Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Sáu, 2010

NGHĨ VỀ THÚ CHƠI CHỮ

Bài Nghĩ về thú chơi chữ chia 2 phần, đây là phần 1, phần 2 sẽ nói về hoành phi- câu đối .

P1 nghĩ về thú chơi chữ

Phong trào treo và chơi chữ , có lẽ mới trở lại được mươi năm nay. Do ảnh hưởng của kinh tế thị trường, xã hội ngày một văn minh, gia đình ngày một giầu có.Từ trước tới nay những chữ làm tiêu chí để hướng thiện, hay ước ao khao khát trong cuộc sống bấy lâu vẫn để trong lòng nay có bán thì mua luôn một vài chữ về treo, nhất là những người sưu tầm cổ vật thì ai cũng say món men nhã thú di tình này.

Có chữ viết bằng mực tầu giấy đỏ, có chữ được đúc bằng đồng, thậm trí sơn son thiếp vàng. Thì ra treo chữ cũng giống như trang trí để làm đẹp, làm sang trong nhà vậy.Thực ra mua chữ để chơi cũng không tốn tiền lắm, nên người giầu hay người ngèo cũng có thể chơi được.

Các chữ được sưu tầm, chọn chơi phổ biến hiện nay là: phúc, lộc, thọ , tài, tâm ,nhẫn và đức. Trong những chữ này chữ phúc (phước) xem ra cũng được dùng nhiều hơn cả, trên các Bloc lịch, các phong bao để mừng tuổi (bao lì xì), trên các tranh vẽ hoặc trên các sản phẩm bằng gốm mỹ nghệ…Dĩ nhiên các kiểu chữ phúc cũng được chế tác bằng mực tàu, bằng gỗ và bằng đồng… lồng trong khung kíng rất đẹp.  Phúc là ao ước trong đời của mỗi con người, nó đứng đầu tam đa “đa phúc, đa lộc và đa thọ). Trong tam đa , phúc có nghĩa là hạnh phúc, đông con. Trong tích cổ, một người họ Đậu tên là Vũ Quân, người U Châu, vùng đất ấy thuộc núi Yên cho nên đặt tên hiệu là Yên Sơn , người đời hậu Tấn, sinh được năm con có tên là: Nghi, Ngiễm, Khản, Xứng, Hy. Ông Đậu Yên Sơn dạy nghĩa phương cho con rất chuyên cần, nên cả năm con ông đều thành danh, làm quan nổi tiếng thời bấy giờ. Người đời sau láy ông làm thần tượng của chữ phúc(ngũ phúc).

Có phúc ắt sẽ có lộc, trong tam đa chữ lộc được xếp thứ hai, hình tượng thần lộc có khuôn mặt đỏ, miệng cười tươi, tai trùng, bụng phệ, mặc áo gấm xanh, thắt đai vàng, vậy thì thần lộc là biểu tượng của những người giầu có. Người ta quan niệm lộc là tiền bạc là của cải, kể cả ân sủng mà người đời ban tặng. Sống  trên đời từ người giàu đến người ngèo, ai cũng có lộc, lộc trời, lộc đất, lộc nước, lộc nhà. Ngày xưa các cụ chúc nhau tiến tài, tiến lộc, ngày nay thực tế hơn người ta chúc nhau bằng câu : tiền vào như nước sông đà tiền ra nhỏ giọt như cà phê phin. Để có lộc trước hết phải có tài, tài và lộc chính đáng thì treo hai chữ tài và lộc trong nhà để chơi chẳng tốt quá sao! Thực ra thì lộc là sản phẩm của tài, tài là khả năng làm việc tạo ra của cải. Anh nông dân phải có tài cày cấy , tăng gia sản xuất sẽ mang lại mùa màng bội thu , đó là lộc nhà. Tài buôn bán sắc sảo đưa lại nhiều lợi nhuận. Những người buôn bán thường thờ thần tài trong nhà, một bức tượng kiểu Di Lặc hai tay nâng nén vàng trên đầu. Người Trung Quốc thờ thần tài là cóc ba chân, người ta quan niệm đi đâu mà gặp được cóc ba chân thì giàu to. Hình tượng Lưu Hải câu cóc được khắc ở đền, miếu hoặc vẽ thành tranh để thờ của người Trung Quốc và người Hoa ở nước ta. Lưu Hải là tể tướng đời nhà Lương, ông giũ bỏ chốn quan trường về ở ẩn, ông câu được  con cóc ba chân dưới một cái giếng, sau đó gặp được Lữ Đồng Tân (một vị trong bát tiên) học được những bí pháp luyện vàng thành linh đan, Lưu Hải là một đạo sỹ sau này thành tiên, ông cũng là biểu tượng của thần tài, các thương nhân thờ hình tượng Lưu Hải câu cóc là cầu mong cho may mắn phát tài, cóc chữ hán là thiềm gần đồng âm với tiền do đó cóc biểu ý cho tiền. Lưu Hải câu cóc bằng một sợi dây liên tiền thể hiện lãi nhiều , tiền lắm.

