trình biến đổi của văn hóa thế giới cũng có thể bị thay đổi hoàn toàn. Bởi vì có nhiều dấu hiệu rõ rệt và mạnh mẽ khiến ta nghĩ rằng những bước đầu tiên đến văn minh có thể đã phát xuất từ Đông Nam Á.

LOÀI NGƯỜI BIẾT TRỒNG TRỌT VÀ ĐÚC ĐỒNG Ở ĐÂU TRƯỚC?

Các nhà sử học Âu Mỹ thường hay lý luận rằng lối sống mà ta gọi là văn minh thoạt tiên bắt nguồn từ vòng cung phì nhiêu miền cận Đông, hoặc trong những vùng sườn đồi lân cận. Ta đã tin tưởng từ lâu rằng ở đây con người cổ sơ đã phát triển nghề nông và dần dần học cách làm gốm và đồ đồng. Môn khảo cổ học cũng yểm trợ cho điều tin tưởng này, một phần vì các nhà khảo cổ đào bới khá nhiều trong vùng thung lũng phì nhiêu của vùng cận Đông.

Tuy nhiên, những khám phá mới đây ở vùng Đông Nam Á bắt buộc chúng ta phải xét lại những quan niệm này. Những vật dụng đã được đào lên và đem phân tích trong vòng 5 năm qua cho ta thấy rằng con người ở đây đã bắt đầu trồng cây, làm đồ gốm và đúc đồ dùng bằng đồng sớm hơn hết thảy mọi nơi trên trái đất.

Điều hiển nhiên là người ta tìm thấy các chứng tích tại những nơi mà ngành khảo cổ đào xới trong vùng Đông Bắc và Tây Bắc Thái Lan, với những chứng minh hỗ trợ từ các cuộc đào xới ở Đài Loan, Nam và Bắc Việt Nam, các miền khác của Thái Lan, Malaixia, Philippin, và ở cả Bắc Úc Châu nữa.

Các vật dụng đã tìm được và ước định tuổi bằng cacbon 14 là những di tích văn hóa của dân tộc mà tổ tiên họ đã biết phương pháp trồng cây, chế tạo đồ đá mài và đồ gốm sớm hơn các dân tộc Cận Đông, Ấn Độ và Trung Hoa tới cả hằng mấy ngàn năm.

Trong một vùng ở Bắc Thái Lan, có những đồ đồng được đúc bằng các khuôn kép (hình 2) vào khoảng 2.300 năm trước công nguyên. Thậm chí có thể trước cả năm 3.000 trước công nguyên nữa. Nghĩa là trước khá lâu so với các vật dụng bằng đồng được đúc ở Cận Đông, Ấn Độ và Trung Hoa mà nhiều chuyên gia đã tưởng là những vật dụng đầu tiên <…>.

Người ta có thể sẽ có lý khi đặt câu hỏi: Nếu có sự kiện quan trọng như vậy thì tại sao cho tới nay khoa tiền sử học Đông Nam Á lại không ai biết đến? Có nhiều nguyên nhân, nhưng lý do chính là vì rất ít những tìm tòi khảo cổ được tiến hành tại đây trước năm 1950. Ngay cả đến bây giờ công việc cũng chỉ mới bắt đầu. Nhà cầm quyền thực dân đã không ưu tiên cho vấn đề khảo cổ ở đây, còn một số rất ít người khảo cứu về môn này lại không có hiểu biết chuyên môn cần thiết. Trước năm 1950, không có một bài biên khảo nào đúng với tiêu chuẩn hiện đại được tiến hành. Lý do thứ hai là bất cứ cái gì khám phá thấy đều được xếp loại căn cứ vào quan niệm từ lâu cho rằng đó là kết quả của sự di chuyển văn minh… Họ cho rằng, văn minh bắt nguồn từ Cận Đông, phát triển thịnh vượng ở xứ Mesopotamie và Ai Cập, và sau này ở Hy Lạp và La Mã. Văn minh cũng di chuyển về hướng Đông đến Ấn Độ và Trung Hoa. Còn Đông Nam Á, vì ở xa nhất đối với điểm xuất phát, nên cũng hưởng văn minh sau chót.

Người châu Âu đã tìm thấy những nền văn hóa tiến bộ ở Ấn Độ và Trung Hoa. Khi họ thấy có những điểm tương đồng của các nước này với các xứ sở miền Đông Nam Á thì họ liền cho rằng đó là do Ấn Độ và Trung Hoa đã ảnh hưởng đến Đông Nam Á. Ngay cả cái tên mà họ đặt cho miền này – “Ấn Độ Trung Hoa (Indochine) – cũng phản ảnh thái độ đó.

NHỮNG NGƯỜI THIÊN DI VÀ CÁC “LÀN SÓNG VĂN HÓA”

<…> Robert Heine Geldern, một nhà nhân chủng học Áo, đã xuất bản năm 1932 một tác phẩm bàn về những nét chính cổ truyền của tiền sử Đông Nam Á. Ông cho rằng có một loạt các “làn sóng văn hóa”, nghĩa là những dòng di cư <…>. Theo ông thì đoàn di cư quan trọng nhất đến Đông Nam Á là từ phía Bắc Trung Hoa <…>.

Ông cho rằng đồ đồng Đông Nam Á là kết quả di cư của các dân tộc ở Đông Âu tới vào khoảng năm 1.000 trước công nguyên. Ông tin rằng những dân tộc này di cư về phía Đông và phía Nam, đi qua Trung Hoa vào thời kỳ Nhà Tây Chu (1122 – 711 trước công nguyên). Các sắc dân này mang theo không chỉ phương pháp đúc đồng mà cả một nghệ thuật trang trí đồ đồng bằng các hình vẽ kỷ hà học <…>.

Các nhà nghiên cứu tiền sử phần đông đều chấp nhận lối lập luận cổ điển này, nhưng nếu theo đó thì có một số sự kiện tỏ ra không được ăn khớp lắm. Một số nhà thực vật học nghiên cứu nguồn gốc cây trồng chẳng hạn cho rằng Đông Nam Á là nơi biết trồng cây sớm nhất.

Năm 1952, ông Carl Sauer, một nhà địa chất học Mỹ, đi thêm một bước xa hơn nữa. Ông nêu giả thuyết là khoa trồng cây trên thế giới đã bắt nguồn trước tiên trong vùng Đông Nam Á. Ông cho rằng khoa trồng cây do một sắc dân mang lại đây trước thời kỳ Đông Sơn rất lâu, họ được biết tới dưới danh hiệu một nền văn hóa thô sơ gọi là văn hóa Hòa Bình. Các nhà khảo cổ học không thể chấp nhận ngay thuyết của ông Sauer.

TỪ VĂN HÓA HÒA BÌNH ĐẾN CÁC ĐẬP NƯỚC Ở BẮC THÁI LAN

Từ năm 1920 trở đi, bà Madeleine Colani, một nhà thực vật học, cổ sinh vật học và khảo cổ học người Pháp, đã nêu ý kiến là có một nền văn hóa Hòa Bình. Những ý kiến của bà đều căn cứ vào các cuộc đào xới ở một vài hang đá và các nơi trú ẩn bằng đá khác ở miền Bắc Việt Nam, trong đó khu vực đào xới đầu tiên đã được tìm thấy ở tỉnh Hòa Bình <…>.

