Feeds:
Bài viết
Bình luận

Archive for Tháng Mười 20th, 2009

TRÀ LUẬN lời tựa và phần 1 (Dịch theo nguyên tác tiếng Anh: The Book of Tea)

Việt dịch: Đức Chính

(Có tham khảo bản dịch của Bảo Sơn)

Untitled-1

Mục Lục

Quyển hai: Trà đạo (dịch từ cuốn Book of Tea của Okakura Kakuzo)

1.- Chén trà nhân loại.

2.- Các trường phái trà.

3.- Lão giáo và Thiền tông.

4.- Trà thất.

5.- Thưởng giám nghệ thuật.

6.- Hoa.

7.- Trà sư.

Phụ lục 2: Tiểu sử Okakura Kakuzo

Khi vừa ngoài đôi mươi tôi đã được một vị thầy tặng cho cuốn mang tựa đề “Trà Đạo” của Okakura Kakuzo do Bảo Sơn dịch. Thú thật lúc đó tôi chẳng đánh giá cao tác phẩm này, thậm chí còn cho là lạc đề. Quả vậy, trong tác phẩm này Okakura Kakuzo chẳng nói mấy về trà, cũng chẳng biểu lộ một cảm xúc nào thưởng thức một chén trà, cũng chẳng nêu ra được sự khác biệt về các loại trà cùng cảm giác cho vào miệng một ngụm trà như thế nào. Nói cho chân chất, lúc đó khi đọc tôi chẳng hề thấy hương vị trà trong câu văn mà chỉ thấy man mác lời trần tình của một con người thay dân tộc mình nói về tâm thức Nhật Bản với giọng văn trầm uất lạ kỳ. Lúc thì sùng bái cổ nhân, lúc thì khuyên chớ sao chép cổ vật nhiều quá : một tâm trạng u hoài của kẻ bất phùng thời, một tâm hồn quá thiên về dân tộc tính.

Khởi đầu “Trà Đạo” tôi chỉ thấy lời than vãn của người trách kẻ khác không hiểu mình; rồi sau đó tản mạn nói về ông Lão, ông Thích và thi thoảng điểm xuyết ông Khổng hay một triết gia nào đó. Phơn phớt vài chương nói loáng thoáng về trà, chưa đủ để gọi là Trà đạo. Bàn về trà thất lại xoay quanh biện biệt nền kiến trúc Nhật và Phương Tây, với hàm ý tôn vinh văn hóa dân tộc mình. Rồi bất chợt lại chuyển qua tư tưởng «thưởng giám» nghệ thuật mang hơi hướm nặng nề của thiền tông. Trà chẳng thấy đâu! Để rồi cuối cùng kết thúc bằng câu chuyện bi hùng của một trà sư Lợi Hưu, nhưng câu chuyện đó lại dựng trên một cái nền phù phiếm trần tục chứ không trên nền tảng chén trà.

Sự bồng bột của tuổi trẻ không làm tôi nén được nỗi bất bình. Tôi xoay qua hỏi thầy, và nhận được một nụ cười khó hiểu. Thầy nói: «Sau này con sẽ hiểu». Gần ba mươi năm trôi qua, người thầy tôi thương mến cũng đã đi về cõi hư vô. Tôi thi thoảng cũng quay về với những tư tưởng Thiền, Lão và Khổng Mạnh. Mọi việc cứ trôi đi và tôi cũng quên dần cuốn “Trà Đạo”. Một tình cờ khác tôi tìm được nguyên bản tiếng Anh của tác phẩm này. Cho là cơ duyên, tôi bắt đầu mò mẫm dịch lại tác phẩm này như một nhu cầu học tiếng Anh thôi thúc.

Lần vào câu chữ và nghiền ngẫm nghĩa lý từng chương, tôi chợt ngộ ra nụ cười của ông thầy năm cũ. Khi dịch đến chương «Thưởng giám nghệ thuật» tôi mới giật mình nhận ra cái tinh túy mà tác giả muốn trao gởi. Nếu nói rõ ra trà thơm thế nào, vị đăng đắng ra sao, màu nước thế nào mới đẹp thì nó chẳng còn là đạo nữa rồi. Lúc ấy trà chỉ là một kỹ thuật thuần túy hay cao hơn cũng chỉ đạt đến mức nghệ thuật pha chế mà thôi. Cú giật mình đó làm tôi tạm dừng dịch. Tôi pha một ấm trà ngon, ngồi yên tỉnh một mình trên gác thượng và uống từng ngụm nhỏ. Trong đầu ôn lại những gì đã trải qua gần một đời người, đem những điều đó quán tưởng với những tư tưởng thiền học. Tâm hồn tôi lâng lâng, hương vị trà không còn là hương vị quen thuộc của ngày thường. Chén trà trở thành một con người, vừa là thầy vừa là bạn, đối ẩm với tôi. Trong thoáng chốc đó tôi chợt nhận ra gần một cuộc đời của mình chỉ là những cuộc chơi ngu dại và nỗi vui kỳ lạ đan lẫn trong khói điếu thuốc lá khi hiểu ra, dù chỉ một phần, sự minh triết của thiền. Okakura Kakuzo có lý khi thả trôi ngòi bút theo dòng suy tư miên man.