Thực ra muốn có tài thì phải học , học trong sách vở, học trong nhân dân, trong đường đời. Người xưa có câu “ Những kẻ giầu sang khôn bởi học”. Đương nhiên học tốt phải có chữ tâm chữ đức. Thực ra cũng man mác buồn vì chữ tâm , chữ đức ít được để ý hơn so với chữ phúc chữ lộc. Thuở chữ nho còn thịnh hành , các cụ chơi chữ đức nhiều hơn. Ngẫm ra trong các chữ phúc, lộc, thọ, tài, nhẫn, tâm, đức thì phúc,lộc, thọ,tài là phần ngọn, là cái bề ngoài dễ nhận còn nhẫn, tâm, đức là phần gốc , là vẻ đẹp bên trong. Tâm sáng đức hiền và bền ở âm đức , đức hạnh, đức nghiệp, sẽ sinh ra phúc ấm, lộc hưng, thọ trường và tài kiệt. Có lẽ đó cũng là lý do mà ông cha ta xưa có nhiều người chơi chữ đức.

Nhớ ngày trước ông cụ sát vách nhà tôi còn sống ông có người bạn tri âm, tri kỷ là cụ đồ . Nhân dịp năm mới, hai cụ đến thăm nhau trước khi ra về cụ đồ chúc ông đặng tam đa, ông chỉ cười nhẹ và cảm ơn cụ, tôi băn khoăn hỏi , ông không giải thích mà kể một tích xưa, Vua Nghiêu đi tuần thú ở đất hoa, quan phong nhân ở đất ấy chúc rằng “Xin chúc thánh nhân được đa lộc, đa thọ và đa nam(giàu lớn, sống lâu và nhiều con trai)

Vua Nghiêu từ rằng:” Đa nam đa ưu, đa thọ đa nhục, đa lộc thì đa oán (nhiều con thì lo lắng nhiều,sống lâu thì lắm nhục, lộc lớn thì oán nhiều) . Các cụ xưa sâu sắc đến thế là cùng !.

P2 hoành phi- câu đối

Về hoành phi và câu đối, không dám cuồng ngôn bình phẩm vì đụng cham nhiều lắm .Mà tính tôi cứ hay nói đến cùng , nhân đây tôi chỉ nói về kỹ thuật của món này mong sao chơi chữ cũng phải chơi đẹp , đúng , hợp gia cảnh sợ nhất mua được đôi câu đối thờ của gia đình người ta về treo chơi ở nhà mình.

Thú chơi chữ và đồ gỗ

Không phải chỉ gần đây, mà từ xưa tới nay hầu hết anh chị em chơi cổ ngoạn nói chung, ai cũng thích có một vài bộ hoành phi-câu đối để chơi , Nếu xét về đồ gỗ thì hoành phi câu đối còn được trân trọng hơn cả tủ chè, sập gụ. không chỉ đơn thuần nó là đồ gỗ, mà trên hết là thú chơi chữ,Trong chuyện này có nhiều điều cười ra nước mắt và cũng có nhiều người lắm tiền sắm sanh những chữ bạc tỷ nhưng lại không hiểu cái cầu kỳ khó tính của người chơi chữ…

A –        Hoành phi

Ta thường thấy những tấm biển gỗ treo trên cao nằm ngang, trên có khắc những chữ thật lớn thường là ba, bốn chữ. Những biển gỗ này chính là những bức hoành phi. Hoành phi thường được sơn son thiếp vàng, có bức sơn đen chữ đỏ hoặc vàng, cũng có bức sơn son hoặc sơn đen chữ khảm xà cừ, có những bức hoành phi hình cuốn thư. Những chữ viết trên hoành phi đều tỏ lòng tôn kính của con cháu đối với tổ tiên, hoặc để ghi tụng công đức của tổ tiên.

