Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Mười Một 11th, 2009

Viết bởi Triệu Thế Việt
chuaphattichphatadida.jpgNhìn dọc theo các mốc thẩm mỹ nước nhà thì thẩm mỹ thời Lý là mốc thẩm mỹ thứ hai sau thẩm mỹ Đông Sơn, nhưng về thiết chế xã hội là thời kỳ nhà nước quân chủ trung ương tập quyền độc lập đầu tiên. Do những yếu tố lịch sử đương thời cũng như thừa hưởng cái gốc sâu bền từ những thời đại trước mà ở thời Lý đã hình thành nền văn hóa đa dạng, nhiều chiều.Khi ta ngắm nhìn chu vi tượng để cảm nhận về luân hồi, dáng ngồi tĩnh tọa gợi lên sự an lành nơi thần thái, phiêu sái trong nếp áo mỏng nhẹ, vẻ tròn trĩnh dưới làn nét mà điểm tụ của chúng chạy hút vào hư vô, cuốn ta vào suy tư về thân phận con người. Cái khoáy áo phía sau lưng, bên tay phải thực là đột hứng ngoài niêm luật như tiếng cười sảng khoái của nghệ sĩ sau chuỗi dài hóa hồn vào thân Phật. ánh sáng ngưng đọng hòa điệu cùng khối làm tâm tư ta tìm thấy nhịp độ bình tĩnh và an lạc, đôi môi nồng nàn cuộc sống kia như hứa hẹn một nụ cười hoan hỷ sẽ mãn khai làm ta bâng khuâng biết bao hy vọng. Những cảm xúc ấy từ đâu mà có? Nếu không có tình cảm như cơn gió làm gợn lên những làn sóng xúc cảm trên mặt hồ tâm thức, hình tướng của tượng đòi hỏi được tắm mình trong tình cảm. Tác phẩm đã tiếp biến Rupa và Bhava trong Sadanga chính là quá trình tinh thần hóa cái đẹp.BẢO TỒN VÀ TIẾP BIÊN VĂN HÓA THỜI LÝ QUA TƯỢNG PHẬT CHÙA PHẬT TÍCH


Triệu Thế Việt

1. Bảo tồn bản sắc của văn hóa thời Lý

Bằng yếu tố Mẹ qua tượng Phật chùa Phật Tích (1)

Nhìn dọc theo các mốc thẩm mỹ nước nhà thì thẩm mỹ thời Lý là mốc thẩm mỹ thứ hai sau thẩm mỹ Đông Sơn, nhưng về thiết chế xã hội là thời kỳ nhà nước quân chủ trung ương tập quyền độc lập đầu tiên. Do những yếu tố lịch sử đương thời cũng như thừa hưởng cái gốc sâu bền từ những thời đại trước mà ở thời Lý đã hình thành nền văn hóa đa dạng, nhiều chiều.

Nét khái quát lớn nhất là văn hóa thời Lý giải Hoa để trở về với văn hóa Đông Nam Á vốn chung sống từ thuở Đông Sơn. Một trong những yếu tố văn hóa bản địa của người Việt nói riêng và của vùng văn minh lúa nước nói chung là tín ngưỡng thờ Nữ thần, thờ Mẹ. Ở tục thờ nữ thần, tín ngưỡng Mẫu của người Việt, hình ảnh Mẹ âu Cơ, mẹ Gióng, Phật Mẫu, các bà Tứ Pháp, hệ thống Mẫu… hình tượng nữ tính là hình tượng hằng xuyên trong văn hóa Việt, thẩm mỹ Việt.

Đối với thẩm mỹ thời Lý, yếu tố Mẹ hiện diện trên tượng Đức Phật thanh cao, bao dung và mát lành. Ngắm gương mặt thanh tú của tượng Đức Phật, có thể thấy sống mũi rất thoát với các nét mày, khóe mắt, bờ môi của nữ tính, vẻ kín đáo trong từng lớp áo dịu dàng, dáng hình mảnh mai, đôi bờ vai xuôi nhẹ tảo tần với cổ kiêu ba ngấn đến là duyên kia làm ta thấy tha thiết cái tình bao la của Mẹ Việt.

Bằng phương pháp tạo hình Việt qua tượng Phật ở chùa Phật Tích

Dù thẩm mỹ thời Lý vẫn tựa vào tiêu chuẩn không gian ba chiều của điêu khắc thế giới nhưng vẫn thản nhiên gắn với phương pháp tạo hình ước lệ vốn là lề lối từ thưở tiền Đông Sơn cho mãi đến nghệ thuật đình làng Ước lệ là cách ứng xử tạo hình rất riêng của người Việt.

Ngay từ cái nhìn đầu tiên, ta đã có thể cảm nhận rằng chiều chính diện của tượng một cái nhìn ôm choán lấy tổng thể mà dường như quên đi tỷ lệ mặt nghiêng có phần bị lép đi, vơi đi cái thân hình quá mảnh của tượng Đức Phật. Ta nhận thấy, về tỷ lệ, dường như vô lý ở đâu đó dăm ba chi tiết nhỏ, ước lệ mà không giả định, nó đủ đầy để đem lại hợp lý trong cấu trúc tổng thể.

Bằng sự từ chối những yếu tố văn hóa không phù hợp của văn hóa Ấn

Văn hóa Ấn Độ đồng nhất thần thánh với con người, bao gồm cả tu hành và tham vọng, thánh thiện và nhục cảm. Ở tạo hình, chất nhục cảm cứ rung lên khao khát theo từng làn cơ bắp nhỏ nhất, những người đẹp hoan hỷ lõa thể với một chút e lệ Á Đông, cho ta có cảm giác nhân vật đang do dự giữa nhục cảm, bản năng gốc và tiết hạnh, nết na, những khát khao cứ cồn cào trong đời sống âm thầm của đá, mong mỏi xóa đi cái lằn ranh nhọc nhằn giữa thiêng liêng và trần tục. Ở tư duy tạo hình Ấn Độ nhục cảm là mẫu số chung, nhưng điều đó đã bị gạt một cách cương quyết ra khỏi nhận thức thẩm mỹ của người Việt. Quả là cách ứng xử sòng phẳng.

