Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Mười 29th, 2009

Nhà cổ ở Huế

Tống Văn Thụy
Ảnh: Phan Gia Khánh và Lê Văn Thọ
Trích Nhà đẹp

Tháng ba, trời Huế vào xuân muộn. Có sống qua một mùa đông dài lê thê và ẩm ướt ở Huế mới thấy thêm chút nắng ấm hanh hao đầu mùa, chút hương hoa của trời đất cỏ cấy lúc giao mùa. Mời bạn cùng chúng tôi thả bộ một vòng thăm Huế.

Nét Huế đầu tiên bắt gặp có lẽ là nếp nhà. Cái ngôi nhà khung gỗ ẩn khuất trong vườn cây, nép mình sau hàng chè tàu, dâm bụt… cứ vấn vương hoài trong tôi.
Nhà cổ Huế vẫn còn đó đây ở miệt Kim Long, Nguyệt Biều, Bến Ngự, Vĩ Dạ… hay bên trong Thành Nội. Dù ở đâu, bố cục nhà cổ thường đồng nhất. Cổng chính đưa vào khuôn viên nhà thường chỉ có một lối đi (cửa phòng môn) như nhà An Hiên, Lạc Tịnh Viên…, bề thế hơn là cổng tam quan như Phủ Tuy Lý… Hai bên lối đi, chủ nhân trồng cây, hoa hoặc chè tàu. Cuối “ngõ hạnh” (chữ của Hoàng Phủ Ngọc Tường) là bình phong có nhiệm vụ che chắn. Sau bình phong, điểm xuyết có bể cạn, hòn non bộ, cây cảnh và hoa trái. Khuất kín bên trong góc nhà có khi là một lu nước nhỏ, chút âm tính cần thiết để làm trôi đi những nỗi lo toan bên ngoài.
Nhà nép mình trong vườn. Phía trước vườn thưa thoáng, đằng sau thì sum suê hơn. “Chuối sau cau trước”. Hàng rào phía sau thường là khóm tre dày chắn gió.
Con người, ngôi nhà và thiên nhiên như hòa quyện vào nhau, nên chỉ ở Huế mới có câu “sống như thảo dã” và hình như người Huế cũng có óc hưởng nhàn sớm (!)
Kim Long, từ 1636 là thủ phủ của Đàng Trong. Phủ Chúa gày xưa là một trong những nơi tập trung nhiều nhà cổ mà điển hình là nhà An Hiên.
Nhà vườn An Hiên được xây dựng từ 1895 bởi ông Hường Thập (Phạm Đăng Thập), cháu bà Hoàng Thái Hậu Từ Dũ. Năm 1920, chủ nhân bán lại cho Tùng Lễ. Đến năm 1936, ông bà Nguyễn Đình Chi – người phụ nữa đầu tiên đỗ Tú tài Tây tại Trung Kỳ – qua đời tháng 6/1977 tại đây. Hậu duệ hiện nay của ngôi nhà là ông Nguyễn Đình Châu.
Đến thăm nhà An Hiên, nhà thơ Chế Lan Viên viết: “Đến đây như đi trong thời gian xưa, trở về với hồn dân tộc. Chỉ có Huế nơi cơm đùm trong lá sen, trái ớt chẻ ra thành hoa năm cánh mới có những khu vườn như vậy…”
Sau cơn lũ dữ tháng 11/1999, “Hoa trái quanh tôi” (1) vẫn xanh tươi trong vườn An Hiên.