Ba loại chữ thường được dùng trên hoành phi câu – đối là: “Chân”, “Lệ” và “Triện”. Cũng khó nói kiểu nào đẹp hơn . Người trẻ tuổi vốn tính hiếu động thích bay nhảy thường ưa chữ “Thảo”; trong khi bậc trung niên chín chắn trải nghiệm lại thích lối chữ “Lệ” vốn mực thước; còn các bậc bô lão, cao nhân dật sĩ lại thích lối chữ “Triện” với tất cả tính khuôn phép của dạng chữ này… Tựu trung chữ tùy vào tạng người. Tuy nhiên, chưa bao giờ thấy trên hoành phi câu – đối sơn thếp những nét “cuồng thảo”

B   –     Câu đối
Câu đối là một  thể loại của Văn học trung Quốc và Việt Nam.người ta còn quan niệm nếu văn thơ là tinh hoa của ngôn ngữ thì câu đối là tinh hoa của tinh hoa cau đối bao gồm hai vế đối nhau nhằm biểu thị một ý chí, quan điểm, tình cảm của tác giả trước một hiện tượng, một sự việc nào đó trong đời sống xã hội.
thuộc thể loại văn biền ngẫu. đối ở đây có nghĩa là ngang nhau, hợp nhau thành một đôi.
Có nhiều loại và người ta phân loại theo ý nghĩa, gồm các loại sau:
Câu đối mừng: làm để tặng người khác trong những dịp vui mừng như: mừng thọ, mừng thi đỗ, mừng đám cưới, mừng nhà mới…

( cụ Nguyễn Khuyến, viết mừng một chánh tổng bị cách chức, sau được phục sự và làm nhà mới.)

Nhất cận thị, nhị cận giang, thử địa khả phong giai tị ốc.

Sống ở làng, sang ở nước, mừng ông nay lại vểnh râu tôm

-Câu đối phúng: làm để viếng người chết. Vd :cụ nguyễn khuyến làm câu đối khóc vợ :

Nhà chỉn nghèo thay, nhờ được bà hay lam hay làm, thắt lưng bó que, xắn váy quai cồng,

tất tưởi chân nam đá chân chiêu, ví tớ đỡ đần trong mọi việc

Bà đi đâu vợi mấy, để cho lão vất vơ vất vưởng, búi tóc củ hành, buông quần lá toạ,

gật gù tay đũa chạm tay chén, cùng ai kể lể chuyện trăm năm.

-Câu đối Tết: làm để dán nhà, cửa, đền, chùa

Chiều ba mươi, nợ hỏi tít mù, co cẳng đạp thằng Bần ra cửa.

Sáng mồng một, rượu say tuý luý, giơ tay bồng ông Phúc vào nhà.

(câu đối làm vào dịp tết lúc còn hàn vi.của Nguyễn Công Trứ)

-Câu đối thờ: là những câu tán tụng công đức tổ tiên hoặc thần thánh làm để dán hoặc treo những chỗ thờ.

-Câu đối tự thuật: là những câu kể ý chí, sự nghiệp của mình và thường dán ở những chỗ ngồi chơi.

Chị em ơi! ba mươi sáu tuổi rồi, khắp đông, tây, nam, bắc bốn phương trời, đâu cũng lừng danh công tử xác.

Trời đất nhẻ! gắng một phen này nữa, xếp cung, kiếm, cầm, thư vào một gánh, làm cho nổi tiếng trượng phu kềnh

(Nguyễn Công trứ )

-Câu đối đề tặng: là những câu đối làm ra để đề vào chỗ nào đó hoặc tặng cho người khác.

-Câu đối tức cảnh: là những câu tả ngay cảnh trước mắt.

Giơ tay với thử trời cao thấp

Xoạc cẳng đo xem đất ngắn dài

(Hồ xuân Hương)

-Câu đối chiết tự (chiết: bẻ gãy, phân tách; tự: chữ): là những câu do sự tách ra từng nét hoặc từng phần mà đặt thành câu.

-Câu đối trào phúng: là những câu làm để chế diễu, châm chích một người nào đó.