Tượng Đức Phật ở Phật Tích không thuộc về trần thế, nó thuộc thế giới thiêng liêng của lòng mộ đạo, cảnh giới thanh tịnh và siêu nhiên, ý niệm cao thượng, biểu tượng của đỉnh cao chân lý, đạo đức và giải thoát. Cái đẹp của tượng Đức Phật ở Phật Tích là biểu tượng thẩm mỹ thời Lý, đó là sự cao cả, phi phàm và lý tưởng hóa.

Bằng sự từ chối những yếu tố văn hóa không phù hợp của văn hóa Hoa

Dù khôn khéo thế nào, dù đề tài Phật giáo có từ bi và minh triết vô tận thì uy lực của đế chế Hán – Đường và tinh thần tuyệt đối hóa Trung Hoa vẫn đẩy các vị Phật trong hang Đôn Hoàng đến cái đẹp hốt hoảng, xô đẩy tâm thức con người tuân theo và quy phục Đức Phật như quy phục trước quyền lực của đế chế, suy cho cùng, đó là nỗi sợ hãi truyền kiếp của con dân hèn mọn trước uy lực của vương quyền.

Văn hóa thời Lý từ chối tiếp nhận và đối lập lại với uy quyền, nam tính của các vị Phật Đại Đường, tượng Đức Phật ở Phật Tích đến với chúng sinh bằng lòng yêu thương và che chở bao la của tình Mẹ, bằng cái đẹp thanh tao và xinh xắn, đó là cuộc đối thoại âm thầm trong tâm thức để con người tìm về bản chất người trong tâm mình (Minh tâm kiến tính).

Văn hóa thời Lý giữ gìn độc lập quả là khôn khéo. Trong lúc đó, văn hóa Nhật Bản đôi khi trở thành đoạn kéo dài của thẩm mỹ Trung Hoa, văn hóa Champa mang nặng thẩm mỹ văn hóa của Ấn Độ suốt một thời gian dài. Ngay bản thân văn hóa ấn Độ đồ sộ và vĩ đại như vậy, trong những khúc ngoặt của lịch sử cũng không thể cưỡng lại sự quyến rũ ở cấu trúc hấp dẫn của thẩm mỹ cổ điển Hy Lạp.

Sự bảo tồn những yếu tố văn hóa của dân tộc đã tạo cho văn hóa thời Lý khả năng chống lại sự nô dịch của các vùng văn hóa lớn mà vẫn tiếp biến những yếu tố tinh hoa, có lợi cho sự phát triển của văn hóa Việt.

2. Giá trị tiếp biến văn hóa của tác phẩm

“Không một nền văn hóa nào đứng chơ vơ trước lịch sử như một hòn đảo, sự giao thoa văn hóa là lẽ tự nhiên và rất nhân loại” (2).

Sự giao thoa là lẽ tự nhiên nhưng tiếp nhận yếu tố văn hóa tinh hoa của nền văn hóa khác (yếu tố ngoại sinh) và Việt hóa chúng để phù hợp với văn hóa dân tộc (yếu tố nội sinh) là đặc thù của văn hóa thời Lý.

Tiếp biến văn hóa với văn hóa Trung Quốc

Phong cách diễn tả tà áo của tượng Đức Phật ở Phật Tích là đem lại cho đá một đời sống của vải mềm, đủ mềm chứ không quá mềm và xô lệch tới rối mắt như ở tượng hang Phật Cười, Triết Giang. Nó cho ta thấy sự tiếp thu nghệ thuật Trung Hoa ở thời này là ít. Mặc dù, trong lịch sử, văn hóa Trung Hoa đã cưỡng bức người Việt phải tiếp nhận, nhưng ở thời kỳ này tinh thần dân tộc đã khá rõ ràng và trong tiếp nhận có xu hướng giải Hoa để tìm về với văn hóa Đông Nam Á và văn hóa gốc Ấn Độ.

Tiếp biến văn hóa với văn hóa Ấn Độ

Sự tiếp biến văn hóa Ấn Độ ở nghệ thuật thời Lý là thừa hưởng từ giai đoạn trước, với thái độ tự nguyện từ hai phía, mà hệ thống Tứ Pháp với các chùa Dâu, Đậu, Dàn, Tướng là minh chứng cho sự tự nguyện giao thoa Việt – Ấn.

Ở tác phẩm này, thoạt nhìn những đường nét nổi ở nếp áo trên thân tượng, chúng tôi không muốn nhắc lại ý kiến của nhiều người khác là giống gân lá sen, cảm nhận đầu tiên của chúng tôi là những đường gân đó thật gần gũi với tượng Phật và phù điêu chạm nổi ở nghệ thuật Gandhara thời kỳ Kusshan – Ấn Độ (TK II).

Nhưng để nói rằng tượng Đức Phật ở Phật Tích giàu chất Ấn, thì chất Ấn ôm trùm lên tổng thể lại là tư tưởng của bộ thư tịch thẩm mỹ, nghệ thuật vĩ đại Sadanga của Ấn Độ.

Sadanga, gồm sáu chuẩn của thẩm mỹ Ấn Độ cho đến nay vẫn là ẩn số về xuất xứ và tác giả, ngay Tagore là người giới thiệu và bênh vực bản quyền thuộc Ấn Độ của Sadanga cũng không làm sáng tỏ được ẩn số kia dù văn minh sông Hằng, sông ấn đã chứa đựng nó từ rất lâu. âu cũng là bí mật của lịch sử,

Rupa Bhêda, khoa học về hình tướng, là chuẩn mực quan trọng hơn cả trong sáu chuẩn mực, cũng như trong tác phẩm này, là thể hiện toàn vẹn sự đồng nhất giữa nội dung và hình thức; là khoa học toàn diện về hình thức (vật chất) và sắc tướng (thần thái- tinh thần).