Đến năm 1963, tôi tổ chức một phái đoàn hỗn hợp của bộ Mỹ nghệ Thái Lan và trường Đại học  Hawaii để tìm kiếm cổ vật trong những vùng sẽ bị chìm sâu dưới mặt nước do việc xây dựng các đập mới trên sông Mêkông và các nhánh của sông này tạo ra. Chúng tôi đã khởi công ở miền Bắc Thái Lan, nơi sẽ xây chiếc đập đầu tiên.

Trước kia chưa có công cuộc đào xới quy mô nào để khảo cứu về tiền sử vùng này <…>.

NHỮNG NGẠC NHIÊN LỚN TỪ MỘT GÒ ĐẤT NHỎ

<…> Kết quả các cuộc đào xới này, cho đến nay đã vào năm thứ bảy, thật là kinh ngạc, nhưng chỉ tiến rất chậm so với những khám phá của chúng tôi trong phòng thí nghiệm ở Honolulu. Trong khi tiếp nhận tư liệu của các thời kỳ ước lượng bằng cacbon 14, chúng tôi bắt đầu nhận thấy rằng khu vực đào xới này quả đang đảo lộn hoàn toàn các điều khoa khảo cổ học đã biết từ trước.

Trong một chỗ đất chỉ rộng chừng 2,5cm2, có một mảnh đồ gốm có in vết vỏ của một hạt lúa, có niên đại muộn nhất là 3.500 năm trước công nguyên. Như vậy có nghĩa là trước cả ngàn năm so với những hạt lúa tìm thấy ở Ấn Độ và Trung Hoa cũng được xác định bằng phương pháp cacbon (mà trước đây, dựa vào đó các nhà khảo cổ đã cho rằng con người tại đây biết trồng lúa nước trước tiên).

Cũng với phương pháp ước lượng thời gian bằng cacbon đối với các cục than tìm thấy ở đó, chúng tôi được biết thêm là các rìu đồng, được đúc trong các khuôn kép bằng đá, đã được chế tạo ít nhất là khoảng 2.300 năm trước công nguyên, có thể là trước cả năm 3.000 trước công nguyên nữa. Như vậy là sớm hơn bất cứ một đồ đồng đầu tiên nào đã đúc tại Ấn Độ cả 500 năm và nó cũng còn lâu đời hơn cả những khu vực Cận Đông mà trước đây người ta đã tưởng là nơi xuất phát cách chế tạo đồ đồng đầu tiên.

Những khuôn đúc tứ giác mà chúng tôi tìm thấy ở Non Nok Tha đều nằm từng đôi một, chứng tỏ chúng đã được đặt cạnh nhau ở đó chứ không phải bị mất hoặc bị vứt bỏ bừa bãi. Cứ nhìn những mảnh vụn của những nồi gang tìm được, và rất nhiều những dây đồng nhỏ như sợi bún rải rác chung quanh đó, thì có thể chắc chắn rằng chúng tôi đã đào trúng một khu vực ngày xưa đúc đồng, hay đúng hơn, một lò đúc rìu thời cổ.

Có những miếng thịt bò được chôn chung trong những ngôi mộ ở Non Nok Tha. Chúng được xem như thịt của một loài bò bướu (bos indicus). Như thế, đây là nơi sớm nhất trên trái đất biết chăn nuôi gia súc ở Đông Á.

Chester Gorman, một sinh viên hầm mỏ ở trường Đại học Hawaii, là người đã xác định vị trí của Non Nok Tha nhờ tìm thấy những mảnh gốm bị xói mòn trong gò đất. Năm 1965, anh trở lại Thái Lan để tìm tài liệu cho luận án tiến sĩ của mình <…>. Ở xa phía Bắc Thái Lan gần biên giới Miama, anh đã tìm thấy Hang Thần và những gì đang ra công tìm kiếm.

HANG THẦN CHO NHỮNG NIÊN ĐẠI GÂY SỬNG SỐT

Hang Thần ở cao trên sườn một vách núi đá vôi phía bên một con suối chảy vào sông Salween ở Mianma. Hiển nhiên hang này đã có lần được dùng như một ngôi đền, vì vậy nên mới có tên là Hang Thần.

Khi đào nền hang, Gorman tìm thấy những mảnh cây đã hóa than, cùng hai hạt có thể là đậu, một hạt đậu tròn, một hạt dẻ, một hạt tiêu sọ, nhiều mảnh bí và dưa leo, cùng với nhiều đồ dùng bằng đá rất đặt biệt của vùng Hòa Bình.

Những mảnh xương súc vật được chặt thành miếng nhỏ rõ ràng chứ không phải bị đốt, cho phép ta nghĩ rằng thịt được chế biến ở đây không phải bằng cách vùi hoặc nướng trên lửa, mà là được nấu trong một dụng cụ hẳn hoi, có lẽ là trong ống nứa giống như ngày nay người ta vẫn còn làm như vậy ở Đông Nam Á.

Việc xác định thời gian bằng cacbon 14 đối với một loạt những gì tìm được tại đây đã cho ta thấy một khoảng thời gian từ 6.000 năm đến 9.700 năm trước công nguyên; và hiện còn nhiều vật dụng khác nữa trong các lớp đất sâu hơn đang chờ xác định thời gian. Vào khoảng 6.600 năm trước công nguyên, có nhiều yếu tố mới đã xuất hiện tại nơi này. Đó là những đồ gốm tráng men bóng được khắc sâu và trang trí bằng cách in dấu các sợi dây thừng trong lúc chế tạo; những dụng cụ đồ đá có một phía mài bằng và những con dao bằng đá mỏng. Những dấu vết của đồ dùng và cây cối thời Hòa Bình đang tiếp tục được khám phá thêm.

Như vậy ta có thể coi những khám phá ở Hang Thần ít nhất cũng phù hợp với thuyết của Carl Sauer và nhiều đoàn thám hiểm khác đang đi đến nhận định rằng có một nền văn hóa Hòa Bình khá phức tạp đã được phổ biến tương đối sâu rộng. Ông Aung Thaw, giám đốc sở Khảo cổ học Mianma, năm 1969 đã đào được một số dụng cụ rất đáng chú ý về văn hóa Hòa Bình trong những hang Padh Lin ở Đông Mianma. Ngoài nhiều vật dụng, còn tìm thấy cả những hình vẽ trên vách hang. Như vậy, đây là khu vực ở phía cực Tây của nền văn hóa Hòa Bình đã được tìm thấy.

Những cuộc đào xới ở Đài Loan do một đoàn thám hiểm hỗn hợp của trường Đại học Yale thực hiện dưới sự hướng dẫn của giáo sư Kwang Chih Chang thuộc Đại học Yale cũng cho thấy có một nền văn hóa đồ gốm có khắc và in hoa văn dây thừng, đồ đá mài và dao nhọn mài, đã xuất hiện khá lâu trước năm 2.500 năm trước công nguyên.

NHỮNG ĐIỀU KHÓ HIỂU BẮT ĐẦU ĂN KHỚP

Căn cứ vào kết quả của các cuộc đào xới mới đây và của các thời kỳ mà tôi đã tóm lược, và của những nơi khác có lẽ cũng quan trọng không kém mà tôi chưa ghi chép, có thể thấy rằng một ngày kia tiền sử Đông Nam Á sẽ được hiện ra một cách hết sức thú vị. Trong một số tài liệu, tôi đã phác thảo những nét đầu tiên về vấn đề này. Đa số những ý kiến của tôi cần được xem như những giả thuyết hoặc nghi vấn; cần phải khảo cứu sâu hơn nữa mới có thể chấp nhận hay phủ nhận chúng. Trong số các ý kiến đó có những điểm sau:

1. Tôi đồng ý với Sauer rằng sắc dân Hòa Bình ở miền nào đó trong vùng Đông Nam Á là giống người biết trồng cây trước hết trên thế giới. Tôi cũng không ngạc nhiên nếu thời kỳ đó bắt đầu khoảng 15.000 năm trước công nguyên.