Rất nhiều ngôi nhà cổ Huế tập trung tại Phú Mộng, Kim Long, trông ra nhánh sông Bạch Yến (sông Lấp). Đó là nhà anh Nguyễn Văn Trọng xây dựng cách đây 76 năm, nguyên của quan tri phủ Nguyễn Văn Phú, làm quan dưới triều Khải Định. Tại nhà số 3/2 Phú Mộng, Kim Long, rất tiếc dù đã cố gắng dò hỏi nhiều lần, chúng tôi vẫn không nắm được nguồn gốc ngôi nhà này.
Lạc Tịnh Viên, 65 Phan Đình Phùng – Huế, nhìn ra sông Bến Ngự (sông Lợi Nông) là nếp nhà tiêu biểu của nhà vườn Phủ đệ. Bốn phía nhà vườn được bao quanh bởi hàng chè tàu, cẩn, dâm bụt…
Cổng đưa vào nhà đắp nổi ba chữ Hán “Lạc Tịnh Viên”. Nhà được xây dựng vào cuối thế kỷ 19 bởi Nguyễn Phúc Hồng Khẳng, con của Tùng Thiện Vương. Nằm ở trung tâm là nhà “Hy Trần Trai”, kiểu nhà rường ba gian hai chái, nền được tôn cao, thông thoáng. Nối với mái hiên “Hy Trần Trai” là “Nhà Nhân Hậu”, bốn bề không có vách, là nơi tiếp khách. Dọc hai bên là hai căn nhà xây dựng vào đầu thế kỷ 20: “Di Tâm Thích Thể Đường” (1901) và “Nhà Vấn Trai” (1910).
Đến Lạc Tịnh Viên, một trong những ngôi nhà được bảo quản tốt nhất Huế, bạn được thả mình trong cái thinh lặng, yên ả. Nếu may mắn, bạn còn được một phụ nữ, hậu duệ của Lạc Tịnh Viên, đón tiếp; nét Huế trong tà áo dài, giọng nói, phong thái khiêm cung mà đĩnh đạc…
Đến Phường Đúc, làng đúc đồng nổi tiếng ở hữu ngạn sông Hương, bạn nên ghé thăm nhà anh Nguyễn Hữu Thông, một nhà nghiên cứu văn hóa, ở số 164 Bùi Thị Xuân. Nhà vườn anh Thông phảng phất cái không khí miền trung du gò đồi Huế. Dân địa phương gọi là nhà cụ nghè Đường. Cụ là cháu nội ông Quản Lạc (Nguyễn Hữu Dược), người xây dựng ngôi nhà (1860 – 1866). Người Huế có câu “Lúa ông Khuyên. Tiền ông Quản lạc. Bạc ông Bồ Ghè” (2). Anh Nguyễn Hữu Thông là con của ông cụ nghè Đường.
Xuôi về Vỹ Dạ, đất các phủ – đệ, một trong những ngôi nhà rường được bảo quản gần như nguyên vẹn là nhà cụ Thượng Tôn Thất Gián, xây dựng muộn hơn (1937). Nhạc sĩ Tôn Thất Tiết, tác giả “Ngôi vườn thế giới bên kia” (Le jardin d’autre monde) đã lớn lên từ ngôi nhà vườn nhỏ này để bước vào ngôi nhà vườn lớn hơn của vũ trụ.
Loạt phóng sự ảnh về nhà cổ Huế chỉ là một cuộc dạo chơi, một chút tìm tòi với vài nét sơ phác về ngôi nhà Huế. Có quá nhiều nếp nhà cổ xưa độc đáo, tiêu biểu mà chúng tôi chỉ mới được nghe nói chứ chưa hề đặt chân đến. Đành hẹn một chuyến du xuân sau vậy.
Huế, 15/3/2000