Nếu nghệ sĩ tiếp cận với sự vật mà chỉ ở bên ngoài sự vật một cách vật chất, vốn chỉ chứa chất những đổi thay nông nổi, giả tạm, là người nghệ sĩ chưa nắm chút gì sự thật cả, vì thần tướng bên trong mới là sự sống của tác phẩm bởi nó hàm chứa tư tưởng, thần thái là giá trị vĩnh cửu và siêu việt. Cho nên, Sadanga đã chỉ rõ, thưởng thức và sáng tạo nghệ thuật đều bằng tâm. Đối với phương Tây khái niệm tâm là khái niệm ngông tưởng và mờ nhạt nhưng đối với người phương Đông, tâm là tư tưởng vô hạn, là thái độ sống và triết lý về cái chết – nó vượt ra ngoài lẽ tử sinh.

Rupa ở tượng Đức Phật ở Phật Tích là cảm nhận bằng tâm thức cái hình bên ngoài và cái tướng ở bên trong. Nghệ sĩ sáng tạo tượng Đức Phật ở Phật Tích tiếp thu Rupa của Sadanga ở cả hai chiều, bên trong và bên ngoài của hình tướng.

Bhava, tình cảm với hình tướng. Thẩm mỹ Ấn độ và tượng Đức Phật ở Phật Tích đều có điểm chung là hướng nội. Nhận thức nghệ thuật không phải là chiếm đoạt bằng vật chất của tác phẩm mà là hòa vào bên trong nó bằng tình cảm và xúc động, thức tỉnh bản chất người trong ta, tác động tình cảm lên hình tướng. Ở đây, đỉnh cao của thưởng thức và sáng tạo là tâm thức con người hòa vào tác phẩm để ngân lên bản tình ca nhân loại. Nhưng khi tâm ta đạt đến thanh tịnh, trong sáng và phẳng lặng như mặt hồ nước, thì tình cảm lại là trạng thái khơi dậy cảm xúc thẩm mỹ, không có tình cảm tác động thì tâm cứ im lặng và trống không. Muốn tiếp cận được điều này, trước hết tình cảm của chúng ta không bị đáng lừa bởi biểu hiện nông nổi bên ngoài sự vật, lại không bị một trạng thái tâm lý cực đoan nào chi phối.

Khi ta ngắm nhìn chu vi tượng để cảm nhận về luân hồi, dáng ngồi tĩnh tọa gợi lên sự an lành nơi thần thái, phiêu sái trong nếp áo mỏng nhẹ, vẻ tròn trĩnh dưới làn nét mà điểm tụ của chúng chạy hút vào hư vô, cuốn ta vào suy tư về thân phận con người. Cái khoáy áo phía sau lưng, bên tay phải thực là đột hứng ngoài niêm luật như tiếng cười sảng khoái của nghệ sĩ sau chuỗi dài hóa hồn vào thân Phật. ánh sáng ngưng đọng hòa điệu cùng khối làm tâm tư ta tìm thấy nhịp độ bình tĩnh và an lạc, đôi môi nồng nàn cuộc sống kia như hứa hẹn một nụ cười hoan hỷ sẽ mãn khai làm ta bâng khuâng biết bao hy vọng. Những cảm xúc ấy từ đâu mà có? Nếu không có tình cảm như cơn gió làm gợn lên những làn sóng xúc cảm trên mặt hồ tâm thức, hình tướng của tượng đòi hỏi được tắm mình trong tình cảm. Tác phẩm đã tiếp biến Rupa và Bhava trong Sadanga chính là quá trình tinh thần hóa cái đẹp.

Như vậy, thông qua tượng Đức Phật ở Phật Tích, ta nhận thấy, sự bảo tồn và tiếp biến văn hóa đủ độ, đúng cách đã tạo ra văn hóa thời Lý những tinh hoa quý báu, chứng minh cha ông ta đã thành công trong quá trình hội nhập. Bài học đó dường như không chỉ là ngày hôm qua mà nó vẫn còn nguyên vẹn những giá trị cho hôm nay và mai sau.

Trích Văn Hoá Nghệ Thuật 4-2005

Chú thích

1. Tượng Đức Phật chùa Phật Tích ( Bắc Ninh), chất liệu đá, cao 184 cm không kể bệ tượng, TK XI. Có nhiều tài liệu gọi là tượng A Di Đà, theo văn bia chùa Phật Tích có ghi: Đức Phật mình vàng. Ở đây, chúng tôi gọi là tượng Đức Phật chùa Phật Tích.

2. Thái Bá Vân, Tiếp xúc với nghệ thuật, Viện Mỹ thuật xb, Hà Nội, 1995.

Các bài đã đăng :

 

 

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

Advertisements

Read Full Post »

Quan niệm về cái đẹp nhục cảm của Ấn Độ cổ đại qua sử thi Ramayana


Phụ nữ Ấn Độ

Mĩ học ấn Độ, trước tiên, là “mĩ học tôn giáo”, bản chất cái đẹp nằm trong sự giải thoát. Nhưng, mĩ học ấn Độ còn là mĩ học mang tính “vật chất”, với “chất cụ thể của nhục cảm (sensual) cộng với sự huyền bí”. Điều này có nghĩa, cái đẹp trong quan niệm ấn Độ luôn hài hoà hai yếu tố tôn giáo và thế tục, siêu thoát và trần tục.