Những nguyên tắc của câu đối

Khi viết câu đối, nếu chọn được câu chữ tuân theo nguyên tắc sau thì đôi câu đối được gọi là chỉnh đối

Đối ý và đối chữ

  • Đối ý: hai ý đối phải cân nhau mà đặt thành 2 câu sóng nhau.
  • Đối chữ: phải xét 2 phương diện thanh và loại.

– Về thanh: thanh bằng đối với thanh trắc và ngược lại.

– Về loại: thực tự (hay chữ nặng như: trời, đất, cây…) phải đối với thực tự; hư tự (chữ nhẹ như: thì, mà, vậy, ru…) phải đối với hư tự; danh từ phải đối với danh từ, động từ phải đối với động từ;

Vế  đối

Một đôi câu đối gồm hai câu đi song nhau, mỗi câu là một vế. Nếu câu ấy từ một người sáng tác gọi là vế trênvế dưới. Nếu một người nghĩ ra một vế để người khác làm vế kia thì gọi là vế ravế đối.
Khi một câu đối do một người làm ra cả hai vế, thì chữ cuối, vế trên, câu bên phải (khi treo) là thanh trắc; còn chữ cuối, vế dưới, câu bên trái là thanh bằng.

Số chữ và các thể câu đối

Số chữ trong câu đối không nhất định, theo số chữ và cách đặt câu có thể chia câu đối ra làm các thể sau:

-Câu tiểu đối: là những câu 4 chữ trở xuống.

-Câu đối thơ: là những câu làm theo lối đặt câu của thể thơ ngũ ngôn hoặc thất ngôn

-Câu đối phú: là những câu làm theo các lối đặt câu của thể phú, gồm có:

Luật bằng trắc

*  Câu tiểu đối:

– Vế phải: trắc-trắc-trắc

– Vế trái: bằng-bằng-bằng

*  Câu đối thơ: phải theo đúng luật bằng trắc của hai câu thựccâu luận trong lối thơ ngũ ngôn hoặc thất ngôn.

*  Câu đối phú: Chữ cuối mỗi vế và chữ cuối mỗi đoạn phải bằng đối với trắctrắc đối với bằng. Khi mỗi vế đối có từ 2 đoạn trở lên thì nếu chữ cuối vế là trắc, các chữ cuối các đoạn trên phải là bằng và ngược lại. Nếu đoạn đầu hoặc đoạn dưới có đúng 7 chữ thì đoạn ấy thường theo luật thơ thất ngôn.
Thưa các bác! có câu :”múa rìu qua mắt thợ” nên không được chỉn chu mong các bác góp ý.
hoặc

__________________

OT-NB  Phạm Tuấn Tú

 

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

Advertisements

Read Full Post »

Bức tranh nhái lại một  tác phẩm của Lang thế Ninh gây sửng sốt giới đấu giá tại Sotheby’s Melbourne.

Bài viết bởi Geoff Maslen – 19/05/2005
Dịch: Khanhhoathuynga.

Một phần của Bức tranh dài 7 mét nhái lại một tác phẩm của Lang thế Ninh gây sửng sốt giới đấu giá với giá bán kỷ lục tại Sotheby's Melbourne.

Một tác phẩm tranh cuộn lụa trải ra gần 7 mét không những là bức tranh dài nhất xuất hiện tại nhà đấu giá Sotheby mà còn một trong những món gây kinh ngạc cho phòng đấu giá.

Các chuyên gia của Sotheby hy vọng tấm tranh cuộn vẽ Hoàng Đế Càn Long ở thế kỷ 17 trong một chuyến đi săn nai, sẽ mang lại tối đa là 20.000 USD khi được đấu giá đêm hôm Thứ Hai.

Thay vào đó , với những giá đấu quyết liệt từ những nhà sưu tập gốc Hoa trong phòng và các cuộc gọi đấu qua điện thoại từ Trung Quốc, tác phẩm đã bán được cho một người buôn tranh Hong Kong với giá 564.500 USD.

Giá này đã gây sửng sốt cho những người tham dự đấu giá và là một kỷ lục bán tác phẩm mỹ thuật trang trí của Sotheby.

Tấm tranh cuộn đã được một nhà sưu tập ở Melbourne , ông John Kenny mua với giá vài ngàn đô vào những năm đầu thập niên 1970, người mà đã mất cách nay hai năm.

Trong tuần này , Sotheby đấu giá bộ sưu tập của ông bao gồm các bức tranh Châu Âu và Úc, gốm sứ, đồ nội thất và những tác phẩm mỹ thuật TQ. Toàn bộ thu được 1,3 triệu USD nhưng gần như một nữa là hoàn toàn nhờ vào tấm tranh.