(H1) Cổng Lạc Tịnh Viên, 65 Phan Đình Phùng, Huế.

(H2) “Nhà Nhân Hậu” (Lạc Tịnh Viên).

(H3) Bình phong Lạc Tịnh Viên.

(H4) Hàng hiên “Hy Trần Trai” (Lạc Tịnh Viên). Ngôi nhà rường cổ ba gian hai chái được xây dựng trên nền cao thông thoáng, nhìn ra sông Bến Ngự.

(H5) Nhà “Di Tâm Thích Thể Đường” (Lạc Tịnh Viên).

(H6) Nhà “Di Tâm Thích Thể Đường” (Lạc Tịnh Viên) xây dựng năm 1901, là nơi con cháu học hành.

(H7) Bàn thờ Phật (Lạc Tịnh Viên)
(H8) Hành hiên nhà “Di Tâm Thích Thể Đường” (Lạc Tịnh Viên).
Lạc Tịnh Viên – Ngôi nhà của cháu Nội Vua Minh Mạng

(H9) Hàng hiên nhà “Hy Trần Trai” (Lạc Tịnh Viên). Một trong những căn nhà rường được bảo quản tốt nhất ở Huế.
Nhà An Hiên – Từ cháu Bà Hoàng Thái Hậu đến người phụ nữa đầu tiên đỗ tú tài Tây tại Trung Kỳ

(H10) Nhà An Hiên (Kim Long) cổng vào

(H11) Mặt trước nhà

(H12) Nhà An Hiên – Bình Phong

(H13) Nhà An Hiên. Bàn thờ
(H14) Nhà An Hiên “Ngô Hạnh”

(H15) Nhà An Hiên. Phía bên trong.

(H16) Nhà An Hiên. Một góc nhà.
Nhà Thượng Thư Tôn Thất Gián

(H18) Bình phong nhà cụ Thượng Gián. Vĩ Dạ – Huế.
(H19) Một góc nhà rường Huế – Nhà Cụ Thượng Gián.

(H20) Mặt tiền nhà Cụ Thượng Gián.
(H21) Mô-típ trang trí bờ nóc. Nhà Cụ Thượng Gián.
Nhà Cụ Nghè Đường

(H22) Cổng vào nhà Cụ Nghè Đường,
nay là nhà anh Nguyễn Hữu Thông, 164 Bùi Thị Xuân – Huế.

(H23) Bên trong cổng vào
(H24) Sập gụ, bên trong nhà

(H25) Bên trong nhà.
(H26) Sân nhà
Nhà Tri Phủ Nguyễn Văn Phú

(H27) Nhà cổ vùng Phú Mộng – Kim Long,
nay là nhà anh Nguyễn Văn Trọng

(H28) Cổng vào nhà Tri Phủ Nguyễn Văn Phú.

(H30) Nhà anh Nguyễn Văn Trọng.
Tiền đường, Vì kèo Huế.

(H29) Phía trong nhà anh Nguyễn Văn Trọng.
Thời gian ở đây như ngừng lại.
(H31) Một góc nhà
————————–
(1) Tên bài bút ký Hoàng Phủ Ngọc Tường viết về An Hiên.
(2) Ông Bồ Ghè là phiên âm tên một ông Tây, chủ hãng gạch bông ở Phường Đúc.

Tống Văn Thụy

Nguồn: Trích Nhà đẹp

 

* MỤC LỤC –  TÀI LIỆU VỀ DI SẢN NHÀ – KIẾN TRÚC CỔ 

Advertisements

Read Full Post »

Bóng ma tàn hình?
 Liu Bolin, một họa sĩ Trung Quốc, có khả năng ẩn mình vào môi trường xung quanh, cho dù có phức tạp và khó khăn thế nào.
Họa sĩ 36 tuổi đến từ Sơn Đông Trung Quốc, vẽ lên khắp người mình để có thể hòa lẫn vào bất cứ thứ gì đằng sau.
Trong loạt ảnh này, Liu Bolin, khiến mình bị hòa lẫn giữa mọi thể loại môi trường…
… khi là hộp điện thoại màu đỏ…
… khi là cờ Trung Quốc…
… và thậm chí là đống gạch đổ nát sau vụ động đất.
Nhiều người đi ngang qua không nhận ra nếu như anh không cử động.
Công trình nghệ thuật của Liu bắt đầu sau khi anh tốt nghiệp ngành Hội họa và điêu khắc tại Thượng Hải.
Anh cho biết công việc của mình đòi hỏi sự nhẫn nại rất cao khi anh phải đứng tạo hình và làm việc tới 10 giờ để hoàn thành mỗi tác phẩm.
Các tác phẩm được thực hiện tại nhiều nơi trên thế giới.
Mục đích của Liu là cho mọi người thấy môi trường trong thành phố ảnh hưởng thế nào tới những người sống ở đó.
Anh nảy ra ý tưởng từ thực tế cảm thấy mình không phù hợp với xã hội hiện đại…
… và muốn giấu mình trong thành phố.
Công trình của anh nhận được nhiều lời khen ngợi từ các chuyên gia quốc tế.
“Nhiều người thích tác phẩm của tôi bởi chúng có sức mạnh thầm lặng”.
“Công trình của tôi muốn nhắc nhở cho mọi người thấy cộng đồng mà chúng ta đang sống trông như thế nào và vấn đề gì đang tồn tại”.