1. Mĩ học ấn Độ, trước tiên, là “mĩ học tôn giáo”, bản chất cái đẹp nằm trong sự giải thoát. Nhưng, mĩ học ấn Độ còn là mĩ học mang tính “vật chất”, với “chất cụ thể của nhục cảm (sensual) cộng với sự huyền bí”. Điều này có nghĩa, cái đẹp trong quan niệm ấn Độ luôn hài hoà hai yếu tố tôn giáo và thế tục, siêu thoát và trần tục. Nhục cảm chính là khía cạnh trần tục của cái đẹp trong cảm quan ấn Độ. “Nhục cảm” vốn là thuật ngữ của mĩ học, được dùng để chỉ loại khoái cảm do ăn uống, do thoả mãn nhục dục… đem lại. Trong nghệ thuật ấn Độ, nhục cảm được thể hiện rõ nhất qua những bức phù điêu tả cảnh nam nữ giao hoan, cảnh phụ nữ ở trần và sự cường điệu các bộ phận sinh sản. Với người ấn Độ, nhục cảm là một giá trị thẩm mĩ mang tính xã hội. Trong bài viết này, chúng tôi tìm hiểu quan niệm về cái đẹp nhục cảm của người ấn Độ cổ đại qua sử thi Ramayana. Vấn đề này vốn đã được đề cập tới nhiều. Song, ở đây, chúng tôi tập trung tìm hiểu hai phương diện: phương diện bản thể (cái đẹp nhục cảm là gì) và phương diện sinh tồn (cái đẹp nhục cảm tồn tại như thế nào), từ đó, đi đến một khái niệm hoàn chỉnh về cái đẹp nhục cảm trong cảm quan của ấn Độ cổ đại.

2. Trong cảm quan ấn Độ, cái đẹp nhục cảm là giá trị phổ biến của thế giới. Nếu như vẻ đẹp thân thể của các nhân vật trong sử thi Hi Lạp chỉ được thể hiện qua các định ngữ ngắn gọn, kiểu như: “Hêlen xinh đẹp”, “Bridêit má hồng”, “nữ tì tóc quăn xinh đẹp”… thì các nhân vật của sử thi Ramayana, từ nhân vật phụ nữ cho đến nhân vật anh hùng, từ nhân vật là con người đến nhân vật là thần linh hay yêu quỷ, từ nhân vật phe thiện đến nhân vật phe ác, phần lớn, được miêu tả thân thể đầy gợi cảm: Xita “hông đầy đặn”, “đùi… tròn trĩnh như vòi voi”, “ngực nở nang với đôi vú đầy và nhọn”, “đùi núng nính tròn trĩnh như vòi voi…”; các cung nữ của Ravana “đôi hông là bờ suối”, “eo lưng là sóng gợn lăn tăn”; Rama: “chân tay chàng cân đối”, “bắp vế, nắm tay của chàng rắn chắc”, “rốn sâu, bụng và ngực phủ những vệt lông tơ”; Ravana có “bộ ngực rắn khoẻ… xoa bột đàn hương”… Không chỉ con người, ngay cả thiên nhiên trong sử thi Ramayana cũng đặc biệt ấn tượng ở đường nét, hình dáng của thân thể nữ, hơn nữa là thân thể nữ trong trạng thái hành lạc. Điều này thể hiện rõ nhất qua các phép so sánh, qua việc miêu tả thế giới động thực vật ở thời điểm dậy tình. Quan niệm coi cái đẹp thân thể là giá trị phổ biến, tất yếu của thế giới, con người trong vị trí nào đều hướng tới cái đẹp của thân thể lí tưởng mang dấu ấn dân chủ của thời đại anh hùng. Nó khác với thời kì xã hội phân chia giai cấp, khi cái đẹp nhục cảm được coi là đặc quyền của các cá nhân ưu tú; như nhận định của Evanina: “ở thời Trung cổ, người ta cho rằng các nhân vật văn học chính diện nhất định phải đẹp. Cái đẹp này phản ánh cái đẹp bên trong. Bởi thế mà người ta cho rằng, chỉ cần kể về cái đẹp bên ngoài của cô gái là đủ”(1).

3. Như vậy, trong cảm quan ấn Độ cổ đại, cái đẹp nhục cảm tồn tại phổ biến trong thế giới. Tuy nhiên, cái đẹp nhục cảm đó gắn với khả năng sinh nở của vạn vật.

Sử thi Ramayana xuất hiện dày đặc, đặc biệt là phần đầu tác phẩm, mô típ sinh sôi, mô típ cầu con nối dõi, trạng thái giao hoan của vạn vật, như chuyện Đaxaratha lập đàn tế lễ cầu tự, chuyện cuộc giao phối của thần Mahađêva và vợ là Xakti Uma, chuyện con bò cái Xavala có khả năng sinh sản kì diệu… Đây là dấu ấn của tín ngưỡng phồn thực, theo đó, nhục cảm là giá trị phổ biến, tất yếu nhưng không tồn tại cho nó, mà phải thực hiện chức năng đối với thế giới: chức năng duy trì giống nòi, qua đó duy trì sự sinh tồn của thế giới. Quan niệm về cái đẹp nhục cảm như vậy được cố định thành luật (luật Manu). Theo đó, con người có quyền thoả mãn nhu cầu khoái lạc thể xác; không có khoái lạc tình dục và hạnh phúc thể xác, cuộc sống gia đình không thể tồn tại, dòng giống sẽ bị tuyệt diệt.

Việc xác định nội hàm khái niệm cái đẹp nhục cảm trên cho thấy con người ấn Độ vừa mơ mộng, vừa thực tế; vừa coi nhục cảm là phần tất yếu của cuộc sống vừa yêu cầu nhục cảm phải có ý nghĩa với sự sống. Điều này khiến thủ tướng Nehru từng thốt lên: “Thật thú vị nhận thấy rằng vào buổi bình minh của lịch sử ấn Độ, đất nước này đã… không xa rời các mặt của cuộc sống, không chìm đắm trong mơ mộng về một thế giới siêu nhiên mơ hồ, không thực tế, mà nó đã đạt được… những lạc thú của cuộc đời”(2).

