Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Tám 28th, 2010

Ấn Độ: Bài học muộn về những tượng thần! (Phần III)

Tượng thần Nataraja

Thu thập chứng cứ

Ghiya có một xu hướng thay đổi đối tác và bọn đàn em, ông ta lập tức cắt đứt liên lạc ngay khi có dấu hiệu nghi ngờ dù nhỏ nhất (“Ông ta hoàn tòan không có bạn bè”.) Tính thận trọng và đa nghi của Vaman Ghiya đã khiến rất nhiều người làm thuê cho ông ta cảm thấy bất mãn. Vì thế, chỉ trong một thời gian ngắn, Shrivastava đã tìm được một vài nhân chứng, những người có thể khai báo.

Nhân chứng là những tên trộm địa phương và những người môi giới với lời khai rất thuyết phục, nhưng vẫn không có đủ bằng chứng. Trong nhiều trường hợp, khi những bức tượng bị đánh cắp, chúng đều được đăng ký (khai báo) ở trụ sở cảnh sát địa phương, nhưng Shrivastava cần có những bức ảnh chụp những ngôi đền thờ, xuất xứ của những bức tượng này. Nhưng đáng buồn là những tài liệu lưu trữ về khảo cổ lại không đầy đủ.

Shrivastava buộc phải lùng sục trong thư viện và tài liệu lưu trữ mong tìm kiếm được những bức ảnh cũ và những ghi chép khảo cổ. (Cùng lúc này,Shrivastava tìm được một bản copy cuốn sách của Watson). Ông tìm đọc lại các luận án tiến sĩ từ những năm 1960, trong đó có rất nhiều những bức ảnh chụp những bức tượng điêu khắc nguyên gốc của các đền thờ. Shrivastava ta thừa nhận rằng công việc này đã trở thành một nỗi ám ảnh. “Trong cơ quan tôi, mọi người đều nói ‘Anh điên à, anh đã trở thành nhà nghiên cứu nghệ thuật và văn hóa rồi đấy””. Và tôi thì suốt ngày đọc và đọc ” Shrivastava vừa nói vừa mỉm cười ” Nó là sở thích của tôi “.

Đôi khi, trong quá trình nghiên cứu, Shrivastava tìm thấy rất nhiều những bức tranh minh họa sinh động những cổ vật mang tính tôn giáo bị buôn lậu ra khỏi Ấn Độ. Shrivastava vô tình tìm thấy một loạt ảnh rất đẹp về Matrika (nữ thần mẹ) với hàng loạt những pho tượng từ bên ngoài Tanesar, một làng ở gần Udaipur. Những bức tượng làm bằng đá xanh lục sẫm, ước tính niên đại từ thế kỷ thứ 5, miêu tả một cách duyên dáng từng giai đoạn phát triển của tình mẫu tử: bức tượng người mẹ đang mang thai, người mẹ cho con bú, người mẹ dìu đứa con đang chập chững đi, và người mẹ dắt con đi.

Tượng nữ thần Matrika

Tìm về cội nguồn

Vào năm 1961, một tờ tạp chí khảo cổ học đã cho đăng tải những bức ảnh Matrikas ở Tanesar. Sau đó những bức tượng bị đánh cắp và bị tuồn ra nước ngoài. Đến cuối những thập niên 90, một trong số chúng lại xuất hiện trong danh mục đấu giá của Sotheby. Đến tháng Hai năm 2003, Shrivastava đã thu thập được những bức ảnh chụp những bức tượng và lên đường tới Tanesar.

Khi đội cảnh sát tới ngôi làng, Shrivastava hỏi đám đông dân địa phương xem liệu có ai nhớ gì về những pho tượng cổ đó không. “Chúng tôi đã được chỉ dẫn đi gặp một cụ già 80” Shrivastava nói “ đó là một ông cụ tóc bạc trắng”. Shrivastava hỏi ông, rằng liệu ông ta còn nhớ những bức tượng Matrikas, và sau một hồi suy nghĩ, cụ già nói “Ồ, đúng, tôi nhớ là có 7 hay 8 pho tượng nữ thần, bà ta đang chăm bẵm con”. Shrivastava lấy những bức ảnh chụp Matrikas đưa cho ông lão xem. Ông chăm chú xem trong giây lát, rồi bất ngờ oà khóc.

Tôi hỏi Shrivastava rằng điều đã xảy ra với những bức tượng Matrikas, Shrivastava nói với tôi rằng chúng đã yên vị trong các nhà bảo tàng ở Anh và Mỹ. Hiện tại, một bức tượng được đặt ở bảo tàng British, một bức khác ở bảo tàng Cleveland, và một bức khác nữa ở Met.

Ông trùm thất thế

Quá trình thẩm vấn Vaman Ghiya kéo dài 90 ngày. Ban đầu, Ghiya ông ta bị nhốt cùng buồng giam với một trong những tay chân của ông ta, nhưng ông ta coi đó là sự sỉ nhục. Ghiya liên tục than phiền vì tình trạng thiếu tiện nghi và và nài nỉ gọi điện cho bác sĩ riêng hàng ngày để hỏi han và nhờ tư vấn sức khoẻ. Trong khi, Shrivastava thì hăm hở muốn khai thác kẻ bị tình nghi, thì Ghiya chỉ mở miệng nói đúng một câu duy nhẩt “Tại sao anh không cho tôi tên anh và số tài khỏan ở nước ngoài của anh? Tôi sẽ gửi tiền vào đó “.

Shrivastava đã khuất phục Ghiya bằng cách tiến hành thẩm vấn hàng đêm, từ 6 giờ tối cho đến sáng, trong suốt một thời gian dài. Shrivastava miêu tả mối quan hệ của mình với Ghiya trong thời gian thẩm vấn với một giọng điệu hài hước. “Rõ ràng, việc tôi làm là bất hợp pháp nhưng nó là cả một nghệ thuật” Shrivastava nói “Đây không phải là một vụ cướp ngân hàng, và Ghiya cũng không phải là thành viên của Al-Qaeda. Ông ta là người có tài ăn nói. Tuy nhiên, ông ta cũng rất cứng rắn”.

Một vài ngày sau, Shrivastava cố tình châm chọc Ghiya, bằng cách nói rằng, theo ông thì Baliram Sharma là sếp của Ghiya trong giới buôn lậu cổ vật. Ghiya đã ngạo mạn nói “Ông ta đã bị cảnh sát bắt giữ một vài lần. Còn với tôi, đây là lần đầu tiên”.