2. Tôi cho rằng những đồ dùng bằng đá đẽo có cạnh sắc tìm thấy ở Bắc Úc Châu và được ước định bằng cacbon 14 là xuất hiện vào khoảng 20.000 năm trước công nguyên đều thuộc nguồn gốc Hòa Bình.

3. Trong khi người ta được biết hiện nay đồ gốm cổ xưa nhất tìm được ở Nhật có niên đại khoảng 10.000 năm trước công nguyên, tôi tin rằng khi xác định được tuổi của loại đồ gốm có in hoa văn dây thừng thì ta sẽ phải nhận rằng đồ gốm đó chính là do sắc dân Hòa Bình chế tạo rất lâu trước khoảng 10.000 năm trước công nguyên.

4. Theo truyền thống, người ta cho rằng trong thời kỳ tiền sử, kỹ thuật miền Đông Nam Á là kết quả của những làn sóng di dân từ phương Bắc mang tới. Riêng tôi cho rằng văn hóa nguyên thủy thời đồ đá mới Ngưỡng Thiều (Yangshao) ở Trung Hoa mà người ta biết đến chính là kết quả của một nền văn hóa tiền Hòa Bình đã di chuyển từ miền Bắc Đông Nam Á lên phía Bắc vào khoảng 6 hay 7.000 năm trước công nguyên.

5. Tôi cho rằng văn hóa mà sau này được gọi là văn hóa Long Sơn (Lungshan) vẫn thường được coi là phát triển từ Ngưỡng Thiều (Yangshao) ở Bắc Trung Hoa rồi lan ra miền Đông và Đông Nam, thì trái lại thực ra đã khai sinh ở Nam Trung Hoa và di chuyển lên phía Bắc. Cả hai nền văn hóa này đều bắt nguồn từ gốc văn hóa Hòa Bình.

6. Xuồng đục từ thân cây có lẽ đã được sử dụng trên các sông rạch Đông Nam Á rất lâu trước 50 thế kỷ trước công nguyên. Rất có thể là các bộ phận giữ thăng bằng lồi ra hai bên xuồng cũng được sáng chế tại Đông Nam Á khoảng 4.000 năm trước công nguyên, làm cho xuồng được vững chắc hơn trong khi cần vượt biển. Tôi tin rằng những đợt di chuyển ra khỏi khu vực Đông Nam Á bằng ghe, thuyền bắt đầu khoảng 4.000 năm trước công nguyên đã tình cờ đưa cư dân Đông Nam Á lạc tới đất Đài Loan và Nhật Bản, và du nhập vào Nhật cách trồng sắn (khoai mỳ) và có lẽ là cả các hoa màu khác.

7. Vào khoảng 3.000 năm trước công nguyên, các dân tộc Đông Nam Á bấy giờ đã thành thạo trong việc sử dụng thuyền bè, đã đi vào các đảo Inđônêxia và Philippin. Họ mang theo nghệ thuật vẽ hình kỷ hà học gồm những vòng xoắn ốc, những hình tam giác, tứ giác trong các dải đường viền trang trí khi chế tạo đồ gốm, khắc gỗ, xăm mình, dệt vải bằng vỏ cây, và sau này là trên các trống đồng tìm thấy ở vùng Đông Sơn mà trước đây người ta vẫn giả thuyết là từ Đông Âu tới.

8. Các dân tộc Đông Nam Á cũng di chuyển về phía Tây tới Madagascar có lẽ vào khoảng 2000 năm trước đây. Rõ ràng là họ đã đóng góp một phần quan trọng vào nền kinh tế Đông Châu Phi bằng cách trồng các loại hoa màu.

9. Cũng cùng vào khoảng thời gian đó, đã có sự tiếp xúc giữa Việt Nam và miền Địa Trung Hải, có lẽ bằng đường biển do sự phát triển thương mại đem lại. Người ta đã tìm thấy tại tàn tích Đông Sơn một số đồ đồng khác thường, rõ ràng là bắt nguồn từ Địa Trung Hải <…>.

LÊ XUÂN MAI dịch
(lấy theo bản in trong tạp chí “Phương Đông” số 10, 1972, tr. 256- 264; Trần Ngọc Thêm hiệu chỉnh, có tham khảo bản dịch của Nguyễn Tường Minh đăng trong: [Lê Kim Ngân 1974, tr. 216-225]).

Ảnh:Trần Ngọc Thêm sưu tầm và bổ sung.

 

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

Advertisements

Read Full Post »

Nỗi niềm cổ vật: Tay ngang làm bảo tàng

Loạt bài “Thất vọng bảo tàng” đăng trên báo Tuổi Trẻ vừa qua đã phản ánh sự yếu kém nhiều mặt của nhiều bảo tàng ở VN. Nguyên nhân được cho là do thiếu thốn mặt bằng làm nơi trưng bày, bảo quản hiện vật; do phương tiện làm việc cũ kỹ, lạc hậu; do thiếu kinh phí hoạt động…

Theo tôi (TRẦN ÐỨC ANH SƠN), còn có một nguyên nhân khác rất quan trọng nhưng chưa được đề cập. Ðó là sự hạn chế của nguồn nhân lực trong lĩnh vực này.

Chưa đạt chuẩn

Nguồn nhân lực làm việc trong các bảo tàng VN hiện nay được đào tạo từ nhiều ngành khác nhau: bảo tồn – bảo tàng, sử học, văn học, mỹ thuật, ngoại ngữ, công nghệ thông tin… nhưng rất ít người đáp ứng đầy đủ các tiêu chí của một curator (ở VN thường gọi là bảo tàng viên) chuyên nghiệp trong ngành bảo tàng. Nguyên nhân là vì họ không được đào tạo đến nơi đến chốn; lương bổng lại thấp nên ít người thật sự đam mê với công việc.

Tuân thủ một kiểu thức trưng bày

Các bảo tàng tổng hợp của các tỉnh dường như chỉ tuân thủ một kiểu thức trưng bày, với các gian trưng bày theo các chủ đề: tỉnh X thời kỳ tiền – sơ sử; tỉnh X thời kỳ đấu tranh chống Bắc thuộc; tỉnh X thời kỳ độc lập – tự chủ; tỉnh X thời kỳ kháng chiến chống Pháp; tỉnh X thời kỳ đi lên chủ nghĩa xã hội (nếu là một tỉnh ở miền Bắc trước năm 1975) hay tỉnh X thời kỳ kháng chiến chống Mỹ (nếu là một tỉnh ở miền Nam trước năm 1975); tỉnh X thời kỳ thống nhất đất nước, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội và cuối cùng là gian trưng bày: thành tựu của tỉnh X trong 20 năm đổi mới.

Nhiều du khách nước ngoài cho tôi biết đến VN họ chỉ cần thăm một vài bảo tàng tỉnh là biết các bảo tàng còn lại trưng bày cái gì, vì tính “đại diện” của các bảo tàng loại này rất cao(?!).