À ra là thế! Chén trà vốn không là đạo, chính tư duy của các triết nhân suy tưởng bên chén trà biến trà thành đạo. Cũng như cây đa vốn chẳng linh thiêng, nhưng vị thần được thờ ngự trên nó khiến nó linh thiêng. Và hiểu ra đạo là cơ duyên của từng người, cơ duyên của bạn khác tôi thì không thể theo cùng con đường đạo của tôi. Nụ cười của thầy tôi đây rồi! Gần ba mươi năm tìm kiếm không phải là cái giá quá đắt.

Đức Chính

Mùa Thu  năm Kỷ Sữu -2009

Untitled-2

I. Chén trà nhân loại

Trà khởi đầu là một thứ thuốc, sau nâng lên thành món nước uống giải khát. Vào thế kỷ thứ tám, tại Trung Quốc, trà thâm nhấp vào giới thi nhân như là là một trong những thú tiêu khiển của giới này. Qua thế kỷ mười lăm, nước Nhật nâng cao giá trị trà lên thành một thứ tôn giáo duy mỹ – gọi là Trà Đạo. Trà đạo là một thứ đạo đặt nền tảng trên sự tôn thờ cái đẹp xen lẫn giữa muôn vàn điều nhớp nhúa của cuộc sống đời thường. Ăn sâu vào trong trà ý niệm về sự thanh khiết và hòa điệu, sự huyền nhiệm của lòng nhân ái lẫn nhau, tính lãng mạn của trật tự xã hội. Then chốt của trà đạo là tôn thờ sự Bất toàn, như là một nỗ lực dịu dàng hoàn thành điều có thể nào đó trong điều không thể mà ta biết rõ đang hiện hữu trong cuộc sống.

Triết lý về trà không đơn thuần là chủ nghĩa duy mỹ theo cái nghĩa thường được chấp nhận của nó; vì nó còn biểu cảm một cách đan kết quan niệm luân lý và tôn giáo của chúng tôi về con người và tự nhiên. Trà đạo mang khái niệm vệ sinh vì nó đòi hỏi phải hết sức tinh khiết; trà đạo mang tính kinh tế vì nó biểu lộ sự tiện ích nằm trong sự giản dị chứ không rườm rà và tốn kém; trà đạo là đường nét kỹ hà của tâm linh vì nó hàm nghĩa quan niệm về sự cân xứng của chúng tôi đối với vũ trụ. Trà đạo đại biểu cho tinh thần đích thực của nền dân chủ Phương Đông bằng cách biến bất cứ ai hâm mộ nó đều thành những nhà quý tộc trong khẩu vị.

Một thời gian dài Nhật Bản biệt lập khỏi phần còn lại của thế giới, cái thế đó dẫn đến tình trạng hướng nội quán chiếu, lại hết sức thuận lợi để phát triển Trà đạo. Ở chúng tôi nhà cửa và trang phục, tập quán và ẩm thực, gốm sứ, sơn mài, hội họa – và cả đến văn chương – mọi thứ đều chịu ảnh hưởng của Trà đạo. Không một học sĩ nào của nền văn hóa Nhật không biết đến Trà đạo. Trà đạo đã nhuần thấm vào sự thanh nhã của những khuê phòng đài các, đi vào tận những ngôi nhà tranh vách đất của người bình dân. Người nông dân xứ chúng tôi được học cách cắm hoa, anh thợ cày hèn kém nhất cũng biết quý kính những hòn đá và các dòng nước. Trong ngôn ngữ thường tục chúng tôi hay dùng từ “bất cập trà đạo’ để chỉ người thiếu sự quan tâm vừa trang nghiêm vừa hài hước đối với vỡ kịch của đời mình. Lại nữa, chúng tôi quen nói “thái quá trà đạo” để làm bật lên tính cách của một người duy mỹ buông lung, chẳng đếm xỉa gì đến bi kịch trần tục, mặc cho xuân tình của cảm xúc trào dâng và nổi loạn.

Có lẽ kẻ ngoại đạo thực sự ngỡ ngàng khi thấy Trà đạo “rườm rà mà trống rỗng”. Kẻ đó phải thốt lên: Quả là trong chén trà chứa đầy giông tố! Nhưng khi chúng tôi xét nhìn rốt ráo chén trà nhỏ bé trong thú vui của nhân loại như thế nào, sớm tuôn tràn nước mắt như thế nào, trong cơn khát vô cùng tận chúng tôi đã uống cạn nó như thế nào, lúc ấy chúng tôi sẽ không còn trách mình vì sao bỏ lắm công phu cho một chén trà đến như thế. Loài người đã làm lắm điều tồi tệ. Chúng ta đã hiến sinh quá đáng cho tửu thần Bacchus, và thậm chí còn tô điểm cho đẹp hình tượng vấy máu của thần chiến tranh Mars. Vậy tại sao chúng ta không tự hiến dâng mình cho Nữ hoàng Trà, và say sưa trong dòng suối ấm áp tuôn xuống từ bàn thờ của Nàng? Với chất lỏng màu hỗ phách đựng trong chiếc chén sứ trắng ngà, người mới được khai đạo cũng có thể với tới sự trầm mặc ngọt ngào của Đức Khổng Tử, vị cay cay của Ngài Lão Tử và hương thơm lâng lâng tỏa ra từ Đấng Thích-ca mâu-ni.