“ Chúng tôi lập catalogue bộ sưu tập ở văn phòng Hong Kong, và bởi vì nó là bản tranh chép nhái ở thế kỷ 19 từ nguyên bản xưa hơn nên không ai kỳ vọng sẽ mang lại trị giá như khi đấu.” Chuyên gia về mỹ thuật trang trí của Sotheby, Ông Robert Bradlow nói hôm Thứ Hai.

“ Nguyên bản được vẽ vào thế kỷ 18 bởi một tu sĩ dòng tên Giuseppe Castigone, người được biết đến tại TQ với cái tên Lang Thế Ninh (Lang Shining).”

Ông Bradlow nói chuyên viên của Sotheby tại Hong Kong người mà đưa ra giá khởi điểm thấp như vậy sẽ không bị khiển trách vì thật khó để tiên đoán sẽ có thể đạt được mức giá nào tại Melbourne. Ngoài ra cũng không ai phàn nàn về cái giá cuối cùng được ghi nhận.

Các bài đã đăng :

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Read Full Post »

Bài được đăng trên diễn đàn sưu tầm, click trên tên tựa để vào xem.

Tượng Phật giáo Champa

 

 

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Read Full Post »

GIỚI TÍNH TRONG NGHỆ THUẬT PHẬT GIÁO TẠNG TRUYỀN

Tara

Nhân đại lễ Vesak 2008, vừa qua Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam phối hợp với nhà sưu tập Dương Phú Hiến đã cống hiến cho công chúng Hà Nội một cuộc trưng bày chưa từng có về nghệ thuật Phật giáo châu á. Với một số lượng lớn về tượng Phật Tạng truyền, triển lãm đã đem lại cho công chúng từ sự kinh ngạc này tới sự kinh ngạc khác (1). Rất nhiều câu hỏi được đặt ra trong triển lãm, gom góp những kiến thức rời rạc, bài viết tập trung vào việc giải thích một trong những lý do làm triển lãm thành một sự kiện văn hóa nổi bật nhất tháng 5 vừa qua.

Phật giáo Tạng truyền là khái niệm ban đầu chỉ dòng Phật giáo lưu truyền ở Tây Tạng, Nepan, Bhutan, Sikkim. Giới tính trong nghệ thuật Phật giáo Tạng truyền là một chủ đề nghiên cứu rất thú vị; vì tôn giáo nói chung không mặn mà với vấn đề giới tính, tình dục, cứu cánh của tôn giáo không ở trên giường mà là ở trên thiên đường. Phật giáo là một tôn giáo hướng đến sự bình đẳng không phân biệt thành phần xuất thân, đẳng cấp xã hội. Nhưng Phật giáo nguyên thủy không đặt ra vấn đề bình đẳng giới. Phật giáo vốn là tôn giáo rất linh hoạt, khi vượt qua những dãy núi cao ngất quanh năm tuyết phủ của dãy Himalaya đã hòa nhập với tín ngưỡng và văn hóa bản địa nơi đây tạo nên những hình tượng nghệ thuật Phật giáo vô cùng đặc sắc. Một trong những điều làm nghệ thuật Phật giáo Tây Tạng mê hoặc người xem chính là sự cường điệu nhân tố giới tính. Hay nói theo cách của giới trẻ là rất sexy.