Trong một cuộc hội thảo về đổi mới đào tạo nguồn lực cho ngành bảo tàng do Cục Bảo tồn – bảo tàng (nay là Cục Di sản văn hóa) tổ chức tại Bảo tàng Dân tộc học VN cách đây 7-8 năm, PGS.TS Nguyễn Văn Huy – giám đốc Bảo tàng Dân tộc học VN – cho rằng nguồn nhân lực do khoa bảo tồn – bảo tàng trong các trường trung cấp, cao đẳng hay đại học văn hóa ở VN đào tạo là “chưa đạt chuẩn”.

Theo ông Huy, để sử dụng làm công tác thuyết minh – hướng dẫn tham quan trong bảo tàng thì họ không bằng những người học lịch sử, dân tộc học hay ngoại ngữ; để làm công tác giám định thì họ thua những người tốt nghiệp các ngành khảo cổ học hay lịch sử nghệ thuật; để làm công tác bảo quản hiện vật thì họ kém xa những người tốt nghiệp các ngành hóa – lý – sinh; để làm công tác trưng bày thì họ không am hiểu như những người học mỹ thuật…

Trong khi đây là nguồn nhân lực căn bản và chính quy nhất, do các trường thuộc Bộ VH-TT (nay là Bộ VH-TT&DL) đào tạo để phục vụ sự nghiệp bảo tồn – bảo tàng VN. Nhân lực từ các trường chính quy còn bị đánh giá “chưa đạt chuẩn” huống gì những người tay ngang được/bị “nhảy” vào làm công tác bảo tàng.

“Cái bàn thờ của tỉnh”

Nhiều người cho rằng bảo tàng chỉ là nơi cất giữ và trưng bày những hiện vật đến từ quá khứ nên chức năng quan trọng nhất của bảo tàng là giáo dục, mà bỏ qua những chức năng khác như văn hóa, thẩm mỹ, khai trí, giải trí…

Giám đốc bảo tàng của một tỉnh duyên hải miền Trung từng quan niệm: “Bảo tàng tỉnh được coi như “cái bàn thờ của tỉnh” nên các anh ở trên cân nhắc. Phải lựa chọn địa điểm cho đàng hoàng, sang trọng; phải trưng bày sao cho tương xứng vị thế đó; phải làm cho bảo tàng trở thành một nơi thiêng liêng, làm biểu tượng cho lịch sử và truyền thống hào hùng của tỉnh nhà. Vì thế các anh cứ tính toán, cân nhắc mãi”.

Cũng có nhiều vị lãnh đạo địa phương nghĩ rằng bảo tàng chỉ là nơi cất giữ của quý, cổ vật, hiện vật… nên chỉ cần đảm bảo hiện vật khỏi mất mát, hư hao… là được. Ðiều này làm xuất hiện những cán bộ bảo tàng xứng đáng nhận danh hiệu “người thủ kho tốt nhất”, chứ không phải là “những bảo tàng viên tốt nhất”. Họ không quan tâm đến việc giới thiệu cho công chúng những giá trị tuyệt vời về văn hóa, lịch sử, nghệ thuật… hàm chứa trong hiện vật.

Họ cũng không biết cách bảo quản hiện vật theo đúng yêu cầu của bảo tàng học; không biết phát hiện những căn bệnh của hiện vật để kịp thời cứu chữa. Thao tác mà họ quan tâm và thành thạo nhất chính là kiểm đếm số lượng hiện vật và giữ cửa kho cho chặt.

Với những quan niệm cũ kỹ và lạc hậu về cách thức đào tạo, bố trí, sử dụng và đãi ngộ nguồn nhân lực bảo tàng như đã đề cập trên đây, ngành bảo tàng VN hiện chưa theo đúng các tiêu chí của bảo tàng học hiện đại.

Bảo tàng phải là môi trường giáo dục, giao lưu văn hóa, mở mang trí tuệ và sân chơi bổ ích cho mọi người; thân thiện với môi trường và phát triển bền vững. Theo tôi, đây mới là căn cốt của vấn đề “làm sao để mọi người không còn thất vọng với bảo tàng”.

TS TRẦN ÐỨC ANH SƠN
(nguyên giám đốc Bảo tàng Mỹ thuật cung đình Huế)

————————–

(Theo Tuổi Trẻ Online)

 

* MỤC LỤC – TIN TỨC THỜI SỰ NGÀNH GỐM 

Read Full Post »

Thất vọng bảo tàng

Với chức năng bảo tồn, lưu giữ và phát huy các giá trị văn hóa vật thể cũng như phi vật thể, hệ thống bảo tàng của VN đã chuyển đến công chúng, những nhà nghiên cứu các thông điệp quan trọng làm cơ sở cho nghiên cứu khoa học.

Tuy nhiên, vẫn có những bảo tàng đến nay chưa được quan tâm đầu tư đúng mức, chưa đáp ứng được nhu cầu của mọi người…

Loạt bài “Thất vọng bảo tàng” đặt lại vấn đề này như một cách kỳ vọng vào tương lai tươi sáng hơn của các bảo tàng ở nước ta.

Kỳ 1:

Cổ vật… ở nhờ

TT – Tồn tại trên giấy từ năm thành lập (1982), Bảo tàng Hà Nội đã có 28 năm chờ đợi nhưng vẫn chưa có được một không gian, mặt bằng để chứa đủ số hiện vật của 1.000 năm tích tụ.

Phần mái bằng vải bạt của nhà kho khu di tích Đống Thây chỉ còn trơ lại phần khung tre – Ảnh: Hà Hương

Nếu so với 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội chưa từng có một bảo tàng riêng thì con số 28 năm chờ đợi quả là ít ỏi. Nhưng những hiện vật nằm im lìm trong kho sẽ phải chờ đợi đến bao giờ khi cái mốc hoàn thành Bảo tàng Hà Nội được TP ấn định (30-4-2010) đã qua hơn 100 ngày?

Nghìn năm chờ một bảo tàng

Không ai có thể đưa ra con số chính xác hiện Bảo tàng Hà Nội đang nắm giữ số lượng bao nhiêu cổ vật. Hơn nữa, số cổ vật này quý thế nào và liệu chúng ta đã giải mã hết chưa vẫn là một câu hỏi không lời đáp.

Đến cả các nhà sử học cũng hoàn toàn “mông lung” với con số thống kê bởi không phải cứ có giấy giới thiệu của cơ quan chủ quản là có thể bước qua cánh cổng ở số 5 Hàm Long (Hà Nội), nơi trú tạm của Bảo tàng Hà Nội.

Từ khi thành lập đến nay, Bảo tàng Hà Nội là nơi tiếp nhận hiện vật của tất cả các cuộc khai quật khảo cổ trên địa bàn Hà Nội. Từ kho vũ khí thời Lê dưới lòng hồ Ngọc Khánh được phát hiện cách đây 30 năm đến những hiện vật thu được trong quá trình khai quật ở các di tích thời Cổ Loa tại Đông Anh, Hà Nội hồi tháng 5-2010 đều được quy về một mối là Bảo tàng Hà Nội.

Đó là chưa kể đến số lượng hiện vật, những di cốt từ thời Bắc thuộc khai quật được ở đàn Nam Giao, những hiện vật thuộc về lịch sử Hà Nội mà các nhân viên Bảo tàng Hà Nội sưu tầm được.

Người ta chỉ biết đến những cổ vật này tại thời điểm nó được phát lộ, tuy nhiên từ đó tới nay đến cả các nhà sử học cũng chưa từng được nhìn lại.