Diệu Minh (theo Telegraph)

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC

Read Full Post »

10 bảo vật quốc gia

Hồng Phúc
http://www.tuoitre.com.vn

Ngoài những giá trị văn hóa – lịch sử – khoa học tiêu biểu, đáng trân trọng là 8/10 bảo vật đều do người dân Quảng Trị tự nguyện tặng cơ quan chuyên môn.

Trong mười bảo vật này có năm bảo vật mang phong cách kiến trúc Chăm, còn lại mang phong cách kiến trúc Việt. Trong đó có những bảo vật rất tiêu biểu như tượng tròn Uma Dương Lệ. Khi nghiên cứu pho tượng này, giáo sư Lương Ninh – Viện Khảo cổ học Việt Nam – nhận xét: “Đây có thể là pho tượng tròn vào loại đẹp nhất của nghệ thuật Chăm”. Thạc sĩ Lê Đức Thọ – phó giám đốc Bảo tàng Quảng Trị – cho rằng: “Tượng Nguyễn Ư Dĩ là độc nhất vô nhị tại Việt Nam, những giá trị không đâu có được”.

Ông Lê Đức Thọ cho biết 10 bảo vật quốc gia có niên đại sớm nhất 2.500 năm, muộn nhất gần 300 năm.

Phù điêu lá nhỉ Trà Liên 1

Có niên đại từ nửa cuối thế kỷ 9, cao 1,21m, dày 20cm, đường kính đáy 1,54m, làm bằng đá sa phiến thạch. Nội dung phù điêu chạm hình thần mặt trời Surya và hai trợ thủ. Thần Surya đứng giữa, đầu đội một Kirita-mukuta hai tầng gần giống mũ của thần Visnu, toàn thân khoác áo dài kẻ sọc dày. Khuôn mặt nghiêm nghị, lông mày rậm, mũi cao, miệng rộng, hai tai đeo đồ trang sức to nặng, hai tay cầm búp sen giơ lên cao.

Hai trợ thủ ngồi hai bên phía dưới chân của thần, mỗi vị cầm một cái trượng trên tay, khuôn mặt tươi tắn, miệng rộng, môi dày. Bên dưới phù điêu có hình bảy đầu ngựa tượng trưng cho bảy ngày.

Phù điêu lá nhỉ Trà Liên 2

Có niên đại từ nửa cuối thế kỷ 10, cao 1,2m, rộng 2,1m. Nội dung của bức phù điêu thể hiện ở ba mảng. Hai mảng chính thể hiện bởi hai tượng thần Siva và Uma được chạm nổi trong hai khung hình bán nguyệt, một mảng phụ thể hiện hình tượng cây vũ trụ chạm chìm nằm ở phía trên đầu giữa hai mảng chính. Thần Siva ngồi trên một chiếc bệ, dáng thư thái, miệng hé cười, hai cánh mũi nở.

Hình tượng Uma ngồi trên bệ cao, nửa thân trên để trần lộ ra hai vú căng tròn, hai cánh tay thon thả, ở cánh tay và cổ tay có đeo vòng trang sức. Bức phù điêu hình bán nguyệt làm bằng đá sa thạch.