Và khi Shrivastava hỏi, tại sao những nhà đấu giá trên thế giới vần tiếp tục làm ăn với với Ghiya sau khi cuốn sách của Watson được xuất bản và Brendan Lynch bị sa thải, Ghiya bật tanh tách rằng mình là người không thể thiếu: “Họ có thể sống sót nếu không có Brendan Lynch, nhưng không thể tồn tại nếu không có tôi”.

Tượng nữ thần Matrika Tượng thần Shiva

Cung khai

Hai tuần sau khi bị thẩm vấn, Ghiya bắt đầu khai. Shrivastava đã đọc cho tôi nghe những lời thú tội của Ghiya, được viết tay bằng tiếng Hindi trong một tập những cuốn vở học sinh. Chúng ghi lại tòan bộ quá trình buôn lậu hết sức tinh vi và phức tạp. Do Thụy Sĩ là một nước tự do buôn bán và việc kiểm tra ở đây khá lỏng lẻo, Ghiya đã vận chuyển hàng bằng đường biển tới Geneva, nơi ông ta thành lập 3 công ty khác nhau. Những công ty này mua đi bán lại những món hàng nhằm tẩy xóa nguồn gốc của chúng trước khi đưa đến tay những nhà đấu giá và những người sưu tập.

Các nhà bán đấu giá có thể khăng khăng khẳng định rằng họ có được những cổ vật đó không phải từ Ấn Độ và là từ một công ty Thụy Sĩ (và công ty Thuỵ Sĩ này thì cũng mua lại của một công ty ở Thụy Sĩ khác) – Dù cho những công ty này dùng chung một địa chỉ đăng ký kinh doanh và những cổ vật chỉ “dừng chân” ở Thụy Sĩ không quá một tuần.

James Hodges đã cho Peter Watson xem những tài liệu về hai công ty ở Thụy Sĩ mà Ghiya sử dụng. Trong vòng hai năm, từ năm 1984 đến 1986 công ty Cape Lion Logging và Megavena đã ủy thác 93 cổ vật cho Sotheby’s bán đấu giá. Sotheby’s thường trả tiền hoa hồng thông qua một tài khỏan giả, Ghiya giải thích. Để đưa tiền mặt quay về Ấn Độ, Ghiya sử dụng hawala (theo tiếng Arập nghĩa là chuyển tiền – việc chuyển tiền thông qua một hệ thống ngân hàng chui, không chịu bất cứ sự kiểm soát hay luật lệ tài chính nào. Hệ thống này có các trung tâm giao dịch đặt tại các nước Arập nhiều dầu mỏ) và cũng được sử dụng rộng rãi ở Ấn Độ, và thực tế là không thể lần ra dấu vết.

Sau khi Sotheby’s đóng cửa sàn giao dịch tại London năm 1997, nó chuyển việc buôn bán tới New York, đó là theo lời của Ghiya. Nhưng theo người phát ngôn viên của Sotheby, nhà đấu giá này đã không bán bất cứ một tác phẩm nào do Ghiya ủy nhiệm kể từ năm 1997.

Còn nhà đấu giá Christie’s thì tiếp tục bán những cổ vật do Ghiya cung cấp (theo như Ghiya nói). Riêng bức tượng thần Shiva, cảnh sát đã đối chiếu những bức ảnh tìm thấy trong ngăn tủ bí mật ở nhà Ghiya, đối chiếu những vết trầy xước, nứt vỡ, những cạnh mép lởm chởm khi pho tượng bị cạy ra khỏi vị trí ban đầu… nó hòan toàn phù hợp trạng thái bức tượng thần Shiva được nhà đấu giá Christie’s chào bán tại New York vào ngày 20 tháng Chín năm 2000.

Ghiya kể rằng ông ta đã gặp những người đại diện của Christie’s vào cuối tháng Giêng năm 2003. Phát ngôn viên của Christie’s nói “Christie’s miễn bình luận về lai lịch những khách hàng của họ”. Đồng thời, bà này cũng nhấn mạnh rằng đã có rất nhiều câu hỏi nhằm vào Ghiya nhưng “đây là một nhà kinh doanh có uy tín”, bà không được phép tiết lộ danh tính và Christie’s “không có lý do gì để tin rằng Ngài Ghiya có bất kỳ mối liên hệ nào” với bức tượng thần Shiva.

Dần dần Ghiya đã cung cấp cho Shrivastava hơn một chục tên những khách mua hàng của ông ta ở Anh, Thụy Sĩ, và Mỹ. Ghiya ghi nhớ hết sức cẩn thận địa chỉ, sở thích riêng của những người sưu tầm, và số phận của những cổ vật đã được buôn bán qua tay ông ta.

Những người sưu tầm luôn tuyên bố rằng họ là sưu tầm là để gìn giữ và bảo vệ những cổ vật quý này khỏi bị hứng chịu sự ngược đãi hoặc lãng quên. Nhưng Ghiya lại nói khác, ông ta kể rằng rất nhiều lần nhận được những đơn đặt hàng yêu cầu buôn lậu một pho tượng từ nước này sang cái khác. Ghiya nhớ lại những gì đã xảy ra với pho tượng đá Vahara – chạm khắc hình một con lợn rừng, một trong những hiện thân của thần Vishnu – ở làng Attru, Đông Nam Rajasthan. Pho tượng này được gắn trên một cái đế nặng cả nghìn pound, chân và tòan thân phủ kín bằng những họa tiết trang trí cầu kỳ. Cuối những năm 1980, bọn trộm đã dùng một sợi xích, xâu qua cái miệng đang há ra của con lợn và giật nó ra khỏi bệ đá. Quá trình này đã làm bay mất xương hàm dưới và làm gẫy chân của nó. Cuối cùng nó được bán cho một nhà sưu tầm tư nhân ở Zurich.

Một hai ba chúng ta cùng chối

Ghiya bị buộc tội ăn trộm “chuyên nghiệp”, sở hữu và vận chuyển cổ vật bất hợp pháp. Những phiên tòa xét xử của tòa án Ấn Độ được tiến hành một cách chậm chạp, người ta hy vọng cuộc xử án, đã tiến hành hơn một năm này, sẽ kết án ít nhất 5 người. Giới báo chí bị chặn lại bên ngoài phòng xử án, Ghiya được biện hộ vô tội. Những lời thú tội mà phía cảnh sát đưa ra được cho là kết quả của quá trình tra tấn và thẩm vấn ép buộc nên đã không được tòa án chấp nhận.