Nhiều năm trước PGS.TS Nguyễn Minh Tường nghe được thông tin Bảo tàng Hà Nội đang lưu giữ bộ 78 con dấu các tiểu khu Hà Nội xưa. Khi tìm đến kho của bảo tàng đặt ở chùa Hưng Ký (quận Hai Bà Trưng), dù có giấy giới thiệu của Viện Sử học VN, ông vẫn bị cán bộ bảo tàng từ chối.

Bảo tàng Hà Nội hầu như không tiết lộ bất cứ một thông tin gì về số hiện vật đang bảo quản.

Ngoài chùa Hưng Ký, một số lượng lớn cổ vật thuộc Bảo tàng Hà Nội đang được niêm phong “nội bất xuất ngoại bất nhập” tại các nhà kho “tạm trú” khắp TP Hà Nội.

Phơi nắng cổ vật

Đến nay, Bảo tàng Hà Nội có ít nhất bốn kho giữ hiện vật phân bố rải rác khắp TP. Ngoài kho của Bảo tàng Hà Tây cũ, cổ vật còn gửi ở Bảo tàng Lịch sử VN và khu nhà kho nằm trong khu di tích chùa Đống Thây (quận Thanh Xuân)…

Nhưng kho lâu đời nhất của Bảo tàng Hà Nội có lẽ nằm ở chùa Hưng Ký. Sư trụ trì cho biết khu giảng kinh của chùa đã được trưng dụng làm nhà kho suốt gần 40 năm nay. Từ những năm 1970 khu giảng kinh đã được cơi nới thêm phần hành lang, bảo tàng cũng mở một cổng khác để đi riêng chứ không dùng cổng với nhà chùa.

Khi chúng tôi tìm đến chùa Hưng Ký, cả sư trụ trì và nhiều nhà sư khác đều lo lắng: không biết làm cách nào để sử dụng lại khu giảng kinh vì khuôn viên của nhà chùa đã quá hẹp! Hiện nay, các nhà sư phải giảng kinh trên chánh điện, những phật tử khác muốn lên chùa thắp hương đành phải đợi giờ giảng kinh xong mới vào.

Tình trạng này đã kéo dài gần 40 năm nay rồi.

Sư trụ trì chùa Hưng Ký cho biết nhà chùa nhiều lần làm đơn xin TP trả lại toàn bộ khu giảng kinh nhưng đã hứa mấy lần rồi vẫn chưa thực hiện. Lần gần đây nhất là đầu năm 2010, TP Hà Nội “hứa” sẽ chuyển toàn bộ hiện vật đi trước ngày 30-4 nhưng đến nay vẫn chẳng thấy ai nhắc đến chuyện đi hay ở nữa!

Nhìn sang phần kho đặt tại chùa, những mảng tường vôi đã tróc lở vì ẩm thấp. Bên trong cánh cổng sắt cao đóng im ỉm, chỉ thấy vài ba chiếc xe máy của cán bộ bảo tàng đến làm việc.

Một số lượng hiện vật lớn khác cũng đang “sống” trong hòm nhôm tại kho của Bảo tàng Lịch sử hàng chục năm. Ông Nguyễn Văn Hùng, giám đốc Bảo tàng Hà Nội, thở dài: “Bảo tàng Lịch sử nhiều năm nay đòi trả lại mặt bằng quyết liệt rồi, chúng tôi cũng chưa biết làm thế nào (!)”.

Hai ngôi mộ táng đẹp nhất có niên đại hàng nghìn năm được khai quật tại khu khảo cổ Đình Chàng (Dục Tú, Đông Anh) hồi tháng 6-2010 vừa được chuyển giao cho Bảo tàng Hà Nội.

Nhưng ít ai ngờ rằng những hiện vật đó giờ nằm chỏng chơ bên ngoài nhà kho bảo tàng ở khu di tích Đống Thây. Hai ngôi mộ này được bó thạch cao, đặt trên một hộp gỗ bắc ngang mặt đất. Bên trên chỉ có một tấm bạt treo hờ hững để che mưa nắng. Dù mới được chuyển về đây một thời gian ngắn song bên ngoài lớp thạch cao đã mốc meo.

Nhưng số phận của hai ngôi mộ này còn may mắn hơn hàng nghìn cổ vật khác đã chịu cảnh đắp bạt suốt nhiều năm nay. Nhìn qua khe cửa khóa kín của cái vốn được gọi là nhà kho này, chúng tôi không khỏi hoảng hốt vì các hiện vật chỉ được bọc nilông rồi tấp vào các sọt nhựa xếp chồng lên nhau. Số khác thì được cho vào bao tải, cũng chất đống ở một góc nhà. Dù vậy, tấm bạt được dùng làm mái nhà lâu nay đã bị gió mưa đánh hỏng chỉ còn trơ phần khung tre.

Phía sau nhà kho này là hàng chục tượng đài, bia đá… bỏ lăn lóc, chiếc ngồi chiếc đứng, cả bức tượng của một vị vua cũng ngồi hắt hiu ở rìa ngoài cạnh tấm bạt mặc bao mưa nắng.

Trên một khu đất trũng cỏ mọc um tùm, nhân viên bảo vệ ở khu di tích chỉ cho chúng tôi xem những gò đống được phủ bạt. Ông bảo: “Cũng đều là cổ vật của bảo tàng cả đấy, để ngoài trời suốt mấy năm nay chưa thấy chuyển đi”.

Dù chẳng biết mấy về giá trị lịch sử của những ngôi mộ táng nhưng ông chép miệng “đối xử với xương cốt các cụ thế thì có tội chết”. Trong những gò phủ bạt này còn có rất nhiều cổ vật được bó thạch cao để trong hộp gỗ, không biết đến bao giờ mới hết cảnh đắp bạt đợi bảo tàng.

HÀ HƯƠNG

Chưa biết khi nào về “nhà mới”

Ông Nguyễn Văn Hùng cũng không biết bao giờ có thể “chuyển về nhà mới”. Ông bảo điều đó phải hỏi Sở Xây dựng Hà Nội và Ban dự án Bảo tàng Hà Nội. Còn Bảo tàng Hà Nội thì chịu!

Ông Hùng cho biết hiện giờ kho của bảo tàng mới vẫn chưa xong nên cũng không biết bao giờ mới có thể chuyển.

Trong bản báo cáo mới nhất về tiến độ các công trình mừng đại lễ 1.000 năm Thăng Long – Hà Nội của UBND TP Hà Nội, Bảo tàng Hà Nội thuộc nhóm công trình “bắt buộc” phải hoàn thành trước ngày 1-10. Tuy nhiên, báo cáo này cũng nhìn nhận với tiến độ như hiện nay, đến mốc đại lễ, Bảo tàng Hà Nội chỉ có thể “cơ bản” hoàn thành.

Có nghĩa là toàn bộ tòa nhà và các phương án trưng bày có thể sẽ không thực hiện được như dự kiến.

Thất vọng bảo tàng

Kỳ 2: Bảo tàng “hữu danh vô thực”

TT – Đó là cách gọi của giới nghiên cứu văn hóa về Nhà bảo tàng Huế – một đơn vị được thành lập từ hơn 20 năm nay nhưng đang hoạt động vật vờ và… chưa có trụ sở.