Ai không thể cảm nhận được những điều bé nhỏ trong sự việc lớn của chính mình, thì có khả năng bỏ sót những điều to lớn trong sự việc nhỏ của kẻ khác. Với tính tự mãn mượt mà của mình, một người Phương Tây bậc trung sẽ thấy trong nghi thức dùng trà chỉ là một trường hợp khác so với ngàn lẻ một sự kỳ quặc cấu thành nét kỳ quái và ngây ngô như trẻ con của Phương Đông. Người ấy có thói quen đánh giá nước Nhật còn dã man, trong khi nước Nhật mê mãi trong các nghệ thuật cao thượng vì hòa bình: chính người ấy gọi nước Nhật là văn minh kể từ khi nước Nhật lao vào cuộc đồ sát trên khắp các mặt trận ở Mãn Châu. Sau đó không biết bao nhiêu lời bình phẩm mà kể về tinh thần võ sĩ đạo, thứ Nghệ Thuật Chết khiến người chiến binh của chúng tôi hoan hĩ đi vào việc tự hy sinh; nhưng lại hiếm khi chú tâm đến Trà đạo, thứ đại diện rất nhiều cho Nghệ Thuật Sống của chúng tôi. Nếu như kêu đòi được văn minh dựa vào vinh quang khủng khiếp của chiến tranh, thôi thì chúng tôi xin cứ dã man thì hơn. Chúng tôi đành phải chờ đến lúc các nghệ thuật và lý tưởng của chúng tôi được đền bù bằng sự tôn trọng vậy.

Bao giờ phương Tây sẽ hiểu, hay cố thử hiểu, Phương Đông đây? Người Châu Á chúng tôi vốn sợ loại mạng nhện kỳ bí của các sự kiện và điều huyễn tưởng, tức những thứ mà chúng tôi bị thêu dệt nên. Chúng tôi bị khắc họa như đang sống với hương sen; nếu không thì bị khắc họa đang sống chung với loài chuột nhắt và gián. Hoặc là thứ chủ nghĩa cuồng tín nhưng vô tài, hoặc thứ dâm đảng hạ tiện; chúng tôi bị nhìn như thế. Bản chất duy linh của người Ấn Độ cũng từng bị chế nhạo là ngu ngốc; đức khiêm nhượng của người Trung Hoa là đần độn, lòng ái quốc của người Nhật là kết quả của thuyết định mệnh. Chúng tôi còn bị nói tổ chức thần kinh của chúng tôi bị chai sạn mất rồi nên kém nhạy cảm với sự đau đớn!

Tại sao các ngài lại không vui thú với cái giá chúng tôi phải trả? Cả châu á sẽ quay qua chúc tụng. Còn hơn thế nữa nếu các ngài hiểu ra mọi điều chúng tôi hình dung và viết về các ngài. Toàn bộ sự huyền ảo nằm ở nơi đó, tất cả lòng cảm phục một cách vô thức, mọc oán giận thầm kín với cái mới và cái mơ hồ. Các ngài được trao cho phẩm hạnh quá cao quý khiến phải ganh tị, và các ngài cũng pham tội ác khác thường đến nỗi không sao lên án được. Văn nhân của chúng tôi thời trước – những người tự cho mình là hiền triết – truyền lại cho chúng tôi nghe rằng trong lớp y phục đang mặc các ngài che gấu bên trong chiếc đuôi lông lá, và các ngài thường bắt trẻ sơ sinh đem nấu ăn! Không, tệ hơn nữa là chúng tôi thường nghĩ các ngài là hạng người phi thực tế nhất trên đời vì các ngài chuyên thuyêt những điều không thể làm được.

Những hiểu lầm như vậy may thay mau chóng tan biến đi nơi chúng tôi. Thương mại buộc tiếng Châu Ân đi đến nhiều hải cảng Phương Đông. Lớp trẻ Châu Á đua nhau sang học các trường Phương Tây hầu trang bị cho mình một nền giáo dục hiện đại. Sự thấu hiểu của chúng tôi chưa đi sâu vào nền văn hóa của các ngài, nhưng ít ra chúng tôi đang tỏ thiện chí cầu học. Đồng bào tôi có một số người theo đòi quá nhiều tập quán và nghi thức của các ngài, họ cứ ngở mặc áo cổ cứng và đội mũ quả dưa có nghĩa là đã đạt đến nền văn minh của các ngài. Sự giả dối màu mè đó quả đáng thương mà cũng đáng trách, họ làm như chúng tôi tỏ thiện chí tiếp cận với Phương Tây bằng đầu gối. Tiếc thay Phương Tây chưa có thái độ thích đáng để hiểu Phương Đông. Hội thừa sai Công giáo đến để truyền đạt hơn là tiếp thu. Những gì các ngài được biết về chúng tôi là mấy bản dịch sơ sài từ nền văn học đồ sộ của chúng tôi, nếu không muốn nói dựa trên vài giai thoại thiếu xác thực của mấy kẻ lãng du đi ngang qua xứ chúng tôi. Quả hiếm có ngòi bút hào hiệp như Lafcadio Hearn hay của tác giả quyển “Truyền kỳ đời sống Ấn Độ” (tạm dịch từ: “The Web of Indian Life”) chiếu rọi vào khoảng tối tăm Đông Phương bằng ngọn đuốc của chính tâm tư của chúng tôi.