Khi tôi hỏi cả Shrivastava lẫn những sĩ quan khác rằng liệu Ghiya có bị tra tấn trong quá trình thẩm vấn hay không, họ đều nói, họ sẽ bị sa thải tức thì nếu có bất cứ một dấu hiệu ngược đãi nào đối với những đối tượng bị tình nghi. Nhưng ô dù của Ghiya cho rằng sẽ thật là kỳ lạ nếu như cảnh sát có được lời thú tội của Ghiya mà không có những hành động ngược đãi về thể xác nào.

Sharma Sandipan, một nhà báo Ấn Độ đã cảnh báo tôi rằng việc giao du với giới buôn bán đồ cổ ở Jaipur “cũng giống như cuộc thi điền kinh” – mọi người đều nhúng tay vào, và mọi người đều chối đây đẩy những việc đã làm. Chắc chắn rằng không một ai trong số những người đàn ông này dám thừa nhận rằng họ là người buôn lậu cổ vật.

“Một nhà buôn hàng dệt ở Rajasthan đã nói với tôi “Ghiya đã thức tỉnh đất nước Ấn Độ cần có những biện pháp nhằm gìn giữ những di sản văn hóa của mình bằng việc cho thấy cái giá mà người nước ngoài sẵn sàng trả để có được chúng”.

“Luật pháp không làm lợi cho bất cứ ai” nói theo cách của học giả Pratapaditya Pal, người đã tới Mỹ từ giữa những năm 1960, ông đã có trong tay một số bộ sưu tập nổi tiếng.

Pal tin rằng, những điều luật thường không linh hoạt vì nó không thể phân biệt giữa được một kiệt tác nghệ thuật với những loại đồ cổ bình thường. Và kết quả là thị trường chợ đen ra đời và chính phủ không có khả năng quản lý. Pal đã ủng hộ mô hình được sử dụng ở Nhật.Tại đây, họ tiến hành đánh giá tác phẩm nghệ thuật mang tầm vóc, ý nghĩa dân tộc để gìn giữ và bảo quản, còn những thứ khác sẽ được đem bán trên thị trường tự do.

Tượng đầu voi Ganesha Tượng thần Vishnu

Cổ vật … đi đâu về đâu

Tương lai không có gì sáng sủa đối với hàng nghìn cổ vật đã bị Ghiya buôn lậu ra nước ngòai từ giữa những năm 1970 cho đến khi ông ta bị bắt. Một cuộc tranh luận đã diễn ra giữa ngành khảo cổ và chính phủ ở Rajasthan về việc ai sẽ tài trợ tiền để những tác phẩm nghệ thuật bị mất quay trở lại và nằm trong những gian triển lãm của viện bảo tàng ở Ấn Độ. Tuy nhiên, dù cho chúng có quay trở lại thực sự, thì chúng cũng không thể trở về chính xác nơi mà từ đó chúng bị đánh cắp.

Pal đã chỉ ra rằng, thậm chí sau khi chính phủ Ấn Độ phải chi một số tiền khổng lồ để bức tượng đồng đỏ Nataraja, một tác phẩm điêu khắc được coi là một trong những kiệt tác của nghệ thuật Ấn Độ – quay về, thì nó cũng không được đặt lại trong ngôi đền mà từ đó nó đã ra đi, mà nó cũng không được trưng bày ở viện bảo tàng.

Khi cảnh sát thu giữ được gần 900 cổ vật trong những kho hàng khác nhau của Ghiya nằm rải rác khắp Ấn Độ, chúng lập tức được vận chuyển về Jaipur. Hiện tại, chúng được cất giữ trong kho tàng cổ vật của đồn cảnh sát Vidhyadhar Nagar ở Jaipur. Chính quyền đã công bố kế hoạch tập hợp, khôi phục và cho trưng bày toàn bộ số cổ vật tại Hawa Mahal – lâu đài Winds ở Jaipur.

Tôi đến thăm Hawa Mahal, lâu đài được ốp bằng đá hồng với hàng trăm ô cửa sổ nhỏ xíu được xây dựng từ thế kỷ 19 – nơi những phụ nữ quý tộc xưa có thể ngắm cảnh thành phố mà không cần đi ra ngoài . Ở đây tôi gặp Zafar Ullah Khan, người được phân công gìn giữ cổ vật. Mọi cổ vật đều được chụp ảnh trước khi nhập kho, và, trong khi chúng tôi đang lật giở một núi những bức ảnh đen trắng chụp cổ vật, Zafar Ullah Khan nói với tôi rằng: một ngày nào đó, tất cả các tác phẩm đó sẽ được đem ra trưng bày. Nhưng tại thời điểm hiện tại, lâu đài Winds cần phải được trang bị hệ thống báo động và hệ thống camera theo dõi. Họ không thể đem trưng bày những cổ vật quý giá như vậy trong một điều kiện thiếu an toàn.

Mafia thanh toán lẫn nhau

Một điều bí mật, một câu hỏi được đặt ra là tại sao Ghiya không thể hối lộ giới quan chức để được ra khỏi tù. Ariane Dandois, đã nghe được những tin đồn ở Jaipur rằng Ghiya có những kẻ thủ rất có thế lực. Ariane Dandois nói “Ghiya đã trở nên quá giàu có, quá kiêu ngạo, và mâu thuẫn với những nhân vật quan trọng”. “Anh biết đấy, đây là một tổ chức mafia. Và rõ ràng là có một số người muốn loại Ghiya ra khỏi cuộc chơi “.

Đường dây hoạt động của Ghiya được xem là đường dây buôn lậu đồ cổ lớn nhất trong lịch sử Ấn Độ đã bị phá. Ghiya có thể phải sống nốt phần còn lại của đời mình ở trong tù.

Trong vòng ba năm sau khi Ghiya bị bắt, đường dây buôn lậu đã bị gián đoạn. “Nhưng hiện giờ tôi biết rằng họ đã bắt đầu hoạt động lại,” Shrivastava nói “Buôn lậu cổ vật là một hành vi phạm pháp đòi hỏi phải có chuyên môn. Anh cần phải có khiếu thẩm mỹ và phải đọc rất nhiều”. “Những tay buôn lậu mới này, đã rút ra được bài học kinh nghiệm của Ghiya. Vì thế chúng càng thận trọng và tinh vi hơn”. /.