Ông Huỳnh Đình Kết trong căn phòng chưa đầy 40m2 tại số 4 Hoàng Hoa Thám, vừa là nơi làm việc, vừa là nơi lưu giữ hiện vật của Nhà bảo tàng Huế – Ảnh: THÁI LỘC

Thậm chí nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Thông – trưởng Phân viện Văn hóa nghệ thuật VN tại Huế – nhận định thẳng thắn: “Bảo tàng này không có cả danh lẫn thực! Người dân Huế có ai biết đến nó là gì đâu mà gọi là hữu danh?!…”. Cũng có người cám cảnh như ông Lê Văn Thuyên – tổng biên tập tạp chí Huế Xưa & Nay: “Nói Huế hiện nay chưa có bảo tàng thì có lẽ không ai tin, nhưng kỳ thực hiện nay TP Huế đâu có bảo tàng (trừ ba bảo tàng trực thuộc tỉnh Thừa Thiên – Huế gồm Bảo tàng Hồ Chí Minh chi nhánh Huế, Bảo tàng cổ vật cung đình Huế, Bảo tàng Lịch sử – cách mạng Thừa Thiên – Huế – PV), được một cái trên danh nghĩa thì trong tình trạng chết dở sống dở…”.

Nhiệm vụ lớn – hiện vật quý

Ông Lê Văn Thuyên – giám đốc Nhà bảo tàng Huế giai đoạn đầu tiên – kể lại: từ sau năm 1975, ở Huế đã có một ban vận động thành lập bảo tàng cho TP Huế. Mô hình ban đầu được đưa ra là bảo tàng lịch sử văn hóa, nhưng sợ trùng lặp nội dung với Bảo tàng Tổng hợp tỉnh lúc ấy (nay là Bảo tàng Lịch sử và cách mạng), do đó một thời gian sau đổi thành Bảo tàng Văn hóa dân gian Huế.

“Tôi không hiểu vì sao Huế đầu tư quá ít cho văn hóa. Thành phố festival, thành phố văn hóa là gì trong khi ba nền móng tối thiểu là nhà triển lãm – bảo tàng, nhà hòa nhạc lẫn nơi diễn thuyết đều không có”

Nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Thông (trưởng Phân viện Văn hóa nghệ thuật VN tại Huế)

Qua một quá trình dài vận động, đến ngày 22-11-1989, UBND TP Huế đã chính thức ký quyết định thành lập Bảo tàng Văn hóa dân gian Huế, gọi tắt là Nhà bảo tàng Huế. Nhiệm vụ được đặt ra lúc ấy là nghiên cứu, sưu tầm, bảo quản, tổ chức trưng bày những mẫu vật thiên nhiên, di vật, di tích lịch sử văn hóa có liên quan đến quá trình hình thành và phát triển của vùng đất Thuận Hóa – Phú Xuân – Huế… Với nhiệm vụ này, lĩnh vực hoạt động của Nhà bảo tàng Huế vươn rộng ra toàn tỉnh.Công cuộc sưu tầm và nghiên cứu hiện vật bắt đầu ngay sau khi thành lập. “Là một cơ quan trực thuộc phòng văn hóa thành phố nhưng “với tay” ra các huyện là rất khó, lại trong tình trạng gần như không có kinh phí, song chúng tôi cũng cố gắng bằng mọi cách vận dụng để thu thập. Để có hiện vật, chúng tôi từng lén lút thuê xe, thức đến 2g sáng đi đến các làng để đưa hiện vật về. Đó là lý do mà bảo tàng ngày nay có được những tảng đá mốc giới của làng Vu Lai xưa (nay là Lai Trung), nhiều tượng điêu khắc Champa và hiện vật thời Tây Sơn rất quý giá…!” – ông Thuyên kể.

Riêng giám đốc Nhà bảo tàng Huế hiện tại – ông Huỳnh Đình Kết nhớ lại ông từng cầm một chỉ vàng của gia đình trên tay định ứng mua một bức tượng rất quý cho bảo tàng, nhưng họ đòi giá cao hơn, đành phải “buông tay”. “Giá như bảo tàng có kinh phí hoạt động thì nhiều hiện vật quý đã không vuột khỏi tay như thế!” – ông Kết tiếc nuối.

Dù nguồn kinh phí “gần như số không”, nhưng đến nay bảo tàng này đã sưu tập được hơn 5.000 hiện vật gồm gốm, đồng, đá… là bằng chứng sống động của văn hóa dân gian, đặc biệt là đời sống tín ngưỡng vốn rất phong phú của người dân Huế. Trong đó, quý giá bậc nhất là sưu tập điêu khắc, bia “lá đề” thuộc văn hóa Champa và khá nhiều hiện vật đá quan trọng thể hiện dấu ấn của triều đại Tây Sơn. Hàng nghìn ảnh tư liệu về phong trào đấu tranh đô thị tại Huế… Đặc biệt là hơn 1 vạn trang tư liệu Hán – Nôm tại các làng xã vùng Huế đã được sưu tầm, nghiên cứu và số hóa. Trong thời gian qua, Bảo tàng Huế cũng đã phối hợp với một số đơn vị triển lãm một số hiện vật, hình ảnh; đáng chú ý là triển lãm các hiện vật thời Tây Sơn trên đất Huế và một số hoạt động nghiên cứu khác.

Chạy như trốn lụt!

Nhưng những hiện vật quý giá nói trên kể từ ngày tập trung về Nhà bảo tàng Huế thì cũng là lúc bắt đầu hành trình “chạy như trốn lụt”. Ông Nguyễn Duy Hiền – giám đốc Trung tâm Festival Huế, nguyên trưởng Phòng văn hóa Huế – cho biết sau khi thành lập bảo tàng, đến năm 1990 UBND TP Huế đã mạnh tay giao dãy nhà bên phải của UBND TP Huế hiện nay làm nơi làm việc và lưu trữ hiện vật của Bảo tàng Huế.

“Chuyện bảo tàng Huế có khi không còn ai nhắc tới, nhưng cứ hễ đến kỳ đại hội của thành phố là nó lại nổi lên. Đại hội nào cũng nhắc, cũng đưa vào nghị quyết là đầu tư cho bảo tàng, vậy mà tất cả vẫn giậm chân tại chỗ”

Ông Lê Văn Thuyên

Nhưng đến năm 1998, UBND TP Huế lấy lại ngôi nhà này, cả người lẫn vật của Nhà bảo tàng Huế phải “dạt” sang Phòng văn hóa thông tin TP Huế ở phía bắc cầu Trường Tiền (47 Trần Hưng Đạo cũ). Năm 2003, TP Huế quyết định giao nhà 47 Trần Hưng Đạo cho Công ty văn hóa Phương Nam làm nhà sách Phú Xuân, Nhà bảo tàng Huế lại “theo chân” Phòng văn hóa TP Huế dời về “trú tạm” nơi trụ sở số 4 Hoàng Hoa Thám. Trong thời gian này, toàn bộ sưu tập của bảo tàng được di chuyển đến nhà trưng bày nghệ thuật Điềm Phùng Thị (số 1 Phan Bội Châu), chất trong một gian kho rộng chừng 30m2…Năm 2009, Phòng văn hóa TP Huế lấy nửa khu nhà trưng bày số 4 Hoàng Hoa Thám làm nơi làm việc, cơ quan này đã chia một gian phòng cho bảo tàng. Căn phòng chưa đầy 40m2 tại đây trở thành nơi cất giữ hiện vật, tư liệu sách vở, vừa là nơi làm việc của cán bộ. Còn về nhân sự, kể từ ngày thành lập với bảy biên chế, sau quá trình di chuyển đã “rơi rụng” giờ chỉ còn hai người: một giám đốc và một cán bộ nghiên cứu…

Ông Huỳnh Đình Kết cho biết ông đã liên tục đề xuất việc cấp trụ sở cho bảo tàng lên lãnh đạo TP, thường vụ Thành ủy… nhưng đến nay chưa thấy động tĩnh gì. Trong sự ngán ngẩm chung, ông Lê Văn Thuyên nói: “Thật ra TP Huế đã hứa sẽ giao trụ sở UBND TP hiện nay để làm bảo tàng sau khi hoàn thành trung tâm hành chính TP Huế (đang xây dựng) ở đường Tố Hữu. Nhưng điều quan trọng hơn là việc chuẩn bị đội ngũ cán bộ có tâm huyết, năng lực và các chuyên gia phục vụ bảo tàng. Về việc này thì TP Huế vẫn chưa có kế hoạch dù năm nào chúng tôi cũng đề nghị, xin đào tạo. Do đó nếu có trụ sở thì cũng không biết nhân lực đâu để mà làm!”.