1. Sơ lược vài nét về nghệ thuật Phật giáo.

Phật giáo tuy hình thành từ thế kỷ thứ 5 trước công nguyên nhưng thoạt đầu là tôn giáo không chủ trương lập tượng. Đức Phật ban đầu được thờ phụng với hình thức biểu tượng như Bánh xe hay chiếc ngai. Cho đến thế kỷ thứ nhất sau CN, tôn giáo Đại Thừa tại Tây Bắc ấn Độ bắt đầu hưng khởi, việc thờ các ngẫu tượng mới bắt đầu xuất hiện. Phật giáo Đại thừa dùng nghệ thuật tạo hình như một phương tiện để truyền giáo. Đây là lý do sự bùng nổ các loại tượng Phật của Phật giáo đại thừa. “Nghi lễ giáo lý nhấn mạnh đến “ quán” và “quán tưởng”, tín đồ khi tập trung ý chí để xem một bức tranh hay một bức tượng, sau đó thông qua thiền định, đạt tới “ tâm nhãn” nhìn thấu cảnh giới chân tướng của Phật và Bồ Tát, nhờ đó lĩnh ngộ được sự vĩ đại của Phật pháp. Trong quá trình này thì các tượng thờ không chỉ là hình ảnh thay thế của Phật hay Bồ tát, nó còn là một loại “ vật dẫn đạo”.(2) Bởi vậy, Phật giáo buổi đầu đến Trung Quốc còn có tên gọi tượng giáo để phân biệt với Đạo giáo một tôn giáo bản địa thoạt đầu không lập tượng thờ. Với Đại thừa Phật giáo, không có tôn giáo nào có thể sánh được về sự phong phú về chủng loại và sự đa dạng về phong cách. Và trong Phật giáo Tạng truyền số lượng các loại tượng Phật còn đông gấp bội. Thông thường có từ 300 tới 500 loại tượng Phật. Năm thứ ba đời vua Càn Long nhà Thanh, Chương Gia, quốc sư đã chủ biên bộ sách “ Tam bách tượng Phật tuyển” phỏng theo cách thức quy định của Phật giáo Tạng truyền. Năm 2007 cuộc trưng bày bộ sưu tập 100 hiện vật nghệ thuật Phật giáo Tạng truyền của ngôi chùa Bạch Tháp tự nổi tiếng (Bắc Kinh) tại thành phố Thâm Quyến tại Bảo tàng Thâm Quyến. 100 hiện vật hàng quốc bảo được tuyển chọn từ hơn một vạn hiện vật đã được phân chia thành 7 nhóm tượng chính yếu. Một. Tượng Tổ sư. Hai. Tượng. Mật tu bản tôn. Ba. Tượng Phật mẫu. Bốn. Tượng Phật tổ. Năm. Tượng Bồ tát. Sáu. Tượng La Hán. Bẩy. Tượng Hộ pháp. Nghệ thuật Phật giáo Tạng truyền mãi mãi là một sức hấp dẫn đầy ma lực của nghệ thuật Phật giáo. Triển lãm này tiếp sau triển lãm năm 2004 tại Dung Hòa Cung ở Bắc Kinh đã cho công chúng chiêm ngưỡng vẻ đẹp của nghệ thuật Phật giáo Tạng truyền. Sự say mê của nghệ thuật Phật giáo này có phần bởi sự hấp dẫn của những nhân tố giới tính trên hệ thống đồ tượng,

2. Sự cường điệu giới tính trong nghệ thuật Phật giáo Tạng truyền.

Những bức tượng Phật hiện diện gần như khỏa thân là điều chưa từng biết đến ở Việt Nam. ở Việt Nam tượng Thích Ca sơ sinh là tượng Phật hài đồng mới không mặc quần áo. Nhưng hiện nay nhiều chùa bắt tượng này khoác một chiếc áo choàng. Nên phần đông công chúng tới thăm triển lãm đều không ít băn khoăn, thậm chí có người còn cho rằng nó không phải là tượng Phật.

Có hai loại tượng gây sốc về giới tính trong triển lãm này: một là tượng Phật nữ gần như khỏa thân, hai là tượng song thân một nam một nữ dính chặt vào nhau.