Tác giả Patrick Radden Keefe

Uyển Chi (Vietimes) lược dịch từ The New Yorker

 

 

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

Advertisements

Read Full Post »

Ấn Độ: Bài học muộn về những tượng thần! (Phần II)

Ghiya sinh năm 1948, trong một gia đình thuộc tầng lớp dưới. Cha Ghiya, Badri Narayan, sở hữu một hiệu ảnh nhỏ ở Jaipur, chính tại đây, Ghiya bán phim Kodak, lồng kính và bán những bức họa phương Tây. Sau khi tốt nghiệp trường cao đẳng Maharaja, Ghiya tiếp tục buôn bán những bức tranh cổ. Do tính chất công việc, Ghiya thường xuyên đi Bombay, sau đó ông ta mở một của hàng riêng tại Jaipur. Vài năm sau, Ghiya kết hôn.

Ariane Dandois, một phụ nữ Pháp lần đầu tiên đến thăm cửa hàng của Ghiya vào cuối thập niên 70. Ariane Dandois được coi là một trong số những khách hàng phương Tây đầu tiên của Ghiya. Dandois có thân hình cao dong dỏng, mái tóc vàng óng, và là một phụ nữ hấp dẫn. Bà sở hữu một phòng triển lãm tranh nghệ thuật Châu Á ở đường Saints-Pères, Paris. Lần đầu tiên đi du lịch đến Ấn Độ trong vai trò một cô sinh viên đại học Sorbonne. Bà đã dành hàng tháng trời ở vùng nông thôn để kiếm tìm tài liệu. Dandois nhớ lại, bà đã đến thăm Ghiya trong một cái nhà nhỏ, nhỏ đến mức cả nhà phải ngủ cùng trong một phòng và nằm đất. Ghiya rất muốn kết giao với các bạn hàng phương Tây, ông ta lịch sự và cung kính tựa “như một gã nô bộc”. Vợ Ghiya thì ra sức rót đầy chén trà của Dandois mỗi khi chén vơi.

Một số ông hoàng Ấn Độ muốn bán những tác phẩm trong bộ sưu tập đồ sộ của họ. Dandois cần giao dịch với ông hoàng của thành phố Bikaner để mua toàn bộ bộ sưu tập đá cẩm thạch của ông ta với giá 25 nghìn đô. Ghiya có nhiệm vụ thuê 1 đoàn xe vận chuyển toàn bộ 64 món đồ gỗ gia dụng về Jaipur; và triệu tập những người dân địa phương trong một khoảng sân, trang bị cho họ những bát nước nhỏ, để lau chùi đồ gỗ.

Ông trùm

Có khoảng hai mươi thương nhân phương Tây đã đến Jaipur trong khoảng thời gian đó gồm ngừoi Pháp, Anh, Ý và người Mỹ. Họ ở tại Khách sạn Rambagh Palace. Họ đến đây và tin tưởng rằng sự xuất hiện của những thương nhân Ấn Độ giống như Ghiya, sẽ giúp họ giảm thiểu nguy hiểm và khó chịu khi tự ý rời khỏi trung tâm thành phố. Ông trùm của những thương nhân mới này là Baliram Sharma. Sharma đặt trụ sở chính tại thủ đô Delhi, ông ta cũng vài lần bị tạm giữ nhưng chưa bao giờ bị tống vào tù. Ông đã trở thành người có ảnh hưởng lớn. Một người buôn bán đồ cổ ở Ấn Độ đã nói với tôi rằng tất cả những người buôn lậu cổ vật đều”làm việc theo chỉ thị của Sharma”.

Sharma và những người khác trở thành những nhà phân phối cổ vật cho phương Tây và họ nhanh chóng trở nên giàu sụ. Chính điều này đã cuốn hút và định hướng cho tham vọng của Ghiya khi ông ta bắt đầu thành lập doanh nghiệp từ những năm 1970. Những người quen biết Ghiya nói rằng, dù Ghiya không có con mắt tinh tường và được huấn luyện bài bản như Sharma, nhưng bù lại ông ta đã góp nhặt được một lượng kiến thức khổng lồ. Theo cảnh sát, Ghiya đã nẫng tay trên những đầu mối cung cấp hàng cho Sharma bằng việc trả giá cao hơn.

“Ông ta là một con người đầy tham vọng” Jack Franses, cựu nhân viên làm việc cho Sotheby, ông này đã gặp Ghiya ở Jaipur vào đầu những năm 80. Ghiya dẫn Jack Franses đi thăm quan một kho hàng chất đống những tấm thảm cổ bám đầy bụi bặm, và đứng xem chúng được vận chuyển đi. Ghiya tuyên bố rằng ông ta có thể làm bất cứ cái gì miễn là có yêu cầu đặt hàng.”Nếu các ngài muốn có Taj Mahal, tôi cũng sẽ gửi nó tới cho các ngài,” Ghiya nói với Franses”Tôi sẽ dỡ nó thành từng mảnh”.

Ghiya xây dựng rất nhiều những đầu mối trung gian trên khắp cả nước Ấn Độ. Theo những nhà chức trách, mạng lưới ngầm của Ghiya hết sức bền vững, đầu mối nào chỉ biết đầu mối đó. Họ hoạt động riêng biệt và chỉ thông qua những người trung gian. Ví dụ, để một cổ vật từ tay một kẻ trộm địa phương đến nhà bán đấu giá tại London là cả một chu trình khép kín. Khi một pho tượng bị trộm ra khỏi ngôi đền hay được thu gom từ những người nông dân địa phương, nó được mang tới một người môi giới, người này sẽ lập tức chụp ảnh. Sau đó những bức ảnh lại được chuyển qua tay rất nhiều trung gian trước khi tới tay Ghiya. Rồi nó tiếp tục được gửi tới tay những chủ nhân tương lai ở nước ngoài qua những chuyến bay đi bay về của Ghiya từ London tới New York.

Thận trọng không bao giờ là thừa

Vào một buổi tối ở Jaipur, tôi gặp Abhay Singh, trước là lái xe cho Ghiya từ năm 1984 đến 2000 và bây giờ Abhay Singh là nhân chứng chính trong vụ kiện chống lại Ghiya.

Singh là một người đàn ông gầy guộc với thân hình cao lêu đêu, mái tóc chải thẳng thớm như của một cậu học sinh. Singh đã kể cho tôi nghe về những chuyến đi về vùng nông thôn của Ghiya để hẹn gặp những người môi giới và kiểm tra hàng hoá.