THÁI LỘC

Cổ vật “triệu đô” thiếu kho chứa

TT – Bảo tàng Quảng Nam hiện đang chứa hơn 1.500 cổ vật gốm sứ Chu Đậu và hàng ngàn cổ vật quý hiếm khác trong điều kiện hoang hóa, chật chội và ẩm thấp.

Ngoài ra, hàng chục phiến đá Chăm, tượng Chăm phơi nắng mưa ngay tại chân cầu thang bảo tàng vì không có chỗ để.

Nhiều cổ vật vô giá ở Bảo tàng Quảng Nam chưa có nơi lưu giữ tương xứng – Ảnh: Tấn Vũ

Gần 15 năm từ ngày chia tách tỉnh Quảng Nam cũng là chừng ấy năm 18.000 cổ vật có giá trị hàng triệu USD được dồn trong một nhà kho vỏn vẹn 240m2.

Điêu tàn như bảo tàng

“Đá Trường Sa” phơi mưa nắng
Các tảng đá san hô mang tên các đảo của quần đảo Trường Sa đang để ngoài trời – Ảnh: Vũ Toàn

Tại Bảo tàng Nghệ An, nếu tính từ năm 1999 đến nay, dự án về xây dựng nhà bảo tàng và các công trình nội, ngoại thất vẫn đang còn lùm xùm.

Hiện tại, nơi khu vườn rộng mọc đầy cỏ dại, 21 tảng đá san hô mang tên 21 đảo của quần đảo Truờng Sa được dựng một hàng dài dưới chân bức tường bảo tàng phía ngoài trời. Đây là 21 tảng đá vừa làm nức lòng người dân trong lễ “đặt đá chủ quyền quần đảo Trường Sa” ngày 27-5-2010 tại tiền sảnh Bảo tàng Nghệ An. Ông Hoàng Minh Tuyền – giám đốc Bảo tàng Nghệ An – nói: “Vì chưa có các gian phòng nội thất quy chuẩn nên không biết để các tảng đá này ở đâu”.

Vũ Toàn

Năm 1997, khi tỉnh Quảng Nam chia tách, một khuôn viên đẹp, rộng hơn 2ha tọa lạc trên đường Phan Bội Châu giáp ngã tư Trần Phú (nối dài) TP Tam Kỳ được chọn làm thư viện, bảo tàng, vườn tượng danh nhân.Tháng 10-1997, công trình Bảo tàng Quảng Nam được UBND tỉnh Quảng Nam phê duyệt trị giá 9 tỉ đồng, rồi tiếp tục phê duyệt lần 2 với giá trị 15 tỉ, nhưng hình hài của bảo tàng chỉ là một nhà kho xuất hiện trên bãi đất trống. Nắng như nung, các nhân viên của bảo tàng bắc ghế ngồi quạt mồ hôi.

Ông Trần Tấn Vịnh – giám đốc Bảo tàng Quảng Nam – cho biết cả bảo tàng chỉ có một cái máy lạnh. Không ai dám bén mảng tới nơi đó, bởi nó ưu tiên dành cho việc bảo quản các cổ vật bằng giấy. “Nếu không bảo quản tốt ở nhiệt độ cho phép, các cổ vật này sẽ hỏng ngay” – ông Vịnh nói. Theo thiết kế, căn nhà kho này là mô hình nhà sàn, có cầu thang, gầm sàn. Tận dụng cái gầm sàn trống, bộ phận hành chính, bảo vệ của bảo tàng gần 20 người làm việc ở gầm sàn gần 15 năm qua.

Số cổ vật còn lại, bao gồm đồ gốm sứ Sa Huỳnh, Chu Đậu và đồ sa thạch Champa đều được chất thành đống trong các kệ, chen chúc lên nhau trong một căn phòng chật chội, nóng bức. Nhiều cổ vật đã bị bong tróc, nứt nẻ hoặc phai màu, xuống nước sơn.

Cạnh đó, nhiều cổ vật quý hiếm từ thế kỷ 16-17 được khai quật từ các con tàu đắm trên vùng biển Cù Lao Chàm (Hội An) như ấm tỳ bà, ấm hai bầu, các dụng cụ chén, đĩa, các lọ chứa nước hoa… cũng được xếp lớp chờ nhà kho. Để có chỗ chứa, nhân viên bảo tàng phải cơi nới thêm bằng cách bắt kệ lên sát vách nhà để treo các cổ vật lâu đời ở miền núi.

Tội… “không có doanh thu”

Ông Trần Tấn Vịnh cho biết sắp tới ít nhất khoảng 5.000 cổ vật được trục vớt tại vùng biển Cù Lao Chàm được đưa về bảo tàng nhưng không biết nơi nào bảo quản. Theo ông Vịnh, Bảo tàng Quảng Nam là nơi lưu giữ những cổ vật có giá trị và số lượng thuộc hàng bậc nhất miền Trung, trong đó có những cổ vật trị giá hàng triệu USD như đầu thần Siva, gốm sứ Chu Đậu… nhưng lại không được đầu tư thỏa đáng từ đầu.

Ông Vịnh bức xúc: “Tôi đã nhiều lần báo cáo lên cấp trên nhưng tình hình chẳng thay đổi. Có lần trước mặt lãnh đạo, tôi nói thẳng nếu căng quá tôi từ chức. Nếu xảy ra việc gì ai chịu trách nhiệm!”. Để bảo vệ những cổ vật triệu đô trong nhà kho này, hai bảo vệ làm hợp đồng chia nhau ngày đêm canh giữ, lương tháng 1 triệu đồng.

Có phải vì Quảng Nam có hai di sản văn hóa thế giới là Mỹ Sơn và Hội An nên cơ quan chủ quản chỉ việc đầu tư vào đấy, còn các cổ vật còn lại dù có giá trị bao nhiêu cũng bị phớt lờ? Ông Đinh Hài – giám đốc Sở Văn hóa – thể thao và du lịch Quảng Nam – cho rằng: tất cả là do vốn!

Ông Hài phân tích: Với số vốn đầu tư cho toàn tỉnh là 220 tỉ đồng cho tất cả các ban ngành, các địa phương, nên việc xây dựng bảo tàng nằm trong cái khó chung đó. Bảo tàng, thư viện, đoàn dân ca… không có doanh thu nên rất khó đầu tư. “Không nên cầu toàn cho những cái lớn hơn trong điều kiện khó khăn lúc này. Muốn làm bảo tàng to lớn hơn thì đợi con cháu” – ông Hài nói. Ông Hài cũng cho biết trong tháng 9-2010, công trình bảo tàng này sẽ khởi công với tổng vốn 32 tỉ đồng từ nguồn vốn địa phương.