Trong cảm quan ấn Độ, nhục cảm còn là sắc thái không thể thiếu của tình yêu đích thực. Có thể thấy điều này qua việc đối sánh tâm trạng nhân vật Rama trước và sau khi Xita bị bắt cóc. Trước khi Xita bị bắt cóc, Rama không một lần quan tâm đến thân thể Xita. Nhưng khi vắng Xita, ở đâu Rama cũng thấy bóng dáng thân thể kiều diễm của nàng. Trong nỗi đau tê dại, Rama tưởng tượng Xita vẫn đang phủ trên thân thể nàng đầy hoa Axôka, “đùi của em thon thả như cây chuối nước, và em che giấu nó sau lùm cây chuối”(3). Rama đắm chìm trong đại dương đau khổ khi tưởng tượng thân thể mĩ miều của Xita đang bị kẻ thù giày vò: “Bộ ngực tròn trắng của nàng ngào ngạt mùi đàn hương vàng, chắc chắn đã đầm đìa máu”(4), “khuôn mặt mà trên đó mái tóc cuốn búp buông xuống như sóng lượn, chắc chắn đã bị cướp mất vẻ đẹp như mặt trăng trong sự kìm kẹp của Rahu”, “Có thể bọn Raksaxa khát máu đã xé nát cái cổ mềm mại đeo dây chuyền vàng của con người mà ta yêu dấu”(5). Nhìn cảnh vật, chàng thấy cái đẹp thân thể hằn in khắp nơi. Trong hương sen của hồ Pampa, Rama thấy đó là hơi thở nhẹ nhàng của Xita; trong cây Tilaka nở hoa, chàng thấy bóng dáng mĩ nhân chuếnh choáng hơi men; trong cây xoài đang độ nở hoa, chàng thấy một mĩ nhân trang sức lộng lẫy bị những ham muốn ái ân giày vò…

Không những thế, cảnh vật trong mắt Rama đâu đâu cũng say trong hoan lạc. So sánh bức tranh thiên nhiên ở chương 38 khúc ca II và bức tranh thiên nhiên ở chương 23, 25 khúc ca IV, chúng ta thấy rõ điều này. Cùng là thiên nhiên của khu rừng ở ẩn, cùng là những con vật ấy nhưng sắc thái khác nhau. Thiên nhiên ở chương 38 khúc ca II hiện lên thơ mộng với trạng thái vốn có; còn thiên nhiên trong khúc ca IV ngập tràn trong trạng thái giao hoan.

Thử thách là sự bất thường của cuộc sống, nhưng chính nó lại bộc lộ phần bản chất hàng ngày bị che lấp; là bước đệm để cuộc sống trở về với quỹ đạo thường có của nó. Sự kiện Xita bị bắt cóc đã làm phát lộ sắc thái trần tục nhất – vốn có của tình yêu: sắc thái nhục cảm.

Tuy nhiên, một phản đề khác được đặt ra là, người ấn Độ chấp nhận tình yêu mang màu sắc nhục cảm nhưng không chấp nhận tình yêu chỉ có màu sắc nhục cảm. Nhục cảm luôn cân bằng, hài hoà với tâm hồn thánh thiện, trong sáng, với lòng chung thủy, đức hi sinh…

Thực ra, quan điểm coi cái đẹp nhục cảm gắn với tình yêu đã có trong thần thoại. Các nhà nghiên cứu khi dẫn câu chuyện thần Siva bị trúng mũi tên của thần Kama thường chỉ để nói lên truyền thống nhân đạo, nhân văn đề cao tình yêu trong văn hoá ấn Độ. Tuy nhiên, nếu chú ý hơn đến sự sắp xếp của các sự kiện, vai trò của sắc đẹp Uma sẽ thấy rõ quan niệm của người ấn Độ về quan hệ giữa nhục cảm và tình yêu. Vẻ đẹp gợi tình của Uma không thể tự dưng khêu gợi được dục tình của Siva. Chỉ đến khi trái tim ông tổ của chủ nghĩa khổ hạnh nhức nhối bởi tình yêu thì cái đẹp nhục thể của Uma mới được chấp nhận.

Từ quan niệm cái đẹp nhục cảm gắn với khả năng sinh sản đến quan niệm cái đẹp nhục cảm gắn với tình yêu là bước phát triển của tư duy ấn Độ, truyền thống nhân đạo của ấn Độ. Đó chính là biểu hiện của cái nhìn có văn hoá đối với nhục cảm.


Rama và Sita, tranh của Indischer Maler 1780

4. Tuy nhiên, đây vẫn chưa phải là khái niệm cái đẹp nhục cảm hoàn chỉnh trong quan niệm ấn Độ. Cái đẹp nhục cảm không chỉ là phương tiện duy trì sự sinh tồn của thế giới mà còn là phương tiện thanh lọc thế giới. Điều này xuất phát từ đặc trưng của đất nước ấn Độ coi trọng sự rèn luyện đạo đức, chế ngự tinh thần.

Người ấn Độ đề cao cái đẹp thân thể người phụ nữ nhưng phải gắn với tư cách, nghĩa là sự trinh tiết, lòng chung thuỷ… Người phụ nữ gợi cảm mà không trinh tiết, đó là người phụ nữ dâm dục, đĩ thoã, lăng loàn… và nhất định bị trừng phạt. Có thể thấy điều này qua sự phân chia nhân vật nữ trong sử thi Ramayana thành hai giới tuyến: người phụ nữ trinh thuận (tiêu biểu nhất là Xita) và người phụ nữ lăng loàn (Tara, những người phụ nữ thành Lanka,…). Hai giới tuyến này giống nhau ở cái đẹp thân thể. Song nếu như Xita một lòng sắt son với Rama thì Tara ngay sau khi Vali (chồng Tara) chết đã nhanh chóng vùi mình trong vòng tay của kẻ giết chồng mình là Xugriva, hàng ngày hàng giờ bị thú nhục dục lôi cuốn. Hình ảnh nàng Xita đứng vững trên bờ vực của ham muốn nhục dục mới chính là người phụ nữ lí tưởng theo quan niệm ấn Độ. Nhục cảm là giá trị tự nhiên, song phải gắn với lòng chung thuỷ, đức trung trinh. Nhục cảm không chung thủy, trung trinh đồng nghĩa với dâm loạn, đàng điếm. Có thể thấy điều này qua nhân vật Ahalya thất tiết với chồng, chịu hàng ngàn năm trong am, ngủ trên giường tro, ăn bằng không khí, sống hối hận không ai trông thấy; mụ Xuanapakha lăng loàn, bị lòng dục mê hoặc, hết đòi làm vợ Rama lại đòi làm vợ Lakmana phải chịu hình phạt thê thảm: cắt tai, xẻo mũi…