Theo Singh, Ghiya là người vô cùng thận trọng, thận trọng đến mức gần như hoang tưởng. Thậm chí ngay cả khi ông ta ra khỏi nhà không vì công việc, Ghiya vẫn luôn lo lắng nhìn vào gương chiếu hậu vì sợ rằng ô tô của họ đang bị theo dõi. Sau khi lựa chọn được những món hàng muốn mua, Ghiya thường hướng dẫn những người môi giới đóng gói và xếp hàng lên xe của họ rồi cùng lái xe quay trở lại Jaipur với ông ta. Trên đường đi, để đảm bảo an toàn”Ghiya luôn mang theo hai lá cờ, một lá màu đỏ và một lá màu xanh lục,” Singh giải thích”Nếu có bất kỳ nguy hiểm nào, ông ta lập tức giương cờ đỏ lên, đoàn xe lập tức dừng lại và thay đổi lộ trình”. Ở Jaipur, Ghiya cất giấu cổ vật thu gom được tại những kho hàng nằm rải rác khắp Jaipur, nhiều món được chôn cất ngay trong chính nông trại của ông ta. Khu nông trại khá rộng và ẩn dật với cây cỏ dại mọc um tùm, một vài nhà thấp và bể bơi. Chính tại đây, Ghiya thường đào hố chôn giấu những tác phẩm điêu khắc.”Ghiya nói với người hầu rằng ông ta đang gieo trồng một giống cây mới” Singh nói.

“Ông ta là người hay lo sợ và quá đa nghi” một người quen ở Jaipur nói với tôi”Ông ta không để bất cứ ai biết về cuộc sống của mình, thậm chí kể cả vợ”. Khi Ghiya không đi ra nước ngoài, ông ta luôn về nhà rất muộn. Tiền bạc kiếm được hầu hết ông ta đầu tư vào bất động sản Ông ta không có thú vui; Và mọi người đều nhất trí một điều rằng Ghiya quan tâm đến việc kinh doanh đơn giản là vì những món lợi nhuận khổng lồ sẽ chảy vào túi ông ta.

Đôi lúc tính cẩn thận của Ghiya một phần cũng xuất phát từ thói hay mê tín.”Vào một ngày giá rét, tôi lái xe tới nhà ở Jaipur của Ghiya” Ariane Dandois nhớ lại.”Tôi nhờ Ghiya cầm lái đến Delhi”. Ghiya rất sợ sẽ gặp cướp trên đường từ Jaipur đến Delhi nhưng cuối cũng ông ta cũng đồng ý lái xe. Khi hai chúng tôi tới bãi đậu ôtô, bất ngờ một con chim lạ xuất hiện và lượn vòng quanh.” Đây là một điềm không may,” Ghiya lập tức từ chối không tiếp tục đi tiếp. Dandois đã cố gắng thuyết phục nhưng Ghiya vẫn kiên quyết từ chối.

Ghiya còn trở nên cẩn thận hơn sau lần bị tóm gáy vào năm 1989. Nhân viên hải quan ở Mumbai, trong một lần kiểm tra ngẫu nhiên đã thu giữ được 21 cổ vật trong contennơ chở hàng thủ công mỹ nghệ của Ghiya. Theo cảnh sát và những người buôn bán đồ cổ khác ở Jaipur kể lại, khi cơ quan thẩm quyền đến nơi, họ đã đưa ra kết luận những đồ vật chứa trong các côngtenơ hàng của Ghiya chỉ là những bản sao, đó không phải là đồ cổ. Kết luận này có thể đúng nhưng cũng có thể là do Ghiya đã hối lộ cơ quan chức năng. Nhưng cũng còn một khả năng nữa là một người nào đó đã thay thế những đồ cổ thật bằng đồ giả. Một trong những mưu kế mà giới buôn lậu cổ vật ở Ấn Độ thường xuyên thực hiện là sau khi chôm được cổ vật thật, họ sẽ làm một bản copy y hệt và cho trưng bày tại Viện nghiên cứu sưu tầm cổ vật, còn bản gốc thì đã được vận chuyển một cách âm thầm ra nước ngoài từ bao giờ.

Đế chế không thể sụp đổ

Thời gian này,Baliram Sharma đã về hưu, Ghiya”bắt đầu xây dựng một đế chế”. Nhưng, trong khi đa số những nhà phân phối và những người buôn lậu đồ cổ Ấn Độ khác khăng khăng đòi kiểm tra hàng trước khi trả tiền mua, thì Ghiya lại dừng việc đi về vùng nông thôn, ông ta bắt đầu chọn hàng bằng việc chỉ xem qua ảnh. Hàng sau khi được thu gom sẽ được chất vào kho ở Mathura và Delhi. Theo định kỳ, Ghiya sẽ kiểm tra hàng trước khi chúng được vận chuyển ra nước ngoài. Nhưng việc làm đó đồng nghĩa với việc Ghiya ngày càng bị lệ thuộc vào những người môi giới và những bức ảnh.

“Ông ta không bao giờ cất giữ các bức ảnh” Abhay Singh nói với tôi”Những bức ảnh được gửi đến tay ông ta và ngay lập tức nó được chuyển qua đường bưu điện tới tận tay khách hàng”.

Vào năm 1991, Peter Watson một nhà báo người Anh, đã phơi bày những bí mật bao trùm thị trường nghệ thuật trên tạp chí Người quan sát ở London khi anh ta đến và tiếp xúc với một nhân viên cũ của Sotheby, là James Hodges. Hodges đã làm việc tại nhà đấu giá hơn 10 năm, cho đến năm 1989, khi người ta phát hiện ra ông ta đã đánh cắp một chiếc mũ đồng cổ và chiếc bát sành nung khỏi nhà đấu giá.

Hodgesnói với Watson rằng sự mục nát và tội ác bao trùm khắp nơi ở Sotheby. Suốt hàng năm trời, ông ta đã tập hợp toàn bộ giấy tờ, hồ sơ chất đầy ba vali, đây là những chứng cứ về sự buôn lậu và trốn thuế vẫn xảy ra thường xuyên ở đây.