Bộc bạch về trà đạo ra biết đâu làm lộ ra sự ngu dốt của tôi. Điều các ngài nói rằng các ngài đang mong muốn nghe nói thì đó chính là tinh thần tao nhã của của trà đạo, chứ chẳng phải thứ gì hơn thế. Tiếc là tôi không phải một tín đồ trà đạo tao nhã. Tai hại làm sao giữa Tân và Cựu thế giới có sự hiểu sai lệch về nhau, ai đó cũng chẳng cần tạ lỗi về sự góp phần nhỏ bé trong việc xúc tiến để thông hiểu nhau nhiều hơn. Nếu người Nga chịu hạ cố xuống để hiểu người Nhật nhiều hơn thì buổi đầu của thế kỷ 20đã không xảy ra cuộc chiến đẫm máu. Biết nói gì về hậu quả đối với đời sống nhân loại của thái độ không hiểu biết một cách trịch thượng về các vấn đề Phương Đông! Chủ nghĩa đế quốc Bạch Dương chẳng lẽ không đáng bị khinh thị khi hồ đồ hô hào về Hiểm Họa Da vàng, mà quên mất rằng Châu Á cũng đã thức tỉnh về sự tàn bạo của Thảm Họa Da Trắng. Các ngài có thể cười chúng tôi “quá lạm với trà”, nhưng chúng tôi không phải chẳng có chút ngờ rằng các ngài ở Phương Tây “chẳng có tí trà nào” trong thể chất?

Thôi chúng ta hãy dừng đừng trào phúng kích bác nhau giữa các lục địa nữa, và khôn ngoan hơn hãy vì lợi ích chung của mỗi bán cầu, nếu không vậy thì thật đáng buồn. Chúng ta đã đi theo những hướng phát triển khác nhau, đấy không phải là duyên cớ vì sao chúng ta không bổ sung cho nhau. Các bạn đã phát triển mở rộng với cái giá bất ổn trong nội tâm, còn chúng tôi tạo ra sự hài hòa nhưng đó là sự yếu ớt trước họa ngoại xâm. Các bạn có tin không? – Phương Đông có một số điểm đáng trọng hơn Phương Tây!

Khá lạ kỳ nhân loại còn lâu nữa mới hội ngộ nhau chung một chén trà. Đó lại là lễ nghi Á Châu duy nhất khiến mọi người mến mộ. Người da trắng nhạo báng tôn giáo và luân lý của chúng tôi, nhưng lại chấp nhận món thức uống màu nâu mà chẳng chút do dự. Hiện nay bữa trà chiều là một phần quan trọng trong xã hội Phương Tây. Tiếng va chạm khe khẻ giữa khay chén với nhau pha lẫn vào tiếng y phục sột soạt nhè nhẹ của quý bà quý cô hầu trà khách, lẫn vào những lời đối đáp về kem và đường, chúng tôi thấy rõ nơi ấy có sự sùng bái trà vượt qua tất cả. Tính kham nhẫn đầy triết lý của vị khách mời đối với số phận thứ nước hãm mơ hồ đang chờ đón ông ta chính là lúc và chỉ lúc ấy tinh thần Á Đông đang ngự trị tối thượng.

Ở Châu Âu, lời ghi chép sớm nhất về trà được tìm thấy trong bản văn du ký của một người Á rập, không thể trước năm 879, có thuật rằng nguồn thu nhập chính của Quảng Đông là đánh thuế vào muối và trà.[1] Marco Polo có chép lại vào năm 1285 có một vị Thượng Thư Bộ Hộ (Chinese minister of finance) bị cách chức vì tự ý tăng thuế trà[2]. Lúc ấy là thời kỳ đua nhau đi khám phá vùng đất mới và người Châu Âu bắt đầu biết đến vùng Viễn Đông nhiều hơn. Cá cnhà du hành như Giovanni Batista Ramusio (1559), L. Almeida (1576), Maffeno (1588), Tareira (1610), đều có nói về trà. Trong những năm vừa nói đến ở trên, con tàu của Công Ty Đông Ấn Hà Lan mang về Châu Âu lô trà đầu tiên. Trà được nước Pháp biết đền năm 1636 và đi đến Nga năm 1638. Nước Anh chào đón trà vào năm 1650 và ca ngợi trà là “Thức uống tuyệt vời và mọi thầy thuốc đều nói vậy, gôi tên là tcha, các nước khác gọi là tay, sau đổi thành tee

Cũng như bất kỳ thức uống ngon nào trên thế giới, việc truyền bá trà không tránh khỏi sự chống đối. Các ngoại giáo của trà đạo như Henry Saville (1678) từ chối uống thứ nước này và coi đó la thứ tập tục thô lậu. Năm 1756, trong cuốn Trà Luận (Essay on Tea), Jonas Hanway nói rằng dường như uống trà khiến đàn ông mất đi phong độ và sự lịch lãm, đàn bà mất đi nét yêu kiều. Khởi đầu giá trà nằm ngoài tầm tiêu dùng của dân dã, khoảng 15-16 xi-ling mỗi pao, gíá cả đó khiến trà thành “biểu chương cho sự trọng thị và trọng đãi, tặng phẩm dành cho các ông vua bà chúa và các vị đại thần” Thế nhưng bất chấp những mặt hạn chế thói quen uống trà lan rộng với tốc độ diệu kỳ. Nửa đầu thế kỷ 18 các quán cà phê ở Luân Đôn thực sự trở thành quán trà, nơi tụ hội của các tài tử như Addison và Steele, tiêu thú với những “món trà”. Thức uống này chẳng bao lâu sau trở thành món nhu yếu của cuộc sống – món hàng phải chịu thuế. Nhân chuyên này chúng ta hãy nhớ lại xem thứ gì đã dự phần quan trọng trong lịch sử đương đại. Nước Mỹ thuộc địa đã cam chịu sự áp bức cho đến khi sức chịu đựng của con người không còn nữa trước sưu cao thuế nặng đánh vào trà. Nền độc lập của Mỹ đánh dấu từ ngày ném các thùng trà xuống cảnh Boston.