Tiêu chí về lòng chung thuỷ, đức trung trinh đó đã trở thành luật của ấn Độ. Tước đi tính chất hà khắc vô lí của các hủ tục, chúng ta thấy việc đặc biệt coi trọng đức hạnh người phụ nữ thật sự cần thiết để thế giới tồn tại và phát triển trong trạng thái cân bằng, trong sạch. Nếu coi nhục cảm là giá trị duy nhất, tuyệt đối, thế giới nhanh chóng sẽ ngập trong đồi bại, loạn luân… Nhục cảm gắn với đạo đức mới có chức năng gìn giữ thế giới.

5. Với người ấn Độ, nhục cảm là giá trị tự nhiên phổ biến nhưng nếu con người chấp thủ, coi nhục cảm là giá trị duy nhất, khi đó, nhục cảm đồng nghĩa với tham lam, dục vọng – mầm mống của diệt vong.

Sử thi Ramayana chỉ ra nhục dục là nguyên nhân đẩy con người vào hố sâu đau thương; nó là nguyên nhân đảo lộn mọi chân lí. Điều này có thể thấy rõ qua sự kiện vua Đaxaratha truất quyền lên ngôi của Rama. Cơ chế điều khiển hành động phi lí này là lòng dâm dục của con người. Lòng dục còn nhấn cả nhân loại trong bể khổ đau, từ người đứng đầu vương quốc là Đaxaratha đến thần linh, dân chúng… Sử thi Ramayana miêu tả nỗi đau của vua Đaxaratha thật tinh tế: “Ta đang rơi vào một biển cả mênh mông đau buồn vì Rama vắng mặt, những tiếng thở dài là sóng và xoáy lốc của nó, những cử động của tay là cá, tiếng khóc là tiếng thầm thì sâu thẳm của nó… Những giọt nước mắt giống như những con sông đang dào dạt xông vào nó”(6). Nhiều phép so sánh được tung ra để đặt tình cảnh vướng mắc không gỡ được của vua Đaxaratha vào lòng dâm dục: “Nhà vua tự trói buộc mình bằng một lời nguyền để rồi tự tiêu diệt mình, như một con hươu bị mắc bẫy bởi một sợi dây oan nghiệt”(7), “ông ngày càng đau khổ như một con hươu lúc thấy một con hổ cái”(8), “ông quằn quại như một con rắn độc ngạt thở vì bị bùa mê”(9)… Các hình ảnh đưa ra để so sánh ở đây diễn tả đúng tình cảnh bị động của vua Đaxaratha. Dục vọng đã cướp đi sức mạnh của con người. Trước dục vọng, con người bị tha hoá.

Tóm lại, câu chuyện Đaxaratha cho thấy tác hại của lòng dục, đúng như Rama nhận xét: “nhục dục là mối dục vọng mãnh liệt nhất trong con người, thậm chí mạnh hơn cả lòng tham vàng. Kẻ nào đeo đuổi lòng ham muốn mà quên đi mọi quyền lợi, sẽ mang lại nỗi cơ cực cho những người như vua Đaxaratha”(10).
Quan niệm về cái nhục cảm, nhục dục như vậy liên quan đến triết lí nhân sinh nhà Phật cho rằng nguyên nhân của khổ là “cái nhân dục vô nhai, nó làm cho con người tái sinh hoài; dục vọng đó kết hợp với sự ham thích, dâm dật, lúc nào cũng muốn thoả mãn cho được, nguyên nhân là cái ham mê, ham mê cái thực thể”(11). Triết lí nhà Phật trong khi chỉ ra căn nguyên của nỗi khổ, cũng vạch ra con đường thoát khổ là diệt dục. Phải tẩy chay lòng hám dục, cuộc sống mới an bằng, tránh được hoạ diệt vong.

Không phải ngẫu nhiên mà sử thi Ramayana dành 2 chương (chương 8, 9 khúc ca V) kể về buồng ngủ của Ravana. Hình ảnh những phụ nữ nằm ngủ chồng chất tạo thành không khí dâm dục đặc quánh bao quanh Ravana: “nàng thì gối đầu lên ngực của nàng khác trong khi một người thứ ba ngả lên đầu người này; một nàng đang nằm trên vạt áo người khác, trong khi một người thứ ba lại ngủ trên ngực của người này. Cứ thế đấy, họ ngủ chung ngủ chạ, kẻ này tựa vào vai kẻ kia”(12). Hơn nữa, khi miêu tả phòng múa của Ravana, hình ảnh những phụ nữ này được xếp lẫn lộn với đống đồ đạc, thức ăn thức uống của chủ nhân (gà, công, nai quay, thịt lợn xông khói tẩm bơ, gà gô, cá và thỏ”, “các thức uống ngon: xúp mặn, vị hơi chua…) cho thấy xu hướng vật chất hóa, dung tục hóa cái nhục cảm của Ravana. Trong sử thi Ramayana, Ravana biểu tượng cho lòng ham muốn vô độ của con người. Quá trình Rama tiết diệu Ravana chính là hành trình gian khổ của mỗi cá nhân thực hành diệt dục để đạt được hạnh phúc đích thực, hành trình con người “thoát khỏi mọi nỗi đau khổ nhờ tự huỷ diệt được mình – theo nghĩa tinh thần” để đạt đến cõi Niết Bàn – sự “an tính”, cân bằng, giao hòa.