Trong thời gian Hodges làm cho Sotheby, Hodges nói, một số người cung cấp hàng cho những nhà đấu giá lớn nhất đã gợi ý rằng Hodges nên mở một tài khỏan giả. Những tài khoản này được các nhà buôn bán, phân phối cổ vật, những người nắm trong tay một lượng lớn cổ vật không rõ nguồn gốc dùng để hối lộ. Một trong số những nhà phân phối này là Giacomo Medici, một đại gia buôn lậu cổ vật người Ý. Giacomo Medici có kho chứa hàng ở Geneva, kho hàng này đã bị cơ quan có thẩm quyền khám xét và thu thu giữ hàng trăm cổ vật vào năm 1997. Theo Hodges”Ghiya chính là ông trùm của Jaipur”

Hodges giải thích rằng Ghiya giống như một”Medici thứ hai của Ấn Độ”, Ghiya có mối quan hệ mật thiết với nhà đấu giá với Sotheby đến nỗi, ông ta thường xuyên nghỉ tại nhà của Hodges ở Shepherds Bush trong những lần đến sân bay London để nhận hàng (những cổ vật của ông ta được vận chuyển bằng đường hàng không). Sau khi thiết lập mối quan hệ với nhà đấu giá từ đầu những năm 1980, Ghiya đã cung cấp cho Sotheby một lượng hàng rất lớn.

Sau những chứng cứ được các luật sư biện hộ của Hodges đưa ra tại phiên toà xét xử Hodges ở London vào tháng 11 năm 1991. Hodges cuối cùng bị buộc tội ăn cắp và làm giả sổ sách kế toán.

Nhà đấu giá chối tội

Brendan Lynch, một trong số những chuyên gia về đồ cổ Ấn Độ của Sotheby, người đã hai lần đến gặp Ghiya ở Jaipur để thu mua cổ vật, nói”Bất kỳ chuyến thăm nào do chuyên gia của Sotheby đến Ấn Độ đều bị theo dõi và họ cần chuẩn bị trước những lí do có đủ sức thuyết phục để đề phòng trường hợp bị cảnh sát sờ tới.” Họ thường lấy cớ là chuyên gia đi nghiên cứu hay viện cớ là đi viết sách.

Brendan Lynch, nhân viên của Sotheby, được xem là người có mối liên hệ mật thiết nhất với Ghiya, khi được hỏi về những chuyến viếng thăm Ấn Độ, ông ta nhấn mạnh rằng mục đích của chuyến đi không phải là để thu mua cổ vật, mà đơn thuần chỉ là để “nghiên cứu và… đánh giá” chúng. Nhưng trong bản báo cáo được phía luật sư đưa ra về những chuyến đi tới Ấn Độ vào năm 1988, trong đó Lynch đã viết “mục đích của chuyến viếng thăm” là “liên hệ với những nhà buôn người Ấn”.

Tuy nhiên, sau những bằng chứng Lynch đưa ra, nhà đấu giá vẫn tiếp tục liên hệ với Ghiya. Chỉ sau khi Watson cho ra mắt cuốn Những câu chuyện bí mật của Sotheby, xuất bản năm 1997 thì Brendan Lynch mới bị sa thải, và Sotheby tuyên bố đóng cửa nhà đấu giá cổ vật ở London.”Đó là những chính sách của Sotheby để đối phó với những vấn đề nhạy cảm,” một phát ngôn viên lúc đó nói. Ông ta cũng cho biết thêm là Sotheby vẫn tiếp tục bán đấu giá cổ vật, nhưng chỉ ở New York.

(Còn nữa)

Tác giả

Patrick Radden Keefe
Uyển Chi (Vietimes) lược dịch từ The New Yorker

 

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

Read Full Post »

 

Bài học muộn về những tượng thần! (Phần

I)

Khai hỏa

Một buổi sớm tháng Sáu năm 2003, hơn hai chục nhân viên cảnh sát được trang bị vũ khí bao vây tứ phía và sẵn sàng đột nhập vào bên trong khu nhà Everest – một khu nhà yên tĩnh của tư nhân, ở vùng ngoại ô thành phố Jaipur của Ấn Độ. Đội đặc nhiệm ẩn nấp trong bóng tối, bất ngờ ập vào tấn công tước vũ khí của nhân viên bảo vệ và mở cổng. Chiếc camera an ninh vẫn chạy rè rè, nửa đơn vị còn lại tiếp tục lặng lẽ phục kích. Trong cả tháng trời, cảnh sát vào vai những gã lang thang lảng vảng quanh khu nhà. Và khi giờ cao điểm, họ quyết định tập kích bất ngờ khiến những người trong nhà không kịp trở tay.

Cảnh sát vừa hét “Mở cửa! mở cửa mau!”, vừa đập cửa thình thình. Họ đứng đợi hồi lâu nhưng không thấy ai xuất hiện. Bỗng có ai đó phát hiện một luồng khói lớn bay ra từ cửa sổ tầng ba – vốn là phòng ngủ của chủ nhân. Chỉ huy đội đặc nhiệm – Anand Shrivastava – lập tức ra lệnh cho quân của mình phá cửa vào nhà. Họ chạy lên gác, xộc vào phòng ngủ. Tại đây họ được chứng kiến cảnh vị chủ nhà – Vaman Narayan Ghiya, vận nguyên bộ đồ ngủ đang cuống cuồng ném giấy tờ vào lửa để phi tang.

“Sao chúng mày dám ?” – Ghiya hét lên : “Làm thế quái nào chúng mày lại vào được nhà tao?”. Ông ta cố đẩy những cảnh sát đang khống chế mình “Chúng mày không được đụng vào tao!”

Thần Vishnu

Cảnh sát áp giải Ghiya ra khỏi nhà, lùa vợ cùng con trai và hai con gái của Ghiya, lúc này còn đang ngái ngủ, vào góc phòng. Shrivastava và đồng nghiệp lục soát khắp các căn phòng sang trọng của ngôi nhà trong nhiều tiếng đồng hồ. Kết quả, đằng sau lớp ván gỗ trong phòng riêng của Ghiya, họ tìm thấy một ngăn tủ ngầm bí mật cất giữ hàng trăm bức ảnh chụp những tác phẩm điêu khắc cổ của Ấn Độ: những bức tượng thần Vishnu, Shiva và Parvati bằng đá duyên dáng, tượng vị thần đầu voi Ganesha, con trai của Parvati, bức tượng đồng thần 12 đầu Jain Tirthankaras và tượng nữ thần Chola đang khiêu vũ với cánh tay giơ lên và bộ ngực để trần… Những bức ảnh này được chụp một cách vội vã, thậm chí, các bức tượng trông như vừa mới được cạy ra từ hốc tường bên trong những ngôi đền, cái thì thiếu tay, cái thì thiếu đầu…. Cảnh sát còn phát hiện gần 70 cuốn catalô đấu giá của Sotheby và Christies (hai nhà đấu giá nổi tiếng) ở London và New York.