Bò thần Nan Din Kim Đâu

Có niên đại từ thế kỷ 10, cao 0,6×0,35m được đặt trên bệ cao 0,46×0,29m, bằng đá sa thạch. Xung quanh bệ là dải hoa văn hình cánh sen. Bò Nan Din là vật cưỡi của thần Siva và nữ thần Paravati.

Bò thần Nan Din Quảng Điền

Cao 0,52×0,34m, có niên đại khoảng cuối thế kỷ 9 đầu thế kỷ 10.

Cụm vò bán sứ Đường làng Dương Lệ

5/7 vò còn ngyên vẹn. Vò lớn nhất cao 0,57m, đường kính miệng vò 0,21m, vò nhỏ nhất cao 0,11m. Cả mặt trong và ngoài vò đều được phủ men màu vàng nhạt. Xương gốm tinh có màu trắng sữa. Cụm vò được chế tác theo phương pháp bàn xoay, có niên đại từ thế kỷ 7 đến thế kỷ 10.

Trống đồng An Khê

Có niên đại cách nay 2.500 năm. Trống có tang phình, thân eo, đế thẳng, xung quanh có bốn quai, trống cao 0,26m, đường kính mặt trống 0,30m. Trên mặt trống có hình ngôi sao tám cánh và có sáu vành hoa văn được trang trí các họa tiết.

Bản khoán ước làng Phú Kinh

Bản khoán ước hình chữ nhật, dài hơn 2m, rộng 0,6m được làm bằng gỗ lim, có niên đại năm 1774. Toàn bộ khoán ước có khắc gần 5.000 chữ Hán ở mặt trước. Nội dung bản khoán ước bao gồm những qui định trong đời sống xã hội như giải quyết vấn đề phân chia ruộng đất, giáo dục, khuyến học, giữ gìn phong thủy, tang ma, cưới xin của làng.

Tượng UMa Dương Lệ

Pho tượng tròn, cao 0,65m, được làm bằng đá sa thạch, tạc nữ thần đang tọa trên bệ đài. Chân nữ thần đặt chéo lên nhau, hai tay đặt ở phần đùi trong tư thế thiền định. Đây là biểu tượng của thần Uma, vợ hay chính là hóa thân của nữ thần Siva. Tượng Uma có niên đại cuối thế kỷ 9 đầu thế kỷ 10.

Trống đồng Trà Lộc

Trống có hình dạng thân thon, đế choãi, tang phình, mặt trống được trang trí hình sao 10 cánh, xen giữa cánh sao là hình chữ V, có bảy vành hoa văn với các họa tiết như vòng tròn tiếp tuyến có chấm giữa, chim mỏ dài có mào, đuôi dài bay ngược chiều kim đồng hồ. Vòng chủ đạo mặt trống có bốn hình thuyền, chân trống choãi có năm vành hoa văn được trang trí hình bò u nổi, hình chấm dải. Trống có niên đại cách nay 2.500 năm.

Tượng Nguyễn Ư Dĩ

Tượng được đúc dưới thời chúa Nguyễn, cao 0,62m, phần vai rộng 0,30m. Nhân vật được tạc tượng là Nguyễn Ư Dĩ – cậu ruột chúa Nguyễn Hoàng. Nguyễn Ư Dĩ là người có công lớn trong việc giúp chúa Nguyễn xây dựng cơ đồ ở Đàng Trong, nhất là thời gian 68 năm của chúa Nguyễn Hoàng đóng dinh ở đất Quảng Trị.
Tượng đồng Nguyễn Ư Dĩ được đặt một nơi không an toàn, đã hai lần bị kẻ xấu lấy cắp. Người dân làng Trà Liên, xã Triệu Giang phải dùng máy rà kim loại rà tìm mất mấy ngày, cuối cùng phát hiện bức tượng bị kẻ xấu chôn ở bờ sông Thạch Hãn. Có lẽ kẻ xấu đợi đêm xuống bỏ lên thuyền chở đi tiêu thụ vì bức tượng nặng mấy tạ, không gánh đi xa được.

 

MỤC LỤC – HỘI HỌA & ĐIÊU KHẮC


Read Full Post »