TẤN VŨ

Quán cà phê “lấn” bảo tàng

Một góc Bảo tàng TP Cần Thơ phía đường Hòa Bình (quận Ninh Kiều) có một nhà tiền chế bằng tôn được dựng lên nhằm để hàng hóa và phục vụ nước giải khát với nhiều bàn ghế. Số ghế tại đây và phía ngoài khuôn viên sân bảo tàng lên đến hàng chục. Để phục vụ khách, bảo tàng còn dành hẳn một bãi để xe có bảo vệ của quán trông coi, khi khách đông, quán lấn gần hết cả khoảnh sân phía đường Hòa Bình. Bên ngoài bảo tàng là các xe bán bánh mì cùng với những người bán vé số chào mời khiến khu vực này trở nên bát nháo.

Đến Bảo tàng Kiên Giang (phường Vĩnh Thanh Vân, TP Rạch Giá), điều đầu tiên khách thấy là… đóng cửa. Hằng ngày những người đến đây không phải để tham quan hay thưởng lãm mà chỉ uống cà phê, giải khát. Ngay trong khuôn viên bảo tàng, quán cà phê được xây dựng nối liền giữa bảo tàng và nhà của Ban bảo vệ di tích tỉnh Kiên Giang.

Bàn ghế lấn chiếm qua một phần bên hông phải của bảo tàng và chồm ra phía trước. Ông Nguyễn Thanh Dũng – một vị khách thường xuyên đến đây – nói: “Hai năm nay tôi uống cà phê ở đây nhưng chưa một lần thấy bảo tàng này mở cửa. Nơi đây từng là nơi thưởng thức văn hóa của người dân nhưng bây giờ chỉ là nơi… uống cà phê”. Ông Nguyễn Hữu Phúc – phó giám đốc Sở Văn hóa – thể thao và du lịch tỉnh Kiên Giang – cho biết việc bán quán cà phê sẽ được chấn chỉnh khi bảo tàng sửa chữa xong và tiến hành trưng bày.

C.QUỐC – TẤN THÁI

Theo nguồn Tuoitre online

 

* MỤC LỤC – TIN TỨC THỜI SỰ NGÀNH GỐM 

Read Full Post »

Nỗi niềm cổ vật

Sau cuộc triển lãm “Cổ  vật dưới đáy biển Việt Nam” được tổ chức vào dịp Festival Biển Bà Rịa – Vũng Tàu 2006, đến nay hơn 21.000 cổ vật của Bà Rịa – Vũng Tàu rất có giá trị vẫn “ngủ yên” trong kho.

Bảo tàng tỉnh hiện đang bảo quản trên 21.000 hiện vật trong đó có nhiều nhóm cổ vật có giá trị như: Cổ vật Hòn Cau; cổ vật súng thần công; đồ gốm Thái Lan; đồ gốm sứ Hòn Bà; gốm sứ Lộc An; bộ sưu tập hiện vật khảo cổ học Giồng Lớn – Long Sơn; những bộ sưu tập súng đồng thời Minh – thế kỷ thứ 16; bình gốm sứ đời Ung Chính – nhà Thanh (Trung Quốc); các cổ vật được sản xuất thủ công tại các lò gốm dân gian Nam Trung bộ được trục vớt từ những con tàu đắm; những di chỉ, dấu tích được cất giữ từ hơn 10 cuộc khai quật lớn nhỏ trong nhiều năm qua tại Bưng Bạc, Bưng Thơm, gò Cây Me, gò Cá Sỏi, Hòn Cau… Đó là những bằng chứng vật chất về các giá trị sáng tạo văn hoá của các cộng đồng cư dân trong quá trình hình thành và phát triển vùng đất Bà Rịa – Vũng Tàụ. Những cổ vật này còn cho thấy mối quan hệ giao lưu văn hóa của người dân Bà Rịa – Vũng Tàu với các vùng, miền và quốc gia trong khu vực đã có từ hàng trăm năm về trước. Đây còn là bằng chứng sáng tạo của con người về lĩnh vực nghệ thuật tạo hình, kỹ thuật chế tác, ghi nhận những sự kiện lịch sử, văn hoá, kinh tế của thời đại… Ông Phạm Quang Minh, Phó Giám đốc Bảo tàng tỉnh cho rằng: “Những hiện vật này sẽ đóng vai trò giáo dục truyền thống và góp phần thúc đẩy sự phát triển của ngành du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu nếu như chúng được trưng bày, giới thiệu rộng rãi”.

Vậy nhưng, đến nay, Bà Rịa – Vũng Tàu vẫn chưa có một phòng nào dành để trưng bày cổ vật, phục vụ khách tham quan, thưởng lãm. Hơn 21.000 cổ vật có giá trị vẫn phải tiếp tục chịu cảnh ngủ vùi trong kho. Trong khi đó, công tác bảo quản cổ vật của Bảo tàng tỉnh lại đang gặp không ít khó khăn. Theo nguyên tắc bảo quản thì hiện vật phải phân theo kho, theo chất liệu của hiện vật mới kéo dài tuổi thọ của nó. Trong khi đó, kho của Khu di tích Bạch Dinh thì chưa đủ điều kiện để làm được việc này bởi ban đầu chỉ có 99 hiện vật đến nay con số này đã lên đến trên 21.000 hiện vật mà kho bảo quản ở Khu di tích Bạch Dinh chỉ có khoảng 256m2. “Thực ra đây không phải là kho mà do không có nơi trưng bày, bảo quản hiện vật nên phải tận dụng nhà bếp của Khu di tích Bạch Dinh để cất giữ. Các hiện vật đều bỏ trong tủ rồi ghi danh mục sau đó đóng khoá lại nên không được chăm sóc thường xuyên”, ông Nguyễn Xuân Thanh Liêm, tổ trưởng tổ kiểm kê bảo quản Bảo tàng tỉnh cho biết.

Dự án xây dựng Nhà Bảo tàng tỉnh dành một phòng để trưng bày cổ vật trong đó có phác thảo nhiều điều kiện tối cần thiết cho việc bảo quản cổ vật như: Máy điều hoà không khí, môi trường chân không đối với các hiện vật bằng giấy, vải; máy hút ẩm; các loại thuốc diệt côn trùng (dơi, bò cạp, mối, mọt… ). Tuy nhiên, sau 13 năm dự án Nhà Bảo tàng vẫn nằm trên giấỵ Vì vậy, hiện nay ngoại trừ một số ít cổ vật được trưng bày ở Bạch Dinh và một số di tích nằm rải rác trên địa bàn tỉnh, còn hàng chục ngàn cổ vật vẫn tiếp tục trùm mền, ngủ yên dưới “nhà bếp” Khu di tích Bạch Dinh. Các cơ quan chức năng cũng quên việc phải “đánh thức” cổ vật mặc dù ai cũng có thể thấy những nguồn lợi mà cổ vật mang lại từ việc thu hút du khách đến tham quan, thưởng lãm.

Cổ vật Hòn Cau có giá trị, chỉ mới được trưng bày một lần vào năm 2006

Du khach tham quan cổ vật tại KDT Bạch Dinh

Bằng Lăng

 

* MỤC LỤC – TIN TỨC THỜI SỰ NGÀNH GỐM 

Read Full Post »