Trước tiên xin đề cập tới tượng Độ mẫu Tara có nguồn gốc từ ấn Độ sau đó phát triển rất mạnh ở Tây Tạng. Trong triển lãm Nghệ thuật Phật giáo châu á vừa qua, chú thích ban đầu cho bức tượng chỉ ghi đơn giản “ tượng Phật” đã làm thắc mắc bao khán giả. Tượng với đôi gò bông đảo căng phồng, bụng thon mông nở, đùi căng mặt tươi rói gợi cho ta hình ảnh của một thanh nữ hơn là những khuôn mặt tiết hạnh, trìu mến ân cần của các tượng Phật bà quan âm. Theo “ Tạo tượng độ kinh”(3) phần qui định về hình tượng Độ mẫu ghi rõ “ hình tướng như các cô gái đồng trinh tuổi mười sáu”. Vẻ đẹp của tượng Độ mẫu làm người viết không khỏi liên tưởng tới chất nhục cảm của các pho tượng Tứ Pháp Việt Nam. Nhưng Tây Tạng trong lịch sử không bị sự kiềm tỏa của Nho giáo như Việt Nam nên chất nhục cảm không phải ẩn giấu mà cứ phơi phới, hừng hực phô bày. Độ mẫu Phật có nhiều loại theo mỗi mầu khác nhau mà theo đó có những công năng và ý nghĩa cầu chúc khác nhau như mầu xanh, mầu trắng mầu đỏ, mầu vàng. Cách biểu thị đa dạng mầu sắc này cũng lại làm ta nhớ tới cách tô mầu tượng Bà Mây bà Mưa, Bà Sấm, Bà Chớp trong tín ngưỡng Tứ Pháp hay cách tô mầu cho các vị tượng Mẫu của người Việt (4)
Một pho tượng đồng khá lớn trong triển lãm này cũng làm người xem bối rối là bức tượng Vajrayogini trong hình ảnh của một cô gái khỏa thân hiên ngang mạnh mẽ. Đây là một biểu tượng của chiến thắng vô minh của Phật giáo. Tượng này có khởi nguồn từ ấn Độ khoảng thế kỷ thứ 10-12. Cũng giống như Tara, hình ảnh của Vajrayogini là một cô gái 16 tuổi trăng tròn, ngực để trần, căng mọng hiên ngang đứng thẳng trong quầng lửa mặt hướng lên trời.

So với các nền nghệ thuật Phật giáo trên thế giới, tượng Phật Tạng truyền rất đàn ông và cũng rất đàn bà. Về điểm này Phật giáo Trung Hoa lại phát triển theo hướng nhòe mờ giới tính. Các bức tượng không những bị phủ kín vải vóc mà ngay cả các khuôn mặt các tượng Phật vốn là nam cũng dần mang chất nữ. Xu hướng suy giảm giới tính này của nghệ thuật tượng phật Trung Hoa biến chuyển từ Tây sang Đông, từ Nam Bắc triều đến thời Tống Minh. Chẳng hạn như tượng đức Phật ở Vân Cương, Đại Đồng tỉnh Sơn Tây thời Bắc Ngụy thì còn vẻ uy nghi cương nghị của một nam nhi. Càng về sau và càng đi vào sâu trong lục địa, tượng Phật Trung Hoa càng mềm mại hơn. Khuynh hướng này cũng đã ảnh hưởng ít nhiều tới tượng Phật Việt Nam. Xu hướng nữ hóa các tượng Phật về thực chất là sự trung hòa giới tính trong nghệ thuật Phật giáo thế giới, nó đã diễn ra ở rất nhiều nền nghệ thuật Phật giáo, kể cả Thái Lan, Lào, Cămpuchia, những đất nước của Phật giáo tiểu thừa.

Nếu như tượng Độ mẫu hay tượng Quan âm thể hiện sự mềm mại, dịu dàng của nữ giới thì tượng Kim Cương (Vajrapani) – (5) lại là thái cực ngược lại thể hiện sự mạnh mẽ, quyết liệt. “ Vajra nhận lấy đặc tính của kim cương mà ý nghĩa của nó là đức tính tinh khiết bất diệt, còn gọi là tri thức tuyệt đối hoặc là tuệ, cắt đứt vô minh”. (6)

Nhóm tượng thứ hai, tượng Song thân Phật phần lớn làm bằng vàng hay hợp kim vàng là tượng. Song thân Phật hay cũng gọi là tượng Hoan hỉ Phật là cách gọi không thực sự chuẩn của Trung Quốc đại lục đã từ lâu. Tượng có cấu trúc của một hình nữ và một nam. Từng có một thời ở Trung Quốc lục địa gắn cho tượng này với ý nghĩa dâm lạc. Đây là loại tượng đồ rất tiêu biểu của Phật giáo Tạng truyền, thể hiện sâu sắc minh triết về giới tính của Phật giáo Mật tông, biểu tượng cho hai nhân tố âm dương đối đãi, và nó không liên quan gì tới những hành vi dâm dục của thế tục.