Những tang vật thu được đã chứng minh mối nghi ngờ của Shrivastava cho rằng Vaman Ghiya là một trong những mắt xích quan trọng trong đường dây buôn lậu cổ vật lớn và phức tạp nhất trong lịch sử Ấn Độ. Trong vòng 30 năm, Vaman Ghiya đã phất lên nhanh chóng nhờ việc buôn lậu hàng nghìn cổ vật Ấn Độ tới tay các nhà đấu giá và những bộ sưu tập cá nhân. Cảnh sát không tìm thấy những tác phẩm điêu khắc trong nhà của Ghiya. Nhưng trong những ngày tiếp theo, khi tiếp tục lục soát hơn nửa tá cơ ngơi của Ghiya ở xung quanh Jaipur, bao gồm những khu nông trại rộng lớn ở ngoại ô, những kho hàng đồ sộ ở Mathura và Delhi, cảnh sát đã tìm thấy những bức tranh cổ, những thanh gươm, nhiều chiếc khiên cổ… và khoảng 340 cổ vật .

Thần đầu voi Ganesha

Vải thưa che mắt… cảnh sát

Vaman Ghiya là một người đàn ông ưa nhìn với mái tóc muối tiêu, vóc dáng nhỏ thó, đôi mắt đầy nghị lực, và thái độ hơi kẻ cả. Ông ta ăn mặc lịch sự và quản lý việc kinh doanh những khách sạn đẹp nhất Jaipur. Những người quen biết Vaman Ghiya cho hay : ông ta thường dành hầu hết thời gian để bay đi bay về và chuyên tâm vào việc kinh doanh. Ghiya vốn tính đa nghi, thậm chí không tin bất cứ ai kể cả những người thân cận nhất.

Doanh nghiệp hợp pháp của Ghiya mang tên Crafts Palace là một phòng trưng bày hàng thủ công mỹ nghệ lớn nằm trên phố Amer, ở Jaipur, một thành phố thịnh vượng với gần ba triệu dân, nơi có lâu đài Rajput cổ kính. điểm dừng chân lý tưởng của du khách trong chuyến hành trình xuyên Ấn. Jaipur còn là trung tâm công nghiệp đá quý và buôn bán hàng thủ công mỹ nghệ của Ấn Độ.

Vào những năm 70, việc buôn bán cổ vật thực sự là một việc khó khăn, vì ở thời điểm đó, bất kỳ một món đồ cổ nào có tuổi thọ trên 100 năm đều bắt buộc phải đăng ký với chính phủ. Bất kỳ một hành động nào nhằm xuất khẩu những cổ vật như thế đều bị coi là bất hợp pháp. Trong khi những người buôn lậu thường xuyên cất giấu riêng lẻ từng cổ vật vô giá trong những contennơ khổng lồ, thì hải quan Ấn Độ chỉ được phép kiểm tra xác suất trong 10% khối lượng hàng hoá xuất khẩu.

Chủ các doanh nghiệp kinh doanh hàng thủ công mỹ nghệ khác ở Jaipur khai báo với cảnh sát rằng họ không không hề biết gì về khách hàng hay những người cung cấp hàng cho Ghiya. Công việc làm ăn phát triển nhanh chóng của công ty Crafts Palace dường như không có mối quan hệ nào với kinh tế địa phương. Thực tế là Ghiya dành rất ít thời gian tại phòng trưng bày, người trông nom chính ở đây là cậu con trai mới 20 tuổi của ông ta.

Mờ mắt vì lợi nhuận bạc tỷ

Vào mùa hè năm 2002, Anand Shrivastava và quân của anh đã đóng giả làm những người mua cổ vật và đã tiếp xúc được với một nhóm trộm. Những gã này đang cố gắng tìm mọi cách tuồn những bức tượng thần Hindu mà chúng đã ăn cắp ra chợ đen. Dù những pho tượng này có giá trị nghệ thuật không cao và không phải là đồ cổ nhưng những kẻ ăn cắp lại đòi một cái giá khá cao. Shrivastava nghi ngờ rằng liệu có một ông trùm giàu có, một người địa phương nào đang thao túng giá cả này chăng? Thẩm vấn nhóm trộm, chúng đều trả lời đó chính là Vaman Narayan Ghiya. “Ông ta là vua của thế giới này ” – câu nói cuối cùng trong buổi thẩm vấn.

Những viên chức tại Cục điều tra Ấn Độ đã nói với Shrivastava là họ đã nghi ngờ từ rất lâu rằng Ghiya là một trong số những kẻ đừng đầu đường dây buôn lậu cổ vật lớn nhất Ấn Độ, nhưng hành động của hắn tinh vi đến mức họ chưa bao giờ thu thập đủ chứng cứ đế chống lại hắn.

“Ghiya đã trở nên quá mạnh, thậm chí thao túng cả luật pháp,” Shrivastava nói: “Ghiya đã trở thành kẻ làm luật và chính vì thế Ấn Độ sẽ từng ngày mất dần đi những di sản văn hóa”.

Chiến dịch Black Hole được bắt đầu hồi tháng Sáu năm 2002 với việc thành lập một tổ điều tra gồm 12 cảnh sát do Shrivastava đứng đầu. “Tôi đã nói với những người của tôi “đây thực sự là một cuộc săn đuổi”.

Việc buôn lậu cổ vật cũng giống như tội ác nhưng lại tồn tại trong giới “áo cổ trắng” ở Ấn Độ vì nó yêu cầu lượng tiền vốn và kiến thức lớn. Những người buôn lậu thường tự khoác cho mình tấm lá chắn nguỵ trang là những thương nhân giàu có và thành đạt, họ thường là những người có địa vị cao trong xã hội.

Trên khắp thế giới, thị trường cổ vật dường như đã trở thành một ngành công nghiệp thu lợi nhuận bạc tỷ. Những năm gần đây, một số vụ buôn bán cổ vật lớn bị phanh phui đã tạo nên những vụ bê bối lớn trong giới nghệ thuật. Tuy nhiên, những chiêu thức hoạt động bí mật và tinh vi của giới buôn lậu rất hiếm khi bị lộ.