Hương vị trà có sức quyến rũ tinh tế khó ai cưỡng lại được và trà được người ta lý tưởng hóa. Các nhà hoạt kê Phương Tây chẳng chịu chậm chân hòa trộn hương hoa tư tưởng của họ vào hương vị của trà. Trà không ngạo nghể như rượu, không e dè ngượng ngập như cà phê, cũng không hồn nhiên giả tạo như ca-cao. Năm 1711, tờ báo The Spectator từng viết: “Vậy nên tôi muốn bình theo lối riêng của mình rằng tất cả mọi gia đình biết khéo thu vén việc tề gia nên dành mội sáng một giờ để dùng trà, bánh mì và bơ; và tha thiết có lời khuyên các gia đình đòi hỏi tờ báo này phải được giao đúng giờ và coi nó một cấu phần trong bộ trà cụ”. Samuel Johnson tự tả chân mình như “kẻ uống trà dày dạn và vô sĩ, là người suốt hai mươi năm trời chan vào món ăn  thứ hãm từ loài cây hấp dẫn này, người thích tiêu thú với trà mỗi buổi chiều và giải buồn bằng trà lúc canh khuya, chào đón bình minh cũng bằng trà

Charles Lamb, kẻ ngoan đạo thuần thành với trà, rung lên nốt nhạc chân tình về trà đạo khi ông viết rằng lạc thú vĩ đại nhất ông từng biết là âm thầm làm mộ việc thiện và tình cờ việc ấy bị người khác biết. Trà đạo cũng vậy, là nghệ thuật che dấu đi cái đẹp để bạn tự tìm ra cái đẹp đó, sự che dấu đó lại gợi lên điều thách đố bạn dám không bóc trần ra. D0ó là sự bí ẩn cao quý tự cười chính mình, một cách bình lặng nhưng thấu suốt, và đó là sự trào lộng tự thân – nụ cười triết lý. Theo ý nghĩa đó, bất cứ nhà trào lộng đích thực nào cũng có thể gọi là triết gia trà. Chẳng hạn Thackeray, và dĩ nhiên cả Shakespeare. Trong sự phản kháng lại chủ nghĩa duy vật, các thi nhân của thời buổi Suy đồi (khi thế giới không đồi phế?) hẳn đều khai rộng con đường cho trà đạo. Nay có lẽ đã đến lúc chúng ta nên trầm tư về sự Bất toàn (Imperfect) mà cả Đông lẫn Tây đều gặp phải trong niềm an ủi chung.

Giới đạo gia thường tụng rằng “Thái cực vô cực, lưỡng tinh tương bác” (the great beginning of the No-Beginning, Spirit and Matter met in mortal combat: Lúc Thái cực còn ở giai đoạn vô cực thì hai tinh đánh lẫn nhau). Mãi về sau, vua Hoàng Đế, tức Thái Dương trên trời, mới chiến thắng Chúc Dung (Shuhyung),[3] Quỷ Vương hắc ám dưới đất. Lúc hấp hối sắp chết, Tà thần khổng lồ này đập đầu vòm trời làm trời vỡ ra. Tinh tú không còn chỗ bám vào, mặt trăng lang thang dật dờ giữa những vực sâu hoang lương của đêm trường. Trong tuyệt vọng đó, Hoàng Đế du hành tứ phương tìm người vá lại bầu trời. Sự tìm kiếm của ngài không phí công. Ngoài biển Đông xa khơi hiện lên một Nữ Hoàng là bà Nữ Oa (Niuka), đầu có sừng và mang đuôi rồng, mặc bộ giáp lửa sáng chói. Bà đem cầu vồng ngũ sắc vào lò luyện vá lại và dựng lại bầu trời. Truyền thuyết lại còn kể rằng bà Nữ Oa quên không bịt hai khe nhỏ trên bầu trời, nên từ đó nhị nguyên tình ái[4] nảy sinh – hai linh hồn lăn lóc trong khoảng không gian mãi cho đến khi chúng hợp với nhau lại để hoàn thành vũ trụ. Mỗi chúng ta phải dựng mới cho mình một bầu trời hy vọng và hòa bình.

Bầu trời của nhân loại thời nay thực sự đã tan nàt trong Trận Đại Tranh giành sự giàu có và quyền lực. Cả thế giới đang mò mẫm đi trong bóng tối của sự ích kỷ và thô tục. Tri thức bị ác tâm mua chuộc, lòng từ thiện chỉ nhằm vì tư lợi. Đông và Tây, như hai con rồng lăn lộn giữa biển cuồng loạn, uổng công đấu tranh giành lại viên ngọc quý của nhân sinh. Chúng ta lại phải nhờ đến bà Nữ Oa sữa lại sự tàn phá kinh khủng đó; chúng ta chờ đợi sự hóa thân vĩ đại của bà. Trong khi đó, chúng ta hãy uống một ngụm trà. Ánh sáng chiều tà rọi xuống bụi tre, suối nguồn reo với tiếng vui tai, tiếng thông xào xạc nghe như tiếng nước sôi trong ấm. Hãt để hồn chúng ta trôi vào chốn hư vô, và thơ thẩn trong nét cuồng dại mỹ miều của sự vật.