Như vậy, việc chú ý đến cái nhục cảm của ấn Độ chỉ là “cách thức lấy vẻ đẹp của thế giới vật chất như một phương tiện để hướng đạo khát vọng các tín đồ tới vẻ đẹp tâm linh của giác ngộ chân thành(13). Tại các chùa chiền ấn Độ, sự xuất hiện các bức tranh phụ nữ gợi cảm là để nhấn mạnh vào bức thông điệp của Đấng giác ngộ về sự chế ngự, vượt qua cạm bẫy quyến rũ của dục vọng. Vượt qua cái ảo ảnh, giả nguỵ của cái đẹp, con người sẽ tìm thấy cái đẹp đích thực ở cõi thanh tĩnh, an bằng.

Như thế, nhục cảm một khi đã tước bỏ tất cả ý nghĩa xã hội văn hoá nó trở thành lực cản cho sự tồn tại của thế giới. Nhục cảm phải gắn với thế giới thanh sạch, hài hoà, an bằng mới là cái đẹp đích thực trong cảm quan ấn Độ.

Đến đây, chúng ta có thể hình thành một cách cơ bản quan niệm về cái đẹp nhục cảm của ấn Độ qua sử thi Ramayana: cái đẹp nhục cảm là giá trị phổ biến, tự nhiên của cuộc sống, gắn với khả năng sinh sản để duy trì sự sinh tồn của thế giới; gắn với những hành vi văn hoá của con người như tình yêu, đức hạnh, nhân cách… để gìn giữ sự an bằng, sạch trong của thế giới.

Quan niệm cái đẹp nhục cảm như trên xuất phát từ đặc trưng tôn giáo chi phối mọi mặt của đời sống trong truyền thống văn hoá ấn Độ. Tuy nhiên, “mặc dù được chỉ dẫn theo các quy luật, cách thức của mĩ học tôn giáo nhưng cảm xúc vẫn luôn chi phối trong quá trình sáng tạo nên họ không thể không mang vào… những tình cảm nhân bản”(13). Điều này chính Krishna Kripalani trong cuốn Literature of Modern India – A panoramic glimpse đã khẳng định: “Sự biểu đạt đầy tính dục rõ ràng không mâu thuẫn với trạng thái thăng hoa về tinh thần và lòng mộ đạo một cách sùng kính” (“Such erotic expression was obviously not inconsistent with flights of spiritual ecstasy or moral piety”) (14).

Phạm Phương Chi(*)
(Nguồn Tạp chí Văn hoá Dân gian, số 6(96)/2004)

Chú thích

(*) Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
(1) Evanina “Tình yêu và hôn nhân trong văn học ấn Độ thời trung đại”, Tạp chí Văn học nước ngoài, số 4/1996, tr.91
(2) Jawaharlal Nehru Phát hiện ấn Độ, tập 1, Nxb Văn học, Hà Nội, 1990, tr.106
(3) Ramayana, tập 2, Nxb Văn học, Hà Nội, 1988, tr.135
(4) Ramayana, tập 1, Nxb Văn học, Hà Nội, 1988, tr.136
(5) Ramayana, tập 1, Nxb Văn học, Hà Nội, 1988, tr.135
(6) Ramayana, tập 1, Nxb Văn học, Hà Nội, 1988, tr.178
(7) Ramayana, tập 1, Nxb Văn học, Hà Nội, 1988, tr.146
(8) Ramayana, tập 1, Nxb Văn học, Hà Nội, 1988, tr.146
(9) Ramayana, tập 1, Nxb Văn học, Hà Nội, 1988, tr.146
(10) Ramayana, tập 1, Nxb Văn học, Hà Nội, 1988, tr.171
(11) Lê Xuân Khoa Nhập môn triết học ấn Độ, Trung tâm học liệu – Bộ giáo dục, Sài Gòn, 1972, tr.62
(12) Ramayana, tập 2, Nxb Văn học, Hà Nội, 1988, tr.146 – 147
(13) Lương Duy Thứ (chủ biên) Đại cương văn hoá phương Đông, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1996, tr.200
(14) Krishna Kripalani Literature of Modern India a panoramic glimpse, Nation book trust, India, 1982, tr.73

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Read Full Post »