Khi Ghiya bị bắt và bị buộc tội tàng trữ cổ vật bị đánh cắp, ông ta khăng khăng cãi là mình vô tội và chỉ dẫn cho luật sư của mình những điều không nên nói với giới báo chí. “Mọi người đều bị sốc” – Chandramani Singh, một nhà khảo cổ học ở Jaipur, người quen bố của Ghiya – nói “Nhưng tôi nghĩ rằng họ (bố mẹ Ghiya) đều biết những gì Ghiya đã làm”.

Đau đầu chính phủ

Những ngôi đền thờ thần Hindu xuất hiện từ nhiều thế kỷ trước với thuyết thờ đa thần. Trong các ngôi đền thường có rất nhiều bức chạm khắc chúa trời chính và phụ, và có thể dễ dàng tìm thấy vô vàn những ngôi đền tương tự trên khắp đất nước Ấn Độ, cùng với số lượng lớn tác phẩm nghệ thuật của đạo Phật và đạo Hồi. “Có quá nhiều thứ, và ở quá nhiều nơi” Singh nói “Thật dễ dàng cho người phương Tây, những người không có lượng cổ vật lớn đến như vậy trong lịch sử mò đến “.

Ở một nước đông dân như Ấn Độ, nhà chức trách thường đau đầu với rất nhiều vấn đề- Singh giải thích – nếu nhu cầu về nước sạch, tưới tiêu, đường xá v.v… được ưu tiên thì có nghĩa là vấn đề bảo tồn di sản văn hoá sẽ bị đẩy xuống hàng thứ yếu. Ngành Khảo cổ học ở Ấn Độ không có khả năng xây dựng một cuốn sổ cấp quốc gia thống kê toàn bộ số lượng đền thờ trên khắp cả nước, điều mà ít nhiều sẽ bảo vệ những cổ vật khỏi bị xâm phạm.

Báng bổ thánh thần

Vào tháng Hai năm 1998, một toán kẻ cắp đã viếng thăm khu đền Baroli, nằm tách biệt với đường cái và lọt thỏm trong một khu rừng rậm rạp, gần chỗ gặp nhau của Chambal và sông Bamini, phía Đông Rajasthan. Những ngôi đền thờ bằng đá lộng lẫy ở Baroli được dựng lên vào khoảng giữa thế kỷ 8 và thế kỷ 12. Tổ hợp này gồm 9 ngôi đền, một trong số đó uy nghi bên một hồ nhỏ với hàng dãy cột đá và các linga (biểu tượng của dương vật) – ngôi đền thờ thần Shiva – vị thần sinh sản. Những người dân nông dân theo đạo Hindu hết sức tôn kính những ngôi đền này và hàng năm Baroli vẫn thu hút khách du lịch đến thăm quan.

Theo những người Hindu giáo, hình ảnh vị chúa Trời không đơn thuần chỉ là một biểu tượng mà họ sống dựa vào niềm tin, vào chính những vị thần mà họ tạo dựng nên. Họ cần mẫn xức lên những pho tượng dầu thơm và băng phiến, rồi trang trí chúng bằng vòng hoa. Họ cúng tế thức ăn, nhang hương, và âm nhạc…..Vì vậy hành động cướp bóc một ngôi đền là một hành động xúc phạm, báng bổ thánh thần. Nhưng ở Baroli bọn kẻ ăn cắp lại thích tiếp cận khu vực đền được gìn giữ tốt nhất, nơi có bức tượng thần Brahmas ba đầu, 12 bức tượng hóa thân của thần Vishnu và rất nhiều các bức tượng thần khác.

Thần Shiva khiêu vũ

Ở phía Tây của ngôi đền, có một bức tượng đá của thần Shiva đang khiêu vũ. Tới thế kỷ 10, pho tượng được trang trí thêm những quả tua thả rủ xuống quanh thắt lưng, vòng đeo ở cổ chân và một bàn tay trong số nhiều bàn tay của Shiva, đang cầm một con rắn. Thần Shiva theo quan niệm của đạo Hindu được coi là vị chúa Trời tối cao, và việc chạm khắc hình ảnh Shiva đang nhảy múa khiến cho Shiva trở nên gần gũi hơn với quần chúng. Bọn kẻ trộm đã đục đẽo và bưng pho tượng khỏi hốc tường, nơi mà nó đã ở đó gần một nghìn năm.

Theo Shrivastava, bọn kẻ cắp đã bán món hàng này cho Ghiya, từ đó nó được đưa ra khỏi Ấn Độ. Khi những dân nông dân địa phương phát hiện ra vụ trộm, họ cảm thấy bị xúc phạm. Ghiya nhanh chóng cho người của mình làm một bản sao bức tượng rồi đặt nó gần đồn cảnh sát địa phương. Những nhà chức trách địa phương hãnh diện tuyên bố rằng đã tìm lại được cổ vật. Sợ rằng Shiva có thể bị trộm lần nữa, họ quyết định không trả lại nó cho ngôi đền mà cất giữ nó trong kho lưu trữ của Viện khảo cổ học thành phố Chittorgarh.

Khi bị thẩm vấn, Ghiya đã khai rằng ông ta đã gửi bản gốc bức tượng thần Shiva nhảy múa sang Anh. Ở đây bức tượng đầu quân vào bộ sưu tập cá nhận của John Kasmink, một nhà sưu tầm nổi tiếng trong giới nghệ thuật ở London. Một thời gian sau, khi tạp chí Ngày Nay của Ấn Độ cho đăng tải câu chuyện của Ghiya và gợi ý rằng bức tượng thần Shiva hiện nay đang nằm trong tay Kasmin. Kasmin đã gửi fax cho Shrivastava, nhấn mạnh rằng việc ông nắm trong tay bức tượng là “hợp pháp” vì ông ta mua pho tượng này ở London. Nhưng ông cũng sẵn sàng trả lại nó cho Ấn Độ mà không đòi bồi thường. (Mới đây, Kasmin đã nói với tôi rằng ông ta mua tác phẩm này không phải từ Ghiya mà là từ một nhà phân phối ở London.)

Sau này, cảnh sát địa phương đã triệu tập một nhóm các nhà khảo cổ học và yêu cầu kiểm tra bức tượng đang được cất giữ tại Chittorgarh. Kết luận cuối cùng đưa ra, bức tượng ở Chittorgarh là đồ giả, bức tượng Shiva mà Kasmin sở hữu mới là đồ thật.

(Còn nữa)

Tác giả Patrick Radden Keefe

Uyển Chi (Vietimes) lược dịch từ The New Yorker

 

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

Read Full Post »