Phần 2.- Các trường phái trà được đăng tiếp ở bài post kế!


[1] Nguồn tư liệu không rõ ràng và thiếu dẫn chứng chính xác.

[2] Thời điểm này nhà Nguyên đã chiếm Vân Nam và giao quyền cho họ Đoàn làm Tổng Quản.

[3] Hàm ý câu kinh trên được thần thoại hóa thành việc Hoàng Đế đánh Chúc Dung. Lc nay Lưỡng tinh tưoơng bác, hợp nhi thành hình (tạm dịch thoát: hai tinh đánh nhau dẫn đế  hợp lại thành vạn vật)

[4] Ám chỉ hai nguyên lý Âm-Dương.

*MỤC LỤC – TRÀ ĐẠO & TRÀ CỤ GỐM SỨ

Advertisements

Read Full Post »

Lưu ý khi mua đồ gốm cổ!

Sưu tập đồ cổ là một hoạt động văn hóa có sức hấp dẫn cao và mang đến nhiều niềm vui cho nhà sưu tập, tuy nhiên, độ thành công rất thấp. Vì vậy, cho dù bạn là nhà sưu tập thâm niên hay là người yêu thích sưu tập, hãy nhớ đến các lưu ý dưới đây.

Nhà sưu tập nào cũng hy vọng mua được những sản phẩm có giá trị, nhưng thị trường mua bán ngày càng trở nên phức tạp, đòi hỏi nhà sưu tập cần có kinh nghiệm phong phú trong việc lựa chọn sản phẩm. Dưới đây là 3 lưu ý khi mua đồ gốm cổ:

1. Không nên mua khi không biết rõ loại hàng:

Sưu tập đồ cổ được phân thành nhiều loại khác nhau: đồ gốm cổ, đồ đồng, đồ gỗ, ngọc, thư họa và những hạng mục khác. Với mỗi loại ngành khác nhau như vậy, nếu nhà sưu tập không thật sự có những hiểu biết rõ ràng, không có những nghiên cứu chuyên sâu, tuyệt đối không nên thu mua. Sưu tập đồ cổ là một hoạt động văn hóa có sức hấp dẫn cao và mang đến nhiều niềm vui cho nhà sưu tập, tuy vậy, độ thành công rất thấp.

Lấy việc sưu tầm đồ gốm cổ làm ví dụ, trong 100 người, chỉ có 1 – 2 người thành công; còn đa số người còn lại có thể hình dung như sau: “tân tân khổ khổ, nhạn phẩm vi chủ” (cực khổ chọn lựa, cuối cùng mua phải hàng giả). Để có thể trở thành một nhà sưu tập thành công, không chỉ đòi hỏi thiên phú, mà còn phải có sự chuyên cần, chịu khó học hỏi, nghiên cứu; một khi đã nắm vững những kiến thức chuyên sâu về một lĩnh vực nào đó mới tiến hành thu mua.

2. Không mua khi có nghi vấn:

Ngày nay, với trình độ phát triển của kỹ thuật công nghệ, việc làm hàng nhái cũng đạt đến trình độ cao, nhiều người lợi dụng việc này để kiếm lời phi pháp, làm phá hoại đi trật tự của thị trường sưu tập đồ cổ chân chính. Những sản phẩm nhái này là kiệt tác “tam kết hợp”: lấy công nghệ truyền thống làm nền tảng, kết hợp khoa học kỹ thuật hiện đại cùng những thiết bị tiên tiến để chế tạo, độ tương đồng có thể đạt đến 99%, chỉ còn 1% khác biệt. Trong khi giám định, những nhà sưu tập phải có sự nhận xét tinh tế để có thể đưa ra hoài nghi về 1% khác biệt này để phủ định 99% tương đồng kia.

3. Không mua khi không phù hợp với giá thị trường:

Hiện nay, trong thị trường đồ cổ, hàng thật không còn nhiều nữa, những mặt hàng tinh xảo càng hiếm hoi hơn. Những sản phẩm chất lượng cao này đều nằm trong tay những nhà sưu tầm thâm niên hoặc những thương nhân có kinh nghiệm, họ tuyệt đối không bao giờ đưa ra giá sai. Những người mới bắt đầu bước vào lĩnh vực sưu tầm, rất khó có được cơ hội này. Nếu trên thị trường có xuất hiện một sản phẩm chất lượng cao, giá thấp, thì đó như là một con thỏ béo tròn trên cách đồng hoang bất tận với biết bao con chim ưng đang dòm ngó. Vì vậy, đối với những nhà sưu tập mới, phải biết lựa chọn để mua vật cổ với giá cả ngang với giá thị trường, mua hàng thật với giá thật.

Nguyên Sa lược dịch

Nguồn: chinazg.net

 

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

Read Full Post »

Ý nghĩa một số biểu tượng hoa văn truyền thống trên gốm sứ Trung Quốc

Hoa văn trên gốm sứ  đóng một vai trò rất quan trọng, ngoài việc làm tăng mỹ quan của sản phẩm gốm sứ, nó con mang những ý nghĩa sâu xa mà người nghệ nhân muốn gửi gắm vào trong đó.