Ấn tượng mỹ thuật Phật giáo trên gốm sứ 3 miền

Festival nghề truyền thống lần 4 (2009) với chủ đề “Nghề truyền thống – bản sắc và phát triển”, lễ hội năm nay vinh danh 3 nghề: Gốm sứ, sơn mài và pháp lam, gắn liền với sự kiện 110 năm cầu Trường Tiền và chợ do thành phố Huế tổ chức quả đã có mổ sự bứt phá khá mãnh liệt.Trước hết phải ghi nhận một điều là khác với những Festival trước, không gian thường tổ chức trong khuôn viên khép kín của trường Hai Bà Trưng. Năm nay, lần đầu tiên sau 4 lần tổ chức không gian được mở rộng trên hầu khắp các trọng điểm của thành phố Huế mà điểm nhấn là đôi bờ sông Hương thơ mộng trên phố đi bộ Nguyễn Đình Chiểu, Ban Tổ chức đã dựng lên 11 ngôi nhà rường Huế để trưng bày sản phẩm, giới thiệu kỹ thuật và các công đoạn, quy trình sản xuất của hơn 150 nghệ nhân đến từ 15 làng nghề truyền thống nổi tiếng cả nước. Phía Bắc sông Hương, trên công viên Thương Bạc có sự xuất hiện “hội chợ triển lãm nghề truyền thống Việt Nam” quy tụ nhiều ngành nghề truyền thống khắp cả nước.
festival_01.JPG
Bộ tượng Bồ Tát Di Lặc
festival_02.JPG
Bộ tượng Quán Âm – Di Đà
festival_03.JPG
Quán Âm Chăm
festival_04.JPG
Bồ tát Giám Trai
Như đánh giá chung của các nhà nghiên cứu và sưu tầm cổ vật “gốm sứ và pháp lam” cũng như các nghệ nhân các làng nghề thì Festival nghề truyền thống Huế 2009 là cuộc hội ngộ của gốm Việt lớn nhất từ trước tới nay. Lần đầu tiên, hơn 30 nhà sưu tập cổ vật ở Hà Nội, Nam Định, Huế, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, TP.Hồ Chí Minh đại diện cho 3 dòng gốm sứ Việt hội tụ tại Huế với cuộc trưng bày “Dặm dài đất nước qua các cổ vật”.
Có hơn 600 hiện vật từ các dòng gốm: Bắc Bộ, Trung Bộ, Nam Bộ, Tây Nguyên, với sự tham gia của nhà sưu tập danh tiếng như Trần Đình Sơn (TP. HCM), Hồ Tấn Phan (Huế) cùng Đoàn Anh Tuấn và các nhà sưu tầm cổ vật của Trung tâm UNESCO nghiên cứu bảo tồn cổ vật VN với những cổ vật từ văn hoá Đông Sơn đến thế kỷ (TK) 18. Mỗi một cổ vật đều chứa đựng hàng chục câu chuyện kể của lịch sử đất nước và các nhà sưu tầm khác đến từ Hội An (Quảng Nam)…
festival_05.JPG
Quán Âm tịnh thủy
festival_06.JPG
Quán Âm tỉnh tọa
festival_07.JPG
Phù điêu Bồ tát Quán Thế Âm
festival_08.JPG
Những chiếc đèn thờ xưa
Và đúng như chủ đề tôn vinh 3 nghề chính là gốm sứ, sơn mài và pháp lam. Sự “hội tụ” của gốm sứ là nổi trội hơn cả. Thưởng ngoạn các phòng triển lãm gốm sứ và pháp lam từ “Dòng sông kể chuyện” đến “dặm dài đất nước” mọi người đều nhận xét một điều rất thực dụng “quá no”. Nhưng với nững ai quan tâm đến từng mãng đề tài thì vừa đủ. Và theo chúng tôi riêng mãn đề tài mỹ thuật Phật giáo không thôi cũng phải “cảm ơn Ban Tổ chức” lắm rồi.
Những đề tài mỹ thuật Phật giáo như tượng Phật, Bồ tát, những pháp bảo và linh thú Phật giáo cho đến những hoa văn hoa sen, lá đề trên đồ gốm sứ của 3 miền hội tụ về thật là phong phú và đa dạng. Nhiều pho tượng Phật rất lạ có niên đại vào thời Lý-Trần rất đặc biệt. Được sự quan tâm của nhiều nhà sưu tầm và nghiên cứu hên hết là bộ tượng Phật Di Lặc với hai kiểu dáng và hai tính cách khác nhau, một theo truyền thống Trung Hoa và một theo truyền thống Nam truyền.
Và khi đang trong mùa an cư, chư tôn đức khách mời đặc biệt dự khai mạc lại được dịp chiêm ngưỡng pho tượng bồ tát Giám Trai của các nhà sưu tập đến từ (TP.HCM) trưng bày ngay ngắn chính giữa phòng triển lãm. Mặc dầu pho tượng mất đi một chi tiết là chiếc búa trên tay của Ngài chưa sưu tầm lại được nhưng qua nét mặt, thế ngồi và màu men và chất men đã khiến nhiều người xúc động.
Các pho tượng Bồ tát Quán Thế Âm với sự đa dạng trong kiểu dáng cho đến màu sắc và chất liệu gốm men lam mang đặc trưng của tưng vùng miền trong các giai niên đại lịch sử tôn giáo và chính trị khác nhau cũng được rất nhiều người chú ý, chiêm ngưỡng.
Ngoài các tượng Phật và Bồ tát ra các phòng triển lãm cổ vật gốm sứ con trưng bày nhiều pháp bảo khác như lư hương, lư trầm, bình hoa bằng gốm sứ và cả pháp lam nữa. Trong các thể lọai này, có nhiều cổ vật được cho là lần đầu tiên ra mắt công chúng. Đặc biệt là bộ đồ thờ và gia dụng bằng pháp lam thời Minh Mạng Thiệu Trị, Tự Đức của nhà sưu tầm Trần Đình Sơn đến từ (TP.HCM) đã được nhiều người dân và giới nghiên cứu đặc biệt chú ý bởi không những nó là cổ vật quý hiếm mà còn bởi tính “độc bản” của nó.
festival_10.JPG
Một chiếc lư hương
festival_11.JPG
Một quả bồng hoa sen
festival_12.JPG
Bộ đồ thờ bằng pháp lam của NST. Trần Đình Sơn
festival_13.JPG
Một hoa văn lá đề
Nhiều cổ vật mang đề tài mỹ thuật Phật giáo khác như các hoa văn họa tiết hoa sen lá đề bằng gốm sứ và đất nung theo 3 phong cách 3 miền Bắc-Trung-Nam qua các thời kỳ lịch sử khác nhau cũng rất phong phú và đa dạng. Những con rồng, con nghê và con chim thiêng (Đại bàn kim sí điểu) mà nhiều người cho rằng đây là lần đầu tiên họ mới thấy được.
Đúng là một dịp người Huế và du khách đến từ các vùng miên khác nhau trên khắp đất nước và cả du khách nước ngoài nữa đã có dịp “no nê”, “mãn nhãn” và được lắng nghe “Dòng sông kể chuyện” và thăm lại truyền thống gốm sứ Việt theo “Dặm dài đất nước” mấy trăm năm các triều đại Lý-Trần-Lê-Nguyễn với hàng trăm hiện vật cổ quý hiếm của dân tộc lần đầu tiên được trình làng…Bài, ảnh Trí Năng – Nguồn từ nigioingaynay.com

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

MỤC LỤC  –  GỐM SỨ CỔ TRUYỀN VN

Read Full Post »