Khi Phật giáo Tạng truyền phát triển mạnh ở các nước phương Tây, thì một trong những chủ đề được các học giả chú ý là vai trò của nữ giới trong Phật giáo Tây Tạng. Thật vậy, ngay từ buổi bình minh Phật giáo ở trên mái nhà thế giới, vai trò của các nữ tu hành đã được đề cao. Khảo sát về danh xưng các nữ sỹ xuất gia trong tiếng Tạng, bà De Ji Zhou Ma ( Đắc Cát Trác Ma) phát hiện ra nhiều cách gọi thể hiện sự tôn kính như btsun-ma ( nữ tôn giả), dg-ma (thiện nữ), jo-mo (Phật mẫu), ma-jo (thân mẫu), A-n-jo-mo (cô mẫu). Cách gọi kính trọng này duy chỉ có trong ngôn ngữ Tạng. Cách xưng hô nói lên một nét văn hóa bản địa nơi đây và cho chúng ta tin vào những cứ liệu lịch sử rằng Phật giáo du nhập vào Tây Tạng đầu thế kỷ thứ 7 thì vào giữa thế kỷ thứ 8 đã có nhiều nữ sỹ xuất thân trong các gia đình quyền thế quý tộc xuất gia tu hành. Vào triều đại của Songtsn Gampo, một đức vua sùng tín đạo Phật có hai hoàng hậu từ hai nước Phật giáo là Nepan và Đại Đường Trung Hoa đã làm đạo Phật lan truyền nhanh chóng trong giới thượng lưu, quyền quý. Tì khâu ni (Bhikkhuni – nữ tu sỹ) kiệt xuất Zhuo Sa Jiang Ju đã cùng với 30 nữ sỹ xuất gia khác lập nên tăng đoàn tì khâu ni đầu tiên ở Tây Tạng. So với một lịch sử non trẻ của Phật giáo Tây Tạng lúc đó thì đây là một sự kiện trọng đại. Nó cũng là một nhân tố quan trọng thúc đẩy nghệ thuật Phật giáo Tây Tạng đề cao hình vị trí nữ giới trong thế giới tôn giáo vốn luôn là nơi ngự trị của các đấng mày râu.

Lý giải về sự xuất hiện đậm nét những biểu hiện giới tính trong Phật giáo Tây Tạng là một chủ đề lớn mà người viết tự thấy vượt quá khả năng của mình. Trong phần kết này, tôi xin được nhắc đến bối cảnh lịch sử và vị trí địa lý của Tây Tạng. Khi Phật giáo bắt đầu suy tàn ở ấn Độ trước sức mạnh của lưỡi gươm của những tên cướp nhân danh Hồi giáo, Phật giáo đã tìm thấy ở Tây Tạng một nơi trú ngụ vĩnh hằng. Các hòa thượng ấn Độ đã tìm thấy sức sống mới ở đây, những cô gái Tây Tạng phải chăng đã thay đổi suy nghĩ của họ về vai trò của nữ giới với sự phát triển của đạo Phật. Thực ra, ở ấn Độ xu hướng khẳng định nguyên lý nữ tính (shakti) là lực lượng chủ yếu trong vũ trụ của phái Kim Cương thừa đã ảnh hưởng rất lớn tới cả nghệ thuật Phật giáo và Bà la môn giáo từ sau thế kỷ thứ 7. Tây Tạng với điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt với độ cao trung bình là 4900m, có nhiệt độ cao trong mùa hè nhưng cực lạnh về mùa đông, tỷ lệ tăng dân số thấp. Phật giáo nếu muốn đứng được ở đây nó không thể đi theo con đường của diệt dục và khổ hạnh. Nó tìm được những ý nghĩa tôn giáo trong cuộc sống thường nhật và đó cũng là một lý do khiến Latma giáo Tây Tạng có sức hấp dẫn lớn ở Phương Tây hiện nay.

Trần Hậu Yên Thế

(1) Tác giả không bàn tới niên đại và tính nguyên gốc của bộ sưu tập trong bài viết này
(2) Zhenyan – Diện mạo Trung Hoa qua các văn vật lịch sử
(3) Tạo tượng lượng độ kinh là sách làm thời Càn Long thứ 7 năm 1742
(4) Nhà nghiên cứu Phan Cẩm Thượng nhắc tôi về những nét tương đồng giữa nghệ thuật Tây tạng và Việt Nam. Có thể đây cũng là một hiện tượng cần được khảo cứu thêm
(5) Tượng này gắn bó với Kim Cương thừa khởi nguyên từ ấn Độ do lấy Vajra (lưỡi tầm sét hoặc kim cương) làm biểu tượng trung tâm
(6) Roy C.Craven. Mỹ thuật ấn Độ NBXB Mỹ thuật tr 209

Nguồn Lý học Đông Phương

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Read Full Post »