Khi quan sát các sản phẩm gốm sứ Trung Quốc, bạn thường bắt gặp những họa tiết, hoa văn rất phong phú và đa dạng. Dưới đây là ý nghĩa của một số hoa văn truyền thống:

Nhị long hý châu:

HVgom1

Hình ảnh 2 chú rồng và 1 quả cầu lửa. Rồng là 1 trong “tứ linh”, “tứ linh” gồm: long, lân, quy, phụng. Trong “Quảng nha” có viết: “Có vảy là giao long, có chân là cù long, không chân là thanh long”. Theo truyền thuyết, long châu được xem là một bảo châu, có thể tránh nước, lửa. Nếu hoa văn là hình ảnh nhiều chú rồng ôm quả cầu lửa thì gọi là “quân long hí châu”. Nếu hoa văn là hình hai chú rồng lượn vòng quanh chữ “thọ” thì gọi là “vân long bổng thọ”, với ý nghĩa cát tường, an lành.

Long phụng trình tường:

Hoingo2

Hình ảnh một con rồng và một con phượng hoàng. Theo truyền thuyết, rồng là một con vật có vảy, có ý nghĩa may mắn. Phượng hoàng là loài có lông, mang ý nghĩa tôn kính. Hình tượng Rồng – Phượng này ngụ ý về một đất nước thái bình, hạnh phúc, giàu sang; đó là tượng trưng của sự cát tường và may mắn. Vì vậy, họa tiết này còn có tên gọi “long tường phụng thụy”.

Quy hạc tề linh:

HVgom3

Hình ảnh một con Rùa và một con Hạc. Rùa là một trong “tứ linh”, tượng trưng cho sự trường thọ, có thể báo hiệu điềm lành dữ. Thơ văn xưa thường được khắc trên mai rùa. Trong “Nhĩ nha – Dịch trùng” có viết: “Thập quy: nhất thần quy, nhị linh quy, tam nhiếp quy, tứ bảo quy, ngũ văn quy, lục lam quy, thất sơn quy, bát dịch quy, cửu thủy quy, thập hỏa quy”. Hạc trong truyền thuyết xưa là một loài chim tiên, trong “Tước bào cổ kim chú” có viết: “Hạc thiên niên tắc biến thành thương, hựu lưỡng thiên tuế tắc biến hắc, sở vị huyền hạc dã” (Qua ngàn năm, hạc biến màu xanh; qua hai ngàn năm, hạc biến thành đen; nên gọi là hạc huyễn hoặc). Vì vậy, người xưa xem hạc là loài chim tượng trưng cho sự trường thọ.

Tùng hạc diên niên:

HVgom4

Gồm hình ảnh hạc tiên và cây tùng. Người xưa xem tùng là đại diện cho trăm cây, ngoài ý nghĩa trường thọ, tùng còn là đại diện của khí tiết. Họa tiết “tùng hạc diên niên” vừa mang ý nghĩa trường thọ, vừa mang ý nghĩa khí tiết thanh cao, còn được gọi với tên “tùng hạc đồng xuân”.

Tuế hàn tam hữu:

HVgom5

Đó là bộ tùng, trúc, mai. Trúc thể hiện sự thanh cao, không khuất phục, như hai anh em Bá Di và Thúc Tề người nước Cô Trúc cuối thời Thương, sau khi Chu Võ Vương diệt nhà Thương, hai anh em không chịu ăn lương thực của nhà Thương, cùng chết đói trên núi. Mai là loài chịu lạnh giỏi, Dương Duy Chân đời Minh từng có thơ ca ngợi như sau: “Vạn hoa cảm hướng tuyết trung xuất, nhất thụ độc lãm thiên hà thanh”. Vì vậy, tùng, trúc, mai được gọi là “tuế hàn tam hữu” để ca ngợi phẩm chất, khí tiết cao nhã. Tô Đông Pha đời Tống từng nói: “Có thể ăn không cần thịt, nhưng sống không thể thiếu trúc”.

Thọ tỉ nam sơn:

Hình ảnh núi, sông (biển) và cây. Trong “Thư kinh” có “như nam sơn chi thọ”, trong những câu đối trước kia thường gặp “phúc như Đông hải trường lưu thủy, thọ tỉ Nam sơn bất lão tùng” hoặc “phúc như đông hải, thọ tỉ nam sơn”, đều ngụ ý hạnh phúc và trường thọ, còn gọi là “thọ sơn phúc hải”.

Tam tinh cao chiếu:

HVgom7

Gồm 3 vị lão thần tiên, theo truyền thuyết, “tam tinh” gồm phúc tinh, thọ tinh và lộc tinh. Phúc tinh quản về họa phúc, lộc tinh quản về phú quý, thọ tinh quản về sinh tử. “Tam tinh cao chiêu” tượng trưng cho hạnh phúc, phú quý và trường thọ.

Niên niên hữu dư:

HVgom8

Hình ảnh hai con cá voi. Trong tiếng Hán, chữ “dư” đồng âm với chữ “ngư”. Họa tiết thể hiện khao khát về một cuộc sống sung túc của con người. Nếu họa tiết là hình đầu và đuôi hai con cá voi dính vào nhau, gọi là “liên niên hữu dư”, nếu là hình người con gái đang cầm con cá gọi là “phúc phúc hữu dư”, nếu là hình một chú bé cầm cục đá, một chú bé giữ con cá gọi là “cát khánh hữu dư”.

Mã thượng phong hậu:

HVgom9

Hình ảnh một chú ngựa cõng trên lưng một con khỉ. “Hậu” chỉ chức quan lớn ngày xưa. Họa tiết “mã thượng phong hậu” ngụ ý ước nguyện thăng tiến. Họa tiết là hình một con khỉ lớn cõng một con khỉ nhỏ gọi là “bối bối phong hầu”.

Thái sư thiểu sư:

Hình ảnh một con sư tử lớn và một con sư tử nhỏ. Chữ “sư” trong sư tử đồng âm với chữ “sư” trong sư phụ, dùng hiện tượng đồng âm này để thể hiện ước vọng được thăng quan tiến chức. Nếu là hình ảnh một con rồng lớn và một con rồng nhỏ thì gọi là “giáo tử thành long”.

Bát bảo liên xuân:

Gồm 8 vật bảo bối, bảo bối phân làm 2 loại: bát bảo phật gia và bát bảo tiên gia. Bát bảo Phật gia gồm: tù và, dù, cái vung, hoa sen, bình bảo bối, cá vàng, bàn dài; thường được gọi là “luân, la, tản, cái, hoa, hàng, ngư, trường”, gọi tắt là “bát bảo”. Bát bảo tiên gia gồm 8 vật hộ thân: trống da cá, bảo kiếm, lẵng hoa, hồ lô, cái vợt, cái quạt, bàn âm dương, sáo.

Bát tiên quá hải:

Hình ảnh 8 vị tiên tay cầm bảo bối, dưới chân sóng lớn. Tục ngữ có câu: “Bát tiên quá hải, các hiển thần thông” (mỗi vị có một sắc thái khác nhau). 8 vị tiên đó là: Trương Quả Lão, Lữ Động Tân, Hàn Tương Tử, Tào Quốc Cữu, Thiết Quải Lý, Hán Trung Li, Hà Tiên Cô, Lam Thái Hòa. Người xưa kể lại rằng, trên đường đến mừng thọ Vương nương nương, 8 vị tiên phải vượt qua biển Đông Dương, mỗi vị đều sử dụng bảo bối hộ thân của riêng mình để vượt qua sóng to gió lớn. Hình ảnh “bát tiên quá hải” thể hiện sự thần thông, nhạy bén của con người.

Thiên nữ tản hoa:

HVgom13

Hình ảnh tiên nữ, tay cầm giỏ đựng hoa vụn. Trong kinh Phật, các tiên nữ thường cải trang để thử lòng cũng như phẩm hạnh của các đệ tử Phật giáo.

Trường mệnh bách tuế:

HVgom14

Hình một con gà trống, phía dưới là những hạt châu nhỏ. Xưa, các em nhỏ thường đeo trên cổ một sợi dây, trên mặt có chữ “trường mệnh bách tuế”, như là một vật hộ thân, chống lại bệnh tật.

Kì lân tống tử:

HVgom15

Là hình ảnh một em bé ngồi trên lưng con kì lân. Kì lân tượng trưng cho điềm lành, là dấu hiệu của sự như ý, cát tường. Hình ảnh em bé ngồi trên lưng kì lân thể hiện khát vọng sinh con trai của con người.

Ngũ bức bổng thọ:

HVgom16

Hình ảnh 5 con dơi vây quanh quả đào mừng thọ. Trong tiếng Hán, chữ “bức” (con dơi) đồng âm với chữ “phúc”. Theo quan niệm người xưa, 5 cái phúc của con người là “thọ, phú, khang ninh (an khang), tu hảo đức, khảo chung mệnh”.

Giáo tử thành danh:

Hình ảnh gà trống cất cao cổ gáy, xung quanh là 5 con gà con, ngụ ý gà trống đang dạy con. Ngoài ra, còn có những tên gọi khác như : “ngũ tử đăng khoa”, “giáo tử thành long”, “vọng tử thành long”, “nhất phẩm đương triều”.

Ngọc đường phú quý:

Hình ảnh hoa ngọc lan (ngọc), hoa hải đường (đường), hoa mẫu đơn (phú quý). Có khi là hình ảnh 5 quả hồng cùng hoa hải đường, gọi là “ngũ thế đồng đường”.

Anh hùng đấu trí:

Hình ảnh chim ưng tranh đấu với gấu. Trong “Bản thảo” có viết: “Hổ ưng dực triển chi dư, năng bác hổ” (chim ưng có đôi cánh rộng, to hơn hổ. Trong “Kinh thư” có viết về gấu như sau: “Duy hùng duy bãi, nam tử chi dạng”. Cả 2 đều tượng trưng cho sức mạnh. Hình ảnh chim ưng, gấu tranh đấu nhau thể hiện khí phách anh hùng, đại trí đại dũng.

Tóm lại, trải qua quá trình lịch sử phát triển lâu dài, với sản phẩm đa dạng và phong phú, đặc biệt là gốm xanh và gốm màu, họa tiết hoa văn trên gốm sứ đều có nét riêng, sinh động, bút pháp điêu luyện, tinh xảo, mang đậm dấu ấn dân gian. Đây chính là những di sản văn hóa dân gian vô cùng quý báu của Trung Quốc.

(đăng lại từ  http://www.svcsaigon.com)

Nguyên Sa lược dịch từ nguồn: chinazg.net

MỤC LUC – SƯU TẦM GỐM SỨ TRUNG HOA – KIẾN THỨC

Read